Dù là dự luật của Chính phủ hay của cá nhân hoặc nhóm đại biểu Quốc hội đều phải trải qua quá trình này.[3] Nhưng vì đại đa số các dự luật ở các nước là do chính phủ soạn thảo và trình r
Trang 1Các bước làm luật: ở người và ở ta
Ai từng theo dõi kỹ các hoạt động của Quốc hội có thể nhận thấy một hiện tượng khá thú vị: Có những chuyện được các đại biểu Quốc hội đào xới rất nhiều lần, nhưng lại theo cùng một góc tiếp cận, chứ không phải là nhiều lần rồi làm sáng tỏ được vấn đề, và lần cuối không khác lần đầu được bao nhiêu
Bộ luật dân sự sửa đổi được thông qua trong Quốc hội khoá XI là một ví dụ: trong gần một năm, qua bảy, tám lần thảo luận đi, tranh luận lại, cho đến ngay tận trước khi thông qua, các đại biểu vẫn băn khoăn với câu hỏi của lần thảo luận thứ nhất là có nên đưa các vấn đề hiến xác, thay đổi giới tính,
quyền được chết… vào Bộ luật dân sự hay không
Những băn khoăn này là có thể hiểu được Nhưng có một điều không thể hiểu được là sau nhiều lần thảo luận như vậy mà những câu hỏi đó vẫn chưa có lời giải Trong khi đó nhiều nước trên thế giới họ giải quyết vấn đề này từ trước khi soạn thảo luật Vậy họ làm như thế nào? Hoạt động làm luật của họ gồm những bước đi nào để không bị trùng nhau, đỡ tốn thời gian mà vẫn giải quyết được những vấn đề gốc rễ của cuộc sống đặt ra cho luật? Bài viết này sẽ tóm lược cách làm ở các nước, các bước đi của họ trong quá trình làm luật[1], đồng thời so sánh với cách làm ở nước ta,[2] từ đó rút ra một vài kết luận sơ bộ và kiến nghị tổng quát nhằm góp phần hoàn thiện quy trình lập pháp nước nhà
Quy trình làm luật ở các nước gồm các bước sau: phân tích từ góc độ chính sách đối với dự luật; phê duyệt về mặt chính sách đối với dự luật; soạn thảo dự luật; thẩm định hoặc thẩm tra dự luật; phê duyệt dự luật; tham vấn nhân dân (nếu cần thiết), xem xét và thông qua Dù là dự luật của Chính phủ hay của cá nhân hoặc nhóm đại biểu Quốc hội đều phải trải qua quá trình này.[3] Nhưng vì đại đa số các
dự luật ở các nước là do chính phủ soạn thảo và trình ra nghị viện[4], nên xin được trình bày về quy trình làm luật ở các nước với sự tham gia của chính phủ Quy
Trang 2trình đó có các bước sau: phân tích chính sách lập pháp, phê duyệt chính sách, soạn thảo dự luật, tham vấn nhân dân (nếu cần thiết), thẩm định dự luật, phê duyệt
dự luật (các bước này làm ở Chính phủ), trình dự luật cho Quốc hội đọc lần một, xem xét ở các uỷ ban của Quốc hội, trình Quốc hội đọc lần hai, xem xét ở các uỷ ban, trình Quốc hội đọc lần ba để thông qua
1 Phân tích chính sách
Công đoạn đầu tiên của quy trình lập pháp ở nhiều nước là phân tích chính sách Phân tích chính sách bao gồm: nhận biết vấn đề đang phát sinh trong xã hội; tìm nguyên nhân của vấn đề; đề ra giải pháp (nếu cần đến giải pháp ban hành luật thì mới ban hành); nghiên cứu các vướng mắc về tính hợp hiến, hợp pháp; đánh giá tác động của đạo luật dự kiến ban hành; nghiên cứu khả năng tài chính để bảo đảm triển khai các quy định của văn bản pháp luật[5] (Xem thêm phương pháp luận về phân tích chính sách trong hộp dưới đây) Một số nước còn có luật quy định bắt buộc cơ quan ban hành văn bản phải tiến hành đánh giá tác động của văn bản sẽ ban hành đối với các đối tượng chịu sự điều chỉnh (tiếng Anh gọi là Regulatory Impact Assessment- RIA) Luật này có thể đề cập đến mọi lĩnh vực, hoặc trong những lĩnh vực nhất định như môi trường, sử dụng đất, xây dựng…[6] Chỉ sau khi
đã “bắt mạch” cẩn thận, nếu cho rằng cần phải dùng đến “thang thuốc” luật để
“chữa bệnh”, cơ quan của chính phủ mới giải trình trước toàn thể chính phủ về sự cần thiết phải “bốc thuốc”, tức là phê duyệt chính sách
Hộp: Phương pháp luận về phân tích chính sách công
Khi nghiên cứu quá trình xây dựng và thực thi chính sách công hoặc nghiên cứu nội dung chính sách công, việc phân tích chính sách công cần giải đáp năm vấn đề
cơ bản:
1 Phân tích tình hình thực tế
Trang 3Sự thật khách quan tồn tại độc lập ngoài ý muốn của con người Còn chính sách công là sản phẩm của hành vi quản lý của chính phủ, do chính phủ lựa chọn Do
đó, điều cơ bản trong việc phân tích chính sách là lựa chọn những sự thật có giá trị
2 Phân tích giá trị
Việc phân tích giá trị trong chính sách công chủ yếu nhằm xác định giá trị của một chính sách nào đó Chính sách không những cần phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của mỗi thành viên trong xã hội mà còn phải làm cho họ tập trung vào việc thực hiện mục tiêu mà Chính phủ theo đuổi
3 Phân tích quy phạm
Chính sách công không những cần quy phạm hành vi của cá thể và quần thể mà còn phải không ngừng giải quyết mâu thuẫn và xung đột phát sinh trong quá trình hành vi của con người, thực hiện sự điều khiển hữu hiệu đối với công việc công cộng của xã hội
4 Phân tích tính khả thi
Việc phân tích tính khả thi của chính sách bao gồm: khả thi về chính trị, khả thi về
kỹ thuật, khả thi về kinh tế Tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật càng lớn thì càng ảnh hưởng đến tính khả thi về chính trị
5 Phân tích lợi ích
Thỏa mãn lợi ích của quần chúng nhân dân, bảo hộ lợi ích của quần chúng nhân dân, phát triển lợi ích của quần chúng nhân dân là nguyên tắc cơ bản nhất của chính sách công Do đó, phân tích lợi ích là vấn đề bản chất nhất trong việc phân tích chính sách công
Trang 4Có vẻ như hiện nay ở nước ta một số công việc của công đoạn phân tích chính sách được quy định tại các Điều 26, 61 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm những việc sau đây: “tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án; khảo sát, đánh giá các quan hệ xã hội liên quan đến dự án” Theo quy định của các Điều 26, 61 thì những công việc này phải được tiến hành trong giai đoạn soạn thảo dự án văn bản pháp luật Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, giai đoạn phân tích chính sách thường được tiến hành trước khi bắt đầu soạn thảo văn bản Còn ở ta bắt đầu bằng chương trình xây dựng pháp luật, Chính phủ không thông qua chính sách lập pháp trước mà thông qua toàn văn dự luật khi nó đã được soạn thảo xong Nghĩa là không bắt mạch trước khi bốc thuốc,
cứ theo kinh nghiệm, hoặc nghĩ ra bệnh, hoặc thấy biểu hiện bề ngoài mà bốc thuốc Ứng với ví dụ về Bộ luật dân sự của nước ta, việc đưa hay không đưa các vấn đề mới mẻ vào Bộ luật phải được cơ quan của chính phủ phân tích kỹ, giải trình rõ ngay ở bước này và chuẩn bị sẵn những lý lẽ của mình để bảo vệ nó trước Quốc hội (mà chủ yếu là trước ủy ban có liên quan) Chưa nói hoạt động khảo sát, đánh giá, phân tích ở nước ta còn tiến hành một cách chiếu lệ, hình thức[7]
2 Soạn thảo dự luật
