Viết đoạn văn Khoảng 5-7 câu kể lại một sự việc trong truyền thuyết “ Thánh Gióng” bằng lời của một nhân vật do em tự chọn.. Trả lời: Khi kể về sự kiện Vua Hùng truyền ngôi cho Lang Liê
Trang 1Ngày soạn: 14/1/2023
Ngày giảng: 6A1: 6A2: 6A3:
ÔN LUYỆN TIẾNG VIỆT
( Cấu tạo từ; cụm từ, biện pháp tu từ)
A MỤC TIÊU.
Củng cố lại cho HS kiến thức về cấu tạo từ; cụm từ, biện pháp tu từ…
- Biết cách giải thích nghĩa của từ, sử dụng từ đúng nghĩa, phù hợp với văn cảnh
- Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong văn bản
B TỔ CHỨC:
6A1: 6A2: 6A3:
C NỘI DUNG KIẾN THỨC.
I Lí thuyết: GV tổ chức cho HS ôn tập lại lí thuyết các đơn vị kiến thức:
1 Cấu tạo từ Tiếng Việt:
Bài 1: Xác định từ ghép, từ láy trong các từ sau: Mặt mũi, xâm lấn, lo sợ, nước nôi,
chim chóc, buồn thương, hoảng hốt, đáp đền, gom góp, giam giữ, bắt bẻ, bó buộc.
- buồn thương, hoảng hốt, đáp đền, gom góp, giam giữ, bó buộc
Từ láy: nước nôi, chim chóc, bắt bẻ
Trang 2Bài 2: Chỉ ra cụm DT, CĐT, CTT trong những cụm từ sau: Chăm làm ăn, rất cần cù,
bảy nong cơm, ba nong cà, cưỡi lưng ngựa sắt, nhổ bụi tre làng, đuổi giặc Ân, rất khôi ngô, chẳng biết cười, biến thành một tráng sĩ, lớn nhanh như thổi Chọn một cụm DT,
CĐT, CTT và đặt câu với mỗi cụm từ được chọn
Đáp án:
Cụm danh từ: bảy nong cơm, ba nong cà.
Cụm động từ: cưỡi lưng ngựa sắt, nhổ bụi tre làng, đuổi giặc Ân, chẳng biết cười, biến
thành một tráng sĩ, lớn nhanh như thổi
Cụm tính từ: Chăm làm ăn, rất cần cù, rất khôi ngô.
Chọn một cụm DT, CĐT, CTT và đặt câu với mỗi cụm từ được chọn
Đặt câu : GV căn cứ vào sự lựa chọn và đặt câu của HS -> nhận xét, chỉnh sửa
(nếu cần).
Bài 3: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong các trường hợp sau:
a “Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, … ai cũng mong chú giết giặc cứu nước”.
Chỉ mang một chiếc bút chì
Và mang một mẩu bánh mì con con
(Mèo con đi học – Phạn Thị Vàng Anh)
Gợi ý: - Bài thơ đã nhân hóa chú mèo
- Chú mèo được nhân hóa bằng cách gán cho chú những hoạt động của con người Chú ta cũng phải đi học và sửa soạn, mang theo bút chì, bánh mì giống như các bạn nhỏ khác
- Tác dụng: giúp hình ảnh chú mèo trở nên sinh động, đáng yêu hơn, giúp cho bài thơ trở nên hấp dẫn và thú vị hơn
c Mồ hôi mà đổ xuống đồng,
Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương
Mồ hôi mà đổ xuống vườn,
Dâu xanh lá tốt vấn vương tơ tằm
Mồ hôi mà đổ xuống đầm,
Cá lội phía dưới, rau nằm phía trên
(Thanh Tịnh)
Trang 3Gợi ý:
Điệp ngữ trong đoạn thơ, đoạn văn và tác dụng của nó:
a) Mồ hôi mà đổ… (Nhấn mạnh giá trị to lớn của những giọt mồ hôi – sức lao động của
con người.)
d Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng.
Gợi ý:
Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Nắng giòn tan
e Đầu xanh có tội tình gì
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi”
( Nguyễn Du)
Gợi ý:
Đầu xanh : là bộ phận cơ thể người ( gần kề với người) , được lấy làm hoán dụ chỉ người còn trẻ ( ví dụ tương tự : đầu bạc- người già)
Má hồng: chỉ người con gái đẹp
Bài tập 4 Viết đoạn văn ( Khoảng 5-7 câu) kể lại một sự việc trong truyền thuyết “ Thánh Gióng” bằng lời của một nhân vật do em tự chọn Trong đoạn văn có sử dụng
ít nhất 1 từ láy, 2 từ ghép, 1 biện pháp tu từ Hãy chỉ rõ.
HDVN:
- Tiếp tục ôn tập lại kiến thức tiếng Việt đã học; xem lại và hoàn thiện bài tập
- Tìm hiểu về truyện dân gian: Truyền thuyết, Cổ tích…
Trang 4Ngày soạn: 18/1/2023
Ngày giảng: 6A1: 6A2: 6A3:
TRUYỆN DÂN GIAN: TRUYỀN THUYẾT
A MỤC TIÊU
- Củng cố lại cho HS kiến thức về truyện dân gian ( đi sâu vào thể loại truyền thuyết) – -
HS phát triển được năng lực nhận diện các đặc điểm của thể loại truyền thuyết; hiểu đượccác ý nghĩa các chi tiết trong truyện
- Hình thành phẩm chất yêu nước, chăm chỉ…
B TỔ CHỨC:
6A1: 6A2: 6A3:
C NỘI DUNG
I Tri thức Ngữ văn
1 Khái niệm văn học dân gian.
- Văn học dân gian là những sáng tác tập thể truyền miệng của nhân dân, ra đời từ thời viễn cổ, phát triển qua các thời kì lịch sử, đến cả hiện nay và mai sau Văn học dân gian
có những đặc trưng riêng so với văn học viết; nó cùng với văn học viết hợp thành nền văn học dân tộc
* Các thể loại văn học dân gian
- Thơ ca dân gian: tục ngữ, câu đố, ca dao, hò, vè, truyện thơ
- Truyện dân gian: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn
- Sân khấu dân gian: chèo, tuồng đồ
* Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
- Tính tập thể (trong sáng tạo, trong lưu truyền, trong sử dụng và cảm thụ )
- Tính truyền miệng
- Gắn với sinh hoạt xã hội (đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động )
* Giá trị và vai trò của văn học dân gian trong nền văn học dân tộc
- Văn học dân gian là kho báu về trí tuệ, tâm hồn và thẩm mĩ cao đẹp của nhân dân
- Văn học dân gian là ngọn nguồn, là cơ sở kết tinh của văn học dân tộc
2 Thể loại truyền thuyết.
2.1 Khái niệm truyền thuyết: Là loại truyện dân gian kể về các sự kiện và nhân vật ít
nhiều có liên quan đến lịch sử, thông qua sự tưởng tượng, hư cấu
2.2 Một số yếu tố của truyền thuyết
- Truyền thuyết thường kể lại cuộc đời và chiến công của nhân vật lịch sử hoặc giải thíchnguồn gốc các phong tục, sản vật địa phương theo quan điểm của tác giả dân gian
Trang 5- Truyền thuyết được kể theo mạch tuyến tính (có tính chất nối tiếp, theo trình tự thờigian) Nội dung thường gồm ba phần gắn với cuộc đời của nhân vật chính: hoàn cảnh xuấthiện và thân thể; chiến công phi thường; kết cục.
- Nhân vật chính của truyền thuyết là những người anh hùng Họ thường phải đối mặt vớinhững thử thách to lớn, cũng là thử thách của cả cộng đồng Họ lập nên những chiến côngphi thường nhờ có tài năng xuất chúng và sự hỗ trợ của cộng đồng
- Lời kể của truyền thuyết cô đọng, mang sắc thái trang trọng, ngợi ca, có sử dụng một sốthủ pháp nghệ thuật nhằm gây ấn tượng về tính xác thực của câu chuyện
- Yếu tố kì ảo (lạ và không có thật) xuất hiện đậm nét ở tất cả các phần nhằm tôn vinh, lítưởng hóa nhân vật và chiến công của họ
VD: Truyền truyết con Rồng, cháu Tiên; Thánh Gióng; Bánh chưng, bánh giầy; Sơn Tinh,Thuỷ Tinh; Sự tích Hồ Gươm
II BÀI TẬP VẬN DỤNG
* Tìm hiểu văn bản Thánh Gióng:
1 Thể loại: truyền thuyết
2 Phương thức biểu đạt: tự sự
3 Ngôi kể: ngôi thứ ba.
4.Giá trị nội dung của văn bản Thánh Gióng
Xây dựng hình tượng Thánh Gióng với nhiều sắc màu thần kì là biểu tượng rực rỡ củatinh thần yêu nước và sức mạnh bảo vệ đất nước, đồng thời thể hiện quan niệm và ước mơ
của nhân dân ta ngay từ buổi đầu lịch sử về hình tượng người anh hùng cứu nước
chống giặc ngoại xâm.
5 Giá trị nghệ thuật
- Sử dụng nhiều chi tiết tưởng tượng, kì ảo:
- Sử dụng các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu cho truyện dân gian:
+ Lời kể cô đọng, lối kể chuyện theo trình tự thời gian
+ Cốt truyện xoay quanh một nhân vật chính là Thánh Gióng
6 Ý nghĩa hình tượng Thánh Gióng:
- Là hình tượng tiêu biểu của người anh hùng đánh giặc giữ nước
- Thánh Gióng mang trong mình sức mạnh lòng yêu nước của nhân dân; sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh vô hạn của thiên nhiên đất nước…
7 Tóm tắt truyền thuyết “ Thánh Gióng”
Gợi ý:
- Cần đảm bảo các sự việc chính sau:
(1) Sự ra đời kì lạ
(2)Tiếng nói đầu tiên xin đi đánh giặc
(3) Sự lớn lên kì lạ, bà con góp gạo nuôi Gióng
(4) Gióng vươn vaii trở thành tráng sĩ và ra trận đánh giặc
(5) Đánh thắng giặc, Gióng bay về trời
Trang 6(6) Những dấu tích còn lại về Thánh Gióng.
8 Bài tập : Đặc điểm thể loại truyền thuyết trong truyện “Thánh Gióng”:
- Yếu tố hoang đường, kì ảo: sự ra đời và lớn lên của Gióng; Gióng đánh giặc xong bay vềtrời
- Cốt lõi sự thật lịch sử:
+ Thời vua Hùng dân ta luôn phải chống giặc ngoại xâm( Giặc Ân)
+ Vũ khí ngày càng tốt hơn ( bằng sắt )
+ Trong chiến đấu đã huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân, sử dụng tất cả các phương tiện có thể
+ Một số địa danh: Làng Phù Đổng
* Ý nghĩa của một số chi tiết tiêu biểu trong truyện.
* Tiếng nói đầu tiên của cậu bé lên ba là tiếng nói đòi đi đánh giặc.
- Ca ngợi tinh thần yêu nước của dân tộc VN Đề cao ý thức trách nhiệm của mỗi ngườidân đối với đất nước
- Truyền thống dân tộc, dòng máu yêu nước, ý chí quyết tâm của một dân tộc không baogiờ chịu khuất phục trước kẻ thù
- Hình ảnh cậu bé làng Gióng là h/a của nhân dân lao động VN cần cù, lam lũ Họ lặng lẽlàm ăn, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì họ dũng cảm đứng lên, trở thành anh hùng
* Bà con dân làng vui lòng góp gạo nuôi Gióng.
- Gióng sinh ra từ nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng -> kết tinh sức mạnh yêu nước,đoàn kết, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của nhân dân
=> Niềm tin đánh thắng giặc
* Gióng lớn nhanh như thổi, vươn vai thành tráng sĩ.
- Hình ảnh kì vĩ, đẹp đẽ, phi thường của Gióng đã thể hiện sức bật mạnh mẽ của nhândân Khi vận mệnh dân tộc bị đe dọa, con người VN vươn lên với một tầm vóc phithường
- Quan niệm của cha ông về người anh hùng: khổng lồ về thể xác, oai phong lẫm liệt,mạnh mẽ về tài trí, phi thường về nhân cách
* Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre bên đường đánh giặc.
- Vũ khí của người anh hùng làng Gióng không chỉ là roi sắt, ngựa sắt, áo giáp sắt hiệnđại
mà còn là vũ khí thô sơ, vốn rất quen thuộc với nhân dân như tre ngà Với lòng yêu nước,những gì có thể giết giặc đều được biến thành vũ khí
- Ngợi ca sức mạnh của Gióng
* Đánh giặc xong, Gióng cởi áo giáp sắt để lại, rồi bay thẳng về trời.
-> Hình ảnh - khung cảnh đẹp, nên thơ, là sự thăng hoa trong trí tưởng của người xưa
Trang 7- Gióng là người anh hùng không đòi hỏi công danh, lợi lộc Chàng đã hoàn thành sứmệnh dẹp giặc và ra đi -> nâng cao vẻ đẹp của người anh hùng, đó cũng là phẩm chấtchung vĩ đại của người anh hùng.
- Trong quan niệm dân gian, những cái gì tốt đẹp, cao quí thì không mất đi mà trở thànhbất tử Gióng bay về trời là về với nguồn gốc cao đẹp của mình và chỉ nơi đó mới xứngđáng với người anh hùng
- Bất tử hóa hình tượng Thánh Gióng; nhân dân ngưỡng mộ, trân trọng, hình tượng Gióngsống mãi với non sông
MỘT SỐ BÀI TẬP BỔ SUNG
Bài tập 3 SBT Ngữ Văn lớp 6 Tập 2: Đọc lại văn bản Bánh chưng, bánh giầy trong
SGK (tr 22 – 23) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1: Câu chuyện được kể liên quan đến phong tục nào của người Việt còn truyền đến ngày nay?
Trả lời:
Câu chuyện được kể trong Bánh chưng, bánh giầy liên quan đến phong tục gói bánh
chưng, làm bánh giầy vào dịp Tết hay vào các dịp lễ hội truyền thống của người Việt
Câu 2: Trước khi nối ngôi vua, Lang Liêu có cuộc sống như thế nào? Việc nhấn mạnh vào đặc điểm cuộc sống ấy thể hiện dụng ý gì của tác giả dân gian?
Trả lời:
Theo truyện kể, trước khi được vua cha truyền ngôi cho, Lang Liêu sống gần như mộtngười thường dân nơi thôn dã, “chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai“ Việctác giả dân gian nhấn mạnh vào đặc điểm cuộc sống ấy thể hiện tư tưởng coi trọng nghềnông - nghề sản xuất ra lúa gạo để nuôi sống mọi người
Câu 3: “Trong trời đất, không gì quý bằng hạt gạo” – đó là lời một vị thần hiện lên trong giấc mộng của Lang Liêu Lời nói đó cho thấy điều gì về cách nhìn nhận của nhân dân đối với nghề trồng lúa nước?
Trả lời:
Lời nói đó thể hiện quan niệm rất sâu sắc của nhân dân về giá trị của những vật phẩmngỡ tầm thường mà kết tinh trong đó bao công sức lao động và sáng tạo của người bình
Trang 8dân, đó còn là lời tôn vinh đối với lúa gạo, nghề trồng lúa nước và đối với lao động nóichung.
Câu 4: Khi kể về sự kiện Vua Hùng truyền ngôi cho Lang Liêu, tác giả dân gian muốn gửi gắm suy nghĩ, ước vọng gì?
Trả lời:
Khi kể về sự kiện Vua Hùng truyền ngôi cho Lang Liêu, tác giả dân gian muốn thể hiện
sự ngưỡng mộ đối với những người đáng được gọi là anh hùng văn hoá, đã có nhữngsáng tạo làm đẹp cho đời sống xã hội Đồng thời, tác giả dân gian còn muốn bày tỏ lòngbiết ơn đối với đất trời, ngụ ý là những đấng có quyền lực vô biên, đã hào phóng ban tặngcho con người những điều kiện sống tốt đẹp Kể câu chuyện Lang Liêu lên làm vua cũngchính là kể về sự “lên ngôi” của lúa gạo và lòng trung hậu
4 Bài tập 6 trang 5, 6 SBT Ngữ Văn lớp 6 Tập 2: Đọc lại văn bản Bánh chưng,
bánh giầy (từ Nhà vua bèn gọi các con lại đến đem về lễ Tiên vương) trong SGK (tr 22) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1: Nêu chi tiết có thể giúp người đọc biết được câu chuyện xảy ra vào thời kì nào trong lịch sử dân tộc Em đã học truyền thuyết nào cùng kể về thời kỳ lịch sử này?
Trả lời:
Chỉ tiết “Giặc Ân nhiều lần xâm lấn bờ cõi, nhờ phúc ấm Tiên vương ta đều đánh đuổiđược” đã giúp ta biết được câu chuyện xảy ra vào thời kì các Vua Hùng dựng nước
Truyền thuyết Thánh Gióng cũng kể về thời kì này.
Câu 2: Đoạn trích cho biết về thử thách được đặt ra trước những người con của Vua Hùng? Ý đồ sâu xa của Vua Hùng khi đặt ra thử thách ấy là gì?
Trả lời:
Đoạn trích cho biết một thử thách được đặt ra trước những người con của Vua Hùng: tìmdâng lễ vật cúng Tiên vương có thể làm vừa ý vua cha để được truyền ngôi Ý đồ sâu xacủa Vua Hùng khi đặt ra thử thách ấy là làm sao xác định được người biết nối chí mìnhtrước trọng trách dựng nước, giữ nước, đưa lại cảnh thái bình cho thiên hạ
Câu 3 :Sự việc được kể trong đoạn trích có ý nghĩa như thế nào đối với toàn bộ diễn biến của câu chuyện?
Trang 9Ngày soạn: 1/2/2023
Ngày giảng: 6A1: 6A2: 6A3:
TRUYỆN DÂN GIAN: TRUYỀN THUYẾT
- Củng cố lại cho HS kiến thức về thể loại truyền thuyết
- HS phát triển được năng lực nhận diện các đặc điểm của thể loại truyền thuyết; hiểu được các ý nghĩa các chi tiết trong truyện
- Hình thành phẩm chất yêu nước, chăm chỉ…
B TỔ CHỨC:
6A1: 6A2: 6A3:
C NỘI DUNG
I ÔN TẬP KIẾN THỨC CƠ BẢN VĂN BẢN: SƠN TINH THỦY TINH
a Thể loại: Truyện truyền thuyết.
b Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
c Ngôi kể : Ngôi thứ 3
d Nhân vật chính: Sơn Tinh, Thủy Tinh
e Kể tóm tắt truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh
- Các sự việc chính:
(1) Vua Hùng kén rể
(2) Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn
(3) Vua Hùng ra điều kiện kén rể
(4) Sơn Tinh đến trước, được vợ
(5) Thủy Tinh đến sau, tức giận, dâng nước đánh Sơn Tinh
(6) Hai bên giao chiến hàng tháng trời, cuối cùng Thủy Tinh thua, rút về
(7) Hằng năm Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng đều thua
g Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật
* Nội dung: Truyện giải thích hiện tượng mưa bão, lụt xảy ra hàng năm ở đồng bằng Bắc
Bộ
- Thể hiện sức mạnh và ước mơ chế ngự thiên tai bảo vệ cuộc sống của người Việt cổ.
* Nghệ thuật:
- Xây dựng hình tượng nhân vật mang dáng dấp thần linh với nhiều chi tiết tưởng tượng kì
ảo có tính khái quát cao
- Cách kể chuyện hấp dẫn sinh động…
II LUYỆN TẬP
Bài tập 1
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
“Hay đâu thần tiên đi lấy vợ Sơn Tinh, Thủy Tinh lòng tơ vương Không quản rừng cao, sông cách trở
Trang 10Cùng đến Phong Châu xin Mị Nương Sơn Tinh có một mắt ở trán
Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì
Một thần phi bạch hổ trên cạn Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi”
(SGK Ngữ văn 6)
Câu 1: Đoạn thơ cho em liên tưởng tới văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn
6? Văn bản đó thuộc thể loại nào? Hãy trình bày các sự việc chính của văn bản đó
Câu 2: Hãy giải thích nghĩa và cho biết nguồn gốc của các từ: Sơn Tinh, Thủy Tinh, bạch
hổ
Câu 3: Từ “râu ria” trong câu “Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì” thuộc loại từ nào theo
cấu tạo? Hãy giải thích lựa chọn của em?
Câu 4: Xác định thành phần câu trong các câu sau:
- Sơn Tinh, Thủy Tinh lòng tơ vương
- Sơn Tinh có một mắt ở trán
- Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì
- Một thần phi bạch hổ trên cạn
- Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi
Hướng dẫn làm bài:
Câu 1
-Văn bản: Sơn Tinh Thủy Tinh
- Thể loại: Truyền thuyết
- Các sự việc chính:
(1) Vua Hùng kén rể
(2) Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn
(3) Vua Hùng ra điều kiện kén rể
(4) Sơn Tinh đến trước, được vợ
(5) Thủy Tinh đến sau, tức giận, dâng nước đánh Sơn Tinh
(6) Hai bên giao chiến hàng tháng trời, cuối cùng Thủy Tinh thua, rút về
(7) Hằng năm Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh, nhưng đều thua
Câu 2
- Sơn Tinh: thần núi Thủy Tinh: thần nước bạch hổ: hổ trắng
- Nguồn gốc: Từ mượn tiếng Hán
Trang 11Sơn Tinh, Thủy Tinh CN/lòng tơ vương VN
Sơn Tinh CN /có một mắt ở trán VN
Thủy Tinh CN /râu ria quăn xanh rì VN
Một thần CN / phi bạch hổ trên cạn VN
Một thần CN / cưỡi lưng rồng uy nghi VN
Bài tập 2 Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
"Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi Người ta gọi chàng là Sơn Tinh Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về Người ta gọi chàng là Thủy Tinh Một người là chúa vùng non cao, một người là chúa vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng Vua Hùng băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai, bèn cho mời các Lạc hầu vào bàn bạc Xong vua phán:
- Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Thôi thì ngày mai, ai đem sính lễ đến trước, ta sẽ cho cưới con gái ta.
Câu 1: Đoạn văn trên trích ở tác phẩm nào? Thuộc thể loại gì? Nêu khái niệm về thể loại
đó
Câu 2: Nhân vật chính trong văn bản chứa đoạn văn trên là những ai? Tìm những chi tiết
giới thiệu về các nhân vật đó?
Câu 3: Giải thích nghĩa của từ "băn khoăn" ?
Câu 4: Tìm các từ láy có trong đoạn văn trên?
Câu 5: Hãy viết đoạn văn ( 5- 7 câu) trình bày ý nghĩa biểu tượng của những nhân vật chính em vừa tìm được trong đoạn văn.
Hướng dẫn làm bài:
Câu 1
-Văn bản: Sơn Tinh Thủy Tinh
- Thể loại: Truyền thuyết
- Khái niệm:
+ Truyền thuyết (TT) là loại truyện dân gian truyền miệng kể về các nhân vật và sự kiện
có liên quan đến lịch sử thời quá khứ
+Thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo
+ Thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với nhân vật và sự kiện được kể
Câu 2
Nhân vật chính trong văn bản chứa đoạn văn trên là: Sơn Tinh, Thủy Tinh
Những chi tiết giới thiệu về các nhân vật đó:
+ Sơn Tinh: ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi.
+ Thủy Tinh: ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về
Câu 3
- Từ băn khoăn: không yên lòng vì đang có điều phải suy nghĩ, cân nhắc.
Trang 12- Giải thích bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị
Câu 4
- Từ láy: Băn khoăn, bàn bạc
Câu 5:
HS trình bày hình thức đoạn văn, có câu chủ đề
Hướng dẫn làm bài Xác định vấn đề: Ý nghĩa của nhân vật chính tức là ý nghĩa của nhânvật Sơn Tinh và Thủy Tinh
Câu mở đoạn: Trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh, hai nhân vật Sơn Tinh và Thủy
Tinh mang nhiều ý nghĩa tượng trưng sâu sắc
Kết đoạn:Sơn Tinh, Thủy Tinh là những nhân vật hoang đường, không có thật, thể hiện
trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân ta Qua đó, ta có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn của nhândân lao động, những quan niệm về con người, về thiên nhiên của cha ông ta từ cách đâyhàng mấy nghìn năm
Bài tập 3 Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
"Thủy Tinh đến sau không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đòi cướp Mị Nương Thần hô mưa, gọi gió làm thành giông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước”.
(Ngữ Văn 6, tập 2, trang 32)
Câu 1: Đoạn văn trích trong văn bản nào? Văn bản đó thuộc thể loại nào của văn học
dân gian? Hãy kể tên các văn bản thuộc thể loại đó mà em đã học
Câu 2: Nhân vật chính trong văn bản là ai? Nêu ý nghĩa tượng trưng của các nhân vật đó? Câu 3: Tìm các từ láy có trong đoạn văn?
Câu 4: Đoạn văn trên là sự kết hợp hai phương thức biểu đạt Đó là hai phương thức
-Văn bản: Sơn Tinh Thủy Tinh
- Thể loại: Truyền thuyết
- Các văn bản thuộc thể loại đó: Bánh chưng bánh giầy, Thánh Gióng, Sự tích Hồ Gươm
Câu 2
- Nhân vật chính: Sơn Tinh và Thủy Tinh
- Thủy Tinh: chính là hiện tượng lũ lụt ghê gớm hằng năm,
Trang 13- Sơn Tinh chính là lực lượng cư dân Việt cổ đắp đê chống lũ lụt, là mơ ước chinh phục,chế ngự thiên tai của nhân dân ta.người
Câu 3
- Từ láy: đùng đùng, cuồn cuộn, lềnh bềnh
Câu 4: Hai phương thức biểu đạt: Tự sự và miêu tả
Câu 5:
HS trình bày hình thức đoạn văn, có câu chủ đề
Hướng dẫn làm bài Xác định yêu cầu: Trình bày giá trị nội dung – nghệ thuật văn bảnSơn Tinh Thủy Tinh
Câu mở đoạn:Sơn Tinh Thủy Tinh là truyền thuyết mang giá trị nội dung, nghệ thuật sâu
sắc
Thân đoạn:
Về giá trị nội dung: Sơn Tinh Thủy Tinh là câu chuyện tưởng tượng kì ảo, truyện tái hiện
thành công cuộc kén rể của vua Hùng và cuộc giao tranh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh,qua đó
+ Giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm xảy ra ở vùng châu thổ đồng bằng Bắc Bộ ViệtNam thưở các vua Hùng dựng nước
+ Truyện thể hiện khát vọng chế ngự thiên tai lũ lụt, bảo vệ cuộc sống của cư dân Việt cổở đây
+ Truyện cũng nhằm suy tôn, ca ngợi công lao của các vua Hùng trong công cuộc dựngnước đầy khó khăn, gian khổ
Về giá trị nghệ thuật: Truyện sử dụng nhiều yếu tố tưởng tượng kì ảođể xây dựng nhân
vật, khiến nhân vật có tầm vóc lớn lao, làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện, tạo tìnhhuống hấp dẫn và có nhiều chi tiết liên quan đến lịch sử thời quá khứ
Kết đoạn:Với giá trị sâu sắc ấy, STTT là truyền thuyết hấp dẫn nhiều thế hệ
Bài tập 4 Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
Sơn Tinh không hề nao núng Thần dùng phép lạ bốc dời từng quả đồi, dời từng quả núi, dựng thành lũy đất ngăn chặn dòng nước lũ Nước sông dâng cao lên bao nhiêu, đồi núi cao lên bấy nhiêu Hai bên đánh nhau ròng rã suốt mấy tháng trời, cuối cùng Sơn Tinh vẫn vững vàng mà sức Thủy Tinh đã kiệt Thần Nước đành rút quân.
Câu 1: Đoạn văn trích trong văn bản nào? Văn bản đó thuộc thể loại nào của văn học
dân gian?
Câu 2: Phương thức biểu đạt trong văn bản là gì? Xác định ngôi kể của đoạn văn trên.
Câu 3: Từ nao núng thuộc kiểu từ nào theo cấu tạo và có ý nghĩa là gì?
Câu 4: Từ nội dung đoạn trích trên, em cảm nhận Sơn Tinh là người như thế nào?
Câu 5: Viết một đoạn văn trình bày ý nghĩa của văn bản em vừa xác định được trong
đoạn văn trên
Hướng dẫn làm bài:
Trang 14Câu 1
-Văn bản: Sơn Tinh Thủy Tinh
- Thể loại: Truyền thuyết
Câu 2
- PTBĐ chính: Tự sự kết hợp miêu tả
- Ngôi kể: ngôi thứ ba
Câu 3
- Từ nao núng thuộc từ láy
- Nao núng: bắt đầu thấy lung lay, không còn vững vàng tinh thần nữa
HS trình bày hình thức đoạn văn, có câu chủ đề
Hướng dẫn làm bài Xác định yêu cầu: Ý nghĩa văn bản STTT
Câu mở đoạn: Sơn Tinh Thủy Tinh là truyền thuyết mang ý nghĩa sâu sắc
“Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây phía tây mọc lên từng dãy núi đồi Người ta gọi chàng là Sơn Tinh Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió gió đến; hô mưa mưa về Người ta gọi chàng là Thủy Tinh Một người là
Trang 15chúa vùng non cao, một người là chúa vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng ”
(Ngữ văn 6 - Tập 2, tr.31 NXB
giáo dục Việt Nam năm 2017)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Thể loại của văn bản là gì?
Câu 2 Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt chính nào?
Câu 3 Em hãy giải nghĩa từ “cầu hôn”?
Câu 4 Xác định chủ ngữ và vị ngữ của câu văn sau: Người ta gọi chàng là Sơn Tinh Câu 5 Nêu ý nghĩa tượng trưng của hai nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh?
Hướng dẫn làm bài:
Câu 1
- Đoạn văn trên trích từ văn bản: Sơn Tinh, Thủy Tinh
- Thể loại của văn bản: truyền thuyết
- Có thể viết đoạn văn theo gợi ý sau:
Hội thi thể thao trong nhà trường phổ thông mang tên Hội khỏe Phù Đổng vì:
- Đây là hội thi thể thao dành cho lứa tuổi thiếu niên , học sinh – lứa tuổi của Gióng trongthời đại mới
- Mục đích của hội thi là khỏe để học tập tốt, lao động tốt, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ
và xây dựng đất nước
- Hình ảnh Thánh Gióng là hình ảnh của sức mạnh, của tinh thần chiến thắng rất phù hợpvới ý nghĩa của một hội thi thể thao
Trang 16Bài tập 6
Cho đoạn văn sau:
“Sơn Tinh không hề nao núng Thần dùng phép lạ bốc từng quả đồi dời từng dãy núi Nước sông dâng cao bao nhiêu đồi núi dâng cao bấy nhiêu Cuối cùng Sơn Tinh vẫn vững vàng mà sức Thủy Tinh đã cạn kiệt Thủy Tinh đành rút quân về.”
(Sơn Tinh Thủy Tinh, sgk Ngữ văn 6 )
a) Phương thức biểu đạt của đoạn trích là gì?
b) Em hiểu thế nào là “không hề nao núng”?
c) Tìm hai câu ca dao, tục ngữ có nội dung tương tự như phần em giải thích ở câu b?d) Từ chiến thắng của Sơn Tinh, hãy nêu cách giải quyết của em khi gặp phải thử tháchbất ngờ trong cuộc sống, chia sẻ bằng 4-5 câu văn
Hướng dẫn làm bài:
a) Phương thức biểu đạt: Tự sự
b) Không hề nao núng: không lung lay, luôn vững lòng tin vào bản thân
c) Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
- Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
- Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai
d) Học sinh trả lời đảm bảo:
*) Hình thức: Đủ 4-5 câu văn hoàn chỉnh
- Ôn lại kiến thức cơ bản theo chuyên đề
- Hoàn thiện các bài tập
- Chuẩn bị chuyên đề: Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện
Trang 17Ngày soạn: 5/2/2023
VIẾT BÀI VĂN THUYẾT MINH THUẬT LẠI MỘT SỰ KIỆN
A MỤC TIÊU
- Củng cố, khắc sâu kiến thức về kiểu bài thuyết minh thuật lại một sự kiện
- Biết thuyết minh một sự kiện (một sinh hoạt văn hóa) ở ngôi thứ nhất
- Bước đầu biết viết văn bản thông tin thuật lại một sự kiện (một sinh hoạt văn hoá) đãtừng tham gia, từng được chứng kiến hoặc được đọc, xem, nghe qua sách báo, truyềnhình, truyền thanh
- Biết tập trung vào diễn biến sự việc đã xảy ra
B TỔ CHỨC:
C NỘI DUNG
I/ Tìm hiểu chung về bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện:
1.Thuyết minh: là phương thức giới thiệu những tri thức khách quan, xác thực và hữu
ích về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân…của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xãhội
2 Thuyết minh thuật lại một sự kiện: là kiểu bài người viết dùng lời văn để thuật lại
một sự kiện theo đúng diễn biến trong thực tế nhằm giúp người đọc, người nghe nắmđược diễn biến của một sự kiện và những thông tin liên quan đến sự kiện này
3 Các nội dung thuyết minh thuật lại một sự kiện:
Trang 18-Thuyết minh thuật lại một sự kiện lịch sử: Ngày 2/9, 30/4, Giỗ tổ Hùng Vương.
- Thuyết minh thuật lại một sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch: Hội khỏe Phù Đổng,…
- Thuyết minh thuật lại một lễ hội dân gian: Lễ hội Đền Hùng, lễ hội làng Gióng, hộiChùa Hương, hội Cầu ngư,…
- Thuyết minh thuật lại một sự kiện trong cuộc sống: Lễ khai giảng năm học mới, lễ chào
cờ, sinh hoạt lớp, tổng kết năm học,…
4 Các dạng đề thuyết minh thuật lại một sự kiện:
a Dạng cụ thể (đóng): là dạng đề đã nêu cụ thể yêu cầu, sự kiện và phạm vi cần thuyết
minh
Ví dụ: Thuyết minh buổi lễ tổng kết ở trường em.
b Dạng đề mở: là dạng đề không cụ thể về sự kiện cần thuyết minh mà chỉ nêu yêu cầu
thuyết minh
Ví dụ: Hãy thuyết minh về một sự kiện đã để lại ấn tượng trong em mà em được tham gia
hoặc chứng kiến (Dạng đề này tùy người viết lựa chọn sự kiện.)
II/ Cách làm bài thuyết minh thuật lại một sự kiện
a Lựa chọn đề tài:
-Sự kiện mà em tham gia, chứng kiến hoặc tìm hiểu qua các phương tiện thông tin.
b Lập dàn ý:
* Mở bài: Giới thiệu sự kiện em muốn thuyết minh.
Sự kiện đó có tên là gì? Được tổ chức nhân dịp gì?
Sự kiện đó được tổ chức ở đâu? Vào thời gian nào? Ấn tượng cảm xúc của em?
* Thân bài: Thuật lại diễn biến của sự kiện theo trình tự thời gian:
- Trước khi bắt đầu sự kiện( Khâu chuẩn bị)
Nơi diễn ra sự kiện được trang trí như thế nào? Có gì đặc biệt khác với thườngngày?
Những người đến tham dự sự kiện gồm những ai? Họ mặc trang phục như thếnào? Thái độ khi đến dự sự kiện ra sao?
Các khâu chuẩn bị cho sự kiện đến lúc này đã hoàn tất chưa? Có được kiểm tralại khâu nào hay không?
- Quá trình diễn ra sự kiện:
Sự kiện diễn ra với các hoạt động nào? Đâu là hoạt động chính và được mọingười mong chờ nhất?
Các sự kiện diễn ra lần lượt ra sao? Với sự dẫn dắt và tham gia của những ai?
Thái độ, cảm xúc của những người đến dự sự kiện như thế nào?
Bầu không khí của sự kiện ra sao?
Bản thân em đặc biệt cảm thấy ấn tượng nhất với điều gì của sự kiện? (trang trí,hoạt động, âm nhạc, ánh sáng, khách mời, quy mô…)
c Kết bài:
Suy nghĩ, đánh giá của em dành cho sự kiện và ý nghĩa của sự kiện đó
Trang 19III Bài tập
Bài 1: Thuyết minh về sự kiện: Lễ hội Đền Hùng
Dàn ý
1/Mở bài: Giới thiệu lễ hội Đền Hùng diễn ra vào 10/3 âm lịch hằng năm tại Phú Thọ.
MẪU THAM KHẢO
Cứ hàng năm, những người con dân tộc Việt luôn hướng về quê hương Phú Thọthân yêu dịp 10/3 âm lịch để tưởng nhớ công ơn của các vua Hùng đã có công to lớn trongviệc dựng nước và giữ nước từ hàng nghìn năm trước Đây cũng là dịp để con cháu ViệtNam thể hiện lòng biết ơn nguồn cội của mình
2/Thân bài:
*Nguồn gốc lịch sử:
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm tạiĐền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ Trước đó hàng tuần, lễ hội đã diễn ra với nhiều hoạt độngvăn hoá dân gian ở nhiều địa phương và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với Lễ rướckiệu và dâng hương tại Đền Thượng
-Lễ hội Đền Hùng đã có từ lâu đời Ngay từ thời Đinh, Lý, Tiền Lê, thời Trần thì nhândân khắp cả nước đều tụ hội về đây lễ bái gửi lòng cảm tạ thành kính đến công ơn củamười tám đời vua Hùng đã có công dựng nước, giữ nước Lễ hội ấy được giữ gìn cho đếnngày nay và trở thành một nét đặc sắc trong văn hóa dân tộc Năm 2007, Nhà nước đãquyết định lấy ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn - QUỐC Lễ: Giỗ TổHùng vương
*Đặc điểm, diễn biến của lễ hội:
- Dù diễn ra trong phạm vi lớn hay nhỏ thì, lễ hội đền Hùng vẫn được tổ chức rất trangtrọng.Phần lễ diễn ra vô cùng long trọng và linh đình, tín ngưỡng thờ cúng vua Hùngchính thức được UNESCO công nhận là "Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại"vào năm 2002 đã chứng minh cho sức sống lâu bền và giá trị độc đáo của lễ hội này.Nhiều địa phương trên cả nước như Đà Nẵng, Hà Nội, đã tổ chức lễ hội này như một nétđẹp để giáo dục con cháu mai sau không quên đi nguồn cội dân tộc và cố gắng học tậpdựng xây đất nước để đến đáp công lao dựng nước của ông cha
- Phần lễ diễn ra vào đúng 10/3 gồm lễ rước kiệu và lễ dâng hương Lễ hội rước kiệu vừađược diễn ra trong không khí đầy long trọng với những cờ, lộng, hoa đầy màu sắc Tronglàng, ai ai cũng phấn khởi và sắm cho mình bộ trang phục truyền thống để tham dự phần
lễ Đoàn đại biểu cùng dân làng tập trung tại một địa điểm rước tới chân núi Hùng Đoànđại biểu đi sau kiệu lễ, kiệu lễ được chuẩn bị chu đáo từ trước Chặng đường rước kiệu lênđền có tiếng nhạc phường bát âm, có đội múa sinh tiền tạo nên vẻ trang trọng của một
nghi lễ dân tộc Sau khi tới đền, đoàn người kính cẩn dâng lễ vào thượng cung, mọi việc
đều tiến hành rất cẩn thận, chi tiết và nhanh chóng Sau đó, đại biểu đại diện bộ Văn hóa
Trang 20thay mặt cho lãnh đạo tỉnh và nhân dân cả nước trịnh trọng đọc chúc căn lễ tổ, mọi người
ai nấy đều chăm chú lắng nghe trong nỗi niềm đầy xúc động và thành kính Tất cả đềuthành tâm dâng lễ với ước nguyện mong tổ tiên phù hộ cho con cháu
- Tiếp đến là lễ dâng hương, mỗi người con đến với vùng đất này đều mong muốn thắplên đền thờ nén nhang thành kính, nhờ hương khói nói hộ tâm nguyện của lòng mình với
tổ tiên Mỗi tấc đất, ngọn cỏ, gốc cây nơi đây đều được coi là linh thiêng Với nhữngngười ở xa không về được hoặc không có điều kiện đến đây, tới ngày này họ vẫn dànhthời gian để đi lễ chùa thắp nén hương tưởng nhớ nguồn cội, đâu đâu cũng đông đúc, náonhiệt và tưng bừng
- Xong phần lễ là đến phần hội, nếu lễ mang sự trang nghiêm thì phần hội mang đến nétvui vẻ, thoải mái cho mỗi người Ở phần hội, nhiều trò chơi dân gian được diễn ra nhưchọi gà, đu quay, đấu vật hay đánh cờ tướng, thu hút mọi người tham gia, các đội chơi aicũng mong phần thắng mang về danh dự cho quê mình Đặc biệt, không thể thiếu đượctrong dịp lễ này là các hình thức dân ca diễn xướng, hát quan họ, hát Xoan, hát Ghẹo…được diễn ra bằng hình thức thi tài giữa các làng, các thôn nhằm giao lưu văn hóa, vănnghệ, hấp dẫn mang đậm dấu ấn vùng đất Phú Thọ
Giữa trung tâm lễ hội được trưng bày khu bảo tàng Hùng Vương lưu giữ những divật cổ của thời đại các vua Hùng xưa, tạo điều kiện cho những người đến thăm quan tìmhiểu, chụp ảnh lưu niệm Ngoài ra, trong khu vực diễn ra lễ hội, nhiều mặt hàng lưu niệmđược bày bán cho du khách mua làm quà kỉ niệm, các dịch vụ văn hóa phẩm hay ăn uốngvới những món ăn truyền thống và hiện đại cũng được tổ chức linh hoạt
*Ý nghĩa của lễ hội Đền Hùng:
- Giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn
- Quảng bá ra thế giới một di sản văn hóa vô cùng giá trị , độc đáo đã tồn tại hàng nghìnnăm của người Việt
- Là ngày để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ghi nhớ lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
“ Các Vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
3/ Kết bài
Lễ hội đền Hùng là một lễ hội lớn, là một trong những nét đẹp truyền thống của dântộc ta Chúng ta- những thế hệ sau phải có trách nhiệm gìn giữ nét đẹp truyền thống này,gìn giữ cội nguồn của chúng ta
Bài 2: Lập dàn ý cho đề văn sau:
Thuyết minh thuật lại một sự kiện tổ chức lễ khai giảng ở trường em
Dàn ý
Trang 21a Mở bài: Giới thiệu sự kiện diễn ra ở trường mà em muốn thuật lại (lễ khai giảng, lễ
tổng kết, văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam, hội thi thể thao…)
b Thân bài: Thuyết minh thuật lại sự kiện ở trường em theo trình tự thời gian:
- Chuẩn bị cho sự kiện:
+ Trang trí sân khấu (rèm, tượng bác hồ, bàn ghế, bình hoa…)
+ Tập luyện các tiết mục văn nghệ, thể thao (theo lớp, theo trường…)
+ Tập dượt trước buổi lễ (dẫn chương trình, di chuyển…)
+ Dọn dẹp khuôn viên trường, lớp học, treo cờ, hoa…
- Diễn ra sự kiện:
+ Thời gian diễn ra khi nào?
+ Gồm có những ai tham gia sự kiện này? (học sinh, giáo viên, nhân viên trườnghọc, phụ huynh, cựu học sinh, giáo viên đã về hưu, người dân xung quanh, đoànthanh niên, đại diện chính quyền địa phương…)
+ Sự kiện gồm các hoạt động nào? Do ai thực hiện? (giới thiệu, chào cờ, vănnghệ, thi đấu, trao thưởng…)
+ Bầu không khí khi diễn ra sự kiện như thế nào? (vui nhộn, náo nhiệt, trangtrọng, ấm áp…)
+ Thái độ, cảm xúc của mọi người ra sao? (vui vẻ, xúc động, hân hoan…)
- Kết thúc sự kiện:
+ Mọi người làm gì sau khi kết thúc sự kiện?
+ Dọn dẹp hội trường, trả lại sự bình yên vốn có cho khuôn viên trường
c Kết bài: Suy nghĩ, tình cảm của em dành cho sự kiện đó.
Tham khảo: GV tổ chức cho HS đọc tham khảo-> phân tích đặc điểm của bài viết)
Đề 1:Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện ở trường em.
lễ khai giảng nữa Nào là sẽ tiến vào từ phía nào, vẫy tay ra sao Tất cả khiến chúng emthêm xao động và mong chờ nhanh nhanh đến ngày diễn ra buổi lễ
Và rồi, trong sự mong chờ ngóng đợi của em cùng các bạn, ngày diễn ra lễ khaigiảng đã đến Từ 7h chúng em đã có mặt đông đủ Sân trường hôm nay khác lạ lắm.Những chiếc cờ và bóng bay được treo khắp nơi Các thầy cô đều mặc áo dài và vest thậtđẹp Rất nhiều các thầy cô giáo cũ, các anh chị cựu học sinh, các cô chú phụ huynh cũngđến để tham gia buổi lễ Bầu không khí hân hoan, rộn ràng náo nhiệt lạ lùng
Hoạt động đầu tiên diễn ra trong buổi lễ khai giảng là lễ diễu hành đón HS vào lớp
6 Từng lớp đi qua khán đài được các thầy cô nêu lên những thành tích nổi bật của nămqua, đặc biệt là chào đón những học sinh lớp 6 chúng tôi bước vào năm học đầu tiên củatrường THCS Sau lễ diễu hành, nghi lễ chào cờ diễn ra thật trang nghiêm Tiếp theo, một
Trang 22thầy giáo trong BGH nhà trường làm công tác tổ chức lên tuyên bố lí do, giới thiệu đạibiểu Tiếp sau đó là phần đọc thư của Chủ tịch nước nhân ngày khai giảng năm học mới.Những lá thư như vậy tôi nghe đã nhiều lần trong mỗi lễ khai giảng trước đây khi cònngồi trên ghế nhà trường nhưng có lẽ hôm nay là lần đầu tiên tôi cảm thấy xúc động đếnvậy Giây phút xúc động nhất của tôi là khi nghe thầy giáo hiệu trưởng nhà trường đọcdiễn văn khai giảng, phát động thi đua chào mừng năm học mới và đánh trống khaitrường Chiếc trống được đặt trên sân khấu hôm nay thật đẹp, màu nâu gụ bóng loáng,được trang trí hoa văn đẹp mắt, đặc biệt là mặt trống Dùi trống lại được làm điệu bằngchiếc khăn đỏ quấn quanh núm Tiếng trống vang lên, tâm hồn tôi như được bay bổng hòacùng nhịp vỗ tay của hàng trăm học sinh theo nhịp trống Tôi có thể thấy rõ sự xúc độngtrong giây phút này, cũng giống như tôi Tiếng trống ấy rồi sẽ theo chúng tôi đi suốt cuộcđời Tiếng trống âm vang mà trầm ấm bay lên những ngọn cây, luồn trong những làn gió,vắt vẻo trên những đám mây của bầu trời thu tháng chín Tôi chợt nghĩ tiếng trống khaitrường có thể đại diện cho mùa thu Việt Nam lắm chứ, hay ít ra là mùa thu đối với riêngtôi và các bạn học sinh.
Phần cuối cùng trong buổi lễ, cũng là phần thu hút được sự quan tâm nhiều nhất củahọc sinh trong trường là văn nghệ chào mừng Chương trình văn nghệ gồm năm tiết mụcvới đủ thể loại: hát, múa, thể dục nhịp điệu vô cùng đặc sắc Tôi xem các màn biểu diễn
mà không khỏi trầm trồ thán phục trước tài năng của các học sinh trường mình Toàn bộhọc sinh và các thầy cô cũng như các vị đại biểu đều không rời mắt khỏi sân khấu trướccác tiết mục rất hấp dẫn này …Nhiều người bày tỏ niềm tin tưởng vào sự giáo dục toàndiện nhà trường dành cho các em học sinh
Đối với tôi, đây là lễ khai giảng mà tôi nhớ nhất vì tôi đã bước sang một trang mớicủa cuộc đời, trưởng thành hơn, yêu trường yêu lớp hơn nữa Tôi tự hứa với lòng mình sẽ
cố gắng chăm ngoan, học giỏi để không phụ công lao dạy dỗ của thầy cô và sự kì vọngcủa cha mẹ…
Đề 2: Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện ở trường em.
(Lễ kỉ niệm Ngày nhà giáo Việt nam 20/11)
Ngày Nhà giáo Việt Nam - 20 tháng 11 là một dịp lễ lớn thầy cô giáo Và em vẫncòn nhớ mãi về buổi lễ kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên dưới mái trường Trunghọc cơ sở
Để chuẩn bị cho sự kiện này, học sinh chúng em đều bắt đầu tiến hành từ đầu tháng
11 Đó là những buổi tập văn nghệ năng nổ để có tiết mục thật hay biểu diễn trong sựkiện Là những buổi tụ tập làm báo tường, trang trí lớp học Là những giờ học hăng say để
có những bông hoa điểm 9, điểm 10 tặng thầy cô
Đến sáng 20/ 11, sự kiện sẽ chính thức diễn ra trong sự hân hoan của cả trường.Những cờ hoa biểu ngữ được giăng khắp từ cổng vào đến sân trường, lên cả sân khấuchương trình Nhìn quanh trường, ngoài những thầy cô, bạn học sinh quen thuộc, em cònthấy cả những gương mặt lạ lẫm Đó là các cựu học sinh của trường trở về thăm thầy côcủa mình
Trang 23Ngày hôm đó, ngôi trường cấp hai của em dường như khác hẳn so với mọi khi Sântrường rất sạch sẽ, khắp nơi cờ hoa rực rỡ Những hàng ghế được xếp ngay ngắn cùng vớibiển hiệu lớp Ở phía trên khu vực sân khấu treo một tấm băng rôn màu xanh Dòng chữmàu trắng nằm ở chính giữa vô cùng nổi bật “LỄ KỈ NIỆM NGÀY NHÀ GIÁO VIỆTNAM 20 - 11” Phía bên dưới là tên trường “THCS….” Hai bên sân khấu cũng được treonhững lá cờ đỏ thắm Thầy cô đều ăn mặc rất trang trọng Các thầy mặc đồng phục vest.Còn các cô giáo thì mặc áo dài truyền thống, HS thì mặc đồng phục của trường.
Buổi lễ mít tinh được bắt đầu vào đúng bảy giờ ba mươi phút Một hồi trống giòngiã thay cho lời yêu cầu học sinh ổn định chỗ ngồi Những tiết mục văn nghệ do các anhchị học sinh trình bày đã mở đầu cho buổi lễ Những bài hát như “Bụi phận”, “Ngườithầy” vang lên gợi niềm xúc động dạt dào Sau đó, thầy hiệu trưởng đã lên đọc diễn văn
kỉ niệm ngày Hiến chương các nhà giáo, gửi lời tri ân đến các thầy cô Tiếp đến, là màntặng hoa chúc mừng của các vị đại biểu đến dự; đại diện cho học sinh toàn đã lên phátbiểu cảm xúc và gửi lời cảm ơn đến toàn bộ cán bộ, nhân viên và thầy cô giáo trongtrường Sau lời phát biểu là những tràng pháo tay vang lên giòn giã Ấn tượng nhất làphần trao thưởng cho các thầy cô, học sinh, tập thể lớp đã có thành tích xuất sắc trongcông tác dạy học và trong phong trào thi đu chào mừng kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam
Sau phần lễ là phần hội Đó là chương trình văn nghệ đặc sắc của các bạn học sinhtrong trường biểu diễn Ấn tượng nhất là tiết mục…
Buổi lễ kết thúc trong niềm hân hoan, phấn khởi của thầy và trò Nhiều học sinh cũ
về thăm lại thầy cô - những người có công ơn dạy dỗ họ nên người Tình yêu thương, sựkính trọng và niềm xúc động hiện diện trên khuôn mặt của cả thầy và trò Nhà Nhà giáoViệt Nam cũng là dịp để các bậc phụ huynh gửi lời tri ân đến những người đã dạy dỗ concái của họ nên người Sau buổi lễ, chúng em đã đến gặp và gửi tặng thầy cô những bó hoatươi thắm
Một ngày lễ thật ý nghĩa để tôn vinh thầy cô - những người lái đò thầm lặng đã đưabiết bao chuyến đò cập bến thành công…
1/Thuyết minh về ngày Tết cổ truyền (Tết Nguyên Đán) của dân tộc
2/ Thuyết minh về Đêm hội trăng rằm ở địa
Ngày soạn: 10/2/2023
ÔN LUYỆN: THẾ GIỚI CỔ TÍCH
A MỤC TIÊU
- Củng cố lại cho HS kiến thức về thể loại truyện cổ tích
- HS phát triển được năng lực nhận diện các đặc điểm của thể loại cổ tích: Kiểu nhân vật, chủ đề, hiểu được các ý nghĩa các chi tiết kì ảo
- Hình thành phẩm chất nhân ái, chăm chỉ, đoàn kết, dũng cảm…
Trang 24Truyện cổ tích là loại truyện dân gian có nhiều yếu tố hư cấu, kì ảo, kể về số phận
và cuộc đời của nhân vật trong các mối quan hệ xã hội Truyện cổ tích thể hiện cái nhìn vềhiện thực, bộc lộ quan niệm đạo đức, lẽ công bằng và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹphơn của người lao động xưa
2 Một số yếu tố của truyện cổ tích( Tri thức Ngữ văn SGK Tr25)
- Truyện cổ tích thường kể về những xung đột trong gia đình, xã hội, phản ánh số phậncủa các cá nhân và thể hiện ước mơ đổi thay số phận của chính họ
- Nhân vật trong truyện cổ tích đại diện cho các kiểu người khác nhau trong xã hội,thường được chia làm hai tuyến: chính diện (tốt, thiện) và phản diện (xấu, ác)
- Các chi tiết, sự việc thường có tính chất hoang đường, kì ảo
- Truyện được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, thể hiện rõ quan hệ nhân quả giữa các
sự kiện
- Lời kể trong truyện cổ tích thường mở đầu bằng những từ ngữ chỉ không gian, thời giankhông xác định Tuỳ thuộc vào bối cảnh, người kể chuyện có thể thay đồi một số chi tiếttrong lời kể, tạo ra nhiều bản kể khác nhau ở cùng một cốt truyện
II Bài tập
BT 1 So sánh truyện truyền thuyết và truyện cổ tích:
- Giống nhau :
+ Đều là truyện dân gian
+ Đều có yếu tố hoang đường, kì ảo
- Khác nhau:
- Truyền thuyết kể về các nhân vật và sự
kiện có liên quan đến lịch sử
- Sử dụng yếu tố kì ảo nhằm mục đích
thiêng liêng hoá nhân vật, sự kiện
-Cổ tích kể về số phận và cuộc đời của một
số kiểu nhân vật trong các mối quan hệ xãhội
- Sử dụng yếu tố hoang đường để gửi gắmước mơ công lí
Trang 25Bài tập 1 Tóm tắt hai VB: Thạch Sanh, cây khế.
GV hướng dẫn và kiểm tra HS.
Cần đảm bảo các sự việc chính sau:
VB: THẠCH SANH
- Thạch Sanh sống lủi thủi một mình dưới gốc đa
- Thạch Sanh kết nghĩa anh em với Lí Thông
- Lí Thông lừa đi canh miếu thờ thế mạng
- TS giết chằn tinh chặt đầu đem về, lại bị Lí Thông lừa
- Lí Thông cướp công TS, được vua ban thưởng phong cho làm quận công
- TS trở về gốc đa sống bằng nghề kiếm củi
- Công chúa bị đại bàng bắt đi, vua sai LT đi tìm LT nhờ Thạch Sanh giúp đỡ
- TS xuống hang giết đại bàng cứu công chúa, bị Lí Thông lấp kín cửa hang
- TS cứu Thái Tử con vua Thủy Tề, được thưởng cây đàn thần
- Hồn Chằn Tinh và Đại Bàng lập mưu hãm hại, TS bị bắt vào ngục
- Chàng gảy đàn, tiếng đàn chữa khỏi bệnh câm cho công chúa Thạch Sanh được giảioan
- TS tha tội cho mẹ con LT nhưng chúng đã bị sét đánh chết
- TS cưới công chúa, hoàng tử các nước chư hầu kéo quân tiến đánh, TS đem đàn ra gảy,quân lính các hoàng tử cởi giáp xin hàng
- TS mời cơm quân sĩ 18 nước chư hầu, niêu cơm tí xíu mà ăn mãi không hết
- Vua nhường ngôi cho TS
VB: CÂY KHẾ
- Cha mẹ chết, người anh chia gia tài, người em chỉ được cây khế
- Cây khế có quả, chim đến ăn, người em phàn nàn và chim hẹn trả ơn bằng vàng
- Chim chở người em bay ra đảo lấy vàng, nhờ thế người em trở nên giàu có
- Người anh biết chuyện, đổi gia tài của mình lấy cây khế, người em bằng lòng
- Chim lại đến ăn, mọi chuyện diễn ra như cũ, nhưng người anh may túi quá to và lấyquá nhiều vàng
- Người anh bị rơi xuống biển và chết
Bài tập 2: Khái quát giá trị nội dung- nghệ thuật của VB “Thạch Sanh”; “ Cây khế”
Gợi ý:
VB “Thạch Sanh
* GT Nội dung: Thạch Sanh là truyện cổ tích về người dũng sĩ diệt trăn tinh, đại bàng cứu
người bị nạn Truyện thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về công lý xã hội, sự chiến
thắng cuối cùng của những con người chính nghĩa lương thiện
* Nghệ thuật
- Chi tiết tưởng tượng kì ảo
Trang 26- Sắp xếp các tình tiết tự nhiên, khéo léo.
- Sử dụng chi tiết thần kì
- Giải câm cho công chúa
- Giải oan cho Thạch Sanh
- Vạch mặt Lí Thông – kẻ nham hiểm, bất nhân
- Cảm hoá quân mười tám nước chư hầu
=>Tiếng đàn Thạch Sanh tượng trưng cho công lí, thể hiện niềm yêu chuộng hoà bình của nhân dân ta.
- Một số chi tiết kì ảo gắn với nhân vật Sọ Dừa:
+ Bà mẹ, do uống nước mưa trong cái sọ dừa mà có mang, đẻ ra một cục thịt đỏ hỏn, chỉ
có mắt mũi, không có mình mẩy, tay chân
+ Sọ Dừa thường lăn sau đàn bò để đi chăn bò
+ Đi chăn bò, khi vắng người, Sọ Dừa biến thành chàng trai mặt mũi khôi ngô, ngồi võng đào thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ
+ Gia đình vốn nghèo, nhưng chỉ sau một đêm, Sọ Dừa có đầy đủ lễ vật theo yêu cầu của phú ông
Trang 27- Ngoài ra, trong truyện còn có một số chi tiết kì ảo khác: Cô em út bị hai chị đẩy xuống biển, bị cá kình nuốt vào bụng đã dùng dao đâm chết cá, chờ khi cá trôi dạt vào một hòn đảo mới rạch bụng cá chui ra; con gà biết gáy thành tiếng người như một lời thơ để gọi quan trạng;
Câu 2: Cách kết thúc của truyện (chú ý 4 câu cuối cùng) gợi cho em suy nghĩ gì?
Gợi ý:
Truyện cổ tích thường kết thúc có hậu: ở hiền gặp lành, kẻ ác bị trừng phạt Kết thúc truyện “ Sọ Dừa”đã hoàn thành chức năng phần kết của một truyện cổ tích nói chung
Câu 3:Cụm từ dị hình dị dạng được SGK chú thích: hình dạng khác biệt, không bình
thường Ở đây, dị có nghĩa là khác, lạ; hình, dạng là dáng vẻ bề ngoài của đối tượng Từ cách giải thích đó, em hãy suy đoán nghĩa của các từ: dị nhân, dị vật, dị thường.
- dị thường nghĩa là khác thường.
* Bài tập 7 SBT trang 13,14 Ngữ văn 6 tập
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất cao Nước cờ của anh chàng không mấy ai trong thiên hạ địch nổi Bao nhiêu giải cờ trong những hội hè mùa xuân đều về tay anh Tiếng đồn vang khắp nước, sang đến tận Trung Quốc Buổi ấy, ở Trung Quốc có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền xách khăn gói sang Nam tìm đến tận nhà tỉ thí Hai người đọ tài nhau mấy ván liền không phân thua được Nhưng đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí Thấy đối phương vò đầu suy nghĩ, Trương Ba kiêu hãnh bảo:
- Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng đừng có hòng gỡ nổi.
Bấy giờ Đế Thích là thần cờ đang ngồi trên thiên đình, bỗng nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba xúc phạm đến mình, liền cưỡi mây xuống trần định cho y biết tay Trương Ba
và Kỵ Như đang đánh, chợt có một ông cụ già đến ngồi cạnh bàn cờ Ông cụ thủng thỉnh mách cho Kỵ Như mấy nước Phút chốc bên Kỵ Như chuyển bại thành thắng Trương Ba cau có, trong bụng tức giận ông già ở đâu đến làm cho mình lâm vào thế bí Nhưng nhìn thấy ông cụ râu tóc trắng xoá, mặt mũi không có vẻ là người trần, chàng chợt hiểu, liền sụp xuống lạy mà rằng: “Ngài hẳn là thần Đế Thích đây rồi, tôi người trần mắt thịt
Trang 28không biết, xin thứ lỗi" Đế Thích cười bảo: “Ta nghe nhà ngươi tự phụ là cao cờ nên xuống xem cho biết" Trương Ba liền giữ Đế Thích lại mua rượu, giết gà khoản đãi rất chu tất Đế Thích tuy mới gặp cũng rất yêu mến Trương Ba Thấy anh chàng khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo: “Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành Vậy
ta cho một nắm hương này, mỗi lần cần đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống” Nói đoạn, cưỡi mây bay về trời.
(Nguyễn Đổng Chi, Hồn Trương Ba da hàng thịt, trích Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam,
tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr 369)
Câu 1
Những yếu tố nào giúp em biết đoạn trên đây được trích từ bản kể truyện cổ tích?
Gợi ý:
Những yếu tố sau đây giúp ta biết được đoạn trích được lấy từ bản kể một truyện cổ tích:
- Câu mở đầu nói về sự việc xảy ra vào thời quá khứ xa xưa, thời gian không xác định: Ngày xưa
- Sự xuất hiện của những yếu tố có tính chất kì ảo (thần cờ Đế Thích trên thiên đình cưỡi mây xuống trần, Đế Thích cưỡi mây về trời, Đế Thích nghe được lời của người dưới trần gian…)
- Ôn tập lại kiến thức chuyên đề
- Xem lại các bài tập
- Đọc tham khảo các truyện cổ tích
- Làm thêm bài tập ở SBT Ngữ văn 6 t
Trang 29Ngày soạn: 15/2/2023
ÔN LUYỆN VĂN TỰ SỰ: KỂ LẠI MỘT TRUYỀN THUYẾT
A MỤC TIÊU
- Củng cố lại cho HS kiến thức về thể loại truyện truyền thuyết Biết cách kể lại một truyện truyền thuyết
- HS phát triển được năng lực giao tiếp: Kể về một truyền thuyết mình yêu thích
- Hoàn cảnh và sự kiện được kể
- Những đặc điểm chính của nhân vật
- Những truyền thống tốt đẹp của Người Việt được câu chuyện ca ngợi
B TỔ CHỨC:
B NỘI DUNG
Yêu cầu đối với bài văn đóng vai nhân vật, kể lại một truyền thuyết.
Ngôi kể:ngôi thứ nhất Người kể chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện
Nội dung: Có thể sáng tạo nhưng phải đảm bảo cốt truyện, không được thay đổi,biến dạng
Trình tự sắp xếp hợp lí các chi tiết, đảm bảo kết nối giữa các phần
Có thể bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu cảm để tả người, tả vật hay thể hiện cảm xúccủa nhân vật
Dàn bài:
- Mở bài: Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu chuyện định kể
Trang 30- TB: Kể lại diễn biến câu chuyện
- KB: kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện
Đề 1.Trong vai Thánh Gióng, hãy kể lại câu chuyện Thánh Gióng.
Bài tham khảo
Các cháu có biết ta là ai không? Ta chính là Thánh Gióng, người năm xưa đã mộtmình đánh thắng lũ giặc Ân hung ác Bây giờ ta sẽ kể cho các cháu nghe về cuộc đời của
ta lúc bấy giờ nhé!
Các cháu ạ! Ta vốn là sứ thần của Ngọc Hoàng sai xuống giúp đỡ dân làng đánhđuổi quân xâm lược đang nhăm nhe xâm chiếm nước ta Muốn được sống cùng với nhândân, Ngọc Hoàng ra lệnh cho ta đầu thai xuống một gia đình lão nông hiếm muộn đườngcon cái Một ngày đẹp trời ta thấy bà lão phúc hậu ra đồng, ta liền hoá thành một vết chân
to và bà lão đã tò mò ướm thử vậy là ta đầu thai vào bà cụ Khỏi phải nói hai ông bà đã vôcùng mừng rỡ khi chờ mãi, sau mười hai tháng ta mới ra đời Ông bà càng vui hơn khithấy ta rất khôi ngô tuấn tú Hai ông bà chăm sóc yêu thương ta hết lòng, ông bà ngàyngày mong ta khôn lớn như những đứa trẻ khác ấy vậy mà mãi đến tận năm ba tuổi ta vẫnchẳng biết cười, nói, cũng chẳng biết đi Các cụ rất buồn, thấy vậy ta rất thương nhưng vì
sