o Danh sách các nghề phù hợp với sở thích; o Yêu cầu của nhà tuyển dụng qua các vị trí tuyển dụng, từ đó giúp sinh viên định hướng đúng đắn về nghề nghiệp trong tương lai, biết được xu h
Trang 1- TS Lê Thị Thanh Mai
Cơ quan chủ trì: Cơ quan Văn phòng Đại học Quốc gia TP.HCM
Thời gian thực hiện: 18 tháng (tháng 10/2008 đến tháng 04/2010)
2 Mục tiêu:
Xác định thực trạng công tác hướng nghiệp việc làm của một số trường đại học lớn từ đó nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu, nội dung cho trang web định hướng việc làm cho sinh viên
3.6 Xây dựng bảng câu hỏi trắc nghiệm để tìm nghề phù hợp với sở thích và năng lực (theo lý thuyết Holland)
Trang 2o Danh sách các nghề phù hợp với sở thích;
o Yêu cầu của nhà tuyển dụng qua các vị trí tuyển dụng, từ đó giúp sinh viên định hướng đúng đắn về nghề nghiệp trong tương lai, biết được xu hướng tuyển dụng và của doanh nghiệp, những thông tin cần thiết cho quá trình xin việc những thông tin này sẽ phục vụ cho sinh viên trên bước đường tìm việc của mình.
- Ý kiến của cựu sinh viên / nhà tuyển dụng – nhằm thiết lập hệ thống thông tin về việc làm, thông tin hai chiều giữa nhà trường và đơn vị sử dụng lao động về khả năng đáp ứng nguồn nhân lực và nhu cầu sử dụng lao động
để tư vấn, giới thiệu việc làm cho người học; giúp các đơn vị có nhu cầu
sử dụng lao động lựa chọn được người học phù hợp với yêu cầu công việc
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được áp dụng trong đề tài này bao gồm một số phương pháp chủ yếu sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích các khái niệm về hoạt động
hướng nghiệp; so sánh nêu bật thực trạng và mối quan tâm hiện nay về công tác định hướng việc làm ở thành phố
2 Phương pháp điều tra, khảo sát: Thực trạng công tác định hướng việc
làm (xây dựng phiếu điều tra và tổ chức điều tra thực trạng)
3 Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn dựa vào bản câu hỏi; Phân tích tư
Trang 35.5 Websie định hướng việc làm cho sinh viên
5.6 Bảng tóm tắt bằng tiếng Việt và tiếng Anh về kết quả công trình ( tối đa
Ngành chuyên môn
Đơn vị công tác
1 Nguyễn Đức Nghĩa Tiến sỹ Hóa học Phó Giám đốc ĐHQG-HCM
2 Lê Thị Thanh Mai Tiến sỹ Sinh hóa Phó Trưởng Ban, Ban ĐH&SDH,
Q Trưởng Ban Công tác Sinh viên, ĐHQG-HCM
3 Hồ Thiệu Hùng Tiến sỹ Triết học Viện Nghiên cứu Giáo dục, ĐH Sư
Ban ĐH&SĐH, ĐHQG-HCM
9 Phạm Tấn Hạ Tiến sỹ Sử Phó Trưởng phòng Đào tạo, ĐH
Trang 4TT Họ và tên Học
vị/chức danh KH
Ngành chuyên môn
Đơn vị công tác
12 Nguyễn Thị Kim
Loan
Tiến Sỹ Địa Lý Trưởng phòng Công tác Chính trị
Sinh viên, trường ĐHKHXH&NV
13 Trần Thị Thu Mai Tiến Sỹ Tâm lý
học
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM
Trang 5PHẦN II TỔNG QUAN
II.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chức năng tư vấn nghề nghiệp việc làm (HNTVVL) cho học sinh sau tốt nghiệp THPT, sinh viên được xem là một trong những chức năng quan trọng của một trường đại học hiện đại Tuy nhiên, tầm quan trọng và mối quan tâm của các nhà quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên và cộng đồng xã hội với công tác HNTVVL lại tùy thuộc vào nhu cầu đa dạng và đầy biến động của thị trường lao động của từng quốc gia Đối với các nước phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ khi mà lực lượng lao động luôn trong tình trạng khan hiếm bên cạnh tỉ lệ thất nghiệp cao, khi mà chênh lệch thu nhập giữa người có việc làm và người hưởng trợ cấp xã hội còn quá cao, … thì hoạt động tư vấn nghề nghiệp việc làm ở trường đại học – nơi cung cấp lực lượng lao động khoa học kỹ thuật chủ yếu cho xã hội - được nhắc đến và nhiều khi còn được nhấn mạnh hơn là hoạt động Marketing đầu vào đầu ra tương tự như ở các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hàng hóa
Những năm thập kỷ 70, 80, HNTVVL ở các trường đại học của các nước trong khu vực chưa được chú trọng đúng mức Nguyên nhân chủ yếu là cầu về lực lượng lao động khoa học kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực ngang bằng hoặc lớn hơn cung Bên cạnh đó, những đòi hỏi về tính chuyên nghiệp khắt khe còn ở mức
độ thấp thì người lao động được đào tạo dễ dàng tìm kiếm công việc và thay đổi việc làm cho dù công việc có phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ đã được đào tạo hay không Từ giữa cuối năm 1990, ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, sản xuất sa sút, tình trạng thất nghiệp trầm trọng khiến cho các nhà quản lý giáo dục, cũng như công chúng, sinh viên quan tâm và cẩn trọng hơn nhiều trong mối quan hệ giữa đào tạo và công ăn việc làm Phòng HNTVVL ở các trường đại học các nước trong khu vực như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, lại
Trang 6năng (gọi chung là sở thích nghề nghiệp-STNN), chưa có điều kiện tiếp cận với yêu cầu của nhà tuyển dụng hay thị trường lao động, trong đó có nguyên nhân là
cơ sở giáo dục chưa xây dựng được mối liên hệ bền vững với thị trường lao động, vì vậy vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn giữa đào tạo và thị trường lao động
Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, các trường ĐH đều có bộ phận tư vấn nghề nghiệp ngay trong trường, như trung tâm tư vấn nghề nghiệp của
(http://www.learning.wisc.edu/advising/career.asp), trung tâm tư vấn nghề nghiệp của ĐH Missouri (http://career.missouri.edu/), trường ĐH Quốc gia Singapore…Đa số các nước, sinh viên có thể xin chuyển đổi ngành học phù hợp hơn Nhiều trường ĐH tại Thái Lan vẫn áp dụng nguyên tắc này khi SV không phù hợp với chuyên ngành đăng ký ngay từ đầu hoặc điều kiện học không đáp ứng được
Ở Việt Nam, tuyển sinh đại học theo ngành, thí sinh trúng tuyển ngành nào phải theo học ngành đó cho đến khi tốt nghiệp Mặc dù đã có nhiều thông tin, nhiều chương trình tư vấn nhưng vẫn còn nhiều thí sinh lựa chọn ngành học theo cảm tính, khi trúng tuyển vào trường, họ lại thiếu các thông tin về thị trường lao động, khiến cơ hội thích nghi với yêu cầu của nhà tuyển dụng ngày càng xa vời
Mặc dù được tư vấn trước khi chọn ngành đề dự thi đại học nhưng khi bước vào giảng đường đại học, được tiếp cận với những môn học chuyên môn, giữa nhiều chuyên ngành, nhiều môn học tự chọn, nên chọn chuyên ngành nào hoặc học những môn học nào hoặc cần trang bị kỹ năng gì hoặc nhà tuyển dụng đòi hỏi gì ở người tốt nghiệp đại học … hoàn toàn khó tiếp cận đối với sinh viên
Vì vậy, để cho người học có quá trình đào tạo toàn diện từ khi còn là học sinh đến lúc trở thành sinh viên và hoạch định tương lai trở thành nguồn nhân lực gia nhập thị trường lao động, bên cạnh công tác định hướng học sinh chọn ngành, trường đại học, cao đẳng dự thi phù hợp với sở thích và năng lực, chúng tôi chọn
đề tài “Nghiên cứu thực trạng và xây dựng website định hướng việc làm cho sinh
viên”
Trang 7II.2 MỘT SỐ TRANG WEB TƯ VẤN NGHỀ NGHIỆP, VIỆC LÀM
II.2.1 Ngoài nước:
Nhiều website của nước ngoài đã đăng tải chương trình trắc nghiệm sở thích nghề nghiệp nhưng hiệu quả của chúng khác nhau Phần lớn các website hướng nghiệp đều phải trả phí Những thông tin trên các website của các trường nước ngoài cũng không thể hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, và cũng chưa có website nào xác định nghề nghiệp dựa trên năng lực học tập của người học Một số website có đăng tải bài đánh giá tính cách có liên quan đến nghề nghiệp:
- http://www.assessment.com/: The MAPP Test (Motivational Appraisal of Personal Potential)
- http://www.self-directed-search.com: Dr John L Holland's Self-Directed Search (SDS) test
- http://testcafe.com/job/
- http://friendfinder.com/quiz/8+p4002c.subpersonalitygoogle, Discover Your Personality Type!
II.2.2 Một số trang web việc làm ở Việt Nam
Tại Việt Nam, hầu như chưa có trường đại học nào có trang web về hướng nghiệp, thường chỉ xuất hiện các trang web việc làm online của các báo hoặc doanh nghiệp, như:
* http://laodongvieclam.vasc.com.vn/, Lao động việc làm là trang web tuyển dụng hàng đầu dành cho người tìm việc tại Việt Nam Những việc làm hiện đang có sẵn cho hàng chục ngàn ứng viên tài năng với chi phí thấp Website này cung cấp những cơ hội việc làm tại Việt Nam và những người tìm việc tại Việt Nam
* http://vietjob.com/, website sẽ cung cấp cho người tìm việc dễ hơn và
Trang 8Hình 1 Website http://vietnamworks.com/
* http://www.vietnamcareers.com/, giải pháp nhân sự toàn diện, người cho việc, việc cho người và mọi thông tin đều được bảo mật Thông tin chủ yếu là thông tin tuyển dụng của các công ty nước ngoài tại Việt Nam (Hình 2)
Hình 2 Website http://www.vietnamcareers.com.vn/
* http://www.huongnghiep.com.vn/Home/, website này hoạt động từ tháng 9/2006 Mặc dù cung cấp khá nhiều thông tin (Hình 3), nhưng
Trang 9vẫn chƣa có chức năng về trắc nghiệm sở thích nghề nghiệp, thông tin
về nghề nghiệp
Hình 3 Website http://www.huongnghiep.com.vn/
* http://vieclam.tuoitre.com.vn/, trang web việc làm online của Báo Tuổi trẻ (Hình 4)
Trang 10trong nước hầu hết chỉ tập trung mục đích “người tìm việc” hoặc “việc tìm người”, chưa có trang web nào đáp ứng nội dung vừa hướng nghiệp, vừa tư vấn việc làm cho học sinh, sinh viên, đặc biệt là gắn kết với công tác đào tạo của ngành học
II.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Tính đến nay, ở Việt Nam đã có những nghiên cứu khoa học và sản phẩm liên quan đến hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên:
1 Đề tài nghiên cứu trọng điểm Đại học Quốc gia TP.HCM “Nghiên cứu sự
tác động của các yếu tố kinh tế-xã hội đến hoạt động học tập và định hướng việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh viên ĐHQG-HCM trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do PGS.TS Nguyễn Văn Tài và tập thể thực hiện, được
nghiệm thu vào năm 2004, đã xác định những yếu tố tác động đến việc lựa chọn nghề của sinh viên ĐHQG-HCM Trong đó nguyên nhân quan trọng là sở thích nghề nghiệp, động cơ chọn ngành dự thi trong kỳ thi tuyển sinh đại học Tuy nhiên, tình cảm gắn bó với ngành nghề mà sinh viên đang theo học lại là vấn đề đáng báo động Theo kết quả phân tích số sinh viên gắn bó với ngành học không khả quan lắm (54,7% trong số mẫu điều tra) và có đến 44,9% sinh viên trong số mẫu điều tra còn do dự hoặc không muốn gắn bó với nghề đào tạo đang theo học, đặc biệt khá cao ở sinh viên năm thứ ba và thứ nhất Đây là một điều đáng lo ngại vì nếu không có tình cảm gắn bó, người học không có khao khát vươn tới mục tiêu, không có nhiệt tình say mê sáng tạo, dốc toàn tâm, toàn sức cho việc đạt được đỉnh cao của nghề nghiệp, điều này chắc chắn sẽ không có lợi cho xã hội Ngoài ra, không có tình cảm gắn bó, con người sẽ chịu tâm lý nặng nề, bất hạnh vì lỡ đeo đuổi điều mà họ không muốn gắn bó
2 Hai đề tài khác đã được triển khai và được nghiệm thu (đề tài “Đề xuất
giải pháp tăng cường công tác tư vấn truyền thông về hướng nghiệp cho học sinh phổ thông theo yêu cầu của thị trường lao động TP.HCM” của PGS.TS Lý
Ngọc Sáng và đề tài của PGS.TS Võ Hưng “Tổ chức đưa kết quả nghiên cứu
của đề tài trên vào phục vụ cho công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở TP.HCM”) đã xây dựng được bộ câu hỏi trắc nghiệm về trắc nghiệm kỹ
năng nghề, trắc nghiệm sở thích, … Hai công trình này đã ứng dụng lý thuyết của
Trang 11Holland để phân loại các nhóm nghề, xác định những phẩm chất tương ứng của người lựa chọn và bước đầu xác lập các test phục vụ cho công tác tư vấn theo hình thức trực tiếp (face to face) cho học sinh; tuy nhiên, đề tài chỉ mới dừng lại
ở dạng tư vấn cho một số rất ít người có điều kiện tiếp xúc trực tiếp được với chuyên viên tư vấn hoặc máy tính đã được cài chương trình Số có may mắn này lại chính là số sống tại đô thị lớn, có tương đối nhiều thông tin về chọn nghề ở trường đại học, có nhiều cơ hội tham dự các buổi tư vấn hướng nghiệp của các trường đại học vào đầu các kỳ tuyển sinh (đầu học kỳ II)
3 Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thu Mai và tập thể [9] về cải biên và định chuẩn bộ trắc nghiệm hướng nghiệp (gồm 272 câu) của Jim Barrett
và Geoff Williams và đánh giá kết quả lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên bằng trắc nghiệm hướng nghiệp này cho thấy mức độ phù hợp giữa khả năng và ngành học, khối thi, giới tính của 420 sinh viên đã trúng tuyển vào trường Đại học Bách Khoa và trường Đại học Sư phạm năm 2005 như sau:
- Các mức độ đạt được của các trắc nghiệm phản ánh đặc điểm các ngành học Trắc nghiệm dùng để đo khả năng hoặc kỹ năng nào phù hợp với ngành học đó, thì người làm trắc nghiệm đạt được điểm cao hơn Khi so sánh giữa giới tính, kết quả cho thấy nam đạt được điểm số của các bài trắc nghiệm ở mức cao hơn so với nữ
- Tương quan giữa tổng điểm thi các khối với các trắc nghiệm cũng phản ánh tính đặc thù của các ngành mà sinh viên đã trúng tuyển và theo học
ở Đại học
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã rút ra một số kết luận sau [9]:
- Các thông số về độ khó và độ phân cách của câu trong các trắc nghiệm dao động do có nhiều loại sinh viên ở các khoa và mỗi loại sinh viên có những đặc thù
Trang 12- Bộ trắc nghiệm hướng nghiệp của Jim Barrett và Geoff Williams có thể sử dụng để định hướng nghề nghiệp và giúp sinh viên tìm hiểu rõ và định hướng học tập, rèn luyện theo yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai
Qua kết quả khảo sát, có thể nhận thấy trắc nghiệm hướng nghiệp thường được sử dụng trong công tác định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên và tuyển chọn về mặt tâm lý trong tuyển chọn nghề Trắc nghiệm hướng nghiệp dùng để xác định mức độ phù hợp của những đặc điểm tâm lý cá nhân với yêu cầu học, hành nghề Hiện nay, bộ trắc nghiệm là một trong những công cụ quan trọng trong định hướng nghề nghiệp ở các quốc gia phát triển trên thế giới và khu vực Vì vậy, cùng với sự phát triển nhanh các ứng dụng công nghệ thông tin thì ứng dụng trắc nghiệm hướng nghiệp vào định hướng nghề nghiệp, việc làm là một trong những căn cứ vững chắc để tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên
II.4 TƯ VẤN NGHỀ NGHIỆP, VIỆC LÀM
Nhiệm vụ của tư vấn nghề nghiệp trong nhà trường đại học, cao đẳng không chỉ là chẩn đoán những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết hiện có ở sinh viên mà còn làm sáng tỏ mức độ sẵn sàng về tâm lý và thực tiễn của sinh viên đối với nghề nghiệp mà sinh viên đã chọn cũng như kích thích sinh viên tự bồi dưỡng, rèn luyện và phát triển những phẩm chất còn thiếu của bản thân Nhiệm
vụ này có thể được thực hiện thông qua trắc nghiệm hướng nghiệp, đó là loại trắc nghiệm xác định những đặc điểm của mỗi cá nhân và phân tích được sự tương hợp của những đặc điểm đó với những yêu cầu của nghề Từ đó cho lời khuyên
cá nhân nên đi học nghề nào, làm nghề nào thì tốt hơn và không nên học, hành
nghề nào, vì sao
II.4.1 Các hình thức tư vấn nghề nghiệp, việc làm
Các hình thức tư vấn nghề nghiệp, việc làm có thể được phân thành 3 nhóm: tư vấn trực tiếp (face to face), tư vấn thực tế (thông qua các buổi tham quan trường hoặc công ty), tư vấn qua công cụ online Tư vấn qua công cụ được xem là có hiệu quả cao nhất (như chương trình hướng dẫn nghề nghiệp cho sinh viên Job-Guide, giúp sinh viên tự đánh giá niềm say mê nghề nghiệp, năng lực, các phẩm chất tính cách của mình, so sánh với các yêu cầu nghề nghiệp nhất định
Trang 13cũng nhý tìm kiếm các thông tin về nghề này) Ở các nước phát triển, với sự phát triển của công nghệ thông tin nên hình thức tư vấn qua công cụ được phát triển mạnh và phổ biết nhất hiện nay Tại Việt Nam, các hoạt động hướng nghiệp cũng như công trình nghiên cứu còn khá mới, vì vậy, hình thức tư vấn trực tiếp và tư vấn thực tế được phổ biến nhất
Tư vấn qua công cụ - phần mềm
Công cụ-phần mềm sẽ giúp thực hiện quá trình tự giải đáp về chọn ngành, nghề mà không nhất thiết phải đến gặp nhà tư vấn Trên thế giới đã có nhiều công cụ, như:
- “DOPE Test Personal Behaviour Indicator”
- “Howard Gardner Multiple Intelligence Test”
- “Follow Your True Colors Discover Your Unique Gifts and Talents” (Khám phá tài năng và năng khiếu qua trắc nghiệm về màu sắc): True Colors, hệ thống nhân cách, được hình thành từ 1979 khi Don Lowry thiết lập theo báo cáo Keirsey‟s Temperament và the Myers-Briggs Type Indicator
o Thích màu xanh lá cây - GREEN, bạn là nhà lý luận, luôn phân tích
o Thích màu xanh dương - BLUE, bạn là người thích truyền cảm hứng
Trang 14- MBTI (Myers-Briggs Type Indicator) 1 là công cụ kiểm tra cá nhân dùng
để hỗ trợ nhận dạng một số tính cách, cá tính riêng của từng người, dùng
để phát triển đội ngũ, là một công cụ phổ biến để xác định sở thích cá nhân
và giúp các thành viên trong nhóm hiểu nhau hơn Có 4 tiêu chí gồm:
o Hướng nội / Hướng ngoại (I= Introverted/E=Extroverted)
o Tiếp nhận thông tin bằng Giác quan / Trực quan (S=Sensition/N=Intuitive)
o Ra quyết định khách quan / Nhân bản (T=Thinking/F=Feeling)
o Phong cách sống nguyên tắc / Linh hoạt (J=Judging/P=Perceiving) Như vậy với 4 nhóm trên MBTI phân loại tính cách mọi người ra làm 16
loại: ISTJ, ISFJ, INFJ, INTJ, ISTP, ISFP, INFP, INTP, ESTP, ESFP,
ENFP, ENTP, ESFJ, ESTJ, ENFJ, ENTJ Lý thuyết phân loại tính cách
này được khởi nguồn bởi Carl Jung, học trò của Freud Ví dụ:
o ISTJ : Introvert Sensing Thinking Judging
o ENFP : Extrovert iNtuitive Feeling Perceiving
Các nhóm này được chia thành 4 phần như sau:
o Drivers : INFJ, INFP, INTJ, INTP (Có tính cách dẫn dắt)
o Expressives : ENFJ, ENFP, ENTJ, ENTP (Có tính cách thể hiện)
o Analyticals : ESTJ, ESFJ, ESTP, ESFP (Có tính cách phân tích)
o Amiables: ISTJ, ISFJ, ISTP, ISFP (Có tính cách hướng thiện)
Dựa trên các kết quả phân tích, người ta nhận xét rằng: Những người thuộc
những góc trái ngược nhau (Drivers & Expressives & Analyticals &
Amiables) thì khó có thể hòa hợp được với nhau
1 http://www.personalitypage.com/
Trang 15- Bộ trắc nghiệm hướng nghiệp của Jim Barrett và Geoff Williams [9] gồm
có 7 bài trắc nghiệm hướng nghiệp, bao gồm:
o Trắc nghiệm khả năng lý luận ngôn ngữ: nhằm đo lường khả năng lý luận bằng ngôn ngữ, gồm có 42 câu hỏi trắc nghiệm 04 lựa chọn Nội dung chính của các câu hỏi đo khả năng hiểu nghĩa của từ, tìm từ đồng nghĩa, tìm từ khác nghĩa, so sánh các từ ngữ và tìm nguồn gốc của từ ngữ
o Trắc nghiệm khả năng lý luận số học: nhằm đo lường khả năng lý luận số học, gồm có 21 dãy số, mỗi dãy số có 5 chữ số được sắp xếp theo một trật tự lôgic nhất định Người làm trắc nghiệm phải tìm chữ
số tiếp theo của trật tự dãy số
o Trắc nghiệm kỹ năng chính xác về tính toán và kỹ năng chính xác về ngôn ngữ
o Trắc nghiệm khả năng suy luận không gian: nhằm này khám phá khả năng có thể nhận biết và vận dụng các hình dáng và hình ảnh trong không gian ở mức độ nào
o Trắc nghiệm khả năng suy luận cơ khí: nhằm tìm hiểu khả năng
“nhạy cảm” với sự vật cơ khí và kỹ thuật
Trang 16Trắc nghiệm khám phá sở thích nghề nghiệp theo J Holland: được dùng
để người sử dụng có thể tự phát hiện ra sở thích nghề nghiệp của bản thân để từ
đó chọn nghề nghiệp phù hợp Lý thuyết này hiện được rất nhiều trường đại học trên thế giới sử dụng, bổ sung, tạo thành công cụ tư vấn ảo trên website nghề nghiệp, việc làm của các trường
II.5 LÝ THUYẾT SỞ THÍCH NGHỀ NGHIỆP CỦA JOHN L HOLLAND
II.5.1 Lý thuyết sở thích nghề nghiệp của John L Holland (J.H)
TS John L Holland, một nhà tâm lý học người Mỹ đã dành cuộc đời của mình để giải đáp 3 câu hỏi do chính ông đặt ra:
* Một là những đặc điểm gì về con người và môi trường dẫn đến việc
người ta cảm thấy thoả mãn trong chọn nghề, gắn bó với nghề và thành đạt trong nghề? Ngược lại, điều gì khiến người ta không hài lòng, không thành công trong nghề đã chọn?
* Hai là xem xét những đặc điểm gì về con người và môi trường đã khiến
cho một người trong đời của mình giữ nguyên hoặc thay đổi công việc
và mức cống hiến?
* Ba là cách nào là hữu hiệu nhất giúp người ta giải bài toán chọn nghề?
Ông đã giải đáp được 3 câu hỏi trên và trong hơn 30 năm qua đã không ngừng hoàn thiện một bộ công cụ giúp cho những ai quan tâm muốn chọn nghề phù hợp có cách để tự tìm hiểu bản thân mình rồi đối chiếu với một danh mục nghề cho sẵn từ đó xác định mình thích hợp với loại nghề nghiệp nào
Bộ công cụ giúp người ta nghiên cứu tự định hướng nghề nghiệp cho bản
thân mình - từ đây được viết tắt là SDS2 ra đời từ năm 1970 và không ngừng được cải tiến, hoàn thiện đã khiến J.H trở thành nhà tâm lý học hàng đầu Mỹ, là người đứng đầu số 0,1% các nhà tâm lý học có công trình được xuất bản nhiều
2 SDS: SELF-DIRECTED SEARCH (Nghiên cứu tự định hướng), mô phỏng thực tế kinh nghiệm tư vấn nghề nghiệp và ứng dụng các thành tựu của tâm lý học để xây dựng một bộ tài liệu tự diễn giải, tự đánh giá nghề nghiệp và cơ hội nghề nghiệp Chức năng chính của SDS là: tăng trình độ tự hiểu biết, cơ hội lựa chọn về nghề nghiệp và độ thỏa mãn đối với khát vọng nghề nghiệp của từng cá nhân
Trang 17nhất và được trích dẫn nhiều nhất 3
Holland đưa ra mô hình đơn giản và dễ nhìn về môi trường và con người Trong hai thập kỷ qua, mô hình này là cách tiếp cận có ảnh huởng nhất trong việc hình thành công cụ đánh giá mới và nghiên cứu tư vấn nghề nghiệp
Tầm quan trọng có tính chất đổi mới mạnh mẽ của Holland là dùng công
cụ SDS để can thiệp một cách hiệu quả và ít tốn kém thay cho các cuộc phỏng vấn mặt-đối-mặt với người cần được hỗ trợ tìm nghề phù hợp Điều này có ưu
điểm là giảm thời gian thực hiện phỏng vấn và chuẩn bị phỏng vấn, hơn nữa tạo thêm cơ hội cho người không có điều kiện được tư vấn theo kiểu mặt đối mặt với chuyên viên tư vấn cũng vẫn được giúp đỡ một cách hiệu quả Đó cũng chính là
lý do khiến nhóm nghiên cứu đã ứng dụng SDS trong công trình này để tư vấn hướng nghiệp qua mạng cho mọi học sinh có thể truy cập website
Lý thuyết sở thích nghề nghiệp được J.H xây dựng dựa trên 8 giả thiết 4
trong đó có 5 giả thiết cơ bản dưới đây
a Giả thiết thứ nhất - Bất kỳ ai cũng thuộc vào một trong 6 nhóm sở
thích nghề nghiệp đặc trưng sau đây: Realistic - tạm dịch là thực tế
(R); Investigate - tạm dịch là tìm tòi (I); Artistic - nghệ thuật (A);
Social - xã hội (S); Enterprising - dám làm (E) và cuối cùng là Conventional - quy củ (C)
Mỗi nhóm sở thích nghề nghiệp trong 6 nhóm kể trên - từ đây ta gọi
là nhóm sở thích (NST) - chỉ là mô hình lý thuyết, trong thực tế không ai
3 Tuy bên cạnh công cụ SDS của J.H còn khá nhiều công cụ khác của nhiều nhà tâm lý học nhiều nước nhưng công cụ SDS của J.H vẫn được đa số các trường đại học trên các nước thuộc châu Mỹ, châu Âu, châu Úc và châu
Á sử dụng vì tính hợp lý, dễ sử dụng và khoa học của nó Lý thuyết Holland được kiểm tra tại các nước sau đây trong thời kỳ 1950-1980: Áo, New Zealand, Canada, Hà Lan, Thụy Sĩ, Italia, Israel, Nigieria và Guyana Giữa
Trang 18hoàn toàn chỉ mang trọn những đặc điểm đã được mô tả cho một nhóm
mà thôi, ngược lại mỗi người dù thuộc nhóm này nhưng đều có những đặc điểm của các nhóm khác với mức độ mạnh yếu khác nhau Chẳng hạn, có người thể hiện sở thích trội nhất ở mình là R, sau đó là I mạnh thứ nhì, rồi đến A, sau đó là S, rồi E và yếu nhất là C Khi đó, người này được mang code ký hiệu là RIASEC Về mặt lý thuyết, có tất cả 6!= 720 kiểu người khác nhau mang code 6 chữ như RIASEC, IARSCE, SECIAR, CRISEA, AERISC, CISREA , EIRASC, v.v….… Chính điều này nói lên sự phức tạp, phong phú trong các NST trong đời.5
Chỉ xét người mang đặc trưng chính là R và có thêm một đặc trưng phụ là một trong 5 chữ cái còn lại, ta đã có 5 kiểu người khác nhau về code 2 chữ như sau đây: RI, RA, RS, RE, RC Như vậy xếp theo 2 đặc trưng (1 chính
và 1 phụ), ta có 5 x 6 = 30 kiểu (code) người khác nhau Song sự phân phối 30 kiểu người này là không đồng đều Thực tế các cuộc thử nghiệm
ở nước Mỹ cho thấy có sự khác nhau khá rõ về cách phân phối các kiểu người theo giới tính và tuổi tác Riêng về học sinh trung học phổ thông, kết quả thử nghiệm cho biết nam sinh thiên về kiểu người mang code RE,
RI, ES và hầu như không có nam sinh mang code AC hay CA; còn nữ sinh thì thiên về code SE, SA, SI và rất ít em có code CR, RC, RS hay
đo 7 kiểu (Campbell, 1995), hoặc thang đo đa chiều (người-sự vật và dữ kiện-ý tuởng) cho thang đo 6 kiểu (Prediger & Vansickcle, 1992) Những thuyết phân loại khác, như một thuyết được trình bày trong Myers-Briggs Type Indicator (MBTI; Myers & McCaulley, 1992), có nhiều kiểu hơn (16) Thuyết các nhu cầu bị dồn nén của Murray (1938) có 8 kiểu Trong nhiều năm qua đã có nhiều thuyết phân loại trong tâm lý học, trong đó có nghiên cứu của Carl Jung (1933) mà MBTI có dựa vào
6 Xem sách vừa dẫn, trang 34 Cũng đã có những cuộc thử nghiệm khoa học đo độ tương quan giữa các NST; kết
quả như sau: R-I= 0,26; R-A= 0,21; R-S=0,02; R-E= 0.20; R-C=0,22; A-C=0,02; v.v … Xem sách Self-Directed
Search Technical Manual của J Holland, Fritzsche, Powell, PAR 1994, Odessa, trang 4
Trang 19b Giả thiết thứ hai - Có 6 loại “môi trường”, - ứng với 6 nhóm sở thích
nói trên
Theo giả thiết này thì có 6 loại môi trường tương ứng với 6 nhóm sở
thích R, I, A, S, E, C nói trên Môi trường ở đây được hiểu là một lĩnh
vực nghề nghiệp, một tổ chức xã hội nào đó, có thể là nhóm làm việc, lớp
học hoặc thậm chí là gia đình Môi trường tương ứng với sở thích nào thì kiểu người có sở thích ấy chiếm đa số trong số người thành viên của môi trường ấy Chẳng hạn một môi trường mà có đến hơn 50% số người có nhóm sở thích S trội nhất thì đó là môi trường loại S Một gia đình gồm cha, mẹ và con mà cả cha và mẹ đều là nghệ sĩ thì môi trường trong gia đình ấy là môi trường A
c Giả thiết thứ ba - Ai cũng tìm môi trường phù hợp cho phép mình thể
hiện được kỹ năng, thái độ và hệ thống giá trị của mình, đảm nhận những vấn đề và vai trò thú vị đối với mình
Cá phải chọn môi trường nước để bơi, hổ phải tìm môi trường rừng
để sống, con người cũng tìm môi trường làm việc thích hợp với tính cách,
kỹ năng của mình để trưởng thành và khẳng định mình Ai cũng muốn làm việc mình thấy phù hợp nhất với sở trường của mình, thú vị nhất đối với mình, chọn nơi mình có khả năng thành công nhất Ngược lại các cơ quan, công ty…muốn hoạt động thành công cũng tìm cách thu hút người thích hợp về làm việc cho mình và loại bớt người không thích hợp ra
d Giả thiết thứ tư - Thái độ ứng xử của con người được quy định bởi sự
tương tác giữa kiểu NST của mình với các đặc điểm của môi trường
Giả thiết này cho phép căn cứ vào kiểu NST của một người và loại môi trường mà người đó gặp phải để dự báo được người đó sẽ ứng xử ra sao Chẳng hạn một người mang code RIA mà được tuyển chọn vào môi
Trang 20e Giả thiết thứ năm: Mức độ phù hợp giữa một người với môi trường có
thể được biểu diễn trong mô hình lục giác Holland 7
Mức phù hợp thứ 3: được làm việc trong môi trường xen kẽ (cách 1 đỉnh của lục giác) Ví dụ I-C (người có nhóm sở thích I làm việc trong loại môi trường C)
Mức ít phù hợp nhất: khi NST và loại môi trường nằm ở 2 đỉnh đối xứng trong lục giác Holland, ví dụ R-S hay E-I hay A-C8
Hình 5 Mô hình lục giác các nhóm sở thích của Holland
7 The Self- Directed Search and Related Holland-Career Materials: A practitioner’s guide của Robert C Reardon
và Janet G.Lenz, PAR 1998, Lutz, trang 16
8 Đã có những cuộc thử nghiệm khoa học đo độ tương quan giữa kiểu người với loại môi trường; kết quả như sau:
R-I= 0,26; R-A= 0,21; R-S=0,02; R-E= 0,20; R-C=0,22; A-C=0,02; v.v … Xem sách Self-Directed Search
Technical Manual của J Holland, Fritzsche, Powell, PAR 1994, Odessa, trang 4
0,04 0,22
Trang 21Nếu xét theo 4 đối tượng tác động là dữ liệu, vật thể, ý tưởng và con
người thì mơ hình lục giác Holland (Hình 6) cho thấy người mang code S
rất thích tiếp xúc với người và thấy khĩ khăn khi tiếp xúc với vật thể,
ngược hẳn với người cĩ code R; kiểu người code E thì thích tiếp xúc với
dữ liệu và người hơn, trong khi kiểu người cĩ code I lại thích tiếp cận với
ý tưởng và vật thể hơn; kiểu người code C thích tiếp xúc với dữ liệu và vật thể hơn, ngược lại người code A lại thích tiếp xúc với ý tưởng và người hơn
Kinh doanh (giao tiếp)
- Làm việc VP
- Hoạt động kinh doanh
Con người Vật thể
Hình 6 Mức phù hợp giữa kiểu người với đối tượng tác động
II.5.2 Lĩnh vực nghề nghiệp ứng với mỗi nhĩm sở thích
R (Realistic): Thực tế
Trang 22xe, huấn luyện viên, nông-lâm nghiệp (quản lý trang trại, nhân giống cá, lâm nghiệp ), cơ khí (chế tạo máy, bảo trì và sửa chữa thiết bị, luyện kim, cơ khí ứng dụng, tự động ), điện-điện tử, địa lý-địa chất (đo đạc, vẽ bản đồ địa chính), dầu khí, hải dương học, quản lý công nghiệp; cứu hỏa, cảnh sát
I (Investigative): Tìm tòi
Người có nhóm sở thích I thường có khả năng về quan sát, khám phá, phân tích đánh giá và giải quyết các vấn đề Tự xem mình là kiểu người dè dặt, hoài nghi, thích khám phá, lý giải phân tích; hiểu rộng, suy nghĩ độc lập dựa vào lý trí; khéo khai thác các ý tượng trừu tượng và giỏi giải quyết các vấn đề trí óc
Được người ngoài xem là thông minh nhưng ít giao thiệp
Lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với nhóm này bao gồm: Các ngành thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (toán, lý, hóa, sinh, địa lý, địa chất, thống kê ); khoa học xã hội (nhân học, tâm lý, địa lý ); Y - Dược (BS gây mê, hồi sức, BS phẫu thuật, Nha sĩ ); khoa học công nghệ (CNTT, môi trường, điện, vật lý kỹ thuật, xây dựng ), nông-lâm (nông học, thú y, ngư y )…
A (Artistic): Nghệ thuật
Người có nhóm sở thích A thường có khả năng về văn học, nghệ thuật, trực giác nhạy bén, khả năng tưởng tượng cao, thích làm việc trong các môi trường mang tính ngẫu hứng, không khuôn mẫu Tự xem mình là người sẵn sàng thử nghiệm, sáng tạo cái mới; khéo sử dụng trí tưởng tượng, trực giác và cảm xúc trong hoạt động nhưng vụng về trong tính toán và việc văn phòng Được người ngoài xem là kiểu người giàu sáng tạo nhưng phóng túng, ít chịu tuân thủ các quy định
Lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với nhóm này bao gồm: Các ngành về văn chương; báo chí (bình luận viên, dẫn chương trình ); điện ảnh; sân khấu; mỹ thuật; kiến trúc; thời trang; giáo viên dạy Sử/Ngữ văn; bảo tàng, bảo tồn,
S (Social): Xã hội
Người có nhóm sở thích S thường có khả năng về ngôn ngữ, thích làm những việc như giảng giải, cung cấp thông tin, chăm sóc, giúp đỡ hoặc huấn luyện cho những người khác Những người tự thấy mình là người nhẫn nại, mềm mỏng, dễ cảm thông người khác; khéo léo trong giao tiếp nhưng không khéo léo
Trang 23khi phải điều khiển máy móc cũng thuộc nhóm sở thích này Được người ngoài đánh giá là người dễ mến, cởi mở, ứng xử lịch thiệp
Lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với nhóm này bao gồm: Sư phạm; huấn luyện viên thể dục thể thao; chuyên viên xã hội học, tư vấn-hướng nghiệp; công tác xã hội, sức khỏe cộng đồng, thư viện; bác sỹ chuyên khoa phục hồi chức năng; chuyên viên thẩm định giá, nghiên cứu quy hoạch đô thị, kinh tế gia đình, tuyển dụng nhân sự; chuyên gia dinh dưỡng
Lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với nhóm này bao gồm: chủ doanh nghiệp, giám đốc điều hành các ngành về QTKD (quản lý khách sạn, quản trị nhân sự, thương mại, marketing, tài chính ), luật sư, dịch vụ khách hàng, tiếp viên hàng không, thông dịch viên, kỹ sư công nghiệp, bác sĩ cấp cứu, quy hoạch đô thị, bếp trưởng nhà hàng, phóng viên độc lập, thám tử; hiệu trưởng trường tư
C (Conventional): Quy củ
Người có nhóm sở thích C thường có khả năng về số học, thích thực hiện những công việc có tính nguyên tắc, chi tiết, có quy chuẩn cụ thể, làm theo chỉ dẫn của người khác; thích làm việc với dữ liệu hoặc các công việc văn phòng Tự xem mình là người biết cách làm việc nhưng không có khiếu nghệ thuật Được người ngoài nhìn nhận là người kỹ lưỡng, chặt chẽ
Lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với nhóm này bao gồm: Các ngành về hành
Trang 24II.5.3 Lý thuyết Holland với một số lý thuyết về định hướng nghề nghiệp
khác
Ngoài lý thuyết Holland còn có một số lý thuyết khác cũng phục vụ cho việc định hướng nghề nghiệp Có thể chia thành hai nhóm: ổn định và đang phát triển
Các lý thuyết ổn định là những lý thuyết ra đời lâu và thường đi kèm nhiều công cụ để thực hiện hoạt động tư vấn hướng nghiệp Các lý thuyết này thường hướng vào các lĩnh vực cụ thể như công việc làm, vấn đề kinh tế, tính cách con người, sự phù hợp hay thoả mãn trong nghề nghiệp
Ngược lại, các lý thuyết đang phát triển như của Ginberz, Super…, xuất hiện sau, chú trọng nghiên cứu diễn tiến trong sự nghiệp một con người khi người đó đóng các vai khác nhau trong đời sống của người trưởng thành (vợ/chồng, công dân, sinh viên, người lao động, người hưởng trợ cấp ) Có thể nói các lý thuyết này có đối tượng nghiên cứu hỗn hợp, đó là đời sống và sự nghiệp
Hai tiến sĩ tâm lý Robert C Reardon và Janet J Lenz [4] đã nghiên cứu 12
lý thuyết phổ biến nhất hiện nay và sắp xếp chúng theo ý kiến nhận định riêng của mình theo hình dưới đây:
Trang 25Hình 7 Sắp xếp 12 lý thuyết theo quan điểm của Cardon và Lenz
Sắp xếp 12 lý thuyết theo quan điểm của Cardon và Lenz cho thấy trong 4
lý thuyết ổn định thì lý thuyết của Holland được đánh giá có ảnh hưởng mạnh nhất, trong 8 lý thuyết đang phát triển thì lý thuyết của Super được đánh giá có ảnh hưởng mạnh nhất Tuy nhiên, tiến sỹ Reardon và tiến sỹ Lenz vẫn xếp lý thuyết của Holland có ảnh hưởng mạnh hơn của Super So với các lý thuyết đã
ổn định thì lý thuyết Holland được xếp gần với trục tung nhất nghĩa là gần với các lý thuyết đang phát triển nhất
Tiến sỹ Reardon, tiến sỹ Lenz và cộng sự, đã thực hiện nghiên cứu từ năm
Trang 26dụng các công cụ như Self-Directed Search và các công cụ khác dựa trên lý thuyết Holland để giúp giải quyết vấn đề ở từng cá nhân9
II.5.4 Trắc nghiệm tự khám phá sở thích nghề nghiệp
Theo John L Holland, con người và môi trường làm việc có thể được phân thành sáu nhóm (R-I-A-S-E-C) Một cá nhân có thể có các sở thích và có những điểm giống với vài nhóm trong đó, nhưng thường có 2-3 nhóm là phù hợp nhất với sở thích của cá nhân
Một số tác giả đã dựa trên lý thuyết của Holland và biên tập thành trò chơi
dự đoán sở thích nghề nghiệp 10 Theo đó, sau khi đọc bảng các lĩnh vực sở thích nghề nghiệp, cá nhân tự chọn và ghi ra 2-3 nhóm sở thích phù hợp nhất với mình Tiếp theo, cá nhân sẽ làm điều tra sở thích về sở thích và kỹ năng để biết được nhóm sở thích của mình và có thể tìm hiểu những nghề phù hợp với sở thích của mình
9 http://www.self-directed-search.com/robertreardon.aspx
10 www.school.za/PILP/themes/careers1/RIASEC_Code.doc
Trang 27PHẦN III NỘI DUNG VÀ NGHIÊN CỨU
III.1 CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP, TƯ VẤN VIỆC LÀM (HNTVVL)
III.1.1 Một số khái niệm
Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ cá nhân chọn lựa và phát
triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao
động) ở cấp độ địa phương và quốc gia (Nguyễn Dũng, Dự án Hướng nghiệp VIE
Thanh Niên, nguồn: www.huongnghiepviet.com)
Nghề nghiệp là tất cả các công việc, có thể được trả lương hoặc không trả
lượng, được làm trong cuộc đời của một người.11
Nghề nghiệp = công việc + đam mê (McDaniels, 1989)
Xét về gốc độ chữ nghĩa “nghề nghiệp” là do từ “chức” và từ „nghiệp” cấu tạo thành Từ “Chức” là chỉ chức vụ, chức trách; “nghiệp” là từ chỉ ngành nghề,
sự nghiệp Nghĩa bóng của từ nghề nghiệp bao gồm 3 ý: một là công việc, là có việc làm, có việc để xử lý; hai là có thu nhập, để có được tiền lương hoặc thu
kinh tế của những hình thức khác nhau; ba là có giới hạn thời gian [10]
Trước kia, thuật ngữ “nghề nghiệp” thường gắn liền với công việc được hưởng lương và chỉ là một công việc riêng biệt Trong thời đại hiện nay, thuật ngữ “nghề nghiệp” được hiểu như là một quá trình học tập và phát triển liên tục Những thành tố đóng góp vào quá trình phát triển nghề nghiệp bao gồm: kinh nghiệm làm việc, sự tham gia vào cộng đồng, công việc, vai trò trong cuộc sống, các hoạt động kinh doanh, văn hóa, đào tạo, giáo dục, sở thích, hoạt động thể thao và công tác tình nguyện.[8]
Tư vấn nghề nghiệp (career counseling) là các hoạt động dành cho những
Trang 28việc là một nhóm những vị trí tương tự nhau ở một đơn vị làm việc riêng lẻ, và một nghề là một nhóm những công việc tương tự nhau ở nhiều đơn vị làm việc.
Vị trí: là một tập hợp những năng lực (kỹ năng và kiến thức ) được đòi hỏi
như là một phần hợp thành của toàn bộ nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức hay được sắp xếp ở nơi nào mà vị trí đó tồn tại Theo Shartle (1959), vị trí là tập hợp các nhiệm vụ được thực hiện bởi một cá nhân
Thông tin nghề nghiệp (career information), hoặc thông tin thị trường lao động (labor market information – LMI): gồm các thông tin về xu hướng
việc làm, về doanh nghiệp
Với những định nghĩa này, quan điểm nhận thức của NCDA cho rằng bất
cứ cá nhân được quy định nào cũng đều có một “sự nghiệp” ngay cả khi anh ấy/cô ấy thay đổi “nghề nghiệp”, “vị trí” hay “công việc” nhiều lần
III.1.2 Mục đích của công tác HNTVVL
Công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm trong các cơ sở giáo dục nhằm
giúp người học định hướng nghề nghiệp, lựa chọn được ngành học, trình độ đào tạo phù hợp; chủ động, sáng tạo trong học tập, am hiểu về ngành, nghề đang học để phát huy được năng lực nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp; Giúp người học có thông tin về thị trường lao động và tìm được việc làm phù hợp; Tăng cường sự phối hợp giữa cơ sở giáo dục với đơn vị sử dụng lao động để việc đào tạo của nhà trường tiếp cận với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội [13]
III.1.3 Nội dung của công tác HNTVVL
Theo quy định của Bộ GD&ĐT [13], nội dung trọng tâm của công tác HNTVVL bao gồm:
Trang 29pháp luật của Nhà nước liên quan đến ngành, nghề được đào tạo cho người học của nhà trường
3 Tổ chức câu lạc bộ hướng nghiệp, hoạt động ngoại khoá, giao lưu với đơn vị sử dụng lao động, giúp người học bổ sung kiến thức thực tế và các kỹ năng cần thiết để hoà nhập với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp
Tư vấn, giới thiệu việc làm
1 Thiết lập hệ thống thông tin về việc làm, thông tin hai chiều giữa nhà trường và đơn vị sử dụng lao động về khả năng đáp ứng nguồn nhân lực và nhu cầu sử dụng lao động để tư vấn, giới thiệu việc làm cho người học; giúp các đơn
vị có nhu cầu sử dụng lao động lựa chọn được người học phù hợp với yêu cầu công việc
2 Tổ chức, tham gia các cuộc giao lưu, hội thảo, hội nghị, hội chợ về việc làm
3 Tư vấn cho người học một số kỹ năng khi tìm việc như: làm hồ sơ, viết đơn xin việc, xử lý tình huống trong phỏng vấn, giao tiếp với người tuyển dụng
4 Phối hợp với các cơ quan, đơn vị chức năng tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn nhằm trang bị cho người học những kỹ năng cần thiết trước khi tốt nghiệp
Thống kê về việc làm
1 Xây dựng cơ sở dữ liệu về người học đã tốt nghiệp theo từng năm học
để cung cấp cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động
2 Khảo sát, thống kê về việc làm của người học sau khi tốt nghiệp
3 Khảo sát, đánh giá nhu cầu nguồn nhân lực đối với ngành, nghề mà nhà trường đào tạo và thông tin phản hồi của đơn vị sử dụng lao động về chất lượng, khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của người học sau khi tốt nghiệp
Trang 303 Phối hợp với tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các hoạt động hướng nghiệp, tư vấn việc làm
III.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HNTVVL Ở MỘT SỐ TRƯỜNG ĐH
III.2.1 Nước ngoài
Website của Trung tâm Nghề nghiệp, trường Đại học Missouri, hoạt động
http://www.surfnetkids.com/career.htm (0), Surfing the Net with Kids, Website cung cấp đường dẫn “Free Career Planning”12
để người sử dụng có thể tìm một nghề mà mình thích, hoặc “Self-Directed Search”13, tự đánh giá sở thích theo mã của Holland
Hình 8 Website http://www.surfnetkids.com/career.htm
Website “Job seekers advice” (http://www.jobseekersadvice.com/) có các chức năng chính: Career Advice, Career Education, Career Guides, Job hunting, Job seeker, CV Advice, Employment Issues, Interview Advice, Job Seeker Centre, Off the job!, Recruitment Agencies, Working Abroad Website này liên kết với nhiều website khác và thường người sử dụng phải trả phí
12 http://assessment.com/ , Motivational Apprasal of Personal Potential
13 www.learning4liferesources.com , Self-Directed Search Assessments and Finders SDS được hơn 22 triệu người trên thế giới sử dụng
Trang 31Website của Trung tâm phát triển nghề nghiệp thuộc Đại học Arkansas,
Mỹ có nhiều thông tin như: tuyển dụng, nhà tuyển dụng, ngành và nghề nghiệp; chuyên mục dành cho sinh viên, cho nhà tuyển dụng, cho phụ huynh, cho cựu sinh viên; gắn kết ngành đào tạo với nghề nghiệp … giúp sinh viên có nhiều thông tin trong việc chọn ngành, chuyên ngành cũng như có thể tự định hướng việc học để đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng Ngoài ra, website cũng có đường link đến các website có liên quan khác như http://online.onetcenter.org/, giúp sinh viên có thể nghiên cứu, tìm hiểu về nghề nghiệp; website của Bộ Lao động Mỹ (http://www.bls.gov/search/ooh.htm, Occupational Outlook Handbook) đăng tải thông tin về nghề nghiệp hoặc những dự báo nghề nghiệp, nội dung này gần với chức năng Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động
Nhìn chung, hầu như các trường đại học ở nước ngoài đều có trung tâm hướng nghiệp và website hướng nghiệp
III.2.2 Việt Nam
Việc làm luôn là mối quan tâm hàng đầu của đại bộ phận sinh viên Sự tăng nhanh số lượng các trường đại học, cao đẳng, số lượng sinh viên, trong khi
đó thị trường lao động với những ngành nghề ngày càng đa dạng hơn, yêu cầu ngày càng cao hơn, việc tiếp cận thông tin để chuẩn bị cho việc làm phù hợp thì không nhiều Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc làm không đúng ngành nghề được đào tạo Đó là vấn đề bất cập hiện nay và diễn ra khá phổ biến Đặc biệt là với những sinh viên sắp ra trường, họ mong muốn kiếm được việc làm và lúc ra trường phần lớn họ chấp nhận làm tạm một công việc nào đó để có thu nhập và tiếp tục tìn kiếm cơ hội tốt hơn
Vấn đề sinh viên tốt nghiệp thường mắc phải chính là khả năng thực hành chưa vững, trong đó nguyên nhân chính là do chỉ được đào tạo thiên về lý thuyết hơn là thực hành vì vậy khi tốt nghiệp thường gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong
Trang 32hạn chế để đánh giá trong quá trình thử việc Vì vậy, vẫn còn nhiều ý kiến cho rằng sinh viên sau tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng
Trong khi đó, mô hình tư vấn việc làm, hỗ trợ sinh viên tại các trường đại học chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên, chưa giải quyết được nguyện vọng của sinh viên trong vấn đề tự trang bị những năng lực nghề nghiệp cần thiết khác ngoài kiến thức chuyên môn, khả năng tìm việc phù hợp với khả năng và trình độ của bản thân
Để tiến hành khảo sát hiện trạng công tác tư vấn hướng nghiệp việc làm tại các cơ sở giáo dục, nhóm nghiên cứu đã xây dựng bảng câu hỏi dành cho 2 đối tượng - người quản lý và sinh viên, theo các nguyên tắc chính sau:
- Tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng của cơ sở giáo dục đối với các hoạt động hỗ trợ sinh viên;
- Các nội dung quy định về công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm;
- Các nguyên nhân phổ biến vì sao sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm; Bảng hỏi gồm 3 phần: thông tin cá nhân; thông tin về công tác HNTVVL tại đơn vị và ý kiến của người lãnh đạo/sinh viên về công tác HNTVVL tại đơn
vị mình (dành cho người lãnh đạo) (Phụ lục)
Phiếu khảo sát được nhóm nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý tại 12 cơ sở giáo dục trong và ngoài TP.HCM
Kết quả điều tra 12 cơ sở giáo dục cho thấy có 5 đơn vị có thành lập trung tâm (41,7%), 5 đơn vị thành lập bộ phận TVVL (41,7%), 2 đơn vị thuộc chức năng của Phòng Truyền thông-Quan hệ công chúng hoặc Đoàn Thanh niên (16,6%) Đội ngũ cán bộ không nhiều, chủ yếu là kiêm nhiệm vị trí lãnh đạo và nhiều cộng tác viên là sinh viên Hoạt động chính của các trung tâm này chủ yếu
là giới thiệu việc làm, giới thiệu nơi thực tập cho sinh viên và tổ chức ngày hội việc làm (Phụ lục)
Các kết quả khác được ghi nhận như sau:
Trang 33III.2.2.1 Mô hình TVHNVL ở một số cơ sở giáo dục đào tạo
Trường ĐH KH Xã hội và Nhân văn
Mô hình HNTVVL của trường ĐH KH Xã hội và Nhân văn có tên là TT
tư vấn hỗ trợ SV và phát triển nguồn nhân lực, với nhiều chức năng như tổ
chức hội thảo tuyển dụng, hội thảo HNTVVL, giới thiệu việc làm, tìm nguồn học bổng, giới thiệu SV thực tập Trung tâm có Giám đốc kiêm nhiệm, có 2 chuyên viên và nhiều cộng tác viên là sinh viên Trung tâm có văn phòng độc lập
Những thông tin về việc làm trung tâm lấy từ các doanh nghiệp, công ty, tổ chức theo nhiều hình thức: fax, email hoặc điện thoại đều được in và thông báo trên bản tin việc làm của trường
Hàng năm vào khoảng tháng 4, tháng 5, trung tâm kết hợp với trường tổ
chức chương trình "Ngày hội sinh viên năm cuối" Thành phần tham dự chủ yếu
là các sinh viên năm cuối và các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan Đây được xem
là cơ hội tốt để để có thể tìm được một công việc phù hợp với năng lực của mình
Có nhiều hoạt động diễn ra trong ngày hội như phỏng vấn trực tiếp giữa các cơ quan, doanh nghiệp với sinh viên; doanh nghiệp giới thiệu… Tham gia ngày hội, sinh viên có dịp thể hiện hoặc thử sức với năng lực của mình, có thể tiếp xúc và giao lưu với doanh nghiệp Nhưng số lượng sinh viên tìm được cơ hội việc làm tại các ngày hội rất hạn chế
Các sinh viên từ năm nhất đến năm cuối đều có thể tới trung tâm để được giải đáp về thông tin về việc làm Một điểm chung là hầu hết sinh viên rất cần có việc làm để có thêm thu nhập nên sinh viên thường nhận cả những công việc bán thời gian, không theo đúng chuyên môn ngành nghề Ngoài ra, đây là trường chuyên ngành về xã hội và nhân văn nên ít có doanh nghiệp, cơ quan đến đặt hàng trước khi sinh viên tốt nghiệp
Trang 34“Gặp gỡ và nói chuyện với các nhà doanh nghiệp trẻ thành đạt” Tại chương
trình này sinh viên sẽ được hướng nghiệp, học kỹ năng xin việc, kỹ năng trả lời phỏng vấn
Mô hình HNTVVL ở trường ĐH Kinh tế-Luật
Mô hình HNTVVL của trường ĐH Kinh tế-Luật là Trung tâm hỗ trợ sinh viên và quan hệ doanh nghiệp Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm Ban Giám
đốc và các nhân viên của trung tâm Trung tâm có văn phòng độc lập, có website cung cấp các hoạt động chính như: thực tập-việc làm, vay vốn-học bổng, kỹ năng-hướng nghiệp, tư vấn học đường… sinh viên có nhu cầu có thể liên hệ trực tiếp tại Văn phòng hoặc qua website
Trung tâm liên kết với nhiều doanh nghiệp như Hoa Sen Group để tìm cơ hội phát triển cho các bạn sinh viên thông qua chương trình “Ngày hội nghề nghiệp” được tổ chức hàng năm Qua chương trình này, doanh nghiệp có thể tìm được nguồn nhân lực có chất lượng và sinh viên có cơ hội tìm được việc làm tốt sau khi ra trường
Những nội dung chính của các hoạt động giao lưu với doanh nghiệp:
* Giao lưu với các cấp lãnh đạo để định hướng phát triển nghề nghiệp;
* Doanh nghiệp tìm những ứng viên vì vậy đây là cơ hội để các bạn sinh viên có thể thực tập tại tập đoàn với vị trí mong muốn;
* Đào tạo các kỹ năng nghiệp vụ và chuyên môn cho sinh viên;
* Là cơ hội để sinh viên được trở thành thành viên của Vườn ươm tài năng quản trị;
* Cơ hội để trở thành quản trị viên tập sự và thăng tiến đến các vị trí lãnh đạo cao cấp
Ngoài ra, Trung tâm còn có nhiều liên kết nhằm tạo cầu nối cho sinh viên thực tập nghề nghiệp như: FPT, ngân hàng TMCP Sài Gòn, Nestle Vietnam, Dutchlady Vietnam, ngân hàng Sacombank, SCB, Techombank, Hoa Sen Group…, qua đó hàng năm trung tâm cung ứng cho các doanh nghiệp một số lượng lớn sinh viên thực tập và một nguồn nhân lực chất lượng cao theo đặt hàng của doanh nghiệp Tuy nhiên, chương trình chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu của sinh viên hiện nay
Trang 35Một số sinh viên cho rằng những chương trình mà trường tổ chức rất hay nhưng không mang lại nhiều cơ hội như sinh viên mong muốn và cơ hội thường giành cho các bạn sinh viên học giỏi Nhiều sinh viên vẫn chưa xác định được sẽ làm gì và ở đâu sau khi ra trường?
Mô hình HNTVVL ở trường Đại học Bách Khoa
Mô hình HNTVVL ở trường Đại học Bách Khoa là Trung tâm hỗ trợ sinh viên và quan hệ doanh nghiệp Trung tâm có Ban Giám đốc, các phòng ban và các nhân viên Trung tâm có Văn phòng độc lập, Hội quán, website (http://www.bktphcm.net/)
Trung tâm là đơn vị chuyên tư vấn việc làm và giới thiệu nguồn nhân lực thông qua các chương trình sau:
* Tư vấn hướng nghiệp-tuyển sinh: liên kết với đơn vị truyền thông nhằm
tổ chức tư vấn hướng nghiệp-tuyển sinh cho học sinh trung học phổ thông
* Tư vấn nghề nghiệp: Tổ chức các hoạt động tham quan nhà máy, giao lưu với các cán bộ kỹ thuật, cựu sinh viên để giúp các sinh viên gắn bó với ngành đã chọn, cập nhật và tìm hiểu hướng phát triển công nghệ thực tế sản xuất;
* Tư vấn việc làm: Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề kỹ năng nghề nghiệp, các kinh nghiệm chuẩn bị đi xin việc làm, giúp sinh viên bắt đầu hội nhập vào môi trường doanh nghiệp;
* Trung tâm tổng hợp các thông tin tuyển dụng và phổ biến cho sinh viên sắp tốt nghiệp qua bản tin của trung tâm hoặc thông báo trực tiếp về từng khoa hoặc qua website;
* Định kỳ trung tâm tổ chức cho sinh viên các lớp thuyết trình theo từng chuyên đề, hội thảo công nghệ ngoại khóa theo nhu cầu của sinh viên;
Trang 36“Ứng viên tiềm năng” cho các bạn sinh viên năm cuối, với những hoạt
động và mục tiêu sau:
a Thiết lập cầu nối giữa các sinh viên sắp tốt nghiệp với các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng
b Doanh nghiệp sẽ tiếp cận với nguồn ứng viên để từ đó lựa chọn và
sơ tuyển để có chính sách hỗ trợ trong thời gian thực hiện luận văn,
từ đó doanh nghiệp sẽ có được những người phù hợp để phỏng vấn tuyển dụng sau khi ra trường
c Sinh viên được tiếp cận những thông tin về doanh nghiệp, nhu cầu tuyển dụng và hỗ trợ công tác tiếp nhận, phân loại hồ sơ để doanh nghiệp sơ tuyển, theo dõi, hỗ trợ thực hiện luận văn, kỹ năng cần thiết để hội nhập môi trường doanh nghiệp
Hiện tại, trường đã ký nhiều thỏa thuận hợp tác với doanh nghiệp như Công ty CP phân đạm và hóa chất dầu khí – Tập đoàn Dầu Khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn JUKI, với mục đích: Thiết lập mối quan hệ trong lĩnh vực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, hướng nghiệp, thực tập và tuyển dụng; nâng cao
kỹ thuật, chất lượng đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực
III.2.2.2 Nguyên nhân sinh viên chưa tìm được việc làm, những giải pháp từ
gốc độ người phụ trách công tác HNTVVL
Điều tra được thực hiện ở 12 cơ sở giáo dục đại học về xác định nguyên nhân chính sinh viên chưa tìm được việc làm và đề xuất những giải pháp để nâng cao khả năng kiếm việc làm cho sinh viên Mức độ đồng ý được chọn theo thang điểm từ thấp đến cao: 0 là không đồng ý, 4 là đồng ý cao nhất Kết quả được minh họa ở Hình 9, Hình 10
Trang 37Hình 9 Nguyên nhân chính SV chưa tìm được việc làm
Như vậy, trong 12 nguyên nhân được đưa ra thì nguyên nhân SV thiếu kỹ năng xin việc làm có mức độ đồng ý cao nhất, kế là thiếu thông tin về thị trường lao động và việc làm và hạn chế về các kỹ năng như ngoại ngữ, giao tiếp Việc thiếu thông tin thị trường lao động cũng đồng thời nói lên tính thụ động hoặc kỹ năng tìm kiếm, phân tích thông tin của người tìm việc
14 giải pháp được các lãnh đạo đề xuất trong đó mức độ đồng ý cao nhất chính là thiết lập hệ thống thông tin việc làm
Trang 38Giải pháp thiết lập hệ thống thông tin việc làm, thực tế đã được áp dụng thông qua việc hình thành Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động tại các địa phương Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động trực thuộc Cục Việc làm, Bộ LĐTBXH, trong đó, có 3 trung tâm giới thiệu việc làm trọng điểm tại 3 miền Bắc, Trung, Nam chịu trách nhiệm thu thập, xử lý thông tin và báo cáo về Trung tâm quốc gia Ba trung tâm trọng điểm này sẽ kết nối với các trung tâm giới thiệu việc làm thuộc các tỉnh thành phố phía Bắc, miền Trung và phía Nam Nhiệm vụ chính của Trung tâm Quốc gia dự báo và thông tin thị trường lao động là tổ chức nghiên cứu, phân tích và dự báo biến động của các yếu tố thị trường lao động phục vụ hoạch định chính sách và quản lý nhà nước; Dự báo thị trường lao động để tăng cường kết nối cung và cầu về lao động trên thị trường; Dự báo nhu cầu sử dụng lao động của thị trường theo trình độ và ngành nghề đào tạo; Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ liên quan tới phân tích, dự báo thị trường lao động; Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống thông tin thị trường lao động; tổ chức xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia
về thị trường lao động; tổ chức điều tra thu thập, tổng hợp thông tin thị trường lao động; cung cấp thông tin tới người lao động, người sử dụng lao động và các đối tượng khác; làm đầu mối phối hợp trong hoạt động thong tin thị trường lao động
Hiện Trung tâm phân tích và dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực trực thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Bộ GD&ĐT, đã đi vào hoạt động Trung tâm
có nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở khoa học của dự báo giáo dục và dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực; Thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về giáo dục và nhân lực phục vụ quản lý, điều hành GD&ĐT ở tầm vĩ mô; Phân tích đánh giá các chính sách, tư vấn cho các cơ quan của Chính phủ trong việc xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội; Thực hiện tư vấn về đào tạo nhân lực gắn kết với nhu cầu xã hội, thị trường lao động; Công bố và trao đổi thông tin về thống kê giáo dục, nhu cầu đào tạo nhân lực, mối quan hệ cung - cầu về nhân lực được đào tạo với các tổ chức và cá nhân
Tháng 7/2009, Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM đã được thành lập Đây là trung tâm đầu tiên trên cả nước hoạt động trong lĩnh vực này, có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch về dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động; khảo sát, thu thập, phân tích, đánh giá và
Trang 39cung cấp các thông tin về nguồn nhân lực, lao động - việc làm và dạy nghề; nhu cầu lao động và dạy nghề trên địa bàn, phục vụ công tác quản lý nhà nước về lao động - việc làm, làm cơ sở định hướng đào tạo nguồn nhân lực
Ngày 13/9/2010, Thành đoàn TNCS TPHCM vừa khởi công xây dựng Trung tâm Hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm thanh niên TP.HCM (tại phường 6 quận Gò Vấp TPHCM) Trung tâm có 27 phòng học nghề, học vi tính, ngoại ngữ, hội trường sinh hoạt và thư viện Trung tâm sẽ thực hiện hướng nghiệp, tư vấn việc làm cho khoảng 100.000 lượt đoàn viên, thanh niên, dạy nghề khoảng 8.000 học sinh/năm
III.2.2.3 Công tác HNTVVL dưới gốc độ người sinh viên
Khảo sát về nhu cầu được hướng nghiệp, tư vấn việc làm của sinh viên được thực hiện ở ký túc xá ĐHQG-HCM Số phiếu phát ra là 300, số phiếu thu được là 200
Khi được hỏi về “dự định gì sau khi tốt nghiệp” thì 92,5% trả lời đều mong muốn có việc làm ngay, trong đó có đến 50% cho rằng trước mắt tập trung cho học thật tốt kiến thức chuyên môn, số còn lại học thêm kỹ năng khác hoặc một ngành học khác Điều này cho thấy đối tượng được điều tra hầu như chưa có định hướng kế hoạch nghề nghiệp cho mình
Ý kiến về các hoạt động giúp sinh viên định hướng và tìm kiếm việc làm
Kết quả điều tra về các hoạt động giúp sinh viên trong việc định hướng và tìm kiếm việc làm được trình bày ở Hình 11 cho thấy những hoạt động có tác động cao đến khả năng xin việc của sinh viên là được trang bị kỹ năng về ngoại ngữ, được tư vấn nghề nghiệp, được đi thực tập ở các doanh nghiệp, và một số kỹ năng khác như kỹ năng xin việc, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng sử dụng máy tính…
Trang 40Hình 11 Các hoạt động giúp sinh viên trong việc định hướng và tìm kiếm việc làm (mức độ đồng ý được chọn theo thang điểm từ thấp đến cao:
1 là không đồng ý, 5 là đồng ý cao nhất)
Ý kiến về cán bộ làm công tác hướng nghiệp việc làm
Kết quả khảo sát ý kiến sinh viên ở ký túc xá về cán bộ làm công tác hướng nghiệp việc làm tại trường mà sinh viên đang theo học được trình bày ở Hình 12, cho thấy “khả năng cung cấp thông tin việc làm” của cán bộ tư vấn được sinh viên đồng ý với mức độ trung bình - cao nhất trong các hoạt động khác, kế là khả năng giúp sinh viên xác định được mục tiêu nghề nghiệp của bản thân Tuy nhiên, mức hài lòng nói chung về cán bộ làm tư vấn chỉ đạt dưới mức trung bình