BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ĐINH CẨM VÂN HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐINH CẨM VÂN
HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN
KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2013
h
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
ĐINH CẨM VÂN
HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN
KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số : 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS Đường Nguyễn Hưng
Đà Nẵng - Năm 2013
h
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đinh Cẩm Vân
h
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 6
1.1 KẾ TOÁN VÀ THÔNG TIN KẾ TOÁN 6
1.1.1 Bản chất của kế toán 6
1.1.2 Vai trò của thông tin kế toán 9
1.1.3 Yêu cầu của thông tin kế toán 11
1.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY NIÊM YẾT 12
1.2.1 Thị trường chứng khoán 12
1.2.2 Công ty niêm yết 14
1.3 CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 16
1.3.1 Nội dung thông tin kế toán công bố trên thị trường chứng khoán.16 1.3.2 Nguyên tắc công bố thông tin kế toán 20
1.3.3 Yêu cầu về chất lượng của thông tin kế toán 22
1.4 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 23
1.4.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả 23
h
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 31
2.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 312.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam 312.1.2 Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 322.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 342.2.1 Văn bản pháp luật liên quan đến công bố thông tin 342.2.2 Đánh giá cơ sở pháp lý về công bố thông tin 362.3 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 372.3.1 Tình hình ngành bất động sản niêm yết hiện nay 372.3.2 Đặc điểm ngành bất động sản hiện nay 392.4 THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 412.4.1 Khảo sát tình hình công bố thông tin kế toán năm 2010-2011 412.4.2 Đánh giá tình hình công bố thông tin kế toán 432.5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN
KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 522.5.1 Xây dựng các giả thuyết 522.5.2 Đo lường các biến giải thích 57
h
Trang 62.5.5 Xây dựng mô hình hồi quy 59
2.5.6 Bảng dữ liệu phân tích 59
2.5.7 Kiểm định giải thuyết 61
2.5.8 Thảo luận kết quả 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 71
3.1 KINH NGHIỆM CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 71
3.1.1 Thị trường chứng khoán Mỹ 71
3.1.2 Thị trường chứng khoán Trung Quốc 72
3.2 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 74
3.2.1 Đối với Cơ quan quản lý Nhà nước 74
3.2.2 Đối với công ty kiểm toán 86
3.2.3 Đối với công ty bất động sản niêm yết 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
h
Trang 7BCTC Báo cáo tài chính
BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
TMBCTC Thuyết minh báo cáo tài chính
h
Trang 8Số hiệu
2.1 Tình hình công ty bất động sản niêm yết tại SGDCK
h
Trang 9Số hiệu
1.1 Nội dung công bố thông tin kế toán định ký 18 1.2 Thời hạn công bố thông tin kế toán định kỳ 18 1.3 Các dạng hiệu quả của lý thuyết thị trường hiệu quả 26
h
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhằm thực hiện mục tiêu “năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước có nền công nghiệp phát triển” thì Việt Nam cần phải có chính sách huy động nguồn vốn trong và ngoài nước, nhằm chuyển nguồn vốn nhàn rỗi thành nguồn vốn đầu tư sinh lời, đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng tăng của xã hội Yêu cầu đó đã thúc đẩy không ngừng và thị trường chứng khoán ra đời là một tất yếu khách quan Thị trường chứng khoán là một thị trường tài chính bậc cao, hoạt động của thị trường có những điểm rất khác biệt so với những thị trường hàng hóa thông thường khác Hàng hóa lưu thông trên thị trường là chứng khoán, là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, đây là loại hàng hóa đặc biệt, luân chuyển vốn của nền kinh tế Và để thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả, đảm bảo sự công bằng, công khai và ổn định thì thông tin chính là chìa khóa, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của thị trường Trong các loại thông tin được cung cấp trên thị trường chứng khoán thì thông tin kế toán của các công ty niêm yết công bố dưới dạng các Báo cáo tài chính là những thông tin quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ cung - cầu chứng khoán,
là căn cứ cho quyết định của các chủ thể tham gia trên thị trường sau khi phân tích các Báo cáo tài chính đó
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, từng bước đưa thị trường vốn trở thành một phần quan trọng của thị trường tài chính, đáp ứng việc huy động nguồn vốn cho nền kinh tế thị trường trên cơ sở đổi mới, phát triển kinh tế phù hợp với các điều kiện kinh tế
- chính trị - xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế thế giới Tuy nhiên,
h
Trang 11kể từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập cho đến nay, bên cạnh các vai trò tích cực, thị trường cũng luôn tiềm ẩn những tiêu cực, thực trạng thông tin kế toán được công bố còn nhiều bất cập dẫn đến các hành vi đầu cơ, mua bán nội gián, thâu tóm…, một phần là do thị trường còn non trẻ nên không tránh được những khuyết điểm và hạn chế trên Nhưng đi kèm với vấn đề này là những hậu quả mà nó mang lại, làm mất đi sự ổn định của thị trường, những quyết định đầu tư chưa phù hợp đã gây nên những cơn sóng làm giảm nhịp phát triển của TTCK
Để thị trường chứng khoán Việt Nam trở thành một kênh huy động vốn thực sự đối với các công ty niêm yết nói chung, công ty niêm yết ngành bất động sản nói riêng và là một sân chơi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thì đòi hỏi thông tin kế toán phải được trình bày và công bố đầy đủ, kịp thời, trung
thực và đáng tin cậy Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện việc công bố thông tin kế toán của các công ty bất động sản niêm yết tại
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan về thông tin kế toán và việc công bố thông tin kế toán trên TTCK, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng tình hình CBTT
kế toán của các công ty bất động sản đang niêm yết tại SGDCK TP.HCM Xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin
kế toán của các công ty niêm yết ngành bất động sản Từ đó, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện việc công bố thông tin kế toán trên TTCK Việt Nam, nhằm mục đích phát triển hệ thống công bố thông tin kế toán hoạt động tối ưu nhất, góp phần làm tăng chất lượng hàng hóa giao dịch trên TTCK, giúp thị trường phát triển hiệu quả, công bằng và ổn định
h
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Báo cáo tài chính của các công ty thuộc nhóm ngành bất động sản niêm yết tại SGDCK TP.HCM
Phạm vi nghiên cứu: Do những hạn chế về thời gian và các lý do bất khả kháng khác, đề tài chỉ nghiên cứu Báo cáo tài chính năm 2010 và 2011 của 19 công ty bất động sản niêm yết tại SGDCK TP.HCM tính đến ngày 31/12/2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Qua việc thu thập thông tin, dùng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng công bố thông tin kế toán theo quy định của pháp luật của các công ty bất động sản niêm yết tại SGDCK TP.HCM
Phương pháp định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS để xác định hệ số hồi quy, trên cơ sở đó xây dựng phương trình các nhân tố tác động đến việc công bố thông tin kế toán của các công ty bất động sản niêm yết tại SGDCK TP.HCM Từ đó, kiểm định sự tác động của các nhân tố đến việc công bố thông tin Đề tài tiến hành phân tích kết quả và đưa ra một số kiến nghị phù hợp với hiện trạng của ngành bất động sản
