Việc nghiên cứu về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản có ýnghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con người, nhất là người bị buộc tội, giúp tránh đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÚY
CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học của riêngtôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đặng Quang Phương Các số liệu, ví dụ vàtrích dẫn được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ ràng đảm bảo tính chính xác,tin cậy và trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu và tínhtrung thực của luận văn
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thúy
Trang 42.1 Quy định của pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản 352.2 Thực tiễn hoạt động chứng minh hoạt động điều tra vụ án tham ô tài sản tạiThành phố Hồ Chí Minh 49
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHỨNG MINH TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN THAM Ô TÀI SẢN 66
3.1 Các yêu cầu nâng cáo chất lượng chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tàisản 663.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong điều tra vụ án tham ôtài sản 71
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Tố tụng hình sựViện kiểm sát
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1 Số vụ án, bị can tham ô tài sản Cơ quan điều tra – Công an thành
phố Hồ Chí Minh khởi tố giai đoạn 2015 - 2019 50
Biểu đồ 2.2 Số vụ án tham ô tài sản kết thúc điều tra so với tổng số vụ án
tham ô tài sản tại Cơ quan điều tra giai đoạn 2015 - 2019 50
Biểu đồ 2.3 Số vụ án tham ô tài sản Viện kiểm sát truy tố so với tổng số vụ
án tham ô tài sản tại Viện kiểm sát giai đoạn 2015 - 2019 51
Biểu đồ 2.4 Số vụ án tham ô tài sản bị Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan
điều tra để điều tra bổ sung giai đoạn 2015 - 2019 54
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là một trong những trở ngại lớn nhất đối với sự ổn định và pháttriển của mỗi quốc gia, làm suy giảm nghiêm trọng các nguồn lực phát triển của đấtnước Ở Việt Nam, trong những năm gần đây tình hình tham nhũng nói chung vàtình hình các tội phạm về tham nhũng nói riêng trong đó có tội phạm tham ô tài sản
có những diễn biến phức tạp ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực… và gây hậuquả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, bởi vậy Đảng ta đã cónhiều chủ trương, giải pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn tham nhũng cũng như tộiphạm về tham nhũng, tham ô tài sản Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Đảng ta xác định: Đẩy mạnh đấu tranh PCTN, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên,quan trọng đồng thời là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài Trên cơ sở pháp lýhiện hành, công tác PCTN nói chung và phòng, chống các tội phạm tham nhũng nóiriêng trong đó có tội phạm tham ô tài sản ở nước ta trong thời gian qua đã đạt đượcnhững kết quả nhất định, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hìnhtham nhũng, trong đó có các tội phạm về tham nhũng, như đã nhấn mạnh còn diễnbiến phức tạp và công tác PCTN cũng còn những hạn chế, bất cập nhất định
Hiện nay, tình hình tội phạm nói chung và tội phạm tham nhũng nói riêngđang diễn ra ngày càng nhiều, với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây trở ngạicho đời sống xã hội nói chung cũng như công tác thu thập chứng cứ trong hoạt độngchứng minh vụ án tham nhũng – tham ô nói riêng Do đó, để đảm bảo tính kịp thờitrong hoạt động phát hiện tội phạm và thu thập chứng cứ đòi hỏi các cơ quan tố tụngphải tiến hành hoạt động chứng minh nhằm xác định sự thật vụ án Chứng cứ luôn
là vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết mọi vụ án hình sự, là công cụ hữudụng giúp cơ quan có thẩm quyền THTT đấu tranh với đối tượng phạm tội
Trong quá trình điều tra vụ án tham ô tài sản, chứng cứ và chứng minh lànhững vấn đề được CQĐT, VKS quan tâm trong quá trình thực hiện; nếu chứngminh được thực hiện hiệu quả, đúng quy định của pháp luật thì tài liệu, chứng cứthu thập được có giá trị chứng minh tội phạm cao, và ngược lại nếu chứng minh
Trang 8không được thực hiện tốt, không tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật thìnhững tài liệu, chứng cứ thu thập được trong giai đoạn này sẽ không có giá trịchứng minh và không được sử dụng trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo Trong quátrình giải quyết các vụ án hình sự nói chung, vụ án tham ô tài sản nói riêng, các hoạtđộng chứng minh luôn đóng vai trò hết sức quan trọng và đã đạt được nhiều thànhcông đáng kể, song vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót cần được nghiêncứu, tổng kết rút kinh nghiệm nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả chứng minhtrong điều tra vụ án hình sự, vụ án tham ô tài sản.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề
tài luận văn thạc sĩ, ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và chứng minh trongđiều tra vụ án tham ô tài sản nói riêng là một hoạt động mang tính đặc thù của LuậtTTHS Việc nghiên cứu về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản có ýnghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con người, nhất
là người bị buộc tội, giúp tránh được những hạn chế về tình trạng oan sai, làm oanngười vô tội, cũng tránh được việc bỏ lọt tội phạm, đồng thời giúp cho việc thuthập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ được đảm bảo tính chính xác, tính hợp pháp, trên
cơ sở đó sẽ giúp cho việc xét xử của Tòa án được đảm bảo đúng người, đúng tội,đúng pháp luật Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng như trong thực tiễn ápdụng, vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và chứng minh vụ án tham
ô tài sản trong giai đoạn điều tra nói riêng luôn được các nhà khoa học quan tâm,nghiên cứu Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Chứng cứ vàchứng minh trong vụ án hình sự nói chung được công bố trên các sách báo, trong cácluận văn thạc sỹ luận văn tiến sỹ, các tạp chí chuyên ngành và các đề tài nghiên cứu cấp
bộ do Viện KSND tối cao thực hiện
Liên quan đến đề tài luận văn, đến nay đã có một số công trình khoa học đãcông bố như sau: Sách “Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự” của tác giả
Trang 9TS Đỗ Văn Đương, Nxb Tư pháp, Hồ Chí Minh năm 2006; Sách “Chứng cứ trongluật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư Pháp, Hồ ChíMinh năm 2005; Sách “Chứng minh trong tố tụng hình sự - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn”, của tác giả Nguyễn Duy Thuân, Trường Đại học an ninh nhân dân,
TP Hồ Chí Minh năm 2006…
Các bài viết của một số tác giả trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến nội dungnày dưới nhiều góc độ khác nhau được đăng tải trên tạp chí Kiểm sát, tạp chí Tòa
án, tạp chí Luật học…, cụ thể như: “Hoàn thiện chế định về chứng minh và chứng
cứ trong tố tụng hình sự” của tác giả Mai Thế Bày (Tạp chí kiểm sát số 18 & 20,2008); “Kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng – hối lộ củamột số nước trên thế giới” của tác giả Võ Thành Đủ (Tạp chí kiểm sát số 12, 2017);
“Phát hiện, xử lý các vụ án tham ô tài sản: thực trạng và giải pháp khắc phục hạn
chế bất cập” của tác giả Nguyễn Thị Hương (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 5
(381), tháng 3/2019), “Một số kinh nghiệm trong công tác giải quyết các vụ án vềtham nhũng, kinh tế lớn trong thời gian qua” của tác giả Đỗ mạnh Bổng (Tạp chíkiểm sát số 01, 2019); “Bình luận về tội tham ô tài sản” của tác giả TS Đỗ ĐứcHồng Hà (Tạp chí kiểm sát số 05, 2018)…
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn như: luận văn thạc sĩ “Chứng minhtrong điều tra vụ án hình sự” của tác giả Vũ Ngọc Hà; Luận văn thạc sĩ “Hoạt độngchứng minh trong điều tra vụ án hình sự” của tác giải Lý Văn Cẩn; Luận văn thạc sĩ
“Hoạt động chứng minh trong điều tra vụ án hình sự theo Luật tố tụng Hình sự ViệtNam” của tác giả Lê Thị Mỹ Giàu; Luận văn thạc sĩ “Tội tham ô tài sản trong luậthình sự Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Tạ Thu Thủy;Luận văn thạc sĩ “Tội tham ô tài sản trong luật hình sự Việt Nam” của tác giảNguyễn Văn Cương …Các đề tài này đã đưa ra lý luận về chứng cứ và chứng minh
vụ án hình sự nói chung, hoặc đi vào làm rõ cấu thành cũng như những vấn đề liênquan đến định tội danh cụ thể…
Tuy nhiên các công trình này chưa đi vào nghiên cứu chứng cứ và chứngminh trong từng loại vụ án cụ thể Vấn đề nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận để áp
Trang 10dụng quy định của pháp luật về quá trình chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tàisản ít được quan tâm nghiên cứu Bên cạnh đó, trong thực tiễn vẫn còn nhiều vụ án
mà CQĐT giải quyết chưa được triệt để, quá trình chứng minh xác định sự thật vụ
án còn có nhiều sai sót Từ đó cho thấy, việc nhận thức và áp dụng pháp luật vềchứng minh nói chung và chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản của một sốchủ thể THTT chưa được triệt để, đầy đủ, toàn diện và khách quan Hiện nay chưa
có công trình nào nghiên cứu về vấn đề chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tàisản từ thực tiễn TP Hồ Chí Minh Do vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện đề tài
“Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là vấn đề mang tính cấp thiết nhằm hoàn thiện, góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động chứng minh của cơ quan có thẩm quyền THTT nói chung cũng nhưcủa CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án tham ô tài sản nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chứng minh trong điều tra vụ án hình sựnói chung và vụ án tham ô tài sản nói riêng như: khái niệm, đặc điểm của chứng minhtrong điều tra vụ án tham ô tài sản, mục đích, ý nghĩa, nội hàm của chứng minh trongđiều tra vụ án tham ô tài sản…
- Nghiên cứu quy định của pháp luật hình sự, TTHS đối với chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng thực thi các quy định của phápluật về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản của Cơ quan CSĐT, Cơ quanANĐT – Công an TP Hồ Chí Minh và Viện KSND TP Hồ Chí Minh đồng thời
Trang 11phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế của công tác này và những nguyên nhân cơ bản của nó.
- Làm rõ các yêu cầu và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó “Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”.
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và những quy định của pháp luậthình sự và TTHS Việt Nam hiện hành về chứng minh và thực tiễn thi hành quy địnhcủa pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản do Cơ quan CSĐT,
Cơ quan ANĐT - Công an nhân dân TP Hồ Chí Minh thụ lý
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ luật TTHS Việt Nam, trong
đó, nghiên cứu những vấn đề lý luận về chứng minh trong điều tra vụ án hình sự,nghiên cứu quy định của pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án hình sự, đặcbiệt tập trung nghiên cứu về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản theopháp luật TTHS Việt Nam
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu việc thực hiện các quy định cóliên quan đến chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung và chứng minhtrong điều tra vụ án tham ô tài sản nói riêng trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm2019
Về chủ thể, địa bàn: án do Cơ quan CSĐT, Cơ quan ANĐT - Công an TP
Hồ Chí Minh thụ lý; Viện KSND TP Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố vàkiểm sát hoạt động điều tra
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên sự vận dụng phương pháp luận của Chủnghĩa Mác - Lênin về con đường nhận thức chung và khả năng nhận thức chân lýtrong TTHS nói riêng; đồng thời vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống
Trang 12các chủ trương, đường lối, các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách và pháp luậtcủa Nhà nước về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp và đấu tranh phòng,chống tội phạm nói chung, tội phạm tham nhũng nói riêng được thể hiện trong cácvăn kiện của Đảng.
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phươngpháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp thống kê, so sánh; Phương pháp tổng kếtthực tiễn… trên cơ sở lý luận khoa học TTHS để làm sáng tỏ nội dung cần nghiêncứu của đề tài
Cụ thể, tác giả sử dụng những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm của ViệnKSND TP Hồ Chí Minh – cơ quan chủ quản công tác thống kê tội phạm; nghiêncứu các quyết định tố tụng liên quan đến hoạt động chứng minh vụ án, tổng hợp cáctri thức khoa học pháp luật TTHS và các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trongluận văn Ngoài ra, tác giả còn tham khảo ý kiến của các ĐTV của Cơ quan CSĐT –Công an nhân dân TP Hồ Chí Minh trực tiếp tiến hành các hoạt động chứng minhtrong vụ án tham ô tài sản ở giai đoạn điều tra cũng như ý kiến của các KSV trựctiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra các vụ án tham ô tài sảncủa Viện KSND TP Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Là công trình khoa học được nghiên cứu, phân tích toàn diện và sâu sắc đểlàm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như cơ sở pháp lý của hoạt động chứng minh trongđiều tra vụ án tham ô tài sản theo luật TTHS Việt Nam
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên, có tính hệ thống vàtương đối toàn diện về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản từ thực tiễn
TP Hồ Chí Minh ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học Kết quả nghiên cứu củaluận văn sẽ giúp xác định được khái niệm, các đặc điểm riêng có, cũng như nội hàmcủa chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản, từ đó đưa ra những kiến nghị vềmặt lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật TTHS về vấn đề này
Trang 13- Về mặt thực tiễn
Tổng kết, rút ra được những kinh nghiệm trong chứng minh vụ án tham ô tàisản ở giai đoạn điều tra từ năm 2015 đến năm 2019 do Cơ quan CSĐT, Cơ quanANĐT - Công an nhân dân TP Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết Kết quả nghiên cứucủa luận văn giúp các Cơ quan THTT nói chung, CQĐT nói riêng xác định, áp dụngđúng đắn trình tự, thủ tục trong chứng minh vụ án tham ô tài sản Bên cạnh đó, tácgiả cũng hy vọng luận văn có thể được sử dụng trong công tác nghiên cứu của các
cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật… Những người cóthẩm quyền THTT và những người tham gia tố tụng có thể nghiên cứu nhằm ápdụng pháp luật vào quá trình công tác thực tiễn, nâng cao chất lượng hiệu quả trongcông tác
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo vàphần phụ lục, nội dung của luận văn được bố cục thành 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô
tài sản
Chương 2 Quy định của pháp luật về chứng minh trong điều tra vụ án tham
ô tài sản và thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong
điều tra vụ án tham ô tài sản
Trang 141.1.1 Khái niệm chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
Để có thể đưa ra được một khái niệm khoa học, đầy đủ và có tính chính xác
về “chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản”, trước hết, cần thiết phải làm rõmột số khái niệm gần kề, có liên quan như: “chứng minh”, “chứng minh tội phạm”,
“vụ án”, “điều tra vụ án”, “tội tham ô tài sản”…
Chứng minh là một trong những hoạt động thực tiễn của con người, nó diễn
ra trong tất cả các mặt của đời sống xã hội Chứng minh theo Từ điển Tiếng Việt
thông dụng (1996), NXB Giáo dục Hà Nội được hiểu là “dùng lý lẽ, suy luận, bằng
cứ để chỉ rõ điều gì đó là đúng hay không đúng” [47, tr.256] Hoặc theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (1999), NXB Hà Nội thì chứng minh là “Quá trình tư duy sử dụng nhiều lý lẽ khác nhau, gọi là lý luận cứ để bảo vệ cho sự đúng đắn của một hay nhiều tư tưởng khác nhau gọi là luận đề” [33, tr.457] Hay theo Từ điển Tiếng Việt (2006) của Viện ngôn ngữ học Đà Nẵng thì “Chứng minh là làm cho thấy rõ là
có sự thật, là đúng, bằng những việc hay lý lẽ hoặc dùng suy luận logic vạch rõ một điều gì đó là đúng” [45, tr.174].
Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về chứng minh cụ thể như
sau: “Chứng minh là hoạt động của con người để nhận thức sự thật khách quan về một sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó thông qua các thông tin, tài liệu được thu thập, kiểm tra, đánh giá tính chân lý” Như vậy, có thể hiểu rằng “chứng minh” là
hoạt động nhận thức, tư duy, lý luận của con người để làm sáng tỏ một sự vật, sựviệc, hiện tượng nào đó với một mục đích nhất định, nhằm xác định tính đúng, saicủa một sự vật, hiện tượng trên cơ sở những bằng chứng, chứng cứ cụ thể
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (1999), trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb Công an nhân dân thì “Chứng minh tội phạm là thu thập, kiểm tra, đánh
Trang 15giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [36,
tr.161] Theo GS, TS Võ Khánh Vinh, trong phần bình luận Điều 65 BLTTHS năm
2003 có đưa ra khái niệm về chứng minh là “quá trình nhận thức về vụ án hình sự
do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện” [46, tr.131] Như vậy, có thể
hiểu rằng chứng minh trong TTHS là một hoạt động của chứng minh nói chung,diễn ra trong phạm vi cụ thể là hoạt động hình sự Trong phạm vi này, chứng minh
là nhằm để làm rõ hành vi phạm tội của người thực hiện hành vi có liên quan đếnmột vụ án cụ thể đã xảy ra trên thực tế nhằm làm sáng tỏ sự thật của vụ án
Chứng minh trong TTHS là một công việc phức tạp vì các cơ quan THTT vàngười THTT phải áp dụng mọi biện pháp để chứng minh sự thật của vụ án Các vụ
án đã xảy ra sẽ đều để lại những hình ảnh khách quan mà qua đó con người có thểnhìn nhận, đánh giá những hình ảnh đó bằng chính tư duy, lý luận của mình Từnhững tư duy, lý luận đó, giúp cho những người THTT tìm ra được sự thật của vụ
án thông qua hoạt động chứng minh khi điều tra vụ án Theo tác giả, quá trìnhchứng minh phải tuân thủ các quy luật chung của quá trình nhận thức khách quancũng như các nguyên tắc như: khách quan, toàn diện Chứng minh trong TTHS làviệc làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng này với những sựvật, hiện tượng khác có trong vụ án hình sự Từ đó, có thể hiểu rằng quá trình chứngminh trong TTHS là quá trình tư duy và thực tiễn của cơ quan có thẩm quyền THTTdựa trên những quy định của pháp luật TTHS để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sửdụng những tài liệu, thông tin thu thập được để xác định sự thật khách quan của vụ
án nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật
Theo Từ điển luật học (2006), Nxb Tư pháp thì vụ án hiểu là “một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết” [37, tr.860] Cơ sở
pháp lý để có thể bắt đầu chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là từ khi có quyếtđịnh khởi tố vụ án (trừ trường hợp cần thu thập chứng cứ trước khi khởi tố vụ ánnhư khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, tạm giữ phương tiện, khámxét…)
Trang 16Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam (2018) của trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb Công an nhân dân: “Điều tra vụ án là một giai đoạn, trong đó Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm rõ đối tượng chứng minh để ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra và ra các quyết định khác theo quy định của pháp luật” [35, tr.115] Theo Từ điển Luật học (2006), Nxb Tư pháp thì “Điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ” [37, tr.216] Hoạt động điều tra
bao gồm nhiều hành vi tố tụng khác nhau của cơ quan THTT, bao gồm nhiều hành
vi tố tụng đặc trưng như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, hỏi cung bị can, khámnghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đối chất, nhậndạng… nhằm làm rõ đối tượng chứng minh trong điều tra vụ án hình sự Với tính chấtcủa giai đoạn điều tra vụ án hình sự làm cho việc chứng minh trong giai đoạn này cónhiều điểm khác biệt mà không có giai đoạn nào có thể thay thế được
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu chứng minh trong điều tra vụ ánhình sự như sau: chứng minh trong điều tra vụ án hình sự là hoạt động của những
cơ quan, những người có thẩm quyền THTT theo quy định của pháp luật TTHSđược thực hiện chủ yếu ở giai đoạn điều tra vụ án thông qua quá trình thu thập,kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ nhằm để làm sáng tỏ các tình tiết, các sự vật,hiện tượng, sự kiện đã xảy ra một cách khách quan, toàn diện, để làm cơ sở cho các
cơ quan có thẩm quyền THTT ban hành các quyết định tố tụng phù hợp và đúng vớiquy định của pháp luật góp phần giải quyết vụ án đúng đắn, bảo đảm quyền conngười, quyền công dân, tránh làm oan người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm
Tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 353, Mục 1, Chương XXIII BLHSnăm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi chung là BLHS năm 2015) Dựa vàokhái niệm tội phạm được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành có thể đưa rakhái niệm về tội tham ô tài sản như sau:
Tội tham ô tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách
Trang 17nhiệm quản lý xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của
cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước.
Trên cơ sở những vấn đề lý luận đã được phân tích ở trên cùng với quy địnhcủa pháp luật có liên quan, tác giả đưa ra khái niệm về chứng minh trong điều tra vụ
án tham ô tài sản như sau: Chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản là việc
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành áp dụng các biện pháp, phương tiện hợp pháp để thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ nhằm xác định
sự thật khách quan, toàn diện của vụ án làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án ở các giai đoạn tiếp theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, giúp giải quyết vụ án đúng các nguyên tắc xử lý trách nhiệm hình sự.
1.1.2 Đặc điểm của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
Chứng cứ và chứng minh là xương sống của pháp luật tố tụng nói chung,trong đó có pháp luật tố tụng dân sự, hành chính và hình sự Mọi hoạt động tố tụngđều hướng tới tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thuthập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ
Xuất phát từ đặc điểm của loại án dân sự, hành chính, hình sự cho thấy,chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính và vụ án hình sự cũng sẽ có nhữngđặc điểm khác nhau được quy định cụ thể tại luật tố tụng chuyên ngành
Như vậy, trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, việc giao nộp chứng cứ đểchứng minh cho các yêu cầu trong các vụ, việc dân sự, hành chính vừa là quyền,vừa là nghĩa vụ của các đương sự, người khởi kiện… để bảo vệ yêu cầu của mình.Các cơ quan THTT (cụ thể là Tòa án, Viện kiểm sát) chỉ thu thập chứng cứ trongmột số trường hợp cụ thể Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh
mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giảiquyết vụ, việc dân sự, hành chính theo những chứng cứ đã thu thập được có trong
hồ sơ vụ, việc Bộ luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính không quy định đối tượngcần phải chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính mà chỉ quy định những tìnhtiết, sự kiện không phải chứng minh
Trang 18Trong TTHS, những khía cạnh về trách nhiệm chứng minh được thể hiện tạiĐiều 15 của BLTTHS năm 2015 quy định về xác định sự thật của vụ án:
“Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự của người bị buộc tội”.
Do xuất phát từ mô hình tố tụng của Việt Nam vừa mang tính chất thẩm vấnnhưng lại pha lẫn tính tranh tụng nên trách nhiệm chứng minh trong điều tra vụ ánhình sự thuộc về các Cơ quan THTT gồm CQĐT, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra, Viện KSND Đấu tranh chống tội phạm là nhiệm vụcủa các cơ quan THTT nên trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quannày Cơ quan THTT phải áp dụng các biện pháp do BLTTHS sự quy định để xácđịnh sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, kết luận bị can, bị cáophạm tội hay không phạm tội
Ngoài ra, BLTTHS Việt Nam hiện hành còn quy định người bào chữa cóquyền thu thập, đưa ra chứng cứ để chứng minh cho thân chủ của mình Người bàochữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp hợp pháp để làm sáng tỏ những tình tiếtxác định người bị buộc tội vô tội Tuy nhiên, họ không phải là người có nghĩa vụchứng minh để xác định sự thật vụ án
Khác với chứng minh trong vụ, việc dân sự, hành chính, không quy định đốitượng cần phải chứng minh thì chứng minh trong hoạt động điều tra cần phải làm rõcác tình tiết quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015
Vụ án tham ô tài sản là một vụ án hình sự cụ thể, do đó, khi điều tra vụ ántham ô tài sản cũng phải chứng minh tất cả các tình tiết quy định tại Điều 85BLTTHS năm 2015 như một vụ án hình sự nói chung Trong quá trình đó, cần làm
rõ những tình tiết định tội danh, định khung và các tình tiết khác để làm rõ đượchành vi thực hiện là tội phạm tham ô tài sản Đối tượng chứng minh là các yếu tốcấu thành tội phạm, bao gồm 4 yếu tố cấu thành tội phạm của tội tham ô tài sản, là:
Trang 19mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể Đây là những yếu tố thể hiện bản chất, tính khách quan của hành vi phạm tội.
Đặc điểm nổi bật khi chứng minh trong vụ án tham ô tài sản là chủ thể tham
ô tài sản là người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩquan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan… Nhìn chung,nhóm đối tượng này có đặc điểm đặc thù so với các nhóm đối tượng khác: họ thường lànhững người có quá trình công tác và cống hiến nên có nhiều kinh nghiệm; được đào tạo
có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác
nhau
Chủ thể tham ô tài sản “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” được giao để vụ lợi làđặc trưng thứ hai của tham ô tài sản Khi thực hiện hành vi tham ô, người tham ôphải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợiích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác Đây là yếu tố cơ bản để xácđịnh có hành vi tham ô tài sản xảy ra Tham ô tài sản là loại tội phạm chức vụ mangtính chất chiếm đoạt, người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn khi thực hiệnhành vi phạm tội họ nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thựchiện vì mục đích tư lợi, vì lợi ích của bản thân, của gia đình, bất chấp hậu quả xảyra
Mỗi giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng sẽ có những đặc điểm khácnhau của chứng minh vụ án hình sự Chứng minh trong điều tra vụ án hình sự làhoạt động của những cơ quan và người có thẩm quyền THTT theo quy định củapháp luật TTHS được thực hiện chủ yếu ở giai đoạn điều tra vụ án thông qua quátrình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm để làm sáng tỏ các tình tiết, các sựvật, sự kiện đã xảy ra một cách khách quan, toàn diện, để làm cơ sở cho các cơ quan
có thẩm quyền THTT ban hành các quyết định tố tụng phù hợp và đúng quy địnhcủa pháp luật
Chứng minh trong giai đoạn truy tố là hoạt động của VKS nhằm kiểm tra,đánh giá và sử dụng chứng cứ đã được CQĐT thu thập ở giai đoạn điều tra, để làmsáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ án, các tình tiết khác liên quan đến vụ án một
Trang 20cách khách quan, toàn diện trên cơ sở quy định của pháp luật Nhằm đưa ra kết quảcuối cùng để hoàn thiện quá trình điều tra, truy tố ra tòa án hay không truy tố vàđình chỉ vụ án.
Chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là làm rõ sự kiện phạm tội;các tình tiết của việc thực hiện tội phạm tương ứng với các dấu hiệu của cấu thànhtội phạm do điều luật của BLHS quy định; người thực hiện tội phạm; có lỗi haykhông có lỗi, lỗi cố ý hay vô ý; các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm;các tình tiết đặc trưng về nhân thân bị cáo; các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự;các sự kiện chứng minh bị cáo vô tội; hậu quả của tội phạm; các tình tiết tạo điềukiện cho việc thực hiện tội phạm dựa trên những chứng cứ đã thu thập được trongquá trình điều tra, truy tố, cùng lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan, cũngnhư chứng cứ mới phát hiện tại phiên tòa Tóm lại, chứng minh ở giai đoạn xét xử
vụ án hình sự là nhằm làm rõ những tình tiết có ý nghĩa pháp lý đối với việc giảiquyết vụ án hình sự về thực chất và cả những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giảiquyết các vấn đề tố tụng riêng biệt
Đặc điểm khác biệt quan trọng nhất khi chứng minh trong điều tra vụ ántham ô tài sản và các tội phạm khác là phải chứng minh được cách thức chiếm đoạttài sản của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội Nếu chứng minh được chủ thể lợidụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản do mình quản lý sẽ kết luận được hành
vi đó cấu thành tội tham ô, còn nếu chứng minh ra chủ thể thực hiện hành vi phạmtội chiếm đoạt tài sản bằng cách thức, thủ đoạn khác sẽ cấu thành những tội phạm tươngứng được quy định trong BLHS Do vậy, khi chứng minh tội tham ô tài sản phải đặc biệtlàm rõ tình tiết này
1.1.3 Mục đích và ý nghĩa của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản Công tác phòng, chống tham nhũng là một trong những nhiệm vụ được đặt ra
ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời bên cạnh nhiệm vụ chống giặcngoại xâm, giặc dốt và giặc đói Nhiệm vụ đó, được thể hiện trong chính sách hình
sự của Nhà nước ta nhằm đề cao trách nhiệm của cán bộ đồng thời nghiêm trị cáchành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt của công
Trang 21Qua gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bên cạnh những thành tựu đãđạt được về mọi mặt, từ việc đổi mới hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước, cơ chếquản lý kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống phápluật, hội nhập khu vực và quốc tế , Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ,trong đó có tệ tham nhũng – tham ô Cùng với lãng phí, tham nhũng trong đó cótham ô tài sản đang diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vựcvới phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sútlòng tin của nhân dân vào Đảng vào chế độ; là một trong những nguy cơ lớn đe dọađến sự tồn vong của Đảng và chế độ ta Nhận thức sâu sắc về tác hại của thamnhũng, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương,chính sách và pháp luật về PCTN, tham ô tài sản.
Mục đích của chứng minh trong điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án tham
ô tài sản nói riêng là nhanh chóng phát hiện mọi hành vi phạm tội xảy ra, kịp thờithu thập tài liệu, đồ vật, chứng cứ… có trong vụ án, chứng minh được các hành vi của tộiphạm, không để lọt tội phạm đồng thời không được làm oan người vô tội Đồng thời khigiải quyết vụ án tham ô tài sản phải đảm bảo yêu cầu tuân thủ triệt để các quy định củapháp luật TTHS Trách nhiệm của CQĐT, VKS phải xem xét có hành vi phạm tội xảy rahay không, người thực hiện hành vi phạm tội, mức độ hậu quả như thế nào, những tìnhtiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện Nhữngvấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự có thể được hiểu theo nghĩa rộng gồm: khôngchỉ chứng minh những vấn đề có liên quan đến bản chất của vụ án mà bao gồm tất cảnhững vấn đề khác có liên quan đến vụ án và có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án Vìvậy, mục đích của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản là nhằm nhanh chóngthu thập các tài liệu chứng cứ nhằm làm rõ sự việc phạm tội và người thực hiện hành vitham ô tài sản
Một mục đích nữa của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản lànhằm góp phần vào việc thu hồi được tài sản tham nhũng, tham ô một cách nhanhchóng, giảm thiểu tới mức thấp nhất thiệt hại do hành vi tham ô gây ra
Trang 22Trong vụ án hình sự nói chung cũng như vụ án tham ô tài sản, khi thực hiệnhành vi phạm tội, người phạm tội sẽ luôn có tâm lý cố tình che dấu, lẩn trốn nênviệc xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội không phải là điều đơn giản.Đặc biệt là với tội tham ô tài sản – chủ thể thực hiện tội phạm có trình độ học vấncao, có kỹ năng nghiệp vụ chuyên nghiệp, hành vi thực hiện rất tinh vi, che giấuhành vi rất kín kẽ Việc phát hiện hành vi phạm tội, và người phạm tội tham ô tàisản và chứng minh được đó là tội phạm tham ô tài sản là vô cùng khó khăn.
Do đó, việc chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản mang ý nghĩa vôcùng quan trọng Công tác phòng, chống tham ô ở nước ta có vai trò vô cùng quantrọng, trước hết nó giúp giảm tình trạng vi phạm pháp luật nói chung và tội phạmtham ô tài sản nói riêng Đồng thời, công tác này còn có ý nghĩa trong việc bảo vệ
sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khi công tác này đạt đượchiệu quả, nó sẽ giúp nền kinh tế của đất nước tăng trưởng; cũng như cải thiện, nângcao chất lượng đời sống của nhân dân, lấy lại được niềm tin của nhân dân vào Đảng,vào chế độ Như vậy có thể nói, đất nước chỉ có thể phát triển một cách vững chắc;đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao khi chúng
ta hạn chế và ngăn ngừa được tham nhũng, tham ô tài sản diễn ra trong mọi lĩnh vựctrong đời sống xã hội
1.2 Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
Khi chứng minh một vụ án hình sự nói chung và vụ án tham ô tài sản nóiriêng cần phải chứng minh cả mặt khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủquan của tội phạm Khi chứng minh một vụ án cụ thể cần phải có sự tổng hợp chứngminh của nhiều yếu tố Ngoài chứng minh hành vi phạm tội có xảy ra hay không,còn cần phải chứng minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không
có lỗi, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, động cơ, mục đích của hành viphạm tội như thế nào Bên cạnh đó, những vấn đề cần phải chứng minh trong một
vụ án cần phải được đề cập đến các yếu tố có ý nghĩa trực tiếp hoặc gián tiếp đếnviệc giải quyết vụ án như: khi xử lý người phạm tội cần phải chứng minh xem họ có
đủ điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay không,
Trang 23tính chất và mức độ thiệt hại của hành vi phạm tội gây ra, những tình tiết giảm nhẹ,tăng nặng TNHS…
1.2.1 Những vấn đề để xác định khách thể và mặt khách quan của tội phạm
Vấn đề đầu tiên khi điều tra vụ án hình sự CQĐT, VKS phải chứng minh là
có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết kháccủa hành vi phạm tội Trong từng vụ án hình sự cần phải chứng minh rằng hành vi
bị khởi tố, truy tố về mặt hình sự đã xảy ra trong thực tế Việc chứng minh đó thểhiện ở việc làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện tất cả các tình tiếtliên quan đến hành vi phạm tội Có ý nghĩa đối với việc định tội danh đúng hành vi
và suy cho cùng có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Đó lànhững dấu hiệu thuộc khách thể và mặt khách quan của tội phạm
Khách thể của tội phạm bao gồm: Khách thể chung (toàn bộ quan hệ xã hộiđược pháp luật hình sự bảo vệ), khách thể loại (một nhóm quan hệ xã hội được phápluật hình sự bảo vệ) và khách thể trực tiếp (một quan hệ xã hội cụ thể được phápluật hình sự bảo vệ) Khi chứng minh khách thể của tội phạm, cơ quan THTT cầnphải xác định có quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị xâm hại haykhông, nếu không có quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị xâm hại thìkhông có tội phạm Nếu có quan hệ xã hội bị xâm hại được pháp luật hình sự bảo vệthì cần phải chứng minh quan hệ xã hội đó được chương nào, điều khoản nào củaBLHS bảo vệ Việc chứng minh khách thể của tội phạm có ý nghĩa pháp lý rất quantrọng đối với việc giải quyết vụ án hình sự nói chung, vụ án tham ô tài sản nó riêng
vì khách thể tội phạm là căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội; phânbiệt tội phạm này với tội phạm khác; xác định tính chất và mức độ nguy hiểm củahành vi mà tội phạm thực hiện…
Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện bên ngoài của tội phạm tác độngvào các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ gây thiệt hại đáng kể cho quan hệ xãhội đó, mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội (hànhđộng và không hành động), hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra, thời gian, địa
Trang 24điểm, hoàn cảnh phạm tội, công cụ, thủ đoạn, phương tiện phạm tội Như vậy, khichứng minh mặt khách quan của tội phạm cần chứng minh các vấn đề như sau: thờigian, địa điểm, tính chất và mức độ thiệt hại và những tình tiết khác như: công cụ,phương tiện, thủ đoạn, phương pháp thực hiện… Chứng minh mặt khách quan củatội phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với việc định tội, định khung hình phạt
và quyết định hình phạt
Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” trong vụ
án tham ô tài sản là chứng cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thànhtội phạm tham ô tài sản được quy định trong BLHS hay thuộc các trường hợp khôngphải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính…)
Chứng cứ để chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác củahành vi phạm tội” trong vụ án tham ô tài sản là chứng cứ xác định nếu có hành viphạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ,phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào
Tình tiết thuộc mặt khách quan của tội tham ô tài sản: người tham ô tài sản
phải là người có hành vi khách quan là lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tàisản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý Hành vi chiếm đoạt tài sản đó phải
có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội, nếu người phạmtội không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó hoặc không thể thực hiện được hành
vi chiếm đoạt tài sản Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi và cần thiết đểngười phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản một cách dễ dàng Người có chức vụ,quyền hạn mà thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản không liên quan đến chức vụ, quyềnhạn của mình thì dù họ có chức vụ, quyền hạn cũng không bị coi là tham
ô tài sản Người tham ô tài sản thuộc 01 trong 03 trường hợp sau đây mới phạm tội tham ô tài sản:
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệmquản lý trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên; hoặc tài sản có trị giá dưới 2.000.000 đồngnhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi tham ô tài sản mà còn vi phạm; hay tài sản trịgiá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội: tham ô tài sản;
Trang 25nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;… chưa được xóa ántích mà còn vi phạm.
