1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Các vấn đề về thẻ điện tử docx

17 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 150 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giờ đây, khách hàng chỉ cần sử dụng một tấm thẻ Card nhỏ là có thể mua hàng mà không cần phải dùng đến tiền mặt, chuyển tài khoản mà không cần phải đích thân đến ngân hàng, hoặc cũng có

Trang 1

Lời nói đầu

Trong quá trình phát triển mạnh mẽ của xã hội hiện nay, thương mại là ngành trọng điểm của nền kinh tế thị trường Trong đó, thương mại điện tử là một lĩnh vực không thể thiếu đối với xu hướng phát triển chung của kinh tế xã hội Việc áp dụng thương mại điện tử và công nghệ thông tin vào lĩnh vực thương mại đã góp phần đắc lực đối với các dịch vụ thương mại, giúp cho các hoạt động thanh toán được nhanh gọn và dễ dàng hơn và tất nhiên là an toàn hơn Thương mại điện tử đã mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như:

Mở rộng thị trường, giảm chi phí sản xuất, tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường, giảm chi phí thông tin liên lạc và chi phí mua sắm, củng cố quan hệ khách hàng Bên cạnh việc đem lại lợi ích cho doanh nghiệp, thương mại điện tử còn đem lại rất nhiều lợi ích cho người tiêu dùng như: thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn, vượt giới hạn về không gian và thời gian, nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ,được giao hàng nhanh hơn, giá cả thấp hơn Giờ đây, khách hàng chỉ cần sử dụng một tấm thẻ (Card) nhỏ là có thể mua hàng mà không cần phải dùng đến tiền mặt, chuyển tài khoản mà không cần phải đích thân đến ngân hàng, hoặc cũng có thể dùng thẻ để rút tiền mặt từ một máy ATM… Đó là một ưu điểm của ứng dụng thương mại điện tử, sử dụng các loại thẻ điện tử như thẻ tín dụng, thẻ ATM…

Bài tiểu luận: Các vấn đề về thẻ điện tử sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về

việc ứng dụng của các loại thẻ điện tử, cũng như công dụng của chúng trong cuộc sống

Được sự hướng dẫn của thầy giáo Ngô Văn Hưng, cộng với việc tìm hiểu các tài liệu, sách vở và các thông tin trên mạng cũng như việc trải nghiệm thực

tế, là những yếu tố giúp em hoàn thành bài tiểu luận này!

Trang 2

I:/ SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI THẺ ĐIỆN TỬ (THẺ THANH TOÁN)

Thẻ là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn và có một dải băng từ ở mặt sau ghi thông tin về thẻ và chủ của thẻ, cũng có thể có chip điện tử để ghi các thông tin phụ thêm khác Thẻ thường do các ngân hàng phát hành cho khách hàng của mình để phục vụ cho việc thanh toán Một ngân hàng có số chi nhánh

có hạn và việc thanh toán thường thực hiện giữa các ngân hàng khác nhau, vì thế

có các tổ chức thanh toán quốc tế như VISA, MasterCard, American Express, Delta, vv hoặc các tổ chức thanh toán liên ngân hàng trong nội địa một nước như NETS của Singapore Các tổ chức này có biểu tượng (logo) riêng để phân biệt dịch vụ của họ với nhau

Các tổ chức thanh toán này đứng ra làm trung gian chuyển tải thông tin và giúp việc thanh toán giữa các ngân hàng Các ngân hàng là thành viên của tổ chức thanh toán nào thì có thể nhận thanh toán bằng các loại thẻ có biểu tượng của tổ chức đó và thường đặt biển hiệu rõ ràng thể hiện những loại thẻ họ có thể nhận thanh toán Các ngân hàng này cũng có thể phát hành thẻ theo điều kiện của tổ chức thanh toán mà họ là thành viên, thẻ đó được chấp nhận để thanh toán

ở các ngân hàng thành viên khác trong cùng tổ chức

Có nhiều cách để phân loại thẻ thanh toán: phân loại theo công nghệ sản xuất, theo chủ thể phát hành, theo tính chất thanh toán của thẻ, theo phạm vi lãnh thổ

1 Phân loại theo công nghệ sản xuất : Có 3 loại:

a) Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên công nghệ khắc chữ nổi,

tấm thẻ đầu tiên được sản xuất theo công nghệ này Hiện nay người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật quá thô sơ dễ bị giả mạo

Trang 3

b) Thẻ băng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ

chứa thông tin đằng sau mặt thẻ Thẻ này đã được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua , nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin

c) Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh

toán, thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính

2 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:

a) Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất,

theo đó người chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở kinh doanh, khách sạn, sân bay chấp nhận loại thẻ này

Gọi đây là thẻ tín dụng vì chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định Cũng từ đặc điểm trên mà người ta còn gọi thẻ tín dụng

là thẻ ghi nợ hoãn hiệu (delayed debit card) hay chậm trả

b) Thẻ ghi nợ (Debit card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn

liền với tài khoản tiền gửi Loại thẻ này khi được sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn Thẻ ghi nợ còn hay được sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động

Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ

Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:

- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ

Trang 4

- Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày

c) Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút

tiền tự động hoặc ở ngân hàng Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng

để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gởi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được

Thẻ rút tiền mặt có hai loại:

Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của Ngân hàng phát hành

Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở Ngân hàng phát hành

mà còn được sử dụng để rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với Ngân hàng phát hành thẻ

3.Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:

- Thẻ trong nước: là thẻ được giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó

- Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán

4 Phân loại theo chủ thể phát hành:

- Thẻ do Ngân hàng phát hành (Bank Card): là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng một số tiền do Ngân hàng cấp tín dụng

- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn phát hành như Diner's Club, Amex

II:/THẺ TÍN DỤNG

Thẻ tín dụng là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp.

Hình thức thanh toán này được thực hiện dựa trên uy tín Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng Thay vào đó, Ngân hàng sẽ ứng trước tiền

Trang 5

cho người bán và Chủ thẻ sẽ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch Thẻ tín dụng cho phép khách hàng “trả dần” số tiền thanh toán trong tài khoản Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dư trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng Tuy nhiên, Chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trước ngày đáo hạn

đã ghi rõ trên bảng sao kê Thẻ tín dụng khác với thẻ ghi nợ vì tiền không bị trừ trực tiếp vào tài khoản tiền gửi của chủ thẻ ngay sau mỗi lần mua hàng hoặc rút tiền mặt

H1: Một thẻ tín dụng VISA của ngân hàng Vietcombank

1: Cách thức hoạt động

Thẻ tín dụng được phát hành sau khi nhà cung cấp dịch vụ tín dụng duyệt chấp thuận tài khoản thẻ, sau đó chủ thẻ có thể sử dụng nó để mua sắm tại các điểm bán hàng chấp nhận loại thẻ hoặc là mua hàng trực tuyến (online) thông qua việc nhập thông tin về thẻ

Chủ thẻ cũng có thể rút tiền mặt từ tài khoản thẻ tín dụng (tiền mặt ứng trước) tại máy rút tiền tự động ATM nếu muốn

Hàng tháng, chủ thẻ nhận được một bảng kê trong đó thể hiện các giao dịch thực hiện bằng thẻ, các khoản phí và tổng số tiền nợ Sau khi nhận bảng kê, chủ thẻ

có quyền khiếu nại bác bỏ một số giao dịch mà anh/chị ta cho là không đúng

Trang 6

Nếu không khiếu nại gì, trước ngày đến hạn, chủ thẻ phải trả một phần tối thiểu định trước, hoặc nhiều hơn, hoặc trả hết món nợ Nhà cung cấp dịch vụ tín dụng

sẽ tính lãi trên phần còn nợ (thường là với lãi suất cao hơn lãi suất của hầu hết những hình thức vay nợ khác) Nhiều tổ chức tài chính có thể sắp xếp việc trả nợ

tự động, cắt tiền từ tài khoản ngân hàng của chủ thẻ (nếu có đủ tiền) để tránh trễ hạn trả nợ

a Quy trình thanh toán tại cửa hàng bằng thẻ tín dụng

Khi mua sắm ở cửa hàng (Merchant) chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng ,việc thanh toán bằng thẻ tín dụng được thực hiện như sau: Nhân viên bán hàng sẽ quẹt (swipe) tấm thẻ vào một máy đọc gọi là EDCT (Electronic Data Capture Terminal) EDCT đọc các thông tin về thẻ của khách hàng ghi trên băng

từ và đồng thời liên hệ (contact) với hệ thống của ngân hàng thông qua Internet hoặc đường điện thoại…, gửi kèm theo yêu cầu về số tiền cần thanh toán, ngân hàng sẽ kiểm tra trong Cơ sở Dữ liệu để xác minh tên chủ thẻ, thời hạn sử dụng thẻ và số tiền cần thanh toán có vượt quá định mức hay không, quá trình này được thực hiện trong thời gian khoảng vài giây đến vài chục giây Nếu các dữ liệu đã được chấp nhận thì hệ thống của ngân hàng sẽ báo lại cho EDCT là giao dịch đã được phê duyệt (approved) Khi đó, EDCT sẽ tự động in ra một tờ “hóa đơn ghi nợ” (Sale Slip) trong đó ghi rõ số tiền cần thanh toán, mã số giao dịch… khách hàng kí vào tờ hóa đơn đó Khách hàng sẽ giữ bản hóa đơn chính còn cửa hàng sẽ giữ bản sao và gửi về ngân hàng để nhận tiền sau này Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho cửa hàng và “ghi nợ” (debit) số tiền vào tài khoản của chủ thẻ Chi tiết về giao dịch sẽ được ghi trong tờ hóa đơn gọi là Statement, kế tiếp gửi đến cho chủ thẻ Trường hợp thẻ bị đánh cắp, giả mạo chữ kí thì trong thời hạn nhất định (thường là 2 tuần), chủ thẻ có thể liên hệ với ngân hàng của mình

để đòi lại tiền Nếu chứng minh được chữ kí không phải là chữ kí của chủ thẻ thật thì ngân hàng sẽ trả lại tiền cho chủ thẻ

Trang 7

Người ta sử dụng nhiều hệ thống điện tử để xác minh trong vòng vài giây tính hợp lệ của thẻ cũng như kiểm tra xem hạn mức tín dụng của thẻ còn đủ chi trả cho lần mua sắm đó không Việc xác minh được thực hiện bằng một đầu đọc thẻ (POS - Point of Sale) kết nối vào ngân hàng thu nhận (acquiring bank) của người bán hàng Đầu đọc đọc dữ liệu của thẻ từ dải từ tính hoặc từ bản vi mạch trên thẻ Loại thẻ mới sử dụng bản vi mạch thường được gọi là thẻ "chip" hoặc thẻ EMV

b Quy trình thanh toán trực tuyến

Ngoài ra nhiều điểm bán hàng cũng chấp nhận cách thức xác minh qua điện thoại hoặc xác minh qua Internet cho những giao dịch được gọi là giao dịch vắng thẻ hoặc vắng chủ thẻ (CNP - Card/Cardholder Not Present)

Các nhà bán hàng trực tuyến thường sử dụng một các thức khác để xác minh tài khoản thẻ, trong đó chủ thẻ thường phải cung cấp thêm thông tin như

mã số an ninh in ở mặt sau thẻ, thông tin của chủ thẻ hoặc mật khẩu định trước

Trên website bán hàng, người bán phải trang bị những tính năng sau:

- Shopping cart (giỏ mua hàng): có thể do nhà cung cấp dịch vụ thiết kế website

xây dựng hoặc phần mềm có sẵn bán trên mạng Người mua hàng khi đang xem

hàng trên website có thể chọn mua sản phẩm bằng cách nhấn nút “Buy”, mặt hàng sẽ được lưu lại trong giỏ hàng, người mua có thể chọn nhiều mặt hàng, khi quyết định mua hàng có thể xem giỏ hàng để xem lại các mặt hàng, thay đổi số lượng hàng, tính tiền Để kết nối được với dịch vụ thanh toán qua mạng, shopping cart cần được xây dựng để đạt một số tiêu chuẩn tích hợp

- Payment gateway: là một phần mềm dùng để xử lý việc thanh toán của thẻ tín dụng bao gồm việc xác nhận thông tin của thẻ tín dụng là có thật và hợp lệ, thực hiện các lệnh chuyển tiền (công nghệ tốt sẽ hạn chế rủi ro của thẻ tín dụng giả mạo) Hai tính năng trên của website phải được thực hiện trên máy chủ an toàn

Trang 8

(secure server) để đảm bảo tính bảo mật của các thông tin về thẻ tín dụng khi nhập trên website và trong quá trình thực hiện giao dịch

Quy trình thanh toán trực tuyến được thực hiện như sau:

H2: Quy trình thanh toán online

Người mua có thẻ tín dụng (Cardholder) khi quyết định mua hàng sẽ nhập các thông tin về thẻ tín dụng của mình như: số thẻ, mã số an toàn, thời hạn của thẻ, họ và tên chủ sở hữu, địa chỉ thanh toán trên website, những thông tin này

sẽ được chuyển đến cho ngân hàng hay nhà dịch vụ cung cấp payment gateway

là các Acquirer Acquirer sẽ gửi thông tin về thẻ tới dịch vụ cung cấp thẻ và ngân hàng phát hành thẻ để kiểm tra tính hợp lệ của thẻ và kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ Nếu mọi điều kiện đều phù hợp, ngân hàng phát hành thẻ sẽ gửi thông tin ngược trở về cho Acquirer, thông tin được giải mã gửi về cho người bán và việc thanh toán được thực hiện Tiền sẽ được chuyển từ thẻ tín dụng của người mua tới tài khoản bán hàng merchant account trên Acquirer, sau

đó sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của người bán

Việc tiến hành thanh toán qua mạng có thể tiến hành đơn giản hơn bằng cách sử dụng dịch vụ của bên thứ ba (Third Party) chịu trách nhiệm mọi khâu

thanh toán, người bán chỉ cần liên kết phần shopping cart của mình vào website

Trang 9

của nhà cung cấp dịch vụ, mọi khâu từ việc nhập thông số thẻ, xử lý thanh toán đều thực hiện tại website của nhà cung cấp dịch vụ, người bán không cần mở merchant account, không cần sử dụng paymentgateway, giảm được các chi phí này nhưng chi phí trên mỗi giao dịch sẽ cao hơn

2: Hình thức thẻ

Hầu hết các thẻ tín dụng được phát hành bởi các ngân hàng địa phương hay các tổ chức tín dụng Thẻ tín dụng ban đầu chỉ được làm bằng giấy cứng, có nhiều hình thức, kích cỡ khác nhau tùy theo ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng phát hành ra nó Cách thức sử dụng thẻ cũng chỉ giới hạn trong khu vực hẹp, nơi

mà người ta có thể nhận dạng trực tiếp các chủ thẻ Do sự tiến bộ của khoa học, cùng với sự phát triển của nhu cầu sử dụng, thẻ tín dụng ngày nay đều dùng chất liệu nhựa polyme, thống nhất có cùng hình dạng và kích thước theo tiêu chuẩn ISO 7810

III:/ THẺ GHI NỢ, THẺ RÚT TIỀN MẶT (ATM)

1: Đặc điểm

Thẻ thường thiết kế với kích thước chữ nhật tiêu chuẩn để phù hợp với khe đọc thẻ, có kích thước thông thường là 8,5cm x 5,5cm Trên bề mặt thẻ dập nổi tên chủ thẻ, số thẻ, băng giấy để chủ thẻ ký tên, và băng từ (thẻ từ) hoặc chip (thẻ chip) lưu trữ thông tin về tài khoản đã được khách hàng đăng ký tại ngân hàng nào đó

Tại Việt Nam thẻ ATM thường được hiểu là thẻ ghi nợ, hay còn gọi là thẻ ghi nợ nội địa, là loại thẻ có chức năng rút tiền dựa trên cơ sở ghi nợ vào tài khoản Chủ tài khoản phải có sẵn tiền trong tài khoản từ trước và chỉ được rút trong giới hạn tiền có trong tài khoản của mình Một số ngân hàng cho phép rút đến mức 0, tuy nhiên có một số ngân hàng khác yêu cầu bắt buộc phải để lại một

số tiền tối thiểu trong tài khoản

Trang 10

H3: Hình ảnh hai thẻ ATM của 2 ngân hàng Vietcombank và Agribank

Tuy nhiên, trong thực tế thẻ ghi nợ vẫn có thể rút tiền ở mức âm, hay rút thấu chi, như một dịch vụ tín dụng giá trị gia tăng mà các ngân hàng triển khai cho các chủ tài khoản dựa trên cơ sở có tài sản thế chấp, có sự tin cậy nhất định, hoặc thực hiện phương thức trả lương qua tài khoản

Thẻ ATM trong thực tế còn là tên gọi khái quát, chung nhất cho các loại thẻ sử dụng được trên máy giao dịch tự động (ATM), bao gồm trong nó cả các loại thẻ tín dụng (như thẻ Visa, MasterCard, thẻ American Express) Thẻ tín dụng dựa trên yếu tố hạn mức tín dụng, theo đó tùy loại thẻ và tùy khách hàng, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng nhất định Hạn mức tín dụng là số tiền tối đa chủ thẻ được chi tiêu trong một khoảng thời gian nào đó (1 tháng, 45 ngày hay hơn) Khách hàng có thể rút số tiền được ngân hàng cấp đó trong thời hạn nhất định và buộc phải thanh toán khi đáo hạn Nếu quá hạn mức tín dụng chưa thanh toán kịp ngân hàng sẽ tính lãi suất cao

Điểm khác biệt của loại thẻ tín dụng này so với thẻ ghi nợ nói trên, ngoài yếu tố tín dụng như một đặc điểm ngày càng mờ nhòe (vì trong thực tế thẻ ghi

nợ vẫn có thể chấp nhận tín dụng, và thẻ tín dụng vẫn có thể rút tiền dựa trên yếu tố ghi nợ vào tài khoản), là thẻ tín dụng thường có thể thực hiện tại các điểm chấp nhận giao dịch bằng thẻ trên toàn cầu, khác biệt với loại thẻ ghi nợ nội địa chỉ chấp nhận giao dịch trong nước (hoặc hạn chế ở vùng mậu biên các quốc gia lân cận)

Ngày đăng: 22/06/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

H3: Hình ảnh hai thẻ ATM của 2 ngân hàng Vietcombank và Agribank - Các vấn đề về thẻ điện tử docx
3 Hình ảnh hai thẻ ATM của 2 ngân hàng Vietcombank và Agribank (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w