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục thì luận văn chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về thông tin kế toán và việc công bố thông tin
kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
- Chương 2: Thực trạng công bố thông tin kế toán của các công ty bất động sản niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Hoàn thiện việc công bố thông tin kế toán của các công ty bất động sản niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
h
Trang 136 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tác giả đã tham khảo một số tài liệu liên quan đến việc hoàn thiện công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết tại SGDCK TP.HCM trong một số luận văn đã nghiên cứu trước đây, bao gồm:
- “Hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”,
Luận văn thạc sỹ kinh tế, Tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh, Năm 2008, Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Việt
- “Các giải pháp hoàn thiện vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Luận văn
thạc sỹ kinh tế, Tác giả Lê Trường Vinh,Năm 2008, Người hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Ngọc Định
Sau khi tham khảo các tài liệu trên, tác giả rút ra được các kết quả sau:
- Thứ nhất, các nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu, tổng hợp khá đầy
đủ hệ thống lý thuyết về thông tin kế toán và thị trường chứng khoán, đưa ra những mối liên hệ quan trọng giữa thông tin kế toán với các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán
- Thứ hai, các nghiên cứu trước đây đã khảo sát, phân tích và tổng hợp được thực trạng tình hình công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết tại SGDCK TP.HCM trong khoản thời gian 2007-2008
- Thứ ba, các nghiên cứu đã chỉ ra một số bất cập còn tồn tại và đưa ra những giải pháp, kiến nghị đối với các chủ thể hoạt động trên thị trường với mục đích sao cho thông tin kế toán công bố trên thị trường ngày càng trung thực, hợp lý, kịp thời và minh bạch
Tuy nhiên, một số vấn đề mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến
và chưa giải quyết được là:
h
Trang 14- Thứ nhất, các đề tài nghiên cứu trước đây chủ yếu nghiên cứu tổng quát việc công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết tại SGDCK TP.HCM chứ chưa thực hiện nghiên cứu cụ thể về vấn đề công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết thuộc một nhóm ngành nhất định nào đó, nhóm ngành bất động sản tại SGDCK TP.HCM
- Thứ hai, các nghiên cứu chỉ tập trung vào khảo sát, tổng hợp và phân tích thực trạng công bố thông tin kế toán nhằm lượng hóa những mặt hạn chế còn tồn tại để đưa ra những giải pháp đối với các chủ thể trên thị trường chứng khoán chứ chưa nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin để có những giải pháp và kiến nghị đóng góp thiết thực hơn
Vì vậy, đề tài “Hoàn thiện việc công bố thông tin kế toán của các công
ty bất động sản niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”sử dụng phương pháp khảo sát, tổng hợp và so sánh để đánh giá tình
hình công bố thông tin kế toán của các công ty bất động sản niêm yết tại SGDCK TP.HCM trong khoảng thời gian 2010-2011 Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, thông qua phiếu thu thập thông tin lấy dữ liệu cho việc xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc CBTT của các công ty, từ đó đề ra một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện việc công bố thông tin kế toán cho các công ty bất động sản niêm yết tại SGDCK TP.HCM nói riêng và thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung, góp phần phát triển hệ thống công bố thông tin kế toán hoạt động tối ưu nhất, xây dựng một thị trường chứng khoán lành mạnh
và phát triển ổn định
h
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 KẾ TOÁN VÀ THÔNG TIN KẾ TOÁN
1.1.1 Bản chất của kế toán
Sự hình thành và phát triển của kế toán gắn liền với sự hình thành và phát triển của đời sống kinh tế, xã hội loài người từ thấp lên cao Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế đều thống nhất rằng, kế toán thực sự xuất hiện và
có dấu hiệu phát triển từ khi có sự hình thành chữ viết và số học sơ cấp, mà trước hết là sự phát minh ra hệ đếm thập phân và việc sử dụng rộng rãi chữ số
đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của kế toán
Thật vậy, nhiều thế kỉ trước đây, kế toán đã trở thành một môn khoa học độc lập và theo một số nhà nghiên cứu khảo cổ học thì người ta đã tìm ra những di tích bằng gốm hoặc sành trên đó có ghi khắc nhiều tài liệu chứng tỏ khoảng 2000 năm trước công nguyên, người dân Babylonnienne đã biết những khái niệm sơ khởi về kế toán như việc ghi chép và trao đổi hàng hóa, cho vay… hoặc ở Ai cập cổ đại người ta đã tìm thấy các loại giấy ghi chép sự tăng giảm tài sản - gọi là giấy papyrus, còn ở La mã cổ đại thì lại tìm thấy các bảng nhỏ bằng sáp dùng để ghi chép tính toán
Công việc ghi chép các sự kiện có liên quan đến các hoạt động kinh tế trong xã hội luôn là vấn đề thực tiễn được con người quan tâm hàng đầu Tuy nhiên, công việc ghi chép cũng có tính chất vận động của nó, ở giai đoạn đầu việc ghi chép chỉ phản ánh, sao chép các sự kiện hiện thực trong đời sống kinh tế, từ khi con người phát minh ra chữ viết và số, cùng với sự ra đời của toán học dựa trên các chữ số và ký hiệu đã đem lại cho công việc ghi chép các
sự kiện kinh tế giá trị thực sự của nó, làm cho kế toán và thông tin kinh tế
h
Trang 16ngày càng có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong quá trình hoạt động kinh tế của con người, nhất là vào giai đoạn hiện nay
Với mục đích đạt được hiệu quả cao trong các hoạt động kinh tế, thông tin kế toán phải được cung cấp kịp thời, chính xác và đáng tin cậy Trong bối cảnh kinh tế xã hội ngày nay, các hoạt động kinh tế rất đa dạng, có nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng dù ở trong lĩnh vực nào đi nữa thì thông tin kế toán luôn mang tính chất quan trọng và không thể thiếu được, qua đó cho phép chúng ta hiểu rõ về các hoạt động kinh tế mà mình đang thực hiện, cũng như hiệu quả của các hoạt động này là như thế nào Kế toán chính là công cụ ghi chép các diễn biến trong hoạt động kinh tế dựa trên quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép lại những sự việc trên
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp theo cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các
sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó”
Theo Hiệp hội nhà nghề Kế toán quốc tế: “Kế toán là nghệ thuật xử lý thông tin”
Theo Luật kế toán Việt Nam: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế - tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” Thông tin kế toán được cung cấp cho nhiều đối tượng khác nhau với các yêu cầu khác nhau nên chia thành: thông tin kế toán quản trị và thông tin kế toán tài chính
- Kế toán quản trị đưa ra các thông tin kinh tế tổng hợp đã được đo lường, xử lý và cung cấp cho nhà quản lý doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh Hay nói cách khác, thông tin kế toán quản trị mang tính chất định hướng tương lai, dự báo xu hướng biến động vì vậy thông tin
đó giúp cho nhà quản lý đánh giá, cân nhắc, xây dựng các kế hoạch kinh
h
Trang 17doanh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn có hiệu quả kinh tế cao nhất như: Phải sản xuất những sản phẩm nào? Bán các sản phẩm đó bằng cách nào? Theo giá nào?