Tình tiết thuộc khách thể của tội tham ô tài sản: là những quan hệ xã hội liên
quan đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong nhà nước và của cả cácdoanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước; làm cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này
bị suy yếu, mất uy tín; làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước Hành
vi tham ô tài sản đã trực tiếp tác động đến tài sản mà người phạm tội có trách nhiệmquản lý Tài sản này bao gồm tài sản của Nhà nước giao cho các cơ quan, tổ chức trongnhà nước hoặc là tài sản của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước Như vậy, kháchthể của tội tham ô tài sản không còn là chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa nữa, mà còn làquan hệ sở hữu của tất cả các thành phần kinh tế khác Đồng thời nó còn xâm phạm đếnhoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức Nhà nước và ngoài Nhà nước
1.2.2 Những vấn đề để xác định chủ thể và mặt chủ quan của tội tham ô tài sản
Những vấn đề cần phải chứng minh tiếp theo khi điều tra vụ án hình sự là: ai
là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; cónăng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội là gì Chứngminh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, tức là xác định chủ thể của tội phạm.Tiếp đến xác định người đó có lỗi hay không, nếu có lỗi thì lỗi cố ý hay vô ý Mụcđích và động cơ phạm tội cũng cần được chứng minh khi điều tra vụ án Đó lànhững dấu hiệu cơ bản thuộc chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm phải được làmsáng tỏ
Thực chất của việc chứng minh chủ thể tội phạm là việc xác định ai là ngườithực hiện hành vi phạm tội (thông qua việc chứng minh các đặc điểm nhân thân: họ
và tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ, quyền hạn …) vàngười này có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, đã đủ tuổi chịu trách nhiệmhình sự theo quy định của pháp luật hình sự hay chưa … Khi chứng minh chủ thểtội phạm, còn phải chứng minh được trong vụ án đó có bao nhiêu người tham gia,
Trang 26vai trò của từng người trong việc thực hiện tội phạm, năng lực trách nhiệm hình sự
và tuổi chịu trách nhiệm hình sự của từng người Đối với một số cấu thành tội phạm
cụ thể liên quan đến chủ thể đặc biệt, thì ngoài những dấu hiệu bắt buộc nêu trên,các cơ quan THTT còn phải chứng minh thêm dấu hiệu đặc biệt của chủ thể này
Mặt chủ quan của tội phạm là đặc điểm tâm lý bên trong của cách xử sự cótính chất tội phạm xâm hại đến khách thể được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tức làthái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó Mặtchủ quan của tội phạm gồm các yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội.Trong đó, lỗi là dấu hiệu bắt buộc đối với mọi cấu thành tội phạm
Chứng cứ để chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” trong vụ
án tham ô tài sản là chứng cứ xác định một chủ thể cụ thể đã thực hiện hành viphạm tội tham ô tài sản
Chứng cứ để chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” trong vụ án tham ô tàisản là chứng cứ xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vitham ô tài sản; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý
do quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 củaBLHS Có thể khẳng định, trong vụ án tham ô tài sản luôn luôn là lỗi cố ý
Chứng cứ để chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình sự không” trong vụ
án tham ô tài sản là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội,người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sựchưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặckhả năng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu có thì mắc bệnh đó vào thờigian nào, trong giai đoạn tố tụng nào
Chứng cứ để chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” trong vụ án tham ôtài sản là chứng cứ xác định chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với mục đích, động
cơ gì; mục đích, động cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay làtình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt
Trang 27Những tình tiết thuộc về chủ thể của tội tham ô tài sản: Chủ thể của tội tham
ô tài sản là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức Nhà nước và doanhnghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự(Điều 12, Điều 21 BLHS năm 2015) Đối với tội tham ô tài sản các dấu hiệu thuộc về chủthể của tội phạm là các dấu hiệu quan trọng nhất để xác định hành vi phạm tội Chủ thểcủa tội tham ô tài sản phải đảm bảo các điều kiện cần và đủ như: Độ tuổi và năng lựcTNHS quy định tại các điều 12, 21 BLHS năm 2015 Sự khác nhau giữa tội tham ô tàisản với các tội phạm khác có tính chất chiếm đoạt cũng chính là sự khác nhau về các dấuhiệu chủ thể của tội phạm
Người phạm tội tham ô tài sản phải là người có chức vụ, quyền hạn và cótrách nhiệm quản lý đối với tài sản mà họ chiếm đoạt Người có chức vụ là người do
bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác…, có hưởng lươnghoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyềnhạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ (khoản 2 Điều 352 BLHS năm2015)
Ngoài các cán bộ, công chức, chủ thể của tội tham ô tài sản còn có cả nhữngngười do hợp đồng hoặc do một hình thức khác - những người này tuy không phải
là cán bộ, công chức, nhưng họ được các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, doanh nghiệp ký hợp đồng làm một công việc nhất địnhthường xuyên hay theo thời vụ hoặc trong một thời gian nhất định có liên quan đếnviệc quản lý tài sản và họ có trách nhiệm quản lý đối với tài sản
Người có chức vụ, quyền hạn, phải là người có trách nhiệm quản lý tài sản,nếu họ không có trách nhiệm quản lý tài sản thì cũng không thể là chủ thể của tộitham ô tài sản được Đây là điều kiện cần và đủ để một người có thể trở thành chủthể của tội tham ô tài sản và cũng là dấu hiệu để phân biệt với một số tội phạm khác
có tính chất chiếm đoạt
Những người có trách nhiệm đối với tài sản là những người được giao nhiệm
vụ trực tiếp quản lý tài sản như: Thủ quỹ, thủ kho, kế toán, người vận chuyển tàisản của cơ quan, tổ chức Ngoài ra, còn những người tuy không được giao trực tiếp
Trang 28quản lý tài sản nhưng lại có trách nhiệm trong việc quyết định việc thu chi, xuấtnhập, mua bán, trao đổi tài sản như: Giám đốc công ty, người đứng đầu trong các cơquan, tổ chức là chủ tài khoản hoặc là người có quyền quyết định về tài sản của cơquan, tổ chức mình.
