Hai loại ý nghĩa này, thực tế là đồng thời tồn tại, nó đã phản ánh mối quan hệ phúc tạp nhiều cấp độ giữa thực thể vật chất trong giới tự nhiên với song năng, tác ° dụng và biểu Nhung vo
Trang 1“nhất -nguyên" Chu :Hy lấy tượng bắt nguồn Ô lý làm nhất, nguyên ; Tiết Huyên lấy lý không tách ròi tượng làm nhất nguyên Theo giải thích đó, thì phái là lý bắt nguồn ở tượng,
thể bắt nguồn Ở dụng Điều đó có khác với cách dùng về thể dụng nói chung; tuy nhiên; ông đã đòng:phạm trù thể: dụng ban đầu,:nhưng quan hệ giữa hai cái này:là phát sinh
ra sự biến hoá căn bản Sự biến hoá này, rõ.zàng có hen quan dén tu tưởng lấy khí làm "bản
“Nhung, về cơ “bản, thực: ra, Ông chưa thoát ty k khôi quan điểm của “Trình Chu, bởi vì ng đã: tiếp thu cách nói thái cực tức là bản thể, lý:của thái: cực không những là cái sở -dĩ nhiên của sự 'biến hoá của âm đương; mà:còn có thể "sinh
ra trồi sinh ra đất và quỷ thần, đế thần" ("Sinh thiên sinh
_địa-thần quý thần dé") (*Độc Thư Luc” Quyén 2) Ban thé: nhu vậy vẫn đương nHiên là su fn’ tại của thực thé tuyệt
‘La Kham Thuận c cũng giải t thích thể dụng từ lý nghĩa của bản chất và hiện tượng, "thé dung" va “hình thượng hình hạ”, "tý nhất phân thù" là phạm trù cùng một cấp độ "Thể: dụng”, tuy không phải là hai vật, nhưng rõ ràng tự: nó có sự phân:chia:ra hình nhỉ thượng và hình nhỉ hạ" (°Khốn tri-ký” phụ luc ;."Dap Luu Nhị Thủ Hoán ngo") O đây còn bảo lưu cách nói của Trình Chu.: Vả lại về vấn đề: tính tình rất khó-bhân biệt với quan điểm của Trình Chu Nhưng nói về
Thuyết vñ trụ,: giống như "hình thượng hình hạ" Cái gọi.là thể của ông đã mất đi ý nghia-‹của thục thể và cũng mất đi
ý nghĩa của bản thể.:Chỉ có dưới tiền đề.thừa nhận thực thé vật'chất: (khí), mới có thể nói:đến quan hệ thể dụng 330
Trang 2‘phan’ ‘4m ‘phan: duong' ta dé 1@p’cdi thé cifa tha? cuc; mot
Âm mot (đường Tà dể ‘han dong chớ dụng của thái cực" Phan tương phân Am thải cực chỉ thế di lập, nhất duotig nhân âm tHái cực Chỉ dung’ a HănH") ("Khốn trí ký tục”
Quyển thượng): Phá! ấm phẩn :đương là chỉ về khi, một âm
một đưởng là chỉ 'về đạo, lấy khi phân âm 'phần đương làm
thé; ma lấy đạo" một âm một dương jam ding Digu đó
ae, khác nao như đã thay dor can bản Thuyết thể đựng
‘La 1 Khain thuan chỉ r ra: “Vuong Duong Minh lấy t tâm, cha tri giác làm thế, là lấy dụng làm thể, ông lấy vật làm dang
thì căn bản Tà không thông được Ông chủ trương tâm phải
có- thể: dụng, thă' lấy: thể dựng phân chia tính tình; tri giác cũng là tác: dụng "C0: thể tất:phải có dựng, mà dụng kiônrg
thể là thể được" ("Đáp Âu Dưỏng Thiếu Tu Thành Sờng
nhất! '"Chỉnh an tồn: eảo": Quyển 1):: Về:vấn -đề 'này, tuy ông phê phứn-Thưyết chủ quản của:'Vương Dương Minh,
nhưng cơ bản lại giống thể dụng quan cửa Chu Hy Đo'ông
không,triệt để cải tạo thể dụng quan của Trình Chu, đo đó
mà đã xuất hién., qa tinh hình tự mâu thuần với; minh, Néu khong đảo ngược quan Ì hệ thể, dung đại, lấy sự ‘ton tại vật chất làm; thể, ly công nang của nó làm dụng, thì rất khó tránh, khỏi, xuất hiện mâu thuần nhự vậy, |
_Nếu nói La Khan thuận còn bảo lưu một số: cách nói
nào đó của Trình Chu và Chu Hy về thể dụng, tHì Vuong Phu Chỉ tiến bộ hỏn, đưởi phướng thức tư đuy-biện chứng,
ng đá giải quyết được vấn đề quan hệ thể dụng ) một cách biện chứng,-cớ hội dung tưởng đối phong phú:* :
Trang 3Trước hết, từ các góc độ và,phương diện khác nhau, Ông
đã giải thích mối quan hệ thể dụng một cách tương đối linh shoạt, đã luận chứng được Thuyết thể dụng hợp nhất "Thiên
hạ không có thể vô dụng, không, có dung | VÔ, thể" Sự giải trọng, tức là Ong: cho ring mối quan hé thé dung khong phai
la c6,;dinh bat bién, ma 1a c6 thé chuyến hoá' cho nhau Điều quan trọng là phải lý giải toàn diện và nắm vũng một cách linh hoạt Ó ông xem ra, thể dụng ít nhất cỏ hai loại hàm nghĩa, một là, chỉ mối quan hệ giữa thực thể và công năng, tác dụng của nớ, hai là, chỉ mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng Nói về hàm nghĩa thứ nhất thì thực thể vật chất là bản thể của võ trụ, quy luật vận động của vật chất là tác dụng của nó Nói về hàm nghĩa thú hai là công năng chuyển hoá thành thể, hiện tướng cụ thể là dụng Hai loại ý nghĩa này, thực tế là đồng thời tồn tại, nó đã phản ánh mối quan hệ phúc tạp nhiều cấp độ giữa thực thể vật chất trong giới tự nhiên với song năng, tác ° dụng và biểu
Nhung vo luận ì nói từ loại ý nghĩa nao di nữa, thì 'phạm | trù thể đụng đều phải lấy thực thể vật chất làm nền tảng Nói về loại ý nghĩa thứ nhất, tự mình không cần rióí ; Nói
về loại hàm ý thứ hại, thì thể dụng đều không tách rời thực thể vật chất, tức là "thực c6" "Phí" và "án" là quan hệ thể _ dụng, ẩn là đạo vô hình, tức thể, "phí" là vật hữu hình, tức dụng, nhưng "Ẩn của thể cũng cần cớ thực của nó, không
có thực thì giống như mất đi cái chân thực của sự thác vọng
hư vô chết chóc"” ("Trung Dung" Quyến 2, "Tú Thư Huấn _nghĩa" Quyến 2, Trung) "Thực" ö đây, không chỉ là thực 332
Trang 4.có cái lý của nó, mà trước tiên là thực có cái khí của nó,
thực có.cũng chính là "thành", "cái thành chính ià cái ẩn sở
di không đô:được bỏi-hu; mà phí sở di không xa xỉ bởi rộng rai vậy" ( Thành giả ẩn chi:sỏ dĩ:bất thác vu hư nổi phí chỉ
sở rdi bất xỉ bác đã") (Như trên) Đó là điểm xuất phat c CƠ bản về thể dụng quan của 'Vương Pho Chỉ.- ¬
| Vi thế, Thuyết hố là thể dụng ‹ của ‘ong da phủ định sự tồn tại của bản thể lý qua Thuyết \ vũ trụ Ông không thừa nhận có cái gọi là bản thể tuyệt đối siêu việt, phổ biến có thể làm nguồn gốc của muôn vàn sự biến hoá trong giói tự nhiên Vì ông đã xác lập được tu tưởng thực thể vật chất (khí) là bản thể của vũ trụ, đo đồ mà có sự khác nhau căn bản với thể đụng quan của Trình Chu: Nhưng ông không
cớ tư tường phủ định cái hình whi thượng là thể một cách giản đơn; rhà là trải qua cải tạo một cách có phê phán; cho
nó có hàm nghĩa mói, làm cho nó trỏ thành phạm trù biểu đạt vật chất và hiện tượng "Dạo lấy âm dương làm thể, âm đương lấy đạo làm thể, cuối cùng không có đạo có hư huyền
cố trí" "Hình sắc và đạo hố tường là thể, mà không có tách tồi vậy" (Hàm" "Chu Dịch ngoại truyện” Quyến 3) Đó là hàm nghĩa cơ bản của Thuyết hớ thể của Vương Phu Chỉ Theo, Học thuyết, "Hỗ tưởng là thé" nay thi trước hết Vương Phu Chi nhấn mạnh lấy âm dương làm thể "Chuẩn
bị 6 hai cái gián cách, không lón hơn âm dương,.cho nên
là thể có thể tải được đạo,.vớói đạo thì vô cương; vói chất thì không dịch, cho rằng nhất âm nhất dương là thể, dụng không ngừng trệ, thể không thiên lệch" (”Bị hồ lưỡng gián
giả, mạc đại hồ âm dương, cố năng tải đạo nhỉ vi chỉ thể,
Trang 5'dĩ dụng tắc vô cương, di chất tác bất:dịch, nhất:ầm nhất -dudng: di.vi' thé; ky dung bat trệ; kỳ thể 'bất thiên"): (“Tập :quái truyện", như sách:đã dẫn :ỏ: trên, Quyển 7), Khí ám .dương là thực thể vật chất,:c&ng ‘la ‘ban: thé eta’ va tru; dao -là tác dụng của: thực thể, biểu hiện là quá trinh phát triển
có quy luật, nó:kiông bằng thực:thể, nhưng lạ không thể tách rồi thực thể Nó lấy thực thể làm căn cứ để tồn tại, tie chi goi tì "Dụng", ‘chifth 1a š dùng thể của nó, thể lap được Tiên dụng ‘mdi tu hanh được" (Nạn ngữ ait 14, "rủ Thư huấn nghĩa”, Quyển 16)
Còn âm dương lấy đạo làm thể, ‘thi đã tiến vào hàm nghĩa của một cấp độ.khác, tức là hiện.tướng vật chất lấy bản chất làm thể Điều đó, chứng tỏ bản chất là công năng tồn tại, của : thực thể, có ính: độc lập: tương đối, nói về vật _ cụ thể,nÓ lại c€Ó tTHÓG.; oO day, Ong: néy ra-ménh: dé ‘thé không tách rồi dụng và từ dụng để được-thể"“xà nhấn mạnh tính: thực, tại,của dụng Đó là -biểu hiện nổi bật,của Vương Phu Chỉ thừa nhận có phê phán và linh hoạt vập dụng phạm trù "thể dụng" "Dụng của thiện hạ đều có vậy Ta từ dụng
mà biết được,có thể; há còn nghi-ngồ sao ? Dụng có là công hiệu, thể có là tính: tình, thể dụng chờ: đợi có,:nên,cần nhau
để có thực" ("Thiên hạ chỉ dụng, -giai kỳ hữu giả đã Ngô tong kỳ dụng nhi tí thể chi hữu, há đổi nghĩ tai ?' Dụng hữu di vi công hiệu, thể hữu đi dĩ íñãh tình, thể dung’ tư hữu nhỉ tương nhu tđĩ thực") (“Đại Hữu", "Chu Dịch ` ngoại truyện" Quyển 2) Dụng Íä Hiện tưởng vật chất tồn tại chân thực, nên có thể san ‘sinh ta "cổng: thiệu", nó fä sự #hật kinh nghiệm có tHể quản sát và cảm-nhận, nhưng hiện tượng, sð đi'sản sinh ra công “Hiệu là do lấy tính tỉnh làm bản chất 334
Trang 6của nó Ngược lại, thể sỏ dị là có, chính là do công hiệu của dụng mà biết, rời khỏi hiện tượng, túc không có bản chất, dọ hiện tượng mói có thể biết sự tồn tại bản chất của
nó Vì thế lồi nói thiện là đạo, từ dụng để được thể ; lời nói không thiện là đạo thì loạn lập một thể mà tiêu dụng
đi để tồn tại" ("Thiện ngôn đạo giả,.do dụng di đắc kỳ thể,
bất thiện ngôn đạo giả, vọng lập nhất thể nhỉ tiêu dụng đi tồn chi") (Nhu trén) Thé chinh 1a thể của dụng, tồn tại
_ không tách rồi dụng ; bản chất tức bản chất của hiện tượng,
tồn tại không tách rồi hiện tượng Nhưng hiện tượng vật chất đã là "dụng" thì cần phải lấy tác dụng thực tế ya công hiệu khách quan làm đặc trung, trên thực tế nó là một quá trình triển khai và phát triển
Tóm lại, vô luận nói từ: phương d diện nào, , thể dụng đều không thể chia cắt được "Phàm nói về thể dụng, mói đầu không phải là hai trí, có là thể thì cần có là đụng,.có là
dụng, tất phải có là thể, nói về thể mà dụng có chắc chắn, nói về dụng mà thể có chắc chắn vậy" ("Phàm ngôn thể dụng,:sơ phi nhị trí, hữu thị thể, tắc tất.hữu thị dụng, hữu _ thị dụng, +ất cố húu thị thể, thị ngôn thể nhỉ dụng cố tại, ngôn dụng nhỉ thể cố tn hi") ("Luan ngữ Dương hoá", "Độc
Tứ Thư đại toàn thuyết" Quyển 2) "Thuyết thể dụng họp
nhất" này có đặc trưng của phép biện chứng chất phác Ông giải thích sự phát dục, sinh thành và biến hoá của giói tự nhiên bằng quan điểm thể dụng thống nhất này Sự biến _ hoá của trồi đất có nhiều đổi mới hàng ngày, có thể có dụng, thể dụng hợp nhất," Duy chỉ có thể của trồi tức đựa theo dụng, phàm là dụng của trời đều là thể của nó Giầu
có mà không đè xẻn trong sử dụng, ngày một đổi mới mà
Trang 7khong dung, dung nạp ánh sáng không hết" (“Duy thiên chi
thé tức di đựng, phàm thiên chi dụng giai kỳ thể Phú hữu nhỉ bất lận vu thi, nhật tân nhi bất dụng kỳ cố, dụng quang nhỉ bất cùng vu sỏ thụ") (“Thi Quảng truyện" Quyển 4)
Bỏi vì "Trời vô tự thể, xuất hết dụng ra để hành động cho bốn mùa sinh ra muôn vật, vô thể thì bất dụng, bất dụng thì không phải là thể” ("Thuong Kinh Càn", "Chu Dịch nội truyện" Quyển 1, Thượng) Điều này rất tiếp cận với tư tưởng của Lưu Tông Chu Từ thể mà nói thì sự biến hoá phát triển của giới tự nhiên có cơ sở vật chất thống nhất
và công năng tiềm tại, từ dụng mà nói thì giới tự nhên có quần tượng hiện rõ ra, phong phú, nhiều sắc thái mà triển khai hiện ra thành quá trình biến hoá có nhiều sự đổi mói hàng ngày "Sinh sát hố dụng nhỉ vô đoan, hói minh tương tuần nhỉ vô gián" (Sinh sát hố dụng nên không có đầu, sáng
tối tuần hoàn với nhau, nên vô gián) là nói toàn bộ gi tự nhiên vận hành trong sự đối lập và hài hoà
Như vậy đến nay, điều mà các nhà lý học thường nói là
"Đạo trời lưu hành" vói đạo là thể" đã có một ý nghĩa mói Đạo trời lưu hành chẳng qua là sự vận Hành hợp quy luật của bản thân vật chất của giới tự nhiên, chứ không phải có
một cái máy chạy bằng khí (thặng khí cơ) bản thể siêu việt
khiến cho nó lưu hành" Với đạo là thể" theo sự giải thích
của Chu Hy đá bao hàm tư tưởng muôn vật là thể, Vương Phu Chi tiến bộ hơn là nêu ra chữ "với" (dự), có nghĩa là với nhau, phàm là nói về thể, đều chứa đựng chữ dụng "Thể
có thể thấy được, dụng không thể thấy được, dòng sông có
thể thấy, còn đạo thì không , dòng sông là thể của đạo, còn
336
Trang 8đạo thì iấy thiện làm dụng của dòng sông Điều đó có nghĩa
là cần có thể trước, có dụng sau, có đạo trước, có dòng sông sau, không phải là có dòng sông, rồi sau mói có đạo, đạo
là thể của dòng sông, còn dòng sông hiện ra là dụng của
đạo (Thể khả kiến, dụng bất khả kiến, xuyên lưu khả kiến,
đạo bất khả kiến, tắc xuyên lưu vi đạo thể, nhỉ đạo di thiện xuyên lưu chi dụng dã Thử nhất nghĩa dã Tất hữu thể nhi hậu hữu dụng, duy hữu đạo nhi hậu hữu xuyên lưu, phi hữu xuyên lưu nhi hậu hữu đạo, tắc đạo vi xuyên lưu chỉ thể, nhỉ xuyên lưu đi hiển đạo chi dụng Thủ diệc nhất nghĩa đã) ("Luận ngữ Tử Hán", "Độc Tú Thư Đạo toàn thuyết" Quyển 5) Cuốn "Xuyên Thượng Vết" của Khổng Tử là nói
về sự vận động và biến hoá luôn luôn không ngừng của giói
tự nhiên, vốn đã có chứa đựng ý nghĩa của Thuyết vũ trụ Các nhà lý học ỏ đây nêu ra phạm trù "đạo thể" để giải thích về thuyết bản thể, đó là biểu hiện quan trọng của bản thể hoá của Nho gia Loại giải thích thứ nhất của Vương Phu Chỉ rõ ràng chính xác, đã chỉ ra đạo lấy dòng sông làm thể, nghĩa là đã đem phạm trù công năng phú cho bản thân giỏi tự nhiên vật chất, lấy sự tồn tại vật chất làm bản thể Giải thích thú hai của ông vẫn là bản lưu Thuyết pháp của
lý học, nhưng căn cứ vào điều đã nói ở trên, ý nghĩa đã có
sự cải biến rồi, tức là lấy nước chảy làm hiện tượng vật chất, lấy đạo biến hoá làm thể
Về thể dụng quan của Vương Phu Chi khong những phat triển tư tưởng của Phái lý học một cách có phê phán, mà còn phê phán Phái tâm học Ông nêu ra lý thuyết về mối quan hệ giữa chủ và khách thể, lấy "sở" làm thể, lấy "năng"
Trang 9lăi# đụng, chủ trương "Thể dụng nhất ý kỳ thực", tức là thể
#brig?Chờ vào đựng, ví thế cho nên phát năng ; dùng dụng
8'thể' thi nắng cần phải phó tặc cho sô" (tức "Thể sĩ dụng,
fae’ thân sở đi phát năng ; dụng đụng Hồ thể, tắc năng tất
ghó'kỳ sÖ"y ("Triệu cáo vô miễn", "Thượng Thư dẫn nghĩa"
Quuÿềển: 5), kiên trì lấy tồn tại khách quan làm thể, lấy ý thức chủ quan làm dụng, đã phủ định quan điểm lấy nhận thúc ghử thể làm thể của phái tâm học, đã biểu hiện đặc điểm của: Thuyết phạm trù khách quan Nhưng: ông không đừng lại ö điểm đó;: ông còn có quan điểm lấy vật làm đụng, lấy tầm Jam thể, phú chơ quan niệm chủ thể ý nghĩa của bản thể "Vật của thiên hạ đều là:dụng, lý của tâm tả là thể, tận:tâm mà tuân theo, thì thể lập được mà dụng tự vô cùng” (Thiên hạ chỉ vật ví dụng, giai dụng dã, ngô tâm chỉ lý kỳ thé: da, tan tam dĩ tuần chị, tắc thể lập mhi.dung tự vô cùng") (“Chính Mông chú Dại tâm thiên") Quan niệm chủ thể, thực: tế là mô: hình lý luận hình thành từ quá trình nhận thức; Ngược lại, nó lại là điểm xuất phát để nhận thúc sự
yậtivà có tác dụng chỉnh hợp sự thực kinh nghiệm Vương
Phu Ghi không thể nhận thức được sâu sắc như thế, nhưng trong đó chứa đựng tư tưởng như.vậy Song, khi ông dùng thể:đdụng để nói rõ vấn đề thiên nhân (trồi và con người), thì :ông vẫn chưa thể thoát ly khỏi hệ thống thuyết phạm trù lý học Điểm này chính là nội dung quan trọng của Thuyết - thể dụng của Vuong Phu Chi :
_Ñhan Nguyên thi nha Thanh đề xướng ra “Hoc thuyết thực sự thực công", phân đối nói suông về bản thể, ông chủ trương "Thể dụng r nhất trí bắt đầu đi ra từ trong triết học
338
Trang 10tư duy biện chứng về Thuyết vũ trụ, tuy Ong đóng góp không nhiều, nhưng sự phê phán của ông đối vói lý học lại rất sâu sắc Ông chỉ ra các nhà lý học phản đối thiền học mà trên thực tế lại trôi vào thiền học, bởi vì họ đều chưa thống nhất thể và dụng, là học thuyết "Ngô nho đã bắt tay với những người Thiền khác, đang thấu suốt từ đầu đến đuôi đều là thể dụng nhất trí" "Cái thể vô dụng này, không chỉ không
có dụng thực sự, mà còn không phải là thể của nó vậy" ("Ngô nho khởi thủ tiện sự thiên đị giả, chính tại triệt thuỷ triển chung, tổng thị thể dụng nhất trí nhĩ", "cái vô dụng chỉ thể, bất duy vô chân dụng, tính phi kỳ thể đã") ("Tính
lý bình", "Tồn học thiên", quyển 2) Ông phê phán Tống nho, cho rằng "nhận thức thể từ đầu nguồn" là sai lầm căn bản, kết quả là "nói nhiều mà thực hành ít, sự nghiệp kinh
tế càng ít hơn" (Như sách đã dẫn, quyển 3) Ông biến lý luận phạm trù thành vấn đề thực tiến, lấy "Kinh thế trí dụng" làm mục đích, đã phản ánh tỉnh thần cấp bách của
thời đại
Trang 11_—_ PHẦN THỨ HAI ˆ
BỘ PHAN TAM TINH)
341
Trang 12KHÁI LUẬN
THUYẾT NHÂN TÍNH VÀ THUYẾT NHÂN SINH
_ Lý học còn gọi là Học thuyết 'tính mệnh đạo đức” hay Học thuyết "tâm tính", chứng tỏ nó là triết học hình thượng
về đạo đức, lầy! tani tinh lam phẩm: tht fruhg tam
Tu gidi ty nhién trong vo tru tién dén ban th4n con người, từ phần lý học đến phần tâm tính, đó là sự vận động tất nhiên của hệ thống phạm trù lý học Ỏ đây bao hàm cả
ý nghĩa của Học thuyết phát sinh nhân loại, nhưng chủ yếu
là mối quan hệ lôgíc giữa tự nhiên và con người trong Học thuyết phạm trù triết học Chỉ sau khi thực hiện được sự quá độ này, lý học mới tiến vào khâu trung tâm của minh Bởi vì, cái có "con người" mói là vấn đề trung tâm của hệ thống phạm trù lý học, ở vào địa vị trung tâm, phần tâm
tính sẽ giải quyết vấn đề này Nói một cách cụ thể là, nó
cần giải quyết vấn đề trung tâm của lý học "con người là cái gì ?", nghĩa là giải quyết cái vấn đề bản chất, bản tính
và giá trị bản thân v.v của con người Lý học gọi là "tân nho học", chính là thông qua luận chứng của Học thuyết hình nhi thượng để xây dựng lại môn triết học tư duy biện chúng về con người của nho gia
Trang 13_ Điều đó đều có quan hệ đến toàn bộ nền triết học truyền thống-của Trung Quốc, bao gồm cả Triết học Phật giáo Triết học truyền thống, từ Khổng Tử: đến: nay, luôn luôn đặt vấn đề con người ỏ địa vị trung.tâm Nếu khái quát triết học Trung Quốc là triết học con: người, thì điểm này cũng không có gì là quá đáng,.và vấn đề con người tập trung thể hiện trên phạm trù: "tâm tính" Bắt đầu từ Khéng Tu, qua cuốn "Đại học", “Trung dung " và các nhân vật đại biểu của nho gia,:đá hình thành truyền thống của học thuyết tâm
tính của nhọ gia; còn triết học Phật giáo chiếm vai trò chủ
đạo từ đời nhà Tuỳ, nhà Đường đến nay, về bản chất vẫn
là học thuyết tâm tính Nhưng Phật học được coi là Triết học tôn giáo, thông qua phủ định sự tồn tại hiện thực của con người để thực hiến cãi gọi là tâm "thanh tịnh", tính "viên minh", dat tdi sy siéw việt tuyệt đối ‘Ly hoc được coi là những nhà phục Hưng của nho học và những nhà phế phán của Phật học, một mặt, đả tiếp thu thành quả: tư duy của Thuyết tầm tính của Phật học, mặt khác, lại phủ định phương pháp hoc trong cuộc sống thực tiến của con người
để đạt mục đích tự hoàn thiện bản thén: minh, "khôi phục bẩn tính đạo đức của cơn người |
7 "Thuyết tam’ ‘tinh của lý học cũng không giống với: học thuyết nhân tính của nhơ học ban đầu, nó không phải xuất _ phát từ bản thân con người để nói rõ con người, nghĩa là
nó khống những chỉ là một vấn đề về luân lý học Đặc điểm của nộ là từ thuyết vũ trụ để nỗi rố sự tồn tại của con người, nâng cọn người lên độ cao của ban thé Vũ trụ, từ đó mà xác lấp bản chất, địa vị và giá trị của con người: N6 cho rằng giỏi 1 tự nhiên đã phú cho con người nắng lực tiềm tại
343
Trang 14bên trong, tức cái gọi là sự tồn tại bản thể, thông qua tụ mình thực hiện, túc là có thể đạt được sự thống nhất với tính vô hạn của giới tự nhiên trong vũ trụ Từ ý nghĩa: đó
mà nói, phạm trù tâm tính là sự hoàn thành và thực hiện thật sự của Thuyết vũ trụ, chú không phải là hệ thống phạm trù tồn tại khác với sự đối lập của nó Nó cũng liên hệ với Thuyết mục đích của Đồng "Trọng Thư, nhưng lại có sự phát triển rất lón Nõ lại tiếp thu tư tưởng của' "thuyết tự nhiên" của Dạo gia, đặc biệt là nó đã kế thừa tư tưởng về "sinh":
từ "Dịch truyện" đến nay, từ quan điểm của Thuyết hữu cơ
để nới rõ nguồn gốc và bản chất của nhân tính - | Tâm tính có mối liền hệ bến trong với lý khí Đó là ví
dụ không cần nói Nhưng hải cái này lại không phải là một Tâm tính không phải là sự tái hiện giản đơn trên thân thể con người của lý khí, trong đó đã xuất hiện vấn đề quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa chủ thể và khách thể Cái gọi là Học thuyết "tính lý" chỉ là phép tắc tự nhiên để nói
rõ phép tắc đạo đức, nhưng "tính" lại liên hệ voi "tam", cần | thực hiện thông qua tâm Tâm là phạm trù chủ thể thuần tuý, con người sở dĩ khác với muôn vật, là ỏ chỗ con người bẩm sinh đã có cái "tú" của ngũ hành và là cái "linh" của muôn vật Chỗ linh nằm ngay 6 tâm Tâm cũng là "cái trời cho" (thiên chi sở dư), bắt nguồn từ tự nhiên, nhưng nó lại
là một phạm trù đặc thù, là cái mốc cơ bản của tính chủ
thể của con người Vì thế, quan hệ tâm tính trỏ thành vấn
đề quan trọng đòi hỏi Thuyết nhân tính lý học phải giải
đáp Còn vấn đề nhân tính đương nhiên không thể giải thích
bằng quan hệ lý khí một cách giản đơn
Trang 15'Do trong lý học có các học phái khác nhau, nên các học
phải khác nhau lại có điểm xuất phát khác nhau, vì thế mà phương thức 'giải quyết vấn đề cũng không giống nhau Nhưng xây dựng Thuyết hình nhỉ thượng và học thuyết nhân tính đạo đức lại có đặc điểm chung của Thuyết: phạm trù tâm tính của lý học Nếu nói là, trên vấn đề lý khí, lý học
có các phái khác nhan, biểu hiện ra hình thức đa nguyên hoá, thì trên vấn đề tâm tính lại đồng quy được các con đường khác nhau (Đương nhiên phát triển và phân hoá cũng là tồn tại) Đó là kết quả tất nhiên của sự phát triển
tư duy lý luận, cũng là sự đòi hỏi, phát triển của thực tiến
xã hội Do đó mà có đặc điểm thời đại và dân tộc rõ ràng Nói về tính và lý, vốn là:quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa chủ thể và khách thể, nhưng lý lại được nói là nguồn gốc của tính Lý vốn có hàm nghĩa về hai phương diện Một là "vật lý" hay lý của tự nhiên có mối Hiên hệ với
"edi sO di nhiên" của Thuyết vũ trụ; Hại là, "tính lý" hay lý của nhân luân là chỉ cái sở đương nhiên" của Thuyết nhân tính Cái trước thuộc phạm trù của Thuyết vũ trụ, cái sau thuộc phạm trù của Thuyết nhân tính Nhưng nhiệm vụ của
lý học không phải là phân biệt hai cái đó, mà là kết hợp chúng lại Các nhà lý học chẳng qua không nói đến cái lý của sỏ đi nhiên của giới tụ nhiên, tức quy luật tự nhiên, nhưng họ chưa phát triển triết học tự nhiên thuần tuý, học triết học thực chứng từ trong đó, mà là đi theo học thuyết
"tính lý" Điều mà các nhà lý học thực sự quan tâm đến là tính lý chứ không phải vật lý, là lý tính đạo đức, chứ không phải là lý tính nhận biết Họ lấy tính lý thay cho vật lý, quy kết vật lý thành tính lý, đó là đặc trưng chung của tư duy
345
Trang 16lý học Sở di, họ nhấn: mạnh lý của "sở di nhiên", chính là
để luận chúng lý của "sở đương nhiên", tức luận chứng tính
tất nhiên, tính trợp- quy luật của tính lý Vấn đề chân Jý.biến
"thành vấn đề:giá trị, thuyết chân lý túc là ngang với thuyết
giá trị Hai:thuyết:này hoàn toàn thống nhất Đó là nguyên nhân căn bản vì sao: lý học được gọi là học thuyết "tính lý” Nhưng điều đó không có :nghĩa là các nhà lý học chỉ nói về tính lý mà không nói đến:vật lý : ba
_ Phần tâm tính'là một hệ thống giam trù có nhiều cấp
độ Tiên kết nhiều: phạm từ lại, có kết'cấu lôgíc của bản thân ‘Nhung tâm tính Tà phạm: ‘tro trung tâm Tâm" đó-hai lớp hàm nghỉa, một 1à, 'chỉ có quan nhận thức, tai lã, chỉ công năng, tác dụng nhận thúc của nó như 'trị-giác”, "cam giác" v.v , tức là chỉ.bản năng đạo đức hay ý:thúc tình cảm tồn tại bên trong bản thân chủ thể, túc cái gợi là "tâm" của nphia‘ly, "ban tam" hay “luong tami" Chúng lần lượt đại biểu
chở lý tínH nhập biết, lý nh đạo đức và ý thức thẩm mỹ Tröng lý hộc, c6 ngửời nhấn :mạnh tâm nhận biết, có người nhấn mạnh tâm đạo đức, cớ:người nhấn mạnh cả hái, đồng thời dùng c4 hai Nhung không phải ai ai cũng đều thừa nhận tâm đạo đúc Tính là ban tinh nội tại cửa con người, chủ yếu được quy kết là ban tinh dao’ đức hay ly tinh dao
đức của coh người Có rất nhiều nhà: lý Học” cũng thừa nhận con người có bản tính không thể phân: khai, nhưng do su giải thích về lâm khác nhau, đo đó mà đã có sự tranh luận
về vấn đề quan hệ tấm tỉnh ‘Dai thể có “Thuyết tâm tính hợp nhất và Thuyết tâm tính là hai, tức hái quán điểm của
oP tay
Trang 17khách quan và Thuyết chủ quan Cái: gọi là: Thuyết: khách quan (Khách quan luận), là:lý luận xuất phát từ thuyết bản thể vũ trự:để nói rõ tâm và tídh họp nhất, các ông như Chù Đôn Di, Trương Tải, Nhị: Trình và Chu Hy v.v đều theo loại thuyết này Nhưng Chu Đôn Di, Trương Tải và Trình Hạo cho rằng, “thể? của tâm tức là lý của tinh, con ban thé của tâm tồn tại được biểu hiện do tác dụng.của trỉ giác; thể dụng tính tình hoàn toàn họp nhất Trình Di, Chu Hy thi nhấn' mạnh tâm có' sự phân biệt về thể và dụng, nêu tính:
và tình có sự khác nhau, bản.thể của tâm tức là tính, tắc
dụng của tâm là tình, chứ không phải là tính; nên không thể nói tâm chỉ là tính được Nhưng, họ đều chủ trương tính
là sự tồn tại Đản thể tự siêu việt của tâm, lại là sự thể hiện chủ quan của phép tắc khách quan: Các nhà theo Thuyết chủ quan rñà Lạc Cửu Uyên, Vương Dương Minh là đại biểu, hợ xuất phát từ "bản tâm®:hoặc "lương trí", chủ-trương tâm tức là tính, đề xướng:nguyên tắc tự luật tự chủ hoàn toàn Nhưng, Vương Dương Minh cũng có nói về thể đựng của tâm, điểm này có liên hệ với Chu Hy Điều đáng chú ý
là, trong số những học giá sau Vương Dương Minh, có một
bộ phận được gợi.là những người của "phái tả học Vương",
đã tư chỉnh và phê.phán Thuyết thể dụng lương trị Họ xuất
phát từ tâm của tri giác kinh nghiệm và nhu cầu về sinh lý,
tâm lý để luận chúng tâm tính hợp nhất; đã biểu hiện sự khẳng định đối vói sự tồn tại cảm tính của con người và sự phủ định đối với Thuyết tiên nghiệm đạo đức, phát triển thuyết tâm tính lý.học đến giai đoạn mdi, vi thé ma có ý nghĩa tích cực Tù:Vương Vy, Vương Cấn đến Lưu Tông
347
Trang 18Chu, Hoàng Tông Hy đều là những nhân vật đại biểu cho
phái này Những nhà theo Thuyết tha luật, đại biểu là La Khâm Thuận, Vương Đình Tương và Vương Phu Chỉ v.v thừa nhận tính bất nguồn từ phép tắc tự nhiên, thừa nhận
sự tồn tại của lý tính đạo đức, song, lại phủ định Thuyết tâm thể: tức tính, chỉ thừa nhận tâm là tâm nhận biết của tri giác Như vậy, quan hệ tâm tính biến thành một loại quan hệ tương "hàm" hay "nhận tri", chứ không phải là mối
quan hệ đồng nhất tự siêu việt Như quan điểm của Chu
Hy, tuy có liên hệ, nhưng lại không giống nhau, vì thế mà không thể hốn hợp làm một để bàn Đương nhiên, họ cũng chủ trương dục vọng cảm tính của sinh lý con người là nội dung quan trọng của nhân tính, nên đã có sự đánh giá khẳng định Điều đó có sự khác biệt vói lý học thời kỳ đầu Tóm lại, phạm trù "tâm tính", chủ yếu giải quyết vấn đề quan hệ giữa tâm lý cá thể với ý thức chủ thể và nhân tính đạo đức;
từ đó đã xác lập được quan điểm quan trọng của Thuyết nhân tính lý học
Nhưng họ đều là những nhà theo Thuyết chủ thể Các nhà theo Thuyết tự luật, mặc đù xuất phát từ lý, hay từ tâm, nhưng đều biến sự nội tại của đạo đức luân lý xã hội thành
tự ý thúc và tự tồn tại của chủ thể; Những nhà theo thuyết
tha luật, tuy nhấn mạnh tính khách quan và tính ngoại tại
của lý tính đạo đức, nhưng lại phú cho nó hình thức lý tính
tiên nghiệm, thông qua lý tính nhận biết mà bị nội tại hoá, chủ thể hoá Nguyên tắc chủ thể đạo đức mà các nhà lý học nêu ra, có ý nghĩa lý luận thực tiến quan trọng Song, nói
về tính hiện thực của nó, là bổ sung cho quy phạm luân lý
Trang 19phong kiến Đương nhiên, sự phân biệt giữa các quan điểm bất đồng cũng là quan trọng Những nhà theo thuyết chủ quan, do nhấn mạnh tính tự chủ, nên dễ dàng phát triển học thuyết cá tính ; các nhà theo Thuyết tha luật do nhấn mạnh lý tính nhận biết, nên dế dàng phát triển Thuyết nhận thúc khách quan Rất nhiều phạm trù khác đều liên hệ với
"tâm tính" Trong đó, "tính mệnh" là phạm trù có tính quá
độ từ Thuyết vũ trụ đến Thuyết nhân tính "Mệnh" là cái
mà trời phú cho con người, "Tinh" là cái của trời mà con người đã tiếp nhận "Mệnh" chỉ tính tất nhiên khách quan,
là phạm trù có tính ngoại tại và tính hạn chế ; "Tính" chỉ
mục đích chủ quan, là phạm trù của tính nội tại và tính tự
chủ Hai phạm trù này thống nhất trong tính chủ thể "Tính của thiên mệnh, tính của khí chất, giải quyết mối quan hệ giữa nhân tính phổ biến và nhân tính cụ thể, xác định cái thiện và cái ác của nhân tính là nhũng khái niệm quan trọng trong giá trị quan:của chủ thể Các nhà lý học ở thời kỳ đầu liên hệ tính trời đất của hình nhi thượng vói cái "thiện", liên hệ tính khí chất của hình nhi hạ với cái ác, lấy "khí chất biến hoá làm điều kiện quan trọng để khôi phục tính thiện, đã biểu hiện sự thay đổi quan trọng về giá trị quan"
"Tính tình" là giải quyết vấn đề quan hệ giữa lý tính đạo đức với cảm tính đạo đúc và tình cảm tâm lý Điều đó đã biểu hiện đặc điểm cực đoan, coi trọng tình cảm của triết học truyền thống Trung Quốc Tù ý nghĩa nhất định mà nói, triết học nho gia là triết học tình cảm, thuyết nhân tính đạo đức của nho gia, xây dụng trên tình cảm Một mặt, nó phú cho kinh nghiệm tình cảm của con-người một nội dụng
349
Trang 20đạo đức, nên nhấn mạnh tính siêu việt của nó ; mặt khác,
lại nhấn mạnh sự chi phối-và tác dụng cha dao cia ly tinh đạo đức đối vói hoạt động tình cảm Tình hình này kéo dài
đến lý học ð thồi kỳ sảu mói:bắt đầu có cái biến đổi "vị kỷ
đi phát" (chưa phát và đá phát) là nhân tâm" (tâm của đạo
và tâm của ngưởi), là: theo: "tâm", tức đứng trên ý thức chú thể để nói rõ mối quan hệ giữa khả năng và hiện thực, giữa
lý tính và cảm tính, giữa cái chung và cái riêng, đặc biệt là vấn đề quan hệ giữa ý thúc tập thế và ý thức của cá nhân.:
Lý học quy kết ý thức chủ thể là ý thúc tập thể, lấy cái đó làm giá trị nội tại'cao nhất của con người Một mặt, đá biểu hiện tỉnh thần trách nhiệm và sứ mệnh của con người đối _với lịch sử xá hội ; nhưng thực chất là chỉ đề cao ý thức tập
thể, phủ định ý thức cá nhân.:Giữa thồi kỳ đó còn có rất
nhiều sự sai lầm, song đến-thòi kỳ sau của lý học, đã xuất hiện phổ biến sự coi trọng đối:vói ý thức cá nhân; điều đó đương nhiên có quan hệ mật thiết đến sự:xuất hiện nền kinh
tế hàng hoá của chủ nghĩa tử bản Cuối cùng, côn có "Lý _ dực”", Điều này nên nói là sự tổng kết của Thuyết tâm tính
_ và Thuyết nhân sinh của lý học Với hình thức sắc.bén, nó đã
nêu ra vấn đề quạn hệ giữa lý tính đạo đức và dục vọng cảm tính, giữa lý tưởng và hiện thực Nó đã xây dựng được cái gọi
là tiêu chuẩn cao nhất của nhân cách lý: tưởng, lại biểu hiện _ sự ngăn chặn và bóp chết dục vọng cảm tính Từ ý nghĩa dào
đó mà nói thì cặp phạm trù này đã gầy được tác dụng cho triết học tôn giáo Nhưng, về vấn đề này, nội bộ lý học đã nổ
ra một cuộc tranh luận kịch liệt, đã phan ánh SỰ : vận dong và
"biến hoá của phạm trà lý học - | " ¬
Trang 21_— “Thuyết tâm tính của lý học, từ bản chất mà nói, là Thuyết hình thượng đạo đúc.:Nó lấy phép tắc đạo chic situ việt, tuyệt đối, phổ biến làm cái mốc căn bản của nhân tính, phú cho liền lý xã hội một ý.nghĩa của Thưyết bản thể, thành sự tồn tại cao nhất của con người: Vai trò và giá trị của con người được đề cao chưa từng có, nhưng chính vì nó quy kết nhân tính chỉ là bản tính đạo đức, nên nhìn từ quan điểm toàn diện hơn, vai trò của con người lại bị hạ thấp
Con người trong xã hội hiện thực không phải là vật trừu
tướng được đạo đức hoá và lý tính hoá thuần tuý Con người, đầu tiên là sự tồn tại sinh động của cảm tính Phạm trù tâm tính của lý học đã đề xướng nguyên tắc lý tính tuyệt đối siêu việt, đồng thời lại không thể không trả lời vấn đề quan
hệ giữa lý tính và cảm tính, giữa tuyệt đối và tương đối Nói tóm lại là, họ thông qua Thuyết "thân tam hóp nhất", thuyết
"tính tình thống nhất", về nguyên tắc, đã khẳng định sự tồn tại cảm tính hiện thực của con người, nhưng vì quá nhấn mạnh tính tuyệt đối, tính siêu việt của lý tính đạo đức, do
đó mà không thể không xa vào mâu thuẫn sâu sắc Tiến
vào thời kỳ sau lý học, do sự hưng khởi của trào lưu tư tưởng phê phán, nên sự tồn tại cảm tính của con người càng ngày càng được coi trọng Lý luận phiến diện nhấn mạnh
lý tính đạo đức bắt đầu bị phê phán Thuyết tính tình, lý dục thống nhất của Vương Phu Chi da xuất hiện và là đại
biểu về phương diện này Còn các ông Hoàng Tông Hy, Đói
Chấn v.v đã công khai đề xướng tính hợp lý của sụ phát triển chính đáng về dục vọng tình cảm, do sinh lý và tâm
lý của con người đời hỏi, thì lại càng tiến bộ hơn Đặc biệt
351
Trang 22đà Đói Chấn:đã mạnh dạn phê:phán Thuyết đạo đúc:hình :thưọng:'là "di.1ý sát nhân"; nêu ra nhân tính phải:bạo gồm nội: dung:về ba:mặt: trí; :tính; dục? Từ đó:đột phá vào phạm
vỉ của thuyết nhân tính yn hoc, va + mang : tính -chất tu-tudng
"hat ai mong! o cans Gag co BS 4 eth ~ aa ts £2 —
+ aah Tg et Prag th Ỹ Ỷ 5 ‡ kể Rad
ay Seow mS
Tees =~ Hs Hinh PR we FE sz o ait - “ithe 3z tì > 5 rt Po kha aoe at % + iy Ệ if
1 Tư: tưởng 'khải mông: là.tư tudng mufin dita com nga chua.cd
van hod hoặc văn hóa rất thấp lên éó văw hoá hoặc có nền văn hoá
ở trỉnh độ nhất định - ND
352
Trang 23CHƯỢNG 9ˆ ”
_ „TÍNH MỆNH ._
" "Tính" và › "Mệnh" là phạm trit W hoc, cang la 'phạm tủ
quan trọng của cả nen, triét hoc nho gia T rong hệ thống phạm trù, lý học, nó là khâu quá độ tù Thuyết vũ trụ đến thuyết tâm tính Tính và mệnh đổi ` xúng, noi r6 tinh ngoai tai khach quan, cha ménh va tinh nội tại chủ quan của tính
Oo day, mệnh là, HỘ phạm trù có tính tất nhiên khách ‹ quan, tính là phạm trù của sự tân tai chủ thể VÀ, gia, tr của, đó Hai cái này kết hop vôi nhau, ,chính là để nói TỔ: mối | Tiên
hệ giữa - trÒi và, gn ngưồi, tức là „sự ¡huyện h hoá, và quá độ
- #hống, ‘Tu néu ya haiipham trù "Mệnh, hộ và, "Tính" nhưng chua €Ó;liên:hệ,;hai cái này lại Tủ, ,Cốổng nói : ' "Ngôn, tính của Phu Tai và đạo trồi, không: thể có-mà thấy được";(Luận ngữ Công:1rị Xruồng'), chúng tỏ Khổng Tủ:bàn về vấn; đề
này không nhiều: Khổng Tủ cho rằng ; "Tính, gần: ahaux tập
xa nhau" (Tính tương cận, tập tương viễn), chỉ, nội dung về hai mat’: _ cái tính: thiện ac va tai chat, ‘tai “nang của: con người Con ménh ma Khổng" Tử nói, cũng bao, gồm hai mặt : vận mệnh và tính tất nhiên khách - quản "Mệnh diện phú"
là vận mệnh, thần bi “Biết được mệnh trồĩ a nhậm thức
353
Trang 24được tính tất nhiên Khổng Tử chỉ ra sự khác nhau của ha:
cái đó Cái gọi là tính của Ong, 14 ban tinh dao đúc nội tại
_do tình cảm tâm lý trắc ẩn "mỏ rộng" mà thành, tức sở di con người là con người Mệnh là "mạc chỉ trí nhỉ chí giả" (Cái đến mà không hứng thu) ("Van chương thượng"), là một loại tính tất nhiên khách quan, gắn liền với trời "không làm mà lại lam" (Mac chi vi nhi Vi) Tính là "cái cầu mong
ở ta vậy" (cầu tại ngã giả đã, miệnh là "cái cầu mong ö ngoài" (cầu tại ngoại giả) ( Tận tâm thượng) Đồng thời ông lại nêu ra tính và mệnh là điều kiện tương hồ, chuyển _ hoá lẫn nhau "Miệng biết: các vị, mat, nhìn các mầu sắt, tai : nghe âm thanh, mũi ngửi các mùi, chân táy an nhàn, tính cũng vậy, có mệnh tư, quần tử không nói tính vậy Nhân là _ð cho con, nghĩa là 6 vua tôi, lễ là ð khách cHủ, biết là ð người hiền, thánh nhân la 6 đạo trồi, mệnh cũng vay, có tính ứ quân: từ ‘khong nôi mệnh vậy" (Khẩu chí vu vị đã, _ mục chỉ vu sắc đã, nhĩ chỉ vu thanh dã, tị chỉ vu khấu dã,
ti “chí \ vu sắc đã, tính đã, “hữu mệnh yên, quân tử bất vị tính | _dã Nhân chỉ vu phụ tử dã, nghĩa chỉ vi quân thần dã, lề _ chỉ vũ tân vu thiên đạơ dã, mệnh: dã: hữu: tính yên, quan ti: bất vị mệnh đã")? (Như trên) Mệnh có thể hướng giá trị - khác nhau thà có cách nói khác nhau, nhưng cuối cùng lấy nhân, nghĩa, lế, trí làm nội dung căn bản cửa tính và lấy đi đó :
để xác lập: nguyên tắc chủ tHể của đạo đức ˆ : |
| Mạnh Tử xuất phát từ "bán tâm", tức "bản iăng tâm W
để xây dựng nên Học thuyết tâm tính hop nhất và quán thông với "trôi" của Thuyết vo tru, nhung ông lại nhấn mạnh
có hai mat khác nhau của tính và mệnh, cái trước được coi là _bản tính tồn tại cố hữu của chủ thể, là "cầu hữu ích vụ đắc
Trang 25dã" (cầu có ích nên được vậy) ; cái sau được coi là tính tất nhiên ngoại tại, là "cầu vô ích vụ đắc dã" (cầu vô ích nên cũng được) "Trung dung" niêu ra mệnh đề "gọi là tính của _ thiên mệnh", khẳng định rõ ràng chính xác tính bắt nguồn
từ mệnh "Thiên mệnh" ð đây đã có ý nghĩa của bản thể vũ trụ Nó nêu ra mệnh đề tận tính của nó, nên có iận tính
của người, tận tính của yật, từ đó mà đạt đước "Tan thién địa chỉ hoá duc", "Dy thiên địa tham" ("Tan thành sự hoá
dục của trời đất", "tham gia với trồi đất") với "cùng lý, tận | tính đi chị vụ mệnh" (hết lý tân tính để đến với mênh)
Trong "Trung dung? có 4rình bày về bản thể vũ trụ để nói
rõ bản tính của con người, những lập luận đó có ảnh hưộng trực tiếp « đến việc xác lập phạm trù "tính mệnh" ne Người kế tiếp sau "Trnng dung’ Ja Lg, Cae, chính, thức
| nêu Ta: "Tinh chính, là mệnh của tròi" (tính giả thiên chỉ: mệnh dã),("Phục tính thư" trung) Ông đã khẳng định sự
liên hệ tất nhiên giữa tính và mệnh, 1 nhưng ông, đồng thời nhấn mạnh tính ngoại tại và tính hạn, chế của mệnh, tỉnh nội đại và tính tự-chủ của tinh San này Au Dương Tu, Tư _Mã Quang v.v đều giải thích mệnh là tính ngẫu nhiên ngoại tại nào đó, tức cái gọi là "hữu hạnh hữu bất hạnh"
(trong cái mạy: có cái không may) (“Trong thị văn tập ty",
"Âu Dương Văn, Trung toàn tập", quyển 44) và vấn đề -
"Ngẫu bất ngẫu" (Trong cái ngẫu, nhiên có.cái không ngẫu nhiên); ('vụ thư, lý tính", "Tu mã công văn tập quyển 74) .Tính là.chị tài năng hoặc tài chất, tic „cái | gọi là "tài
"bất tài", nhỏ :học, tập và giảng dạy mà nên Điều này có khác đôi chút vói các nhà lý học luập chúng t tính ' mệnh họp nhất từ thuyết bản thể ˆ ¬
Trang 26Nhà ly hoc Chu Đơn Di nêu ra ba phạm trù ny tính, mệnh" Trong Thuyết bản thể của ơng đã liên hệ: “Tính với” _ Mệnh, cổ tư tưởng tính mệnh họp nhất: Ngồi rả; Ơng cưn nêw'ra mệnh đề "Trồi lay duong sinh muén vật, lấy âm thành muơn vật, sinh ra người cũng vậy, thánh nghĩa cong
vay" (Thơng thu ‘Thuan hoa") Ong di ti ban thé va tru đến bản thể đạo đức, trực tiếp nĩi r6 nguồn gốc của nhân tính Cải gọi là thánh nhân ete ơng là "lấy trung, thính,
nhân, nghĩa " ma “lập nhân cực," h và: nĩi rồ "nhân cực" bắt
ngưồn ở "vơ: cực thái cục”, nhần Cực thuộc về tỉnh, vd thai
cực thuộc 'về mệnh: Ống nêu lến chữ: *Mỹđh* để hỏi rỡ nhân tink’ cin ĩ' 'hgưồn" tốc; “kăm' cĩ tuần oÄn: Nhung, sự phat triển tiến bộ hơn cịn chð đội ð che nha iy’ học s sau Tây ' “Trưởng Tai de chink *ác Tiểu ra vấn đề quan hệ giữa tinh va ménh ‘va! giải thích từ Hai’ phương: điển: 'Một R, Ơng cho ring’ “Trời truyền thụ chờ người thĩ la thành tụ: chủ: cũng cĩ thể | gọi là ‘ttth), con ngudi tiếp thư: ð trồi tải Tà tinh (Tư chú ? cũng ' cĩ thể gọi là mệnh} " (“Ngữ lực trung") Ơng nĩi rỡ tính và iệnh cố sy phan’ biệt giữa: ‘cha quan và: khách quan, giữa nội tại và ngoại *ại.'Mệnh là nĩi từ 'phương diện
bản thể vũ #u, cở'đ ion gốc của nĩ là ở trời: (*“Hu<anH'é
dịch thuyết “Thuyết quai"); “Tinh Hí đĩf từ phương diện chủ
thể, là ở người Nhưng hải chi | nay Tai là đồng nhất tách khỏi mệnh ' càng khong cớ cải gọi lầ tính, giữa tính nội: tại
và tính-ngoại tại eÕ tỉnh đồng nhất về:bản ‘hat, tite: nhân
tính bắt rigườn từ thiên rệnh:' Nền tiệnh cũng cĩ thể Hĩi
là tính, tĩnh cũng eổ thể gửi Tả mệnh Điều hãy đá luận chứng tĩnh đống nhất giữa tinh tat nhiên: cha’ gĩi te nhiên vĩi ý chí đạo đức
Trang 27- Nhưng mặt khác, Trượng'Tải bàn về tính không phải đơn giản chỉ tính của con người đã tiếp thu, mà mệnh:cũng khong don giản: chị mệnh của: tròi đá truyền:thụ Nghĩa là hai cái này có thể dịch chuyển cho.nhau::Ông nêu ra "Hợp
hư với khí để có tính" (“Chính mông: Thai: hea") Điều: đó nói tính.là thuộc bản chất của khí thái hư; lại nêu ra."tính chírh:f: một nguồn gốc của muôn vật”:("Tính thành minh”), thì tínH lại là-bản chất nợi tại cáo nhất của icon ngudi,:tinh
bao quét ¡muôn "sự: muôn s4t Ménh cang:cé thé: Tới: tử
phương diện chủ thể::Cái2goi,là "Mệnh bẩm tự.nhiên vậy!"