Luật và pháp lệnh của ta do nhiều cơ quan khác nhau soạn thảo theo nhiều cách thể hiện và quan niệm về chuẩn mực kỹ thuật khác nhau Bộ Tư pháp được giao chủ trì soạn thảo một số lĩnh vực chung như hình sự, dân sự, tư pháp, quyền và nghĩa vụ công dân Các bộ, ngành khác soạn thảo văn bản thuộc thẩm quyền quản
lý chức năng của mình Một số ít trường hợp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra quyết định thành lập ban soạn thảo riêng hoặc liên ngành Hệ quả dễ thấy là: Nhiều “đầu bếp”, cộng với thiếu chuẩn thống nhất[8], dẫn đến tuỳ tiện Nói một cách khác, nếu sử dụng kỹ thuật soạn thảo tuỳ tiện, không theo chuẩn mực thì không đạt được hiệu quả điều chỉnh hành vi, hoặc quy phạm pháp luật được thể hiện khác với ý đồ
Trang 5của người đưa ra sáng kiến lập pháp/ nhà lập pháp Bởi vậy, nếu trong khâu lập luận về phân tích chính sách, nhà lập pháp và người đưa ra sáng kiến lập pháp phải thể hiện ý đồ lập pháp rõ ràng, thì trong khâu soạn thảo (kỹ thuật lập pháp) nhà soạn thảo (các công chức, chuyên gia, tư vấn) phải trung thành với ý đồ lập pháp
Để giải quyết vấn đề thống nhất trong kỹ thuật thể hiện văn bản, trên thế giới hiện nay vẫn có hai cách làm: một là như ở nước ta, ví dụ ở các nước châu Âu lục địa,
dự luật liên quan đến thẩm quyền chức năng bộ nào thì giao bộ đó chuẩn bị[9]; ở Pháp nếu dự luật liên quan đến nhiều bộ thì thành lập Ban soạn thảo liên bộ (kèm theo là thông tư liên ngành hướng dẫn)[10]; hai là, đặt ra chuẩn thể hiện văn bản đồng thời tập trung chuyên môn hoá công tác soạn thảo văn bản vào một bộ phận chuyên môn Ví dụ, ở Canada, giúp các bộ, ngành thể hiện dự án luật là một bộ phận đặt ở Bộ tư pháp; còn đối với dự luật mà nghị viện thành lập Ban soạn thảo, thì giúp việc Ban soạn thảo này là một bộ phận chuyên soạn thảo văn bản của Văn phòng nghị viện.[11]; hoặc như ở Thái Lan có Hội đồng nhà nước chuyên chịu trách nhiệm tư vấn soạn thảo từ giai đoạn dự án luật đang ở phía chính phủ cho đến hết quy trình lập pháp[12]
Bộ phận chuyên soạn thảo luật này bao gồm những chuyên gia giỏi nhất, được đào tạo về “dịch chính sách” sang ngôn ngữ pháp lý Mặc dù nằm ở Bộ tư pháp, nhưng ban này không phụ thuộc vào Bộ này, khi soạn thảo sẽ có cả chuyên gia chuyên ngành có liên quan (cũng là người rất giỏi) của Bộ khác cử sang cùng tham
gia[13] Cách làm này, cộng với bước phân tích chính sách nói trên giải đáp hai câu hỏi lâu nay vẫn gây tranh cãi ở ta: ai soạn thảo luật, và làm thế nào để tránh việc đưa lợi ích cục bộ vào dự luật[14] Lỗi kỹ thuật pháp lý cũng rất ít khi xảy ra
vì toàn chuyên gia giỏi làm việc này Cơ quan chuyên thể hiện các dự thảo có nhiệm vụ giữ mối liên hệ chặt chẽ với bộ phận phân tích chính sách lập pháp của các bộ, ngành để thể hiện đúng chính sách của cơ quan đề xuất theo chuẩn chung
Trang 6Việc tập trung soạn thảo vào một bộ phận chuyên môn nhằm bảo đảm chuẩn hoá văn bản pháp luật về hình thức và kỹ thuật, đồng thời các bộ, ngành lại có điều kiện tập trung thời gian vào nghiên cứu và hoạch định chính sách, hạn chế cục bộ bản vị Tóm lại, để thống nhất kỹ thuật lập pháp phải thống nhất cơ quan chuyên
“viết luật” theo chuẩn thể hiện thống nhất; tránh tình trạng nhiều đầu bếp Cho dù hiện nay đã có cẩm nang soạn thảo VBQPPL của Bộ tư pháp nhưng tình trạng không thống nhất trong kỹ thuật lập pháp vẫn còn phổ biến ở nước ta; đó là chưa nói tới các VBQPPL của địa phương Nếu có một cơ quan chuyên soạn thảo với những chuẩn mực đã được định hình, cộng với một chính sách lập pháp đã được phân tích cẩn thận, chất lượng luật chắc sẽ tăng lên; những bất cập như luật
“chung chung” sẽ giảm nhiều, cũng như việc soạn thảo các văn bản dưới luật theo nguyên tắc ủy quyền cũng bớt tùy tiện, giảm thiểu khả năng lợi dụng khoảng trống
mà luật “chung chung” để lại cho lập quy
Cuối cùng, ở công đoạn Chính phủ, sau khi được thẩm định về ngôn ngữ, kỹ thuật pháp lý, tính hợp hiến, hợp pháp, dự luật được trình trước toàn thể chính phủ xem xét, phê duyệt trước khi đưa sang Quốc hội
3 Tham vấn công chúng
Đối với nhiều dự luật, pháp luật các nước đòi hỏi cơ quan soạn thảo phải đưa ra tham vấn công chúng (public consultation)[15] Ở nhiều nước, quyền của công chúng tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật, chính sách được quy định ở mức cao nhất trong hệ thống pháp luật, kể cả trong Hiến pháp, nhất là trong lĩnh vực môi trường Ví dụ, Hiến pháp 1997 của Thái Lan quy định, “công dân có quyền tham gia vào quá trình hoạch định và xây dựng chính sách của nhà nước, vào việc thực thi các hoạt động hành chính có thể ảnh hưởng đến quyền và tự do của công dân đó được pháp luật bảo đảm” Không những thế, trong lĩnh vực môi trường, Điều 56 Hiến pháp nói trên cũng cấm tiến hành bất kỳ dự án hay hoạt động nào
mà chưa nghiên cứu tác động về môi trường với sự tham gia của các tổ chức, các
Trang 7nhà khoa học về môi trường Điều 59 quy định quyền được cung cấp thông tin về môi trường, quyền góp ý kiến về các tác động môi trường của các dự án tiềm năng Hiện nay Hội đồng nhà nước Thái Lan đang soạn thảo dự án Luật tham vấn công chúng tạo điều kiện cho công chúng tham gia vào quá trình ra quyết định Trong quá trình soạn thảo dự án, HĐNN Thái Lan đã tham vấn với nhiều tổ chức,
cơ quan về các phương thức thu hút ý kiến, các dạng hoạt động cần phải tổ chức tham vấn và cơ quan chịu trách nhiệm phản hồi về ý kiến công chúng
Ở Mỹ, cơ quan ban hành văn bản pháp luật phải lấy ý kiến công chúng Công báo (Federal Register) là công cụ đăng tải các luật, dự thảo luật, thông báo của các cơ quan liên bang, các văn bản của hành pháp; được cập nhật vào 6 giờ chiều hàng ngày, phát hành từ thứ hai đến thứ sáu.[16] Còn Regulation.com là diễn đàn trên mạng để công chúng tham gia đóng góp ý kiến về các dự thảo luật đã được đăng công khai trên Federal Register Trong một số trường hợp, bên cơ quan chính phủ phải tổ chức những buổi gặp mặt công chúng (public hearings), trực tiếp đưa chứng cứ, trình bày lý lẽ, nghe và giải đáp thắc mắc Theo Luật về thỏa ước trong ban hành văn bản pháp quy (Negotiated Rulemaking Act), cơ quan chính phủ khi ban hành văn bản cũng phải đạt được thỏa thuận với các bên có liên quan thông qua một ủy ban điều đình do các bên liên quan cử ra[17]
Ở Canada, nguyên tắc xây dựng pháp luật là phải lấy ý kiến công chúng; để công chúng có cơ hội tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật; các đối tượng chịu sự tác động của dự thảo có thể yêu cầu cơ quan soạn thảo cung cấp các thông tin cơ bản của dự luật[18] Công báo Canada (Canada Gazette) là công báo chính thức của Chính phủ Canada từ năm 1841, công cụ tham vấn giữa Chính phủ và người dân, công cụ cho phép người dân tham gia và đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật Nội dung đăng tải gồm dự thảo cuối cùng của luật để lấy ý kiến công chúng, các nhóm đối tượng có liên quan và cá nhân có cơ hội được đọc và góp ý kiến về dự thảo tại giai đoạn cuối cùng trong quá trình xây dựng luật trước
Trang 8khi thông qua; các văn bản đã được ban hành; các thông báo chính thức, các bổ nhiệm chính thức Việc đăng tải các thông tin trên là bắt buộc theo quy định của Statutory Instrument Act
Còn ở nước ta, chúng ta hay kêu gọi đưa pháp luật vào cuộc sống, hay than phiền
là luật chưa vào được cuộc sống Nhưng điều không kém phần quan trọng là theo chiều ngược lại, luật phải bắt nguồn từ cuộc sống, hỏi xem, người dân, xã hội có cần đến luật đó hay không, có nghĩa là đưa cuộc sống vào luật
Muốn vậy, sự tham gia của nhân dân góp phần rất lớn trong việc nhận ra các vấn
đề trong xã hội, tạo cơ sở để phân tích chính sách trước khi xây dựng văn bản pháp luật Những người chịu tác động của một quyết sách sắp ban hành cần có cơ hội khả thi tối đa để đóng góp ý kiến hoặc tham gia vào quá trình ra quyết định Sự tham gia này cũng chứng tỏ quyền được nghe và quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước phải công khai và có trách nhiệm Công chúng hiểu rõ họ cần cái gì, nên có thể mách bảo nhiều giải pháp tốt mà các chuyên gia cũng không ngờ tới Một nguyên nhân nữa để thu hút sự tham gia của công chúng là: khi được tham gia, công chúng thấy mình thực sự là một thành viên trong quá trình đó, có vai trò tích cực trong đó, nên các quyết định sẽ được tiếp nhận và ủng hộ nhiều hơn, tránh được những vướng mắc sau này trong khi thực thi
Tuy nhiên, câu hỏi ở đây là nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng pháp luật như thế nào? Lâu nay việc lấy ý kiến nhân dân vào các dự án luật diễn ra khá rầm rộ, nhưng ngay các chuyên gia pháp luật, những người trực tiếp tổ chức công việc này cũng nhận xét về tính hình thức của nó[19] Nguyên nhân có nhiều, mà một trong số đó là chưa xác định đúng mục đích: nếu vẫn kỳ vọng nhân dân sẽ đóng góp ý kiến có tính chất chuyên môn, đó sẽ là một sự kỳ vọng quá mức
và lệch hướng Để tham gia góp ý cho một dự thảo văn bản pháp luật, không chỉ cần đọc, nắm được nội dung của nó, mà còn phải biết các văn bản liên quan, từ
Trang 9Hiến pháp, luật, thông tư cho đến nghị định Bởi vậy, ngay cả số người đọc dự thảo từ đầu đến cuối để hiểu đã rất ít, chứ chưa nói đến tham gia góp ý
Như vậy, điều cần hỏi dân là văn bản luật sẽ tác động ra sao đến lợi ích của họ Do
đó, trong tập hợp các ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, các chuyên gia được trực tiếp cử ra làm công việc tổng kết, phân tích các ý kiến đó sẽ lọc ra
những vấn đề có tính chất chính sách, liên quan đến những lợi ích điển hình của nhóm, giới hoặc lợi ích chung Từ những vấn đề lợi ích này mà cơ quan có thẩm quyền sẽ giao lại cho các chuyên gia chuyên soạn thảo văn bản thể hiện thành câu chữ, quy phạm cụ thể Có quan điểm cho rằng, đối với đông đảo nhân dân, khi đăng dự thảo, cần kèm theo thuyết minh rõ ràng về một số vấn đề lớn nhất, có nhiều ý kiến tranh cãi nhất, chứ lấy ý kiến của một bộ luật đồ sộ như Bộ luật dân
sự 1995 trước đây có 836 điều mà kỳ vọng nhân dân sẽ góp ý từng điều cụ thể thì không khả thi và không thực chất[20] Đối với những vấn đề chuyên sâu, chuyên môn, cần lấy ý kiến giới chuyên gia, nhưng cũng tránh hình thức, đi vào từng lĩnh vực hẹp, đưa ra các vấn đề để chuyên gia tranh luận Bên cạnh đó, cần có cái nhìn tổng thể từ các chuyên gia không phải trong lĩnh vực pháp luật, mà cả về kinh tế, lịch sử, xã hội học…
Trong thực tiễn nước ta, Luật Doanh nghiệp là một minh chứng rõ ràng rằng, muốn luật vào cuộc sống thì trước hết cần đưa cuộc sống vào luật Dự thảo Luật Doanh nghiệp đã được đưa ra lấy ý kiến một cách thực chất trong giới doanh nhân, các ý kiến đóng góp được tiếp thu khá nghiêm túc, bởi vậy Luật đã và đang phát huy tác dụng thực tế rất lớn[21]
4 Xem xét, thông qua ở Quốc hội
Ở công đoạn Quốc hội nhiều nước, dự luật được xem xét theo quy trình ba lần đọc, mỗi lần đọc là một lần xem xét dự án luật tại phiên họp toàn thể: ví dụ ở Anh
và các nước theo mô hình Anh, lần đọc thứ nhất có mục đích giới thiệu dự án luật,
Trang 10lần đọc thứ hai có mục đích xem xét các nguyên tắc cơ bản của dự án luật, và lần đọc thứ ba là lần đọc xem xét, thông qua dự án luật Đặc biệt, ở những nước đó, tại lần đọc thứ nhất, các nghị sĩ chỉ quyết có mỗi một chuyện là có nên tiếp tục thảo luận về dự luật này tại lần đọc thứ hai hay là trả về cho chính phủ, và chấm hết, không tranh luận gì thêm nữa[22] So sánh với Quốc hội nước ta, chẳng hạn trong
kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI, câu chuyện có nên thông qua Dự án Luật giáo dục hay không đáng lẽ ra phải được quyết từ đầu nếu có quy trình hợp lý hơn như ở các nước
Trong quy trình này, uỷ ban của Quốc hội liên quan đến dự luật có vai trò hết sức lớn Tuỳ theo từng nước, dự luật được gửi tới uỷ ban giữa lần đọc thứ nhất và lần đọc thứ hai, sau đó giữa lần đọc thứ hai và lần đọc thứ ba; hoặc chỉ giữa lần đọc thứ hai và thứ ba Nếu dự luật được gửi ngay từ sau lần đọc thứ nhất, uỷ ban có thể quyết cả những chuyện then chốt như có nên tiếp tục đưa dự luật ra thảo luận trước toàn Quốc hội hay không[23] Còn nếu dự luật được gửi sau lần đọc thứ hai,
uỷ ban sẽ xem xét chi tiết dự án luật và chỉnh lý dự án luật theo những nguyên tắc
đã được phiên họp toàn thể của Quốc hội quyết định tại lần đọc thứ hai Nhưng dù theo mô hình nào chăng nữa, uỷ ban rà soát rất kỹ trước khi đưa ra xem xét trước toàn thể Quốc hội Ở hầu hết Quốc hội các nước trên thế giới, uỷ ban chính là nơi cung cấp những kiến thức chuyên sâu về chính sách được thể hiện trong dự luật và cũng chính là nơi giải quyết những vấn đề kỹ thuật phức tạp nhất của dự luật Uỷ ban tạo ra những khoảng không gian và thời gian cần thiết để phân tích và thảo luận về dự án luật một cách hiệu quả hơn so với các phiên họp toàn thể Giai đoạn
uỷ ban tránh cho Quốc hội phải mất thì giờ bàn những chuyện chuyên sâu về chuyên môn, nếu có khúc mắc gì về chuyên môn, chính phủ chủ yếu phải giải trình trước các uỷ ban[24] Mặc dù ở mọi Quốc hội, phiên họp toàn thể vẫn là nơi quyết định cuối cùng đối với dự án luật, nhưng uỷ ban lại là nơi chiếm nhiều thời gian nhất trong tiến trình xem xét dự luật ở công đoạn Quốc hội Vì thế, dù làm việc quanh năm, chứ không chỉ xuân-thu nhị kỳ như ở ta, nhưng thời gian ngồi