Khái niệm “người có trách nhiệm quản lý tài sản” là rất rộng nên việc xácđịnh được giới hạn của người có trách nhiệm quản lý tài sản đến đâu để xác địnhchủ thể của tội tham ô tài sản là khá phức tạp Việc xác định trách nhiệm của mộtngười đối với tài sản là rất quan trọng, nếu xác định không đúng tư cách của người
có trách nhiệm đối với tài sản mà họ chiếm đoạt thì dễ nhầm lẫn với các tội phạm
có tính chất chiếm đoạt khác
Những tình tiết thuộc mặt chủ quan của tội tham ô tài sản: Tội tham ô tài sản
cũng là loại tội phạm có tính chất chiếm đoạt nên cũng như đối với tội có tính chấtchiếm đoạt khác, người phạm tội thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý trực tiếp,
tức là, “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra” (Điều 10 BLHS
năm 2015); không có trường hợp tham ô tài sản nào được thực hiện do cố ý giántiếp, vì người phạm tội tham ô tài sản bao giờ cũng mong muốn chiếm đoạt được tàisản Lỗi là yếu tố bắt buộc trong mặt chủ quan cấu thành tội tham ô tài sản, khichứng minh hành vi phạm tội của người phạm tội thì phải chứng minh người phạmtội có lỗi hay không
Bên cạnh đó còn phải chứng minh về động cơ và mục đích phạm tội củangười thực hiện hành vi tham ô tài sản, người phạm tội thực hiện tội phạm với động
cơ, mục đích là gì Đây cũng là yêu cầu bắt buộc khi chứng minh trong vụ án tham
ô tài sản mà các ĐTV, KSV phải thực hiện
1.2.3 Những vấn đề để quyết định đường lối xử lý đối với tội tham ô tài sản
Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can là nhữngvấn đề được chứng minh khi điều tra vụ án hình sự Đó là các tình tiết được quy định ở Điều 51 và Điều 52 BLHS năm 2015 và các đặc điểm đặc trưng cho nhân
Trang 29thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt đối với
bị cáo
Chứng cứ để chứng minh “tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệmhình sự của bị can, bị cáo” trong vụ án tham ô tài sản là chứng cứ xác định bị can, bịcáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51,Điều 84 của BLHS hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quyđịnh tại Điều 52, Điều 85 của BLHS
Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là một trong nhữngvấn đề phải được chứng minh trong quá trình điều tra vụ án hình sự Tính chất vàmức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra có ý nghĩa quan trọng đối với việc xácđịnh mức độ trách nhiệm hình sự của bị can và có ý nghĩa đối với việc định tộidanh, có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại màngười thực hiện hành vi phạm tội phải bồi thường
Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tộigây ra” trong vụ án tham ô tài sản là chứng cứ để đánh giá tính chất, mức độ thiệthại, hậu quả về vật chất, phi vật chất do hành vi của người phạm tội tham ô tài sảngây ra
Những tình tiết ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt gồm tínhchất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Những tình tiết tăng nặng, tìnhtiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can; Những đặc điểm về nhân thân của bịcan… Tuy những tình tiết này không ảnh hưởng nhiều đến việc xác định tội danh đãphạm phải, nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định trách nhiệmhình sự và hình phạt của người thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án tham ô tàisản
Trong quá trình điều tra, chứng minh vụ án, cơ quan, người có thẩm quyềnTHTT phải thu thập các chứng cứ để xác định có hay không có các tình tiết giảmnhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 21, 51 BLHS năm 2015, các tình tiết tăngnặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015, có hay không cótình tiết miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015 và tình tiết
Trang 30dẫn đến miễn hình phạt quy định tại Điều 59 BLHS năm 2015 BLHS năm 2015 sovới BLHS năm 1999 thì các quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự, các tình tiết miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt được quyđịnh chi tiết và bổ sung thêm nhiều tình tiết mới.
Đây là những vấn đề cần chứng minh có ý nghĩa đánh giá sâu về tính chất,mức độ của hành vi phạm tội, quyết định khung hình phạt, mức hình phạt và giảiquyết về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (nếu có)
Chứng cứ để chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo” trong
vụ án tham ô tài sản là chứng cứ xác định lý lịch của bị can, bị cáo Trách nhiệm của
cơ quan THTT và người THTT là phải xác định xem bị can có thuộc các trường hợp
đã bị xử phạt hành chính, đã được xóa án tích hay còn án tích, bị can có tiền án, tiền
sự hay không, vì để xác định là tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm…
1.2.4 Những vấn đề xác định nguyên nhân và điều kiện của tội tham ô tài sản
Khi giải quyết vụ án hình sự, ngoài việc chứng minh các nhóm tình tiết, sựkiện để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội thì cơ quan THTT còn phảichứng minh nhóm tình tiết, sự kiện để giải quyết toàn bộ vụ án hình sự được kháchquan, công bằng, đúng quy định của pháp luật, đồng thời xác định nguyên nhân vàđiều kiện thực hiện tội phạm để có biện pháp phòng ngừa tội phạm cho phù hợp
Nguyên nhân và điều kiện phạm tội là một trong những vấn đề cần chứng minhtrong giải quyết vụ án hình sự Việc xác định được nguyên nhân và điều kiện phạm tội
có ý nghĩa trong việc xác định mức độ nguy hiểm và ý thức thực hiện hành
vi phạm tội của tội phạm, là căn cứ để quyết định hình phạt Nguyên nhân và điềukiện phạm tội là những vấn đề tuy không thuộc bản chất của vụ án, nhưng có ảnh hưởngtrực tiếp đến trách nhiệm hình sự và hình phạt Do đó, cần được cơ quan có thẩm quyềnTHTT chứng minh khi điều tra vụ án hình sự Đối tượng chứng minh để xác định nguyênnhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị đến các cơ quan hữu
quan các biện pháp phòng ngừa tội phạm
Việc xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội giúp các cơ quan có thẩm quyền THTT đưa ra hướng giải quyết để loại trừ nguyên nhân, điều kiện phạm tội
Trang 31của tội phạm, nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm Mặt khác, nó cũng đặt rayêu cầu cho Hội đồng xét xử khi tiến hành thẩm vấn và điều hành việc tranh tụngtại phiên tòa cần tạo điều kiện cho bên buộc tội và bên gỡ tội làm rõ vấn đề này, chứkhông chỉ hạn chế trong việc thẩm tra, đánh giá chứng cứ hay viện dẫn “giới hạncủa việc xét xử” để hạn chế quyền của các bên khi tham gia tố tụng.
Chứng cứ để chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” trong điều tra
vụ án tham ô tài sản là chứng cứ xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, điềukiện cụ thể dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội Trong vụ án tham ô tàisản, nguyên nhân thường là do ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường và việc đềcao quá mức giá trị của đồng tiền làm cho con người dễ bị tha hóa, biến chất, tìmmọi cách để có được thật nhiều tiền; do sự lỏng lẻo của cơ chế quản lý kinh tế củaNhà nước, của doanh nghiệp, cũng như cơ chế chính sách pháp luật chưa đầy đủ,thiếu đồng bộ, không đủ mạnh để răn đe… Trong vụ án tham ô tài sản, người thựchiện hành vi phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chính chức vụ,quyền hạn đó để chiếm đoạt tài sản do mình đang quản lý, chức vụ, quyền hạn củachủ thể là một điều kiện rất thuận lợi để những cá nhân tha hóa, biến chất lợi dụngthực hiện hành vi tham ô tài sản
Việc làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội là một nội dung mới thuộc cácvấn đề bắt buộc phải chứng minh, là yêu cầu bắt buộc trong giải quyết vụ án nóichung, vụ án tham ô tài sản nói riêng, là một nội dung cần đánh giá trong bản kếtluận điều tra, bản cáo trạng
1.2.5 Những vấn đề khác bảo đảm giải quyết vụ án tham ô tài sản toàn diện, đúng pháp luật
Ngoài những vấn đề cần chứng minh nêu trên, khi giải quyết vụ án hình sựnói chung là cần phải chứng minh các tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ tráchnhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt nếu người phạm tội thuộctrường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình sự hoặcmiễn hình phạt Những vấn đề khác bảo đảm giải quyết vụ án tham ô tài sản toàndiện, đúng pháp luật là đối tượng chứng minh để xác định căn cứ áp dụng các biện
Trang 32pháp ngăn chặn, các biện pháp cưỡng chế, các biện pháp bồi thường thiệt hại, ápdụng các biện pháp bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại hoặcngười thân thích của họ khi cơ quan, người có thẩm quyền THTT thực hiện các hoạtđộng tố tụng.
Căn cứ để xác định và xử lý vật chứng trước tiên là các quy định tại Điều 46,Điều 47, Điều 48 của BLHS năm 2015 và các quy định tại Điều 89, Điều 106 củaBLTTHS năm 2015 Vật chứng trong vụ án hình sự là vật mang dấu vết của tộiphạm, vật dùng để chứng minh hành vi phạm tội và các tình tiết khác trong vụ án.Trong một vụ án hình sự, CQĐT thu thập rất nhiều tài liệu, đồ vật khác nhau, dovậy, cần phải xác định rõ tài liệu, đồ vật nào là vật chứng, tài liệu, đồ vật nào khôngphải là vật chứng để có cơ sở xem xét, xử lý
Chứng minh những tình tiết, sự kiện để xác định người phạm tội có đượchưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, để chứng minh những tìnhtiết, sự kiện này cần phải làm rõ: tội mà họ đã phạm có được áp dụng thời hiệu truycứu trách nhiệm hình sự không Nếu tội đó được áp dụng thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự thì cần làm rõ tội đó là tội gì (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng…); tộiphạm xảy ra từ khi nào, đến thời điểm tội phạm được phát hiện là bao lâu; trongkhoảng thời gian đó người phạm tội có cố tình trốn tránh và có lệnh truy nã haykhông hoặc có phạm tội mới không…
Chứng minh những tình tiết, sự kiện làm căn cứ để xác định người phạm tội
có được miễn trách nhiệm hình sự hay không, để chứng minh những tình tiết, sựkiện này cần phải làm rõ: do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặcngười phạm tội còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không; người phạm tội có tự ýnửa chừng chấm dứt việc phạm tội hay không; người phạm tội có quyết định đượcđại xá hay không
Chứng minh những tình tiết, sự kiện làm căn cứ để xác định người phạm tội
có được miễn hình phạt hay không, để chứng minh những tình tiết, sự kiện này cầnphải làm rõ: người phạm tội có bao nhiêu tình tiết giảm nhẹ được pháp luật hình sựquy định; trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì xét xem
Trang 33họ có đáng được hưởng khoan hồng đặc biệt của pháp luật ở mức độ được miễnhình phạt hay không…
Chứng cứ để chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừtrách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” trong vụ án tham ôtài sản là chứng cứ chứng minh những vấn đề được quy định tại các điều từ Điều 20đến Điều 29, Điều 59, 88 và các điều luật khác của BLHS năm 2015
Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85của Bộ luật TTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án,như: chứng cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18tuổi; chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợpđồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức; chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của
bị can, bị cáo và những vấn đề khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quyđịnh của pháp luật
Những tình tiết đảm bảo việc giải quyết vụ án tham ô tài sản toàn diện, đúngpháp luật, đây là những tình tiết không thuộc bốn yếu tố cấu thành tội phạm, cũngkhông thuộc những tình tiết ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt củangười phạm tội nhưng có ý nghĩa nhất định đối với việc giải quyết vụ án tham ô tàisản được khách quan hơn, hoặc có ý nghĩa trong công tác phòng ngừa và đấu tranhchống tội phạm nói chung, tội tham ô tài sản nói riêng Những tình tiết này có thểlà: tình trạng phạm tội; mối quan hệ giữa người THTT với bị can, người bị hại;những tình tiết do người bào chữa, bị can hoặc người đại diện của họ yêu cầu;nguyên nhân và điều kiện phạm tội…
Có thể thấy, những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án tham ô tài sảnthì rất nhiều, nhưng để đảm bảo chứng minh yếu tố, tình tiết nào cần và đủ, nhữngtình tiết nào không phải chứng minh là cả một quá trình phức tạp đòi hỏi kỹ năngnhạy bén, kinh nghiệm thực tiễn, có óc phân tích, phán đoán của ĐTV, KSV
1.3 Hoạt động của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản
1.3.1 Thu thập chứng cứ
Trang 34Thu thập chứng cứ là khâu đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng của chứng minhtội phạm trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án tham ô tài sản nóiriêng Thu thập chứng cứ là việc cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biệnpháp và phương pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, thu giữ và bảo quảnnhững thông tin, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án nhằm phục vụ cho quá trìnhgiải quyết đúng đắn vụ án Kết quả của giai đoạn này có ảnh hưởng rất lớn đến chấtlượng giải quyết vụ án hình sự nói chung và vụ án tham ô tài sản nói riêng Bởi vì,chứng cứ là những sự vật, hiện tượng tồn tại một cách khách quan, dễ bị biến đổidưới tác động của môi trường do đó việc phát hiện, thu giữ chứng cứ phải được tiếnhành nhanh chóng.
Trên thực tế, thu thập chứng cứ bao gồm các hoạt động cụ thể là: phát hiện,ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ Phát hiện chứng cứ là việc cơ quan có thẩmquyền bằng các biện pháp hợp pháp tìm ra những tài liệu, dấu vết, sự việc, hiệntượng chứa đựng thông tin phản ánh bản chất, có giá trị chứng minh vụ án tham ôtài sản Chứng cứ trong vụ án tham ô tài sản được chứa đựng bởi nhiều nguồn khácnhau được tồn tại dưới hai hình thức là trong môi trường vật chất và trong ý thứccủa con người Vì vậy, muốn phát hiện nơi lưu giữ chứng cứ như hiện trường, vậtchứng, con người cụ thể thì cần sử dụng các phương tiện, biện pháp thu thập khácnhau sao cho phù hợp với đặc điểm của từng loại chứng cứ
Ghi nhận chứng cứ là việc mô tả, ghi chép, chuyển tải những thông tin cóliên quan đến vụ án từ các nguồn lưu giữ thông tin về vụ án tham ô tài sản để đưavào hồ sơ vụ án làm chứng cứ để chứng minh, đó là những thông tin được ghi nhậndưới dạng văn bản theo quy định của pháp luật như biên bản khám nghiệm hiệntrường, biên bản khám xét, lấy lời khai, hỏi cung, đối chất… Việc ghi nhận chứng
cứ phải đảm bảo đầy đủ các thông tin, phản ánh các đặc tính của chứng cứ Chứng
cứ được ghi nhận phải được mô tả đầy đủ, khách quan, tránh lồng ghép ý kiến chủquan của ĐTV, cán bộ điều tra làm giảm đi tính khách quan của chứng cứ thu thậpđược
Trang 35Thu giữ chứng cứ là một trong những hoạt động của quá trình thu thập chứng
cứ, là hoạt động tiến hành để phục vụ cho việc giải quyết vụ án cũng như chứngminh tội phạm Thu giữ chứng cứ là biện pháp quan trọng để thu thập chứng cứ.Thu giữ chứng cứ chính là việc tách đối tượng nguyên mẫu như đồ vật, dấu vết…mang thông tin chứng cứ ra khỏi môi trường xung quanh Có rất nhiều dạng thuthập chứng cứ như: thu thập dấu vết, in sao dấu vết, đúc khuôn dấu vết, thu thập dữkiện từ nguồn dữ liệu điện tử… Trong vụ án tham ô tài sản, hoạt động thu giữthường tập trung chủ yếu vào các tài liệu, giấy tờ, thiết bị, phương tiện điện tử được
sử dụng vào hoạt động phạm tội
Song song với việc ghi nhận, thu thập chứng cứ, việc bảo quản chứng cứcũng cần được tiến hành ngay từ khi phát hiện, thu giữ chứng cứ ngay tại hiệntrường, trong quá trình điều tra… nhằm giải quyết đúng đắn các vụ án Bảo quảnchứng cứ là hoạt động giữ cho chứng cứ được bảo vệ tính nguyên vẹn, không làmmất mát, biến dạng hay sai lệch, đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ Việcbảo quản chứng cứ phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật TTHS đểbảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ Mỗi loại chứng cứ khác nhau đều cócách bảo quản riêng, phù hợp với đặc điểm, thuộc tính của loại chứng cứ đó Đốivới vật chứng thì phải thu thập và bảo quản theo quy định tại Điều 90 BLTTHS năm2015
Đối với vụ án tham ô tài sản, việc thu thập chứng cứ diễn ra rất khó khăn,chủ thể có thẩm quyền phải tiến hành các biện pháp nghiệp vụ theo chức năng quyđịnh trong BLTTHS để ghi nhận đầy đủ những thông tin về vụ việc phạm tội và kịpthời thu giữ vật chứng Trong thời gian qua đối với các vụ án tham ô tài sản xảy ratại TP Hồ Chí Minh, Cơ quan CSĐT, Cơ quan ANĐT - Công an TP Hồ Chí Minhthường áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ như sau:
Tiến hành khám xét: khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật, thưtín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm theo quy định của BLTTHS Việc khám xét chỗ ở,chỗ làm việc của người thực hiện hành vi tham ô tài sản là vô cùng quan trọng, bởi
Trang 36lẽ vật chứng của người thực hiện hành vi phạm tội thường tìm thấy ở cơ quan, ở nơi
ở của người đó
Triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về nhữngvấn đề có liên quan đến vụ án Phương pháp thu thập chứng cứ này là lấy lời khai,được tiến hành chủ yếu trong giai đoạn điều tra nhằm thu thập các chứng cứ của vụ
án tồn tại dưới hình thức phản ánh ý thức con người để kiểm tra lại tính xác thựccủa những thông tin mà họ cung cấp trước đây
Tiến hành các hoạt động điều tra khác như: Hỏi cung bị can; khám nghiệmhiện trường; trưng cầu giám định; định giá tài sản; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cánhân cung cấp thông tin tài liệu, dữ liệu điện tử…, trường hợp cần thiết thì tổ chứcđối chất làm sáng tỏ vụ án trong giai đoạn điều tra
Như vậy, khi thu thập chứng cứ trong vụ án tham ô đòi hỏi các chủ thể cóthẩm quyền phải có kiến thức chuyên môn về nghiệp vụ, linh hoạt trong áp dụngcác chiến thuật, thủ thuật phù hợp…
1.3.2 Kiểm tra chứng cứ
Để có được chứng cứ có giá trị chứng minh, phải kể đến công tác kiểm trachứng cứ thông qua việc xem xét từng chứng cứ thu thập được như: lời khai của đốitượng tình nghi, lời khai của bị hại, người làm chứng, …; biên bản hỏi cung bị can;biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, định giá tài sản… xemchứng cứ ấy có phù hợp với hiện thực khách quan, có thể xảy ra trên thực tế haykhông Các chứng cứ có liên quan với nhau, liên quan đến tình tiết vụ án hay không.Việc thu thập các chứng cứ ấy do ai thu thập, có đúng trình tự, thủ tục của BLTTHShay không
Kiểm tra chứng cứ là một trong những nội dung của hoạt động chứng minhtrong điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án tham ô tài sản nói riêng Chứng cứ làphương tiện duy nhất trong tất cả các vụ án hình sự, sau khi thu thập chứng cứ,CQĐT sẽ tiến hành kiểm tra chứng cứ, không nên quan niệm một cách máy mócrằng thu thập chứng cứ và kiểm tra chứng cứ là hai bước độc lập, tách rời nhau, tráilại phải coi đây là hai bước có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra chứng cứ trong
Trang 37vụ án tham ô tài sản là hoạt động của các cơ quan THTT trên cơ sở các quy định củapháp luật TTHS để xác định tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp của các
đồ vật, tài liệu đã được thu thập Hay kiểm tra chứng cứ được hiểu là việc xác địnhtính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án, mức độ phản ánh chính xáccủa chứng cứ về những vấn đề phải chứng minh, cũng như những tình tiết khác cầnthiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự nói chung, vụ án tham ô tài sản nóiriêng
Trong vụ án hình sự các cơ quan THTT thu thập rất nhiều các đồ vật, tài liệu,nhưng không phải tất cả chúng đều có giá trị chứng minh sự thật của vụ án, chỉ cócác thông tin, tài liệu có đủ ba thuộc tính trên thì mới được coi là chứng cứ Các cơquan THTT chỉ được phép dựa vào những chứng cứ được thu thập đã qua kiểm tra
để ban hành các quyết định xử lý đúng quy định Như vậy, khi chứng minh vụ ántham ô tài sản, kiểm tra chứng cứ bao gồm: phân tích thông tin thu thập được có đápứng đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ hay không; phân tích, nghiên cứu nguồnchứng cứ nhằm xác định mức độ tin cậy của nó; so sánh đối chiếu nguồn chứng cứđang được kiểm tra với các nguồn chứng cứ, các chứng cứ khác được thu thập trong
vụ án…
Chủ thể tiến hành kiểm tra chứng cứ là ĐTV, KSV và một số chủ thể kháctheo quy định của pháp luật Khi kiểm tra chứng cứ, các chủ thể phải kiểm tra tổnghợp chứng cứ, kiểm tra các nguồn chứng cứ một cách riêng lẻ trong mối quan hệvới các chứng cứ khác trong vụ án, khi kiểm tra chứng cứ nếu thấy chứng cứ chưa
đủ thì CQĐT, VKS phải tìm kiếm chứng cứ mới để phục vụ cho hoạt động chứngminh vụ án Mặt khác, khi kiểm tra toàn bộ chứng cứ mà phát hiện thấy nhữngchứng cứ đã thu được có mâu thuẫn với nhau hoặc chưa thể làm rõ được yêu cầu đặt
ra của vụ án thì phải tìm thêm những chứng cứ mới để làm rõ và giải quyết vấn đềđó
Tóm lại, kiểm tra chứng cứ trong vụ án tham ô tài sản là việc các chủ thể cóthẩm quyền THTT nghiên cứu, xem xét các chứng cứ đã thu được để xác định tính
Trang 38khách quan, tính liên quan và hợp pháp trong từng chứng cứ so với yêu cầu chứngminh.
1.3.3 Đánh giá chứng cứ
Sau khi thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ, thì đánh giá chứng cứ cũng rấtquan trọng đối với hoạt động chứng minh Nhằm mục đích xác định ý nghĩa và cáchthức sử dụng chứng cứ để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Đánh giáchứng cứ phải giải quyết được những vấn đề sau: một là, tính chất, ý nghĩa, mốiquan hệ giữa chứng cứ này với chứng cứ khác có trong vụ án; hai là, trong tổng thểchứng cứ thu thập được, chứng cứ này có ý nghĩa gì đối với việc xác định sự thật vụ
án và có đáp ứng được những điều kiện cần và đủ để giải quyết vụ án hay không
Thực tiễn điều tra các vụ án tham ô tài sản xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, Cơquan CSĐT, Cơ quan ANĐT thường tiến hành đánh giá chứng cứ cụ thể như sau:
Đánh giá từng chứng cứ: nghiên cứu, phân tích, xem xét từng tài liệu, thôngtin thu thập được để kiểm tra độ tin cậy, cũng như các thuộc tính khách quan, liênquan và hợp pháp của chứng cứ Thông thường trong các vụ án nêu trên, khi thuthập chứng cứ, đầu tiên luôn phải kiểm tra việc thu giữ các vật chứng là công cụ,phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có được thu giữ theođúng quy định của pháp luật hay không Cụ thể là công cụ, phương tiện đó có phải
là phương tiện mà chủ thể đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội hay không, cáccông cụ, phương tiện đó có được lập biên bản theo đúng quy định không, trong biênbản đã mô tả đầy đủ, chính xác các đặc điểm của vật chứng chưa, có thể hiệnphương pháp thu giữ vật chứng hay không, tiếp theo, có thể đánh giá thuộc tínhkhách quan và liên quan của chứng cứ đã thu thập được
Đánh giá tổng hợp toàn bộ chứng cứ: đây là việc so sánh, đối chiếu toàn bộcác chứng cứ đã thu thập được trong vụ án để xác định mức độ tương quan, phù hợpcủa chúng; xem nó đã đủ và cần thiết để làm rõ những vấn đề cần phải chứng minhtrong vụ án tham ô tài sản Sự phù hợp ở đây được hiểu là sự tương ứng giữa cáctình tiết liên quan đến vụ án do các chứng cứ xác định
Trang 39Qua quá trình đánh giá chứng cứ nếu xét thấy cần thiết phải thu thập thêmchứng cứ mới nhằm làm sáng tỏ chứng cứ đã thu được trước đó, thì CQĐT phải tiếnhành tìm kiến, thu thập thêm những chứng cứ mới Việc thu thập chứng cứ mới phảiđảm bảo kết luận chính xác về những vấn đề cần phải chứng minh của vụ án đãđược xác định.
Bất cứ chứng cứ nào thu thập được cũng phải kiểm tra, đánh giá lại một cáchthận trọng, khách quan, toàn diện trước khi sử dụng Đây là vấn đề mang tính bắtbuộc đối với mọi vụ án hình sự nói chung, đối với vụ án tham ô tài sản nói riêng
Đánh giá chứng cứ khi chứng minh các vụ án tham ô tài sản là quá trình cácchủ thể có thẩm quyền nghiên cứu, phân tích, so sánh, đối chiếu nhằm xác thực, xácđịnh giá trị chứng minh của các chứng cứ đã được thu thập làm căn cứ cho việcchứng minh tội phạm và giải quyết vụ án đúng pháp luật
Tóm lại, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong các vụ án tham ô tài sản là quá trình tư duy của những người THTT bằng cách quan sát, xem xét, phân tích, so sánh đối chiếu những chứng cứ đã thu thập được để xác định các thuộc tính của chứng cứ và giá trị chứng minh của chứng cứ so với yêu cầu chứng minh tội phạm, làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án tham ô tài sản.
Trang 40Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 luận văn tác giả đi sâu, phân tích làm rõ những vấn đề lýluận về chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản và các vấn đề có liên quanđến chứng minh vụ án hình sự Về khái niệm, tác giả đưa ra khái niệm về chứngminh trong điều tra vụ án tham ô tài sản: đó là trình tự các bước nhận thức các sựkiện, tình tiết liên quan đến vụ án tham ô tài sản do Cơ quan CSĐT, Cơ quan ANĐT
và chủ thể khác có thẩm quyền tiến hành thông qua việc áp dụng các phương tiện,biện pháp hợp pháp để thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ theo đúng trình tự,thủ tục luật định để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Về đặc điểm chứngminh trong điều tra vụ án tham ô tài sản, tác giả phân tích làm rõ các đặc điểmchứng minh trong vụ án dân sự, hành chính, hình sự, làm rõ đặc điểm chứng minhtrong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và làm nổi bật đặc điểm chứng minhtrong điều tra vụ án tham ô tài sản Chương 1 luận văn nêu được mục đích và ýnghĩa của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản ở Việt Nam Luận văn chỉ
rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và vụ án tham ô tàisản nói riêng Về nội hàm của chứng minh trong điều tra vụ án tham ô tài sản: tácgiả đi sâu vào phân tích việc thu thập chứng cứ; kiểm tra, đánh giá chứng cứ Chứngminh trong điều tra vụ án tham ô tài sản phải đảm bảo toàn diện, đầy đủ và theođúng quy định của pháp luật