(Mệnh bẩm đồng'ww tính, ngấu nãi thích nhiên vên) (Như _ trên),-rigHia lànaói mệnh từ phương:diện:chủ thể::Tóes hại; Trương Tải nói tính: thành: nguồn:gốc của muôn-vật.tồn tại khách quai0 Cái gọi là dính đó, không.những chỉ là tíah:oủa _ #0? người éđ&: bẩm:$inh: tiếp thu, mà là phạm :trb hả: thể cäo fihất.:Đớ lš'? Tính ' không có nội ngoại", ”Thiên hrạ:càng không 0ó: vật:ở ngoài nh và Nhị: ‘Trinh: va: Chủ ° sau này Ga NO +? 222 ke Boom ad Rae hố do 4y
““Trương: Tả£ côn iy “he han" đàm thiên tính, „ấy “bắt tức" không rigùng Tàní tHiến mệnh: Từ ý' nghĩa của:thưốc tính và công năng, Big đấ'nều Tả tư: tưởng! thiên mệnh 1ữu
hènh; Ycạn agubi:sinh thành thì:tính tận mà thần có: thể cũnb, bất: túc:thì: mệnh: hành #xz:hiến hoá œó thể biết dược
vậy? (Nhâm năng Chỉ thành tắc:tính tận nhỉ: thần, khả, cùng
hĩ, bẾt:tức tắc: tmệnlx hành: nhi 'hoá: khả: trị hï"}:(Nhữ đrên):
Có thể thấy,mệnh có ý nghia lửu hành:không ngừng Thiên miệnh lưu:tành.không,ngừng; đó là :tư tưởng quan trọag của Thuyết ính mệnh lý :học: Giói:t/ nhiên phát, dys lua-hanh,
357
Trang 28sinh sôi không ngừng, chính là nguyên nhân:căn bản sỞ di sinh thành của con người và muôn vật, cũng là nguồn gốc
căn bản của nhân tính Cái gọi là "cùng thần jri:hoá"” của Truong Tải có nghĩa là cần biết cái đạo lý đó Nhưng, Trương Tải lấy khí làm bản thể, nhân tính bắt nguồn từ khí hơá lưu hành, tính và mệnh đều không ở ngoài khí "Tính thờng ö ngoài khí, mệnh hành ö:trong tính, khí không có
nội ngoại, giả sử có hình, thì suy nghĩ biết người không thể không: biết trời, biết #ính-sau đó biết đến mệnh" (Chính mông: Thành minä”): Tưy õng aói tính thành “tbông cục Ó vô”, nhung chẳng :qua: là nhấn mạnh: một mặi "tính thông,
bất khả fưộrig"; tính thông:ô ngoài khí, mà khí không.có nội
ngoại, cHứng tỏ: tính không ö.ngoài:khí, chỉ là “giả sử có hình mà wói" Theo sự: giải thích này, con người và muôn: _ vật đều'bát nguồa, Ò khí, :tính củ4 khí vốn hư Tà trong, nên là:nguồn gốc tủa nhâm tính ; Sự lưu hành phát dục của khí
là quá trình! cø- bản sinh:ra aeưòi:vè muôn vật Tính là nói
về sự tồn tại của bản thể, mệnh là nói về quá trình lưu hành,,nhưng nói về ý.nghia sinh học của nhân: loại, thì sau khi khí phát dục lựu hành, thì tính tồn tại ô Ape nên cần biết tận tính sau đó: mói biết đến mệnh
¬›:Tĩnh được coi là sự tỒn tại của bản: thể, a nguồn gốc chưng: 'SJ lưu hành tủa mệnh thì có phân biệt, người tiếp thụ- cũng: ơó: giới: hạn của từng người “Cai chung cửa tính,
là hộp hai cái vậy ; Sự tiếp thư của mệnh, công có phớp: tắc
vậy ; Sự cần thiết chung, khống cùng thì không dẫn đến sự
phân Điệt tiếp: thu; tận tính cùng lý mà bất khả biến,:vẫn là phếp tắt của ta vậy" “Gái mà trời tự mish khong thé‘ paging
Trang 29lại được, gọi là mệnh, cái mà vật không thể không cảm được,
gọi là tính" ("Tính kỳ tổng họp lưỡng dã ; Mệnh kỳ thụ, hữu
_ vật giả, vị chỉ thiên mệnh" (Như sách đã dẫn ỏ trện, quyển 11) Trình: Di nói: : "Tại thiên là mệnh, tại nhân là, tính" (Như sách: đã›dẫn,: quyển 18) "Mệnh trời giống: như: đạo trời vậy, lấy dụng của nó mà nói thì gọi là saệnh, mệnh chính là cái của tạo hoá vậy" ("Thiêm mệnh do thiếu đạo -
da, di-ky dựng nhỉ ngồt chỉ, tắc vị chỉ mệnh, mệnh: gid tao | hoá chỉ: vị đã") (Như sách: đã dẫn, quyến 21; hạ) Ó-.Nhị
‘Trinh xem ra, mệnh ‘la sy quá độ, chuyến hoá từ ban thé
vũ trụ đến, tịnh người, tính la sự ton tai chủ quan của tính ,Ö đây gÓ mot quan điểm quan trọng, tức từ bản thể, vũ tru quá độ sang ban thé dao đức, từ ban thé đạo đức để xây dựng “Thuyết I nhân tính, chính là thực hiện thông qua
phạm trù "tính mệnh" Lyla nguồn BỐc của muôn vật, cũng
là nguồn gốc của' nhân tỉnh, nhưng lý được cơi là phếp tắc
tự nhiên đán quan, 14 quy luật tự nhiên; khi nó chưa thănh ˆ nhân tính; vẫn ch là vật tự tại'cửa giỗi tự nhiên, chữ không phải là sở Hữu cba tay-vi thé ma Không có cái gọi là ý nghĩa
về thiện và:ác:V.v , chỉ đến khi nó chuyển hơá thành nhân - _ tính nội tại, mới biến thành sÒ:hữu của ta, có: giá £†† nội tại Nói về :tiwh mệnh: tương:đối là: có su vphan bier trên quan hệ: giá trị của chủ và khách thổ ¬ bk iợ Hộ
c8.
Trang 30Đạo: trời lưu Hănh; tạo hoâ muôn vật, triệnh' được tỏi lă tao hod, la một qua trïnh tự nhiíh luôn luôn khôôg ngừng, cing có ý nghĩa "sinh thănh" Tạơ hoâ: không thĩ tach roi khi, "đụng của nó thì gợi lă mệnh" Điều đó chứng tở mệnh
lă tâc đựng đùa lý, só Híii'hệ với khí Có tẩ:dựng đó rồi, mới cớ câi: gợi lă miền tỉnh: Trình Hạo noi‘: "Trĩn nhan sinh nhí tĩnh" lă khó nồi, khi mói nói tính thì đê không phải
lữ tính rð#'°(Nhđn sinh nữ tỉnh; ði thương bất: dung thuyết,
tăi 'thuyết'tính thòi, tiền:di: bất thị tĩnh ðê) (Như sâch đê đắn, quyể8 “1), nghia' la; chi sauikhi hgười: ta sính ra, mệnh aĩ:chuyĩr: hod ngay thank tinh! cha không phải: lă "tín tại trồi trín "a#đn sinh nhỉ tĩnh"; túc:lă "mệnh: ‡rÒỈ; nhưng hai câi năy:lại lô: đồrg:nhất;:kñông:có mệnh,: cũng không CO cai © goi fa: tiwh (Can goi la: tink cha Nhị:;Trình hoăn:toăn 1a ripuyền tắc: lý tinh đâpđạo:đức hoâ, khoog:t hoăn › toăn giâng vôi "sith gọi lă tin "C'Sinh chi vg tinh’ - " ect
“Trinh ‘Di cứng nói tôi tu’ ‘tudnig một W ‘con’ 'riệnh thi
ef phđn chia ‘Ong: “nol "Nhan bhi vir tính, “do ki chi thy vâi, tính, giống "như vật ‘dung’ tiếp nhận, ảnh ‘ing 3 fat ti
mă mặt, trời vốn lă vật Đất, dong") ("Di thu", quyền 3) “Tĩnh s vốn không có phđn ,chủa,, nhưng vật dụng có cai fo cai nhỏ, nín :tiếp; nhđn.ânh, sâng, nhiều hạy: It Độ to nhỏ của vat dụng do: mệnh quyĩt: dink Nhu,dong vật hũu: trị, thực vật vô:tri.:*Kỳ: tính tự dị, đân: phú hình ,vụ thiín ;địa, kỳ; lý tắc
nhất°:(*ií{nh: của chúng cö: khâc :đ#au;›>nhưng hình thi: tai
thiín địa, tý củn -chúrg "chỉ: có::m@t”):(Như:sâth :đê dẫn, quyển 24) Lý của bản thể: don ‘vat chỉ có một; nhung
Trang 31mệnh phú co mướn vật thì:có phân biệt, như löại hữu tri
va v6 tri, do đó mã tính tủa chứng có khác nhau Trến thực
tế, lý chỉ có một, tính cũng phải 1à một, nhưng đo khí 'không giống nhau, nến tính có khác THiếu, 6 day, n mệnh và Khi có liên hệ với nhau Tên THỊ Đó
- Chính tity nghĩa đó, Trình Dit nói tối tính ngoại i tai, tinh
han chế -của mệnh và tính nội tại, tính tự chủ của tính
"Khẩu, mục, nhĩ, tị chỉ dục, tính SA, nhiên hữu phận yên; bất khả vị ngã tu yếu đắc, thị hữu mệnh dã ; Nhân, nghĩa,
lễ, trí, thiến đạo: ‘tai nhan, phi Vu ménk hữu: hậu “bạc, thị
mệnh đã, nhiên hữu 'tifMWyên, khả di Hoc; bố quân tử bất vị thệnhh (“Miệng, mốt, “tai; mới lđều cô sự ham: múốn, tính cứng -vậy, 7ö Lràng'là: có su phan diet: vay, khong thé: adi ta cần cái gì là đuộc, muốn dudc-Ja phai c6 ménh ; Nhan, tighia, lỂ, trí;:thiên đạo dà ô-tại người, phú: chờ cái mệnh day :hay mỏng, là mệnh, tất phải có tính; có thể học; nên người: quân? tủ :khôn§: nói.:về mệnh?): (Như sách đã:dẫn, |
nghĩa không hoàn: toàn giống nhau Bỏi vì.đây là nói về hai
cấp độ lý và khí Nói về khí, sự ham muốn của miệng, mắt, tai và mũi, đã là mệnh, cũng là tính, nhưng chính vì là khí, nên cö pÄẩn chia giỏi hạn, cRỈ có thể ïiới 1a “mệnh; không cần phải nói về tính ; Nói về lý, Hhản, tighia, lế và tí iã'cếi
có Š người tủa ‘dao trồi; giống nhu vậy Fí mệnh, là tí, nung: bồi v† Tà Tý; nến) không Bị phân chia giỏi hạn, ch 6
thể sợi fh tíwh, khống cần gợi là-niệnH:?Nhưng: sự:phân giới này” hồng hOàiftoăn nhất trí 2óï mệnh đề “tính tức lý” này cửa 'ðng Điều đồ' đã sinh:ra: mấy loại gái thích thác: nhau
về mệnh'cửa' Chu Hyau nấy ' ˆ :- oat
361
Trang 32_ Chu Hy đã tiến bộ “một bước khi nói: trồi tới tự nhiên)
là sự hợp nhất giữa lý và ,khí, nhưng mệnh lại có sự phận chia ra lý và khí Thiên: mệnh lưu hành mà sinh ra người và muon vật, có lý có khí, người và vật tiếp thu khí của trồi
để là hình, tiếp thu lý của trời nên là tính Nhung: mệnh là nói về khí, vì nó dày, mỏng, trong, dục: khác nhau mà có định số ; đạo trai lưu hành, phú cho mối người; mới vật có cái tính, nên gợi là “tính mệnh", nhưng cái mà ‘Ong nhần mạnh lá cái sau, chứ không phải là cái trước | er
Mệnh tuy có nghĩa của mệnh lệnh, nhụng không phải thực sự có một.vị chúa tế ban bế mệnh lệnh Nó chẳng qua
_ là "cái.phú: cho,vật.để đo xụ lựa hành của đạo trời" ("Luận _ ngữ tập.dhú", quyển 1) Nó là: một,quá trình “tự nhiên" Nếu nói là mệnh lệnh thì lại tà mệnh lệnh tuyết đối có.ö cạn người do giới: tự nhiên phú cho còn người, tức là hiật lệnh
_ đạo đúc; từ đó mà trÒ: thành: bản: tính nội tại của ban than
chờ thể "Mệnh C6! tinh - “mục :dích: tiềm: tại Dạo trời lén
hành: sinh ra người xà vậtlà một quá trình hộp mục: đích
Sdu khi: còn m nghời si sitth | fa, , CÓ: sự chi; đã thế tiện tính : mục đích đó
Chu Hy! tuy nhấn mạnh người và vật đều cổ i ménh, nhưng lại có sự khác nhau Vật chỉ có thể nói, về "lý, còn con người, cần phải: nói, về "tính", Đó là điều ma Chu Hy da phan biệt, Ba: cái lý,: tính mệnh chấp chắn không phải Ja không có sự phân 'biệt Cái lý này lấy sự việc để phân biệt,
_ còn tính:thì lấy ngòi để phân biệt, mệnh -là sự toàa diện của đạo trời, tính SỐ đi là tinh, lý sở di là lý vậy” Clow
Trang 33ngữ hoặc vấn", quyển 2) Đạo trồi là quy luật chưng phát
dục lưu Eành của giới tự nhiên Đạo trồi phát dục lưu hành
mà phú cho người và vật không có sự khác nhau, nên gọi
là “toàn diện" Những người và vật bẩm sinh tiếp thụ lại khong giống nhau Ö con người là tính, ð vật là vật lý: Trong tình hình chưng, Chu Hy công nói đến tính của người và vật, mhung đõ Tà nới về lý của mệnh trồi, về sự tiếp thụ bẩm
sinh cụ thể của người và vất Ông cho rằng, 6 con người bẩm sinh ‘co sy toàn điện của đạo trời, nên là tính ; ð vật
bầm sinh 'cö sự "phiến diện, nên là lý Tính là toàn thể, lý
có phân giói hạn, mối vật không giống nhau, mối lý có khác nhau Sự phân biệt này-là quan điểm quan trọng: trong học thuyết.tính lý của Chu Hy, nói rõ mệnh đã là toàn diện, lại
_e0 phâh giới hạn , lấy đó để phân biệt người và muôn vật
'ð Chữ Hy xem T8, tỉnh người bắt nguồn từ đạo lưư: hành đại hơá của vũ trự, nén không thể tách rồi khối giỏi tự nhiên được Đó gọi "là “rồi và người cũng: một khi, trời và: người cùng một lý" (Thiên nhân nhất khí, thiên nhân nhất lý), nhưng, con người sau khi giỏi tự nhiền' sinh ra đã chiếm địa
vị đặc thù, do đớ mà có pHân biệt với giới tự nhiên noi chung Con ngudi c6 thé cing dang với trồi, đất để thành
ba, có thể thảm tán hoá dục, bôi vì con người thật sử thực hiện được sinh mệnh của vũ trụ, trở thành động vật có lý tinh xã hội đạo đức Đó là điều tà các động vật khác khuyết thiếu “Tuy nhiên, ông nói một số động vật nào đó cũng có loại nhân nghĩa, nhưng đó chỉ là "một điểm sáng", chỉ có con người mới có đủ cả nhân, nghĩa, ]ễ, trí, giống như trồi
có nguyên, hanh, lọi, trỉnh, xuân, hạ, thu, đông
363
Trang 34-Ông thông: qua sự giải thích về “kế thiện thành tính', nói rõ thêm một bước xề:quan hệ giữa tính và mệnh Tính
là "lý.minh:za:, nhựng cần phải có một quá trình thực hiện Sinh Jy được:eoi là.nguồn gốc của nhân: tính, tuy là thuần tuý đến, thiện,: nhựng trước khi.con người sinh, ra, nó chỉ là một; sự tòn.tại;tJ tại ;chỉ là một khả năng, và không ngạng
vi nhân tính biệp thực, đó gọi: là 7cái thiện kế: tục" (kế chỉ giả.thiện) Chị khi cạn người sinh, TA, mói cÓ đủ cái sịnh lý
để trỏ thành nhận tính hiện thực, adj, hoàn thành Sy qua
độ đó Đó gọi là "gái tính đã thanh" O đây có ý nghĩa \ về mặt, sinh, học, nhân Jogi TÔ ràng , ¬
.- Chu :Hy đã nói.phân.tính, không giống với: các cử khác,
rõ ràng: là: chỉ:nớt: về; tính xá bội, của cơn Ngugi Ông nhận thúc nhãn:tính được thực hiện ;trong mối quan: hệ giũg: người với người Nhưng ông cho rằng, tính xã bội của con,người, suy.cho đến L cùng, là bắt nguồn ( 6 phép, lắc của tự nhiên; Từ
ý nghĩa J nhất định đó.mà nói, nhận tịnh vừa là ty nhiên, lại vừa là xã hội, Nói xÈ nguồ6,,gốc, .khả năng của phận tính
thì nó là tự nhiên, nói về nội dung xà, tính hiện thue của nó thì lại là xã hội Chu, Hy: không, thể lý, giải duge thuộc, tính "+ hh đạo, đức của con người là,do mối quan hệ kinh tế của xã hội loài nguồi quyết định Ông chỉ có,thể xuẤt phat từ tiền
đề cơ bản của hệ thong phạm, trù 1ý học của mình để sho rang tinh Bắt nguồn, OY cha bản, thể vũ tru Tuy nhiên, ông
| thay được biểu hiện thực của nhân tính có,nội dung xã hội | của nÓ VÀ không phái, là tính tự nhiên thuần tuý, Nhìn từ Thuyết tính mệnh họp, nhất của ông, tự nhiên được ông lý giải không phải, là tự, nhiên mang tính mục đích của Xã hội
Trang 35-hoá, mà là giái tự nhiên;vật chất:thuần teý Nhưng nói về
sự phân biệt giữa người và vật,:ông lại từ tính xã hội của con người để nói ro nội dụng của, nhân tính
_ Tất nhiên, tính; của ,người Và; vật đều đến từ '"thiên mệnh”, nhưng vì sao hại cái này, lại có;sự khác nhau ? Các nhà vật lý nói chung.cho tầng, cọn ngưồi sinh,ra đã có cái
"tú" của ng, hành nhị khí, nên là.cái "lịnh" của muộn .vật Chụ Hy iiến thêm một bưóc nêu ra, REMÒi và: vật đã tiếp thụ tuy cling mt ly, nhưng do, khí bẩm, sinh ra có sự khác nhau về thiên lệch, ngay Ngắn thông tắc, nén có sự khác nhau giữa con, người và vật "Sự;sinh ra của, người va: vat, cùng có cái, ly cia, trai: đất, nên dạ: tính, cùng có cải: khí của tri đất nên là hình, cái khong giống nhau của nó, độc chỉ
có con ñgười ¿ 3 gla đài có Sự ngay, ngắn của hình khí, nên
GÓ, thể lấy đoàn, tinh của nd làm ,sư chiếu di, tuy nói là thiếu
dh nhung TO Tang su sử,phân biệt gitta người, và vật thực, tại là đó” Nhân vật chỉ sinh, đồng đắc thiên địa chị lý, di vi tinh, đồng đắc thiên địa chỉ khí di vi hình, kỳ bất đồng gia, độc whan verkyi gidm aldo: hinh: khi.chi chinh,:nhi nang hitu
di toàn: kỳ:tính:vi thiếu dỳ nhĩ.:Táy viết (hiếu: đi, nhiền nhân vật chỉ: phân,:thực tại'vụ thử”) :(!Mạnh Fi :tập:chú”; quyến 4) Ô đây, lý được: coi là nguồn gốc của bản 'thể,: là: trữu tượng, khí tuy: dơ lý; quyết định; nhưng lại:cụ:thể::Nguyên tắc trùu tượng cần-phâ nói-zô từ aguyện nhân cụ thể Người
và vật.dơ khác nhạu về ,kết sấu vật:chất; nên tính: của chúng
khác nháu Điều này giống như là trừu tượng, vì ông không
có nới rõ bản chất- của con người từ nguồn gốc xã hội
Nhung, từ .ĐÓC độ nhân loại học, triết học và lịch sử phát
365
Trang 36sinh tự nhiền để nói rõ cön TRƯỜI CđO- hon các động vật khác, lại là điều đáng được coi trong © Ti _ _§au Chu Hy, Trần Thuần đã có sự coi = đặc tiệt -đối với mệnh và tính Điều 1 trong "Bắc khẽ tự nghĩa" là
Chữ "mệnh", ông chỉ ra mệnh có hai nghĩa của lý và khí, nhưng ông chử trương "lý khống 6 ngoài khí" Trần Thuần bàn về mệnh có khác với Thuyết thiên mệnh trước đó, cũng hơi khác với cách nói của Chu Hy là phân ra rhệnh chỉ là quá trình "đại hoá ưu hành" của giới tự nhiên, không thể noi tach rồi khi, lý cũng aly trong khi, tuy là chúa tế, nhưng lại không a ngoai khi "Thién di'toan thé ng6n, ménh di ky trung diệu đụng ngôn" (Trời nói bằng toản thể, mệnh nói
bằng diệu dung trong 46) Ong noi r6 ménh 1a qué trinh hay tác dung: của bẩn thể vũ trụ lưu: hành phat duc, tồn tại không tách rồi khí Ông nhấn mạnh nguyên nhân vật chất
của giỏi tự hiến Đó là mot đặc điểm ban về mệnh của
“Fran: Thuần cho 2 rằng: mệnh tuy là là cái chung, những tiếp thu không đều.- Không những người với vật, vật với vật, người với người đều có cái không đều Vì sao như thế ?
"Cũng là cái lý của tự nhiên; sao lại nghỉ ngò 1" Túc không
có bất kỳ tính mục đích nào: © day đã nêu ra vấn đề quan
hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên Mệnh là tính tất nhiên khách quan, đại hoá lưu hành mà sinh ra 'igười và vật, những sỞ đi thành người thành vật thì có tính ngẫu nhiên Trần Thuần không thể giải quyết vấn đề nguồn gốc của
nhân tính một cách khoa học, song ông đã nêu ra tư tưng
Trang 37sa, tính ngấu nhiên, là một bổ sung -đối vói tư ông] lý, bee quy kết hết: thấy là đánh ẤT nhiên tuyệt, đối,
"Về duan hệ ?giữú' trệnh và tính: nt! Trin Cm da nồi, vVối kHổng' Phải là hai vật; Sàí ttồ© gọi là mệnh, tại người
bọE-fà tĩnh"g"Bác Khê tự HghiA'), tức chỉ có:6U: Kháế nháu
giữa'chừ thé Wa khách thé; pita hột tại vài “ingoal ted Finh
Tả sự-hiện thục 'ð lờng người cùa 'phép tấu tự: :niiêh; đo :đó,
*Ehữ tỉnh ghép +Heo cRd sinh và (chế tăm; là ngừời vinh ra _ để cổ' lý'ð-tâfn; tôi gói:là tổnh" (“tính crf@:tông sinh tông
4âm, thị, nhân;sinh,lai cụ thí lý,yu tâm, phương dạnh chị viết
inh"); (Như: trên).Điền đó đã: tiến, ào phạm, trù tâm tính Prong’ số -người họd'sau' Chủ 'Trình,:chẻ :có :Húa Hoành
và h Ngô Dự Bật: là h#6 biệt ró rừng tính và niệnh: lo nhấn
wank vt "khi seh"; ban tiện, pha quy, sinh tử, hoạ phúc ˆ : sứ nhấn:miạnh tính ngoại tại và tính han'dimh cia Thệnh, “đồng Thôi càng nhấn mạnh hơn tín nội tại và tính chủ thể của tính; chơ đằng mệnh không :phải là sở năng của
"on: người, không thể thay đổi, nhựng tính lại là: việc của 'bân thân tỉnh;là sÒ hữu của ta; Gitu nghèo:sang hên,.ngbe
ra là:ở:trời ;: Tính: thì hoàn toàn: dựa vào: minh, DEL hạt phạm trù song hành tâm tính và mệnh hót vật Đa
; Lục Gitu Uyên thuộc phái, tậm học gài thịch v về "phạm trà „nh mệnh"; có mặt giống với, Nhị Trình và Chu Hy, tic |
cho gầng.tính bất nguồn ð,„ mệnh trồi: "Người vẫn đo trời
Sinh rạ; tính vốn là mệnh của trồi Nói theo, lý thì lộn hon trồi đất, có khả năng, manh, như yay; Nói xề người thí há
có thể ,nói lồn - hơn trời đất !" ("Nhận nái thiên chỉ sỞ sinh, tinh nãi thiên chỉ 50 mệnh Ty lý nhị, ngôn, nhỉ hi viết đạo vu
367
Trang 38thiên địa, đơ chỉ khả đã ; tự nhấnThí ngôn; tác 'há khã ngôn
đại vu thiên địa !*) (Du Triéu Vihh Dao", "Tuong Sdn téain tap", quyén 12).: Ông lấy tâm làm bản, thể, nói vệ Thuyết bản thể: "tâm túc lý,:có: thể mói: tính,lón.hon-trời đất; nhụựng nói: về bản thân chủ thể, có hình TỒi sag mới có tính, há có -thể nói lón: hon; rời đất, -Coa người chị là một vật trong † tdi dat, sink.ra.do ménk trời, tính của nO cing, do mệnh trời
mà hình thành Diều đớ đã thita nhận tính khách quan, tính ngoại tại của mệnh và tính tất nhiên từ mệnh, đến tính Luc Chiu Uyên một mặt đề- xướng Thuyết: tính mệnh hẹp nhất, tâm tính họp nhất, xuất phát từ “ản'tầmš sũy ra tính
của nhân; nghĩa, :lế, trí,:Tíah:là.cái cố hữu thuộc chủ thể,
nhưng 'lại:không thể không thừa nhận bản:tâm và bản thân cơn người đều là trồi:sinh ra, là: trời tham-gia "Tứ đoan giả
đã, tức thử tâm dã; Thiên chị số d7 dự ngã: giả, tức thử tâm dé" (Bốn cát đầu mối, tức:là cái:tâm vậy ; Trời số dị vói cái tôi, tức là cái tâm vậy) ("Dụ Lý 'lể",:sách: đã dẫn, quyển 11) Chúng tỏ Học thuyết tâmi.tính của Lục Củu Uyên cũng
lä xây dựng: dưói tiền đề của Thuyết ban thé wiry Vi thé,
-không thể: hói Lục Cửu ÄJyên: chỉ là người theo Thuyết c chủ quan lấy tâm làm sự tồn tại duy nhất HH Đo Trừ
_ Lục Cửu'“Uyên cũng'bàn'Về tínH và Tnệnh tử khí âm
dott "Nhất ‘am nhất đường: gợi fa dao, vAn' fF nói ‘tong 1a muôn vật trong: trời đất đềủ'có cái âm đương Hãy vậy ;-eái tiếp theo là thiện, vẫn độc quý về con người, cãi đá thành
Tà tỉnh vậy" (“Nhất âm: nhất ( 'đương chỉ vị đạo, nãi phần rgôn
thiên dia van vat giai cu thử âm đưởng đã: Kế chỉ giải thiên dã; nải độc quy Mi vử nRân ; Thành chỉ giả tỉnh đá, hiệu
Trang 39phúc squy -chỉ vu thiên, thiên mệnh shỉ xị tính dá:), (“Ngũ loại", như sách da din 6 trên, quyển 38): Điều đó có khác với sự giải thích của Chu Hy, Ong lay "ké thién " làm tinh, lấy "hành tính" làm: ThênH, những `điềữ đỏ KHông pho định viéc ‘Ong | thùa' ‘han "nh bắt nguồn từ mến Nỗi tụ khi Hay
là nối về: dy 8 dây khong « có quan hệ Bì nự
.„ Vương Dương Mi Mink cũng không; O "ngoại 1 Hạc thuyết tính mệnh ORLA hat cua Ong càng triệt ,để, hơn Luc, Củu Uyên, bội vì ông aie “ludng, tri’ thay, cho .lý, mà, lưỡng, tri
la cái lâm của tri rBiác linh minh cổ Ì hou, cua chủ, thể, Những ông cũng thha nhận, , tính của t thiên Tnệnh có ổ tâm đa, Bite hồn hợp vào trơng toàn 1 he mà cỏ cả, chương, trình 16 ‘rang
uy nghiêm” (Chiến, mệnh chỉ tính cụ yu ngô tâm, ỳ hốn nhiên toàn thẻ chí trung nhỉ điều lý tiết mục fam nhi n tốt cụ”) (Các ước) thuyết", “Dương | minh toan thu", qu; yen 7) va khong phủ định t tinh, bắt nguồn ở mệnh Chỉ là, § ong xem
ra, tính của thiên mệnh” cố ð' irong tam, Tiền tỉnh mệnh “đểu thống lĩnh 6 tam Nhung tam không phai: thn tat Vach rời thambinhicwa chi thé,ung.can- phab-c6 ngi dén,, ngudn géc céa-né chi.cé thé là "tròi'-3 ngoài chủ thể,'tức giói tự nhiên
kỳ thực.›Ông cũng, nhấn,manh: : *Nó-ö tại trồi, :cái gọi 1à
mệnh ;.nó phú chẹ: người, cái gọi, là tính ; nó chủ ð; thân
thể, gọi lè.tâm,: Tâm, tính, mệnh gũng,là,một.xậyy: (;Kỳ;tei
vụ thiên -vị-chị mệnh, kỳ phú , gu nhâp vị,chỉ tính, kỳ chủ vụ thân vị chỉ tâm Tâm đã, tính dã, mệnh dé, nhất, dã"), (Kê SOR, hư viện tôn kính duyệt ký",.như sách đã dẫn, quyền 7)
Nghĩa, ly, AS đạo, lyy hành cha, giỏi tự, waite, | la phép
woke ARS
369
Trang 40‘ong Alidh' mgnh tác đụng thủ he cia 38m; ‘new ớt tâm thì
“rời, ‘meth,’ ‘hhh du” 'ổ trong đề ee Nee
4 Tala Phái Tâm: ‘hoe đều Yh am" "iam pha hi Hà cao nhất, Ì là nguồn gốc của muôn vật at Nhung, apr than n tam đi
là cái đã có của cá hé;; TIÊN € cần có tiền đề, tồn tại của n6 tách ri gidi ty nhiên của vũ trụ thi’ i khong có: by gọi "id tam
cảng khôhg cô cái đo I# tính Vì thể, nộ đu tủa Hhần g idi
_ tự nhiền tron vo ‘tu, tối làn guộn gð' duỷ Nhất: tia dính men, ‘cang lần guồr Be cũa°t itt ‘ith Ta tay ia chia’ té
aa than ‘the! tiến tới tr | hành chữa tẻ cù mướn Vật tròng -
ti ‘dat, ‘abun, “tâm: dân tại không tach Töf dT nfl ch
Ja, 6 ‘ho ema ‘tinh tuy dã số phú của: ¡ mềnh, mã he trị thành ng pguyên lế đặc đạo duc đã 6 cửa bai’ thar r chữ thể, thi
có thể dâm chúa tể mudn vat trong g tri đất, trỏ ö thải Ñ ân thể của Tguồn vat trong trôi đất : Odie gọi Tà TH rồi, chỉ
là nội từ nguồn ỐC, từ Thuế án tne ma nối thi nỗ tồn
‘a không tách 14, ‘am, sg cpt WAV, cits dm oes Dao
: Điểm nãy được : biểu hiện: "công' 'rÐ rùng: tồn: #fdngStu tưông cad Bul Tong Chu! Oag theo thứ tự "Mệnh - Tính - - Đạ6% Hỏi tiệnh là phép tác tự nHiếH: piWú-chờ *don: người,
rời tính là thịu "Mếp thu Ò đạo “rồi mà cớ iô côn người
“Mệnh trồi Tử hành, vat that dif: Khổng đâu (vỡ vọng} là - đạo :của trời; tớn “người cỏ đạo 1 tíáh: TrBi kiOng tácH rời cởn: người? th không 'tác rốt hinty vay.’ Say từ động nh đùng hàng ngày cHờ đến CÁi tơ ổn ca Tuân lý cương thường,
đếm cái nhớ bể cửa viên ngối hồn sỏi, (kHðng đến) sến
"Kông phat’ lä Yinh, không đ ếd tiên không phải”à đạp, 8a
hờ tức ta ởá{ tị 'ñhiền của nó vậy" ỆTHIềh tiện lưu? hank,