- Kế toán tài chính cung cấp thông tin liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp cho nhà quản lý và những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp giúp họ ra quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm Thông tin kế toán tài chính là thông tin đã xảy ra trong quá khứ, phản ánh quá khứ nên có thể kiểm tra được, vì vậy đòi hỏi phải có độ tin cậy cao và chính xác Sản phẩm của kế toán tài chính là BCTC, bao gồm:
+ Bảng cân đối kế toán: dùng để khái quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định, giúp cho người sử dụng thông tin thấy được toàn bộ giá trị tài sản hiện có, hình thái vật chất của tài sản, nguồn hình thành tài sản, đánh giá khái quát tình hình tài chính
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: phản ánh tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ kế toán và tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đánh giá khả năng tạo ra luồng tiền trong tương lai, khả năng thanh toán và khả năng đầu tư bằng tiền nhàn rỗi của doanh nghiệp
+ Thuyết minh báo cáo tài chính: được sử dụng để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các BCTC khác chưa trình bày rõ ràng, chi tiết và cụ thể được
h
Trang 181.1.2 Vai trò của thông tin kế toán
Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế mà lợi ích của doanh nghiệp đó có liên hệ đến nhiều đối tượng Mỗi đối tượng có những nhu cầu thông tin riêng xuất phát từ những lợi ích riêng có của mình Có thể thấy vai trò của thông tin kế toán thể hiện qua hai nhóm đối tượng sau:
- Đối với đối tượng bên trong doanh nghiệp: Do doanh nghiệp có tính tự
chủ trong việc sử dụng các nguồn lực của mình nên nhà quản lý cần có thông tin để hoạch định, tổ chức và kiểm soát toàn bộ tài sản và hoạt động kinh doanh của mình Vai trò của thông tin kế toán đối với nhà quản lý thể hiện trên các mặt:
+ Giúp nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát toàn bộ tài sản hiện có, tình hình biến động và sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh
+ Giúp nhà quản lý kiểm tra, kiểm soát tình hình sử dụng các khoản vay
nợ, tình hình huy động và sử dụng vốn chủ sở hữu, qua đó đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với người cho vay, Nhà nước và các tổ chức khác + Giúp nhà quản lý có thể xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong hoạt động đầu tư và huy động vốn
+ Thông tin kế toán là cơ sở để các nhà quản lý ra các quyết định liên quan đến tài sản và nguồn vốn của mình
- Đối với các đối tượng ngoài doanh nghiệp: Nhu cầu thông tin kế toán
của các đối tượng này thường khác nhau do sự khác biệt về lợi ích kinh tế: + Đối với Nhà nước: Nhà nước quản lý các tổ chức kinh tế trên cơ sở hệ thống pháp luật nên rất cần thông tin kế toán để kiểm tra, kiểm soát tình hình tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, đánh giá tổng hợp thực trạng hoạt động của mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi khu vực kinh tế và toàn nền kinh
tế, qua đó xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp
h
Trang 19+ Đối với ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: Thông tin kế toán giúp đánh giá thực trạng tài chính, hiệu quả hoạt động cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ vay của các tổ chức kinh tế Qua đó, có thể đưa ra những quyết định tài trợ thích hợp đối với từng tổ chức kinh tế
+ Đối với nhà đầu tư: Thông tin kế toán giúp nhà đầu tư đánh giá tình hình sử dụng và khả năng sinh lời từ vốn đầu tư của mình, kiểm soát các hoạt động của nhà quản lý nhằm bảo vệ tài sản, qua đó có những quyết định phù hợp nhằm tối đa hóa lợi ích của mình
+ Đối với các nhà đầu tư tiềm tàng, nhà cung cấp, khách hàng và các cá nhân, tổ chức khác: Thông tin kế toán là cơ sở để các đối tượng trên có những quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình hay phát triển các giao dịch kinh tế trong tương lai
Mặc dù vai trò của thông tin kế toán đối với mỗi đối tượng là khác nhau, nhưng thực chất thông tin kế toán thường liên quan đến các vấn đề về tình hình tài chính của doanh nghiệp Vì thế, thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng này thường gọi là báo cáo tài chính theo những mục đích chung
vì nó cung cấp những thông tin tổng quát cho việc sử dụng của nhiều đối tượng Những phân tích trên cho thấy thông tin kế toán có vai trò không chỉ trong quản lý nội bộ doanh nghiệp mà còn phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước, phục vụ cho các đối tượng bên ngoài trong việc ra quyết định có liên quan đến doanh nghiệp Nó như một bộ phận gắn liền, không thể thiếu được trong hệ thống quản lý Trong điều kiện kinh tế thị trường, nhận thức đúng đắn vai trò này là rất cần thiết để thiết kế hệ thống báo cáo kế toán và hệ thống CBTT kế toán ở mỗi doanh nghiệp vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho quản lý nội bộ, vừa đảm bảo nhu cầu thông tin cho các đối tượng bên ngoài
h
Trang 201.1.3 Yêu cầu của thông tin kế toán
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà toàn cầu hóa kinh tế phát huy tác dụng của nó thì thông tin kế toán ngày càng trở nên quan trọng Để phát huy vai trò của mình, thông tin kế toán cung cấp phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:
- Thông tin kế toán cung cấp phải phản ánh trung thực và khách quan
tình hình hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị Không nên quan niệm việc ghi sổ kế toán là chỉ để đối phó với những yêu cầu của Nhà nước, mà phải xem thông tin do kế toán cung cấp như là kim chỉ nam của người quản lý trong mọi hoạt động Có như vậy, doanh nghiệp mới khắc phục được những tồn tại, phát huy những thế mạnh để đạt được mục đích với hiệu quả cao nhất
- Thông tin kế toán cung cấp phải phản ánh đầy đủ, toàn diện về mọi
hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị Chỉ khi được cung cấp thông tin một cách đầy đủ, toàn diện về mọi hoạt động của đơn vị, nhà quản lý mới có thể đưa ra những quyết định thích hợp, có phương hướng chỉ đạo đúng đắn
- Thông tin kế toán cung cấp phải phản ánh kịp thời các hoạt động kinh
tế tài chính xảy ra Mọi sự chậm trễ của thông tin đều gây bất lợi cho doanh nghiệp, thông tin chậm trễ sẽ không còn tác dụng hoặc giảm phần lớn tác dụng Yêu cầu này đòi hỏi kế toán phải được tổ chức khoa học và ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào công tác kế toán
- Thông tin kế toán cung cấp phải bảo đảm nhất quán về nội dung và
phương pháp tính toán
- Thông tin kế toán cung cấp phải rõ ràng, dễ hiểu bảo đảm cho các đối
tượng có nhu cầu sử dụng thông tin đều có thể nhận thức đúng đắn hoạt động
và kết quả hoạt động của đơn vị, nhằm thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động của đơn vị
h
Trang 211.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY NIÊM YẾT
1.2.1 Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua-bán các loại chứng khoán trung và dài hạn Việc mua-bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán từ những nhà phát hành,
và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp Có thể nói, TTCK là nơi mua bán các quyền sở hữu tư bản, là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa, nền kinh tế phát triển
Thị trường chứng khoán có những chức năng cơ bản, đó là:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng
khoán do các công ty niêm yết phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: Các loại chứng khoán
trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời gian và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn các loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu
và sở thích của mình
- Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán: Trên TTCK, nhà đầu
tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư, đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn đối với vốn đầu tư
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua giá chứng khoán,
hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính
h
Trang 22xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén
và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là biểu hiện của nền kinh tế và là công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
a Thị trường chứng khoán sơ cấp
Thị trường chứng khoán sơ cấp là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán, là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành, là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho nhà phát hành Chính vì vậy, thị trường sơ cấp không những đóng vai trò tập hợp các nguồn vốn mà còn là công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế
Thị trường sơ cấp là thị trường hoạt động không liên tục, nó chỉ hoạt động khi có đợt phát hành chứng khoán mới Giá chứng khoán trên thị trường
Trang 23thuộc về nhà phát hành Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng khoán, tạo ra tính thanh khoản cho các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp
Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua-bán chứng khoán nhiều lần Giao dịch trên thị trường thứ cấp tuân thủ nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do mối quan hệ cung-cầu quyết định
1.2.2 Công ty niêm yết
a Khái niệm công ty niêm yết
Một công ty cổ phần muốn huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh dễ dàng với chi phí huy động thấp thì phải niêm yết chứng khoán trên SGDCK, đưa chứng khoán có đủ điều kiện của mình vào giao dịch tại SGDCK
Công ty niêm yết là CTCP được SGDCK cho phép niêm yết chứng khoán của mình và giao dịch trên SGDCK nếu công ty đó đáp ứng đầy đủ các quy định mà Sở đề ra Vì SGDCK là nơi giao dịch tập trung và có tiêu chuẩn cao nhất nên các chứng khoán giao dịch ở đây thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư hơn là giao dịch ở nơi khác hoặc không giao dịch Nhờ đó, chứng khoán có tính thanh khoản hơn, được nhà đầu tư đánh giá cao hơn so với trước khi chưa niêm yết
b Tiêu chuẩn niêm yết
Tiêu chuẩn niêm yết thông thường do SGDCK của mỗi quốc gia quy định, dựa trên cơ sở thực trạng của nền kinh tế, chịu tác động của chính sách khuyến khích hay hạn chế niêm yết trong từng thời kỳ Tiêu chuẩn về niêm yết được quy định dưới hai hình thức: tiêu chuẩn định lượng và tiêu chuẩn định tính
h
Trang 24* Tiêu chuẩn định lượng:
Thời gian hoạt động từ khi thành lập công ty: Công ty niêm yết phải có
một nền tảng kinh doanh đầy đủ và thời gian hoạt động liên tục trong một số năm nhất định Thông thường, công ty niêm yết phải có thời gian hoạt động tối thiểu 3-5 năm, hoặc cổ phiếu đã từng được giao dịch trên thị trường phi tập trung
Quy mô và cơ cấu sở hữu cổ phần công ty: Quy mô của CTNY phải đủ
lớn để tạo nên tính thanh khoản tối thiểu cho chứng khoán, cổ đông bên ngoài công ty nắm giữ tối thiểu 20% vốn cổ phần, cổ đông sáng lập nắm giữ tối thiểu 20% vốn cổ phần trong vòng 3 năm không được phép bán kể từ ngày phát hành
Lợi suất thu được từ vốn cổ phần: Xét đến mức sinh lời trên vốn đầu tư
(cổ tức) phải cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng kỳ hạn 1 năm Hoặc số năm hoạt động kinh doanh có lãi tính đến thời điểm xin niêm yết là 2-3 năm
Tỷ lệ nợ: Xét đến tỷ lệ nợ trên tài sản ròng của công ty, hoặc xét vốn khả
dụng điều chỉnh trên tổng tài sản nợ của công ty phải thấp hơn ở mức quy định
Sự phân bổ cổ đông: Xét đến số cổ phiếu do cổ đông thiểu số nắm giữ
phải đạt một tỷ lệ tối thiếu quy định
* Tiêu chuẩn định tính:
Tiêu chuẩn định tính thể hiện ở khả năng chuyển nhượng chứng khoán nêu trong điều lệ công ty và chất lượng hoạt động SXKD của công ty được xác định thông qua BCTC có kèm báo cáo kiểm toán trong vòng 3 năm gần nhất
* Quy định niêm yết trong những trường hợp đặc biệt:
Các quy định về niêm yết cũng được quy định cụ thể ở một số ngành, nghề, lĩnh vực nhất định về vốn kinh doanh, thời gian hoạt động, lãi ròng
h
Trang 25hàng năm và số lượng cổ đông tối thiểu Chẳng hạn, các ngành xây dựng, bất động sản và công nghệ cao là lĩnh vực đầu tư có nhiều rủi ro nên tiêu chuẩn niêm yết thường cao hơn Còn các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, công ty chứng khoán do đặc thù về bản chất của hoạt động tài chính nên tiêu chuẩn nợ trên vốn thường không xét đến mà chỉ xét đến yếu tố lợi nhuận trên vốn cổ phần
1.3 CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.3.1 Nội dung thông tin kế toán công bố trên thị trường chứng khoán
Công bố thông tin kế toán là quyền lợi và nghĩa vụ quan trọng của các công ty niêm yết trên TTCK, được thực hiện theo quy định bắt buộc của Cơ quan quản lý thị trường theo Thông tư số 09/2010/TT-BTC hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Trong đó quy định cụ thể là:
- Yêu cầu thực hiện công bố thông tin:
Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời
Việc công bố thông tin phải do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được uỷ quyền công bố thông tin thực hiện
Việc công bố thông tin phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCKNN, SGDCK về nội dung thông tin công bố
- Phương tiện công bố thông tin:
Phương tiện công bố thông tin của tổ chức niêm yết: Báo cáo thường niên, trang thông tin điện tử (Website) và các ấn phẩm khác của tổ chức niêm yết
Phương tiện công bố thông tin của UBCKNN: Trang thông tin điện tử (www.ssc.gov.vn), bản tin và các ấn phẩm khác của UBCKNN
h
Trang 26Phương tiện công bố thông tin của SGDCK: Bản tin thị trường chứng khoán, trang thông tin điện tử của SGDCK (www.hsx.vn, www.hnx.vn), bảng hiển thị điện tử tại SGDCK
- Nội dung công bố thông tin:
+ Công bố thông tin định kỳ:
Tổ chức niêm yết công bố thông tin định kỳ về BCTC năm chậm nhất là
10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn hoàn thành BCTC năm Ngày hoàn thành BCTC năm chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm
theo quy định của Luật Kế toán BCTC năm phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận Nội dung công bố thông tin bao gồm: BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT, TMBCTC theo quy định của pháp luật và Báo cáo kiểm toán
Tổ chức niêm yết phải lập và công bố thông tin về BCTC bán niên (sáu
tháng đầu năm) đã được kiểm tra bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận
trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày kết thúc Quý 2 hàng năm Trường hợp tổ
chức niêm yết là công ty mẹ phải lập BCTC hợp nhất thì thời hạn công bố
thông tin là 60 ngày, kể từ ngày kết thúc Quý 2 hàng năm
Tổ chức niêm yết công bố thông tin định kỳ về BCTC quý được lập trong thời hạn 25 ngày, kể từ ngày kết thúc quý Trường hợp tổ chức niêm yết là công ty mẹ phải lập BCTC hợp nhất thì thời hạn công bố thông tin là 50 ngày,
kể từ ngày kết thúc quý Nội dung công bố thông tin bao gồm: BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT, TMBCTC theo quy định của pháp luật Trường hợp lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp tại BCKQHĐKD giữa kỳ báo cáo
so với cùng kỳ báo cáo năm trước có biến động từ 10% trở lên, tổ chức niêm yết phải giải trình rõ nguyên nhân dẫn đến những biến động bất thường đó Trường hợp tổ chức niêm yết có công ty con thì tổ chức niêm yết đó phải nộp cho UBCKNN, SGDCK Báo cáo tài chính của công ty mẹ và Báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật về kế toán
h
Trang 27Tổ chức niêm yết phải lập và công bố Báo cáo thường niên chậm nhất là
20 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn hoàn thành BCTC năm
Tổ chức niêm yết phải công bố việc nộp BCTC thông qua phương tiện công bố thông tin của UBCKNN, SGDCK đồng thời ghi rõ địa chỉ liên kết tới trang thông tin điện tử đăng tải toàn bộ BCTC hoặc địa chỉ cung cấp BCTC
Sơ đồ 1.1: Nội dung công bố thông tin kế toán định kỳ
Sơ đồ 1.2: Thời hạn công bố thông tin kế toán định kỳ
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh
BCLCTT
Thuyết minh báo cáo tài
chính Giải trình chênh lệch lợi
nhuận sau thuế thu nhập
doanh nghiệp giữa kỳ
báo cáo so với cùng kỳ
năm trước từ 10% trở lên
90 Ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính
10 Ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn hoàn thành BCTC năm
50 Ngày kể từ ngày kết thúc quý IV
50
25
25 Ngày kể từ ngày kết thúc quý III
60
45 Ngày kể từ ngày kết thúc 6 tháng đầu năm
25 50 Ngày kể từ ngày kết thúc quý II
25 50 Ngày kể từ ngày kết thúc quý I Báo cáo tài chính quý I
Báo cáo tài chính quý II
Báo cáo tài chính bán niên
Báo cáo tài chính quý III
Báo cáo tài chính quý IV
10
90
Báo cáo tài chính năm
Thời hạn công bố đối với công ty niêm
yết có công ty con
Thời hạn công bố đối với công ty niêm yết không có công ty con h
Trang 28+ Công bố thông tin bất thường:
Mỗi khi xuất hiện thông tin đột xuất thì tổ chức niêm yết phải công bố
thông tin trong thời hạn 24 giờ kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
* Tổ chức niêm yết bị tổn thất tài sản có giá trị từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên
* Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông/Hội đồng quản trị liên quan vấn đề tăng, giảm vốn điều lệ; góp vốn từ 10% trở lên tổng tài sản của tổ chức niêm yết vào tổ chức khác; góp vốn từ 50% trở lên tổng vốn của công ty nhận vốn góp
* Khi có các sự kiện có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tình hình quản trị của tổ chức niêm yết
* Khi giá CP tăng trần/giảm sàn 5 phiên liên tiếp không theo xu hướng chung của thị trường hoặc giá CP niêm yết tăng trần/giảm sàn 10 phiên liên tiếp, tổ chức niêm yết phải công bố sự kiện liên quan ảnh hưởng đến biến động giá CP
+ Công bố thông tin theo yêu cầu:
Tổ chức niêm yết phải CBTT trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được
yêu cầu của UBCKNN, SGDCK Nội dung công bố thông tin phải nêu rõ sự kiện được yêu cầu công bố, nguyên nhân, mức độ xác thực của sự kiện đó Công bố thông tin về giao dịch của các cổ đông nội bộ, người được ủy quyền công bố thông tin và cổ đông lớn:
* Cổ đông nội bộ là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc/Giám đốc, Phó Tổng giám đốc/Phó Giám đốc và Kế toán trưởng;
Cổ đông lớn của công ty; Người được ủy quyền công bố thông tin của tổ chức niêm yết và người có liên quan của các đối tượng này khi có dự kiến giao dịch
cổ phiếu của tổ chức niêm yết phải báo cáo UBCKNN, SGDCK trước ngày thực hiện giao dịch tối thiểu là 3 ngày làm việc Thời hạn dự kiến giao dịch
h
Trang 29không quá 2 tháng, kể từ ngày đăng ký thực hiện giao dịch và chỉ được bắt đầu tiến hành phiên giao dịch đầu tiên sau 24 giờ kể từ khi có công bố thông tin từ SGDCK
* Trong vòng 3 ngày làm việc, kể từ ngày hoàn tất giao dịch, người thực hiện giao dịch phải báo cáo cho UBCKNN, SGDCK và tổ chức niêm yết về kết quả thực hiện giao dịch, tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu sau khi giao dịch và mức
độ thay đổi tỷ lệ nắm giữ
* Trường hợp không thực hiện được giao dịch, trong thời hạn 3 ngày, kể
từ ngày kết thúc thời hạn dự kiến giao dịch phải báo cáo UBCKNN, SGDCK
về lý do không thực hiện được giao dịch
1.3.2 Nguyên tắc công bố thông tin kế toán
a Thông tin kế toán phải công bố đầy đủ và chính xác
Điều này đòi hỏi công ty niêm yết phải tôn trọng tính trung thực vốn có của thông tin, không được xuyên tạc, bóp méo thông tin công bố, hoặc có những hành vi cố ý gây hiểu nhầm thông tin Các thông tin được công bố từ CTNY là căn cứ của hành vi mua-bán chứng khoán của nhà đầu tư, là một trong những vấn đề cơ bản đảm bảo sự công bằng trong việc hình thành giá chứng khoán
Công ty niêm yết có nghĩa vụ công bố đầy đủ và chính xác thông tin về tình hình hoạt động sản SXKD cho các cổ đông và công chúng Ngoài ra, các công ty cần phải công bố kịp thời và đầy đủ các thông tin khác nếu các thông tin đó có ảnh hưởng đến giá chứng khoán, để từ đó nhà đầu tư đưa ra những quyết định đầu tư chính xác và chịu hoàn toàn trách nhiệm về quyết định của mình
Tuy nhiên, bản chất của các công ty nói chung là luôn có sự mâu thuẫn
về lợi ích với nhà đầu tư về mặc công bố thông tin Các công ty thường không muốn tiết lộ các thông tin bí mật của Ban quản trị và ngược lại, các nhà đầu tư
h
Trang 30lại muốn biết các thông tin này càng nhiều càng tốt Những thông tin sai lệch không chính xác sẽ gây hiểu lầm cho nhà đầu tư Vì vậy, các thông tin công
bố ra công chúng phải chính xác và phải được công bố ngay cả khi thông tin bất lợi cho công ty niêm yết Nếu thông tin công bố bị sai lệch, về nguyên tắc, những người liên quan phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra
b Thông tin kế toán phải công bố kịp thời và liên tục
Mục tiêu của việc CBTT kế toán của các công ty niêm yết là nhằm thúc đẩy hoạt động giao dịch chứng khoán diễn ra trôi chảy và có trật tự, đảm bảo quá trình hình thành giá một cách công bằng thông qua việc cung cấp những thông tin quan trọng, tức thời trên một hệ thống cung cấp thông tin hiện đại CBTT ngay lập tức khi có tài liệu được công bố, tức là thông tin càng sớm càng tốt Thông tin phải được công bố đồng thời trên các phương tiện CBTT
Công bố thông tin định kỳ thông thường được quy định trong Luật chứng khoán hoặc trong các thông tư hướng dẫn khác, chẳng hạn các báo cáo tài chính quý, bán niên hoặc năm Những thông tin này đôi khi đi kèm cả những báo cáo về các cuộc họp, thảo luận, nhận định, phân tích tình hình của ban điều hành công ty, do vậy những thông tin này cũng phải được công bố và phải tuân thủ về mặt thời gian theo quy định, không được để gián đoạn
Việc công bố thông tin kịp thời sẽ giúp tránh hiểu nhầm cho nhà đầu tư Nếu các thông tin không được công bố kịp thời, thị trường sẽ bị ảnh hưởng bởi tin đồn và điều này sẽ làm sai lệch sự hình thành giá chứng khoán và gây
ra những thiệt hại không thể lường được đối với nhà đầu tư Ngoài ra, việc công bố thông tin ngay lập tức nhằm giảm bớt các vi phạm về giao dịch nội gián có thể xảy ra Với ý nghĩa đó, việc công bố thông tin đúng thời hạn đóng vai trò quan trọng, thể hiện sự khách quan trong công bố thông tin
h
Trang 31c Đảm bảo công bằng đối với những đối tượng nhận thông tin kế toán
Nguyên tắc này được hiểu là việc công bố thông tin phải được công bố rộng rãi cho công chúng đầu tư Nhà đầu tư cần được tiếp cận như nhau về các thông tin của công ty niêm yết Công ty cung cấp thông tin phải đảm bảo rằng mọi thông tin được công bố sao cho mọi đối tượng có được khả năng cao nhất về mức độ tiếp cận đồng thời và như nhau đến thông tin công bố Công
ty niêm yết không được cung cấp thông tin cho một số nhà đầu tư riêng biệt hoặc những cá nhân có lợi ích liên quan khác trước khi công bố rộng rãi ra công chúng trừ những trường hợp ngoại lệ Trong những trường hợp này, bên nhận thông tin phải có trách nhiệm bảo mật các thông tin đó
1.3.3 Yêu cầu về chất lượng của thông tin kế toán
Chất lượng thông tin là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp TTCK phát triển Công ty niêm yết phải có trách nhiệm CBTT kế toán kịp thời, chính xác và đáng tin cậy, bởi không phải nhà đầu tư nào cũng có đủ trình độ để đọc hiểu hết BCTC để phát hiện ra những điều bất thường trong các BCTC ấy, thậm chí các công ty hoàn toàn có thể làm đẹp các BCTC để qua mặt các nhà đầu tư chuyên nghiệp nhất dưới sự giúp đỡ của các tổ chức trung gian như các công ty kiểm toán, các tổ chức đánh giá tín nhiệm, ngân hàng Vì vậy điều kiện minh bạch hóa thông tin kế toán càng trở nên quan trọng hơn
Trong các hoạt động nói chung thì thông tin luôn là yếu tố không thể thiếu khi thực hiện hoạt động đầu tư, thông tin kế toán lại càng quan trọng hơn, mang tính quyết định đối với các chủ thể khi họ tham gia trên TTCK Thực tế kinh nghiệm trên thế giới và thực tiễn Việt Nam vừa qua cho thấy thông tin kế toán càng đúng sự thật, càng kịp thời và hiệu quả bao nhiêu, niềm tin của các chủ thể trên TTCK càng lớn, chất lượng thông tin kế toán ảnh hưởng lớn đến niềm tin của nhà đầu tư, ảnh hưởng đến giá trị chứng khoán,
h
Trang 32đây chính là một trong những nguyên nhân có tác động đến mối quan hệ cung-cầu chứng khoán
Trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, các hoạt động đầu tư, giao dịch trên thị trường chứng khoán sẽ thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư nước ngoài BCTC của các công ty niêm yết phải được chuẩn bị đầy đủ, chuyên nghiệp, tính minh bạch phải được chú trọng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư và nâng cao trách nhiệm pháp lý của công ty Mặt khác, khi công ty niêm yết có BCTC chất lượng cao sẽ dễ dàng
và ít tốn kém chi phí để niêm yết cổ phiếu của công ty mình ra thị trường tài chính các nước tiên tiến, nhằm thu hút vốn quốc tế để đầu tư phát triển Do vậy, yêu cầu về chất lượng thông tin kế toán công bố phải được đặt lên hàng đầu
1.4 CÁC LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
Thị trường chứng khoán hiện nay là mối quan tâm của toàn bộ các thành phần kinh tế, chứ không phải của riêng những nhà đầu tư hay những công ty niêm yết trên sàn giao dịch Với sự phát triển không ngừng và những đóng góp to lớn của mình, TTCK ngày càng chứng tỏ ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế Vì thế, các thông tin trên TTCK rất đáng được quan tâm và đặc biệt hơn cả là giá của các chứng khoán niêm yết Nó đã trở thành một chủ đề khá hấp dẫn đối với các nhà kinh tế học thực nghiệm cũng như lý thuyết Đã có rất nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm cũng như các lý thuyết nghiên cứu về mức
độ công bố thông tin trên TTCK, trong đó có thể kể đến những lý thuyết nổi tiếng như: lý thuyết thị trường hiệu quả và lý thuyết bất cân xứng thông tin
1.4.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả
Lý thuyết thị trường hiệu quả chính thức được biết đến và khái niệm thị trường hiệu quả lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1969 bởi Eugene Fama Ông
cho rằng “thị trường hiệu quả là thị trường mà trong đó, giá cả điều chỉnh rất
h
Trang 33nhanh trong phản ứng với những thông tin mới xuất hiện trên thị trường”
Tuy nhiên về sau, Fama nhận ra rằng, mặc dù tính chất điều chỉnh nhanh khi xuất hiện những thông tin mới là một thành tố quan trọng tạo nên thị trường hiệu quả nhưng không phải là thành tố duy nhất
Sau này, trong công trình nghiên cứu mang ý nghĩa bước ngoặt của
mình, Fama đã định nghĩa “thị trường hiệu quả là thị trường mà trong đó, giá
cả phản ánh toàn bộ những thông tin tồn tại trên thị trường” Qua định nghĩa
vừa nêu, hàm ý rằng thị trường xử lý thông tin một cách triệt để, do đó, không tồn tại bất cứ một thông tin có liên quan nào đến chứng khoán bị thị trường bỏ qua Và do đó, giá chứng khoán trên thị trường luôn ở mức phù hợp với giá trị nội tại của nó Nói cách khác thì đây chính là thị trường hiệu quả về mặt thông tin
Ví dụ, thông tin một công ty dầu lửa phát hiện ra mỏ dầu mới có trữ lượng lớn được công bố lúc 10 giờ sáng ngày hôm nay thì ngay lập tức thông tin đó sẽ được phản ánh vào giá cả khiến cho nó được đẩy lên ở mức thích hợp Ở Mỹ đã có những nghiên cứu đo lường tốc độ của sự điều chỉnh giá cả
và kết quả là chỉ có thể kiếm được lợi nhuận khi mua chứng khoán trong vòng
30 giây sau khi thông tin mới được công bố rộng rãi
Lý thuyết thị trường hiệu quả luôn cho rằng khi tham gia vào một thị trường hiệu quả, nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn so với những người khác, tức là mọi người đều có khả năng tiếp cận thông tin như nhau trong quyết định đầu tư, kinh doanh Lý thuyết cũng cho biết các chứng khoán sẽ được mua bán trao đổi ngang giá trên các sàn giao dịch chứng khoán và do đó
sẽ không có cơ hội một cách hệ thống để một số nhà đầu tư mua ép giá cổ phiếu hoặc thổi phồng mức giá khi bán (hiện tượng làm giá) Người chơi luôn được tin tưởng rằng thị trường đối xử công bằng với tất cả mọi người Giá cả
h
Trang 34sẽ luôn là tín hiệu trung thực phản ánh giá trị nội tại của chứng khoán hay giá trị thực của công ty
Lý thuyết thị trường hiệu quả được chia thành ba cấp độ:
- Thị trường hiệu quả dạng yếu: Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu cho rằng giá chứng khoán hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin của thị trường chứng khoán, bao gồm các mức giá trong quá khứ, lợi suất trong quá khứ, sự thay đổi của giá Giả định rằng, mức giá thị trường hiện tại phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên thị trường, nên giả thuyết này có nghĩa là lợi suất của chứng khoán trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tương lai (các lợi suất độc lập với nhau) Nói cách khác, không thể dự báo được giá chứng khoán trong tương lai hay là có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội bằng những căn cứ từ thông tin tương tự của chúng trong quá khứ
- Thị trường hiệu quả dạng trung bình: Lý thuyết thị trường hiệu quả trung bình cho rằng giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai trong hiện tại cũng như trong quá khứ Như vậy, lý thuyết hiệu quả trung bình bao trùm lên lý thuyết hiệu quả yếu Thông tin công khai bao gồm: BCTC công khai của doanh nghiệp, các thông báo về thu nhập và cổ tức, chia cổ phần, thưởng cổ phiếu và các thông tin về kinh tế vĩ mô Lý thuyết này ngụ ý các nhà đầu tư khi ra quyết định dựa trên các thông tin sau khi được công bố sẽ không thu được lợi nhuận cao hơn mức trung bình bởi các thông tin công khai đã được phản ánh hết vào trong mức giá chứng khoán
- Thị trường hiệu quả dạng mạnh: Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh cho rằng giá chứng khoán phản ánh tất cả các thông tin từ công khai đến nội bộ Nghĩa là sẽ không có một nhóm đầu tư nào độc quyền tiếp cận
h
Trang 35được các thông tin liên quan đến việc định giá Do đó, sẽ không ai có thể thu được lợi nhuận vượt trội so với người khác
Tuy nhiên, thị trường hiệu quả dạng mạnh không bao giờ thể hiện đúng theo định nghĩa, bởi vì đây là một giả thuyết về một hình ảnh gần như là phi thực tế Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng không thể có thị trường nào mà khi
có những thông tin nội gián, người sử dụng chúng lại không thu được lợi ích bất thường Ví dụ như thị trường bất động sản, khi có thông tin nội bộ về những vùng đất đai quy hoạch thì những người có được thông tin này thực sự
có được những đặc lợi khó sánh
Sơ đồ 1.3: Các dạng hiệu quả của lý thuyết thị trường hiệu quả
1.4.2 Lý thuyết bất cân xứng thông tin
Cùng với lý thuyết thị trường hiệu quả, lý thuyết bất cân xứng thông tin
đã nêu bật lên vai trò của thông tin đối với thị trường chứng khoán Lý thuyết
THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ
Thị trường hiệu quả
dạng yếu Thị trường hiệu quả dạng trung bình
Thị trường hiệu quả dạng mạnh
Tập thông tin: giá,
lợi suất… (quá khứ)
Đặc điểm: Nếu thị
trường là hiệu quả
thì thông tin quá
khứ không cho
phép người sử dụng
chúng thu được thu
nhập cao hơn bình
quân trên thị trường
Tập thông tin: mọi
thông tin đã công bố (quá khứ và hiện tại)
Đặc điểm: Nếu thị
trường là hiệu quả thì mọi thông tin công bố không cho phép người sử dụng chúng có được thu nhập bất thường
Tập thông tin: mọi
h
Trang 36bấtcân xứng thông tin lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 bởi George Akerlof và đã được Michael Spence và Joseph Stiglitz bổ sung, hoàn thiện Bất đối xứng thông tin là khái niệm mô tả tình huống trong đó những ngườitham gia tương tác trên thị trường nắm được thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó
So với các nhà đầu tư bên ngoài, các nhà quản trị thường có thông tin đầy đủ hơn về tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng tương lai của doanh nghiệp Hiện tượng này là sự bất cân xứng về thông tin
a Nghiên cứu của Goerge Akerlof “Thị trường quả chanh”
Năm1970,George Akerlof công bố nghiên cứu của mình trong bài" The Marketfor' Lemons': QualityUncertaintyandtheMarket Mechanism" trên tạp chí Quarterly Journal of Economic Đây được coi là nền móng cho lý thuyết bất cân xứng thông tin George Akerlof đã áp dụng thị trường xe hơi cũ tại
Mỹ để minh họa cho vấn đề bất đối xứng thông tin khi mà người bán xe biết rất rõ hiện trạng của chiếc xe mình muốn bán còn người mua thì không
Đặt giả thiết là hai bên không thể trao đổi thông tin với nhau Ban đầu người bán sẽ ra giá 8.000USD cho một chiếc xe cũ Nhưng vì người mua không biết giá trị thật của nó là bao nhiêu nên chỉ chấp nhận với mức giá trung bình là 4.000USD Với mức giá đó, tất cả những ai bán xe biết rằng giá trị của chiếc xe mình cao hơn 4.000USD sẽ rút ra khỏi thị trường, thị trường
xe chỉ còn những xe có giá dưới 4.000USD Đến lúc này, do thiếu thông tin, người mua lại chỉ ước đoán giá trị thật của chiếc xe này phải dưới 4.000USD,
họ sẽ trả giá 2.000USD Và từ đó, những người bán xe biết rõ xe mình có giá trị cao hơn 2.000USD sẽ rút lui Cứ như thế, thị trường sẽ còn lại những chiếc
xe rất xấu và tệ hại nhất mà theo tiếng của người Mỹ là những quả chanh –
“lemon”
h
Trang 37Qua nhiều năm, lý thuyết bất cân xứng thông tin đã khẳng định được vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế, nhất là trong các lĩnh vực hoạt động đầu tư Việc thông tin thiếu minh bạch, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở
hạ tầng yếu kém làm cho hoạt động đầu tư không còn hấp dẫn nữa
Trên thị trường chứng khoán cũng vậy, các công ty niêm yết luôn biết rõ hơn về tình hình kinh doanh, lợi nhuận đạt được và giá cả hợp lí cho cổ phiếu của mình Vì thế, nếu các nhà đầu tư không biết rõ những thông tin trên có thể định giá cao hơn giá trị thật của nó thì mọi chi phí bất lợi nhà đầu tư phải gánh chịu hoàn toàn
Giả định có sự bất cân xứng thông tin giữa người bán và người mua, cụ thể người bán nắm được nhiều thông tin hơn và biết được là có một tin tức bất lợi cho cổ phiếu, và rất có thể giá cổ phiếu sẽ giảm khi thông tin được công
bố Người bán sẽ tận dụng giá còn cao hôm nay để bán trong khi người mua
do thiếu thông tin nên chấp nhận mua cổ phiếu ở mức giá này Kết quả người bán có tỉ suất sinh lợi vượt trội nhờ thông tin nội bộ, giá thực hiện không phản ánh được tất cả thông tin, thị trường không còn hiệu quả
Việc khắc phục hiện tượng này trên thị trường đòi hỏi có sự can thiệp của nhà nước để đảm bảo công ty niêm yết phải minh bạch hóa thông tin kế toán của mình cũng như đòi hỏi phải có những quy định về chất lượng thông tin đó
b Nguyên cứu của Michael Spence “Phát tín hiệu”
Tiếp tục phát triển nghiên cứu của Akerlof(1970),trong một bài báo công
bố vào năm 1973, Michael Spence đã chỉ ra rằng những người bán hàng có chất lượng cao có thể hạn chế rủi ro lựa chọn đối nghịch bằng cơ chế phát tín hiệu Spencer đã xét thị trường lao động là một thị trường có bất cân xứng thông tin giữa những người xin việc và người thuê lao động Spence coi bằng cấp là một cơ chế phát tín hiệu về năng suất của người lao động: nếu những
h
Trang 38người kém năng lực phải mất nhiều thời gian và nỗ lực hơn những người có năng lực để đạt được cùng trình độ học vấn thì những người có năng lực có thể phát tín hiệu bằng cách đạt được những bằng cấp mà người kém năng lực không thể đạt được
Ví dụ trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp có thông tin tình hình hoạt động kinh doanh tốt có thể phát tín hiệu bằng tỷ lệ trả cổ tức của các doanh nghiệp cho các cổ đông, có thể coi đây là tín hiệu về lợi nhuận trong tương lai của công ty là tốt hay xấu
c Nghiên cứu của Joseph Stiglitz “Cơ chế sàng lọc”
Bổ sung các nghiên cứu của Akerlof (1970) và Spence (1973), Stiglitz đã đưa ra cơ chế sàng lọc vào năm 1973 Stiglitz đặt ra vấn đề là bản thân những người có ít thông tin hơn cũng có thể tự cải thiện tình trạng của mình thông qua cơ chế sàng lọc Ông đã chỉ ra rằng bên có ít thông tin hơn có thể thu thập thông tin từ bên kia bằng cách đưa ra các điều kiện giao dịch hợp đồng khác nhau
Ví dụ như, thị trường chứng khoán cung cấp cho các nhà đầu tư các cơ hội lựa chọn phong phú, các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời gian và độ rủi ro tương ứng Nhà đầu tư sẽ tự lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình thông qua việc tiếp cận với các thông tin kế toán được công bố trên thị trường và phân tích các thông tin đó
h
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Toàn bộ nội dung chương 1 cho phép đi đến một số kết luận sau:
Thứ nhất, thông tin kế toán của các công ty niêm yết là nhân tố quan trọng quyết định thành công của các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán, nó là cầu nối giữa công ty và nhà đầu tư, giữa công ty và cơ quan quản
lý thị trường Thông tin phản ánh mức độ phát triển của TTCK trong mỗi giai đoạn khác nhau Thị trường càng phát triển cao thì hệ thống thông tin cũng phải phát triển tương ứng
Thứ hai, diễn biến hoạt động của doanh nghiệp chỉ đến được với nhà đầu
tư khi được công bố công khai, vì vậy yêu cầu công bố thông tin kế toán phải được đưa lên hàng đầu, phải tuân thủ các quy định phát luật về CBTT trên TTCK Để cho thị trường chứng khoán phát triển ổn định và hiệu quả thì thông tin kế toán công bố phải đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy, vì nó phản ánh chất lượng của hàng hóa chứng khoán được mua-bán trên thị trường Thứ ba, TTCK đã hoạt động hơn 12 năm, bên cạnh những thành công và phát triển nhưng cũng có những hạn chế và thiếu sót cần khắc phục Một vấn
đề nổi cộm gây không ít những chú ý và phàn nàn đó là vấn đề thông tin được công bố trên thị trường Một số lý thuyết nghiên cứu về vấn đề công bố thông tin đã được nghiên cứu trước đây cho thấy, thị trường có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào thông tin được công bố trên thị trường chứng khoán Những nội dung lý luận được trình bày trong nội dung Chương 1 được coi là hệ thống lý luận luận giải thực trạng CBTT kế toán của các công ty bất động sản niêm yết tại SGDCK TP.HCM ở Chương 2
h
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
VÀ SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam
Ở Việt Nam, TTCK đã bắt đầu hình thành ngay từ khi Luật Công ty ra đời năm 1990 cho phép các CTCP được phát hành cổ phiếu cùng với chương trình thí điểm cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước năm 1992 Tuy nhiên, hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán còn diễn ra một cách tự phát
và chưa có sự quản lý của Nhà nước
Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, để
có vốn đầu tư và phát triển nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước đã chủ
trương: “Xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với định hướng đổi mới
và phát triển nền kinh tế đất nước nhằm tạo một kênh huy động vốn dài hạn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 07/2000 Để tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của thị trường chứng khoán, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998 về chứng khoán và TTCK Nghị định này được coi là Nghị định khung điều chỉnh hoạt động của TTCK Việt Nam, điều chỉnh các vấn đề chung nhất về chứng khoán và TTCK Việc ban hành Nghị định với ưu điểm
là dễ sửa đổi, bổ sung hơn so với Luật hay Pháp lệnh, đảm bảo được tính linh hoạt cần thiết đối với hệ thống pháp lý trong giai đoạn khởi đầu của TTCK Việt Nam Trên cơ sở đó, Chính phủ, Bộ Tài chính và UBCKNN đã ban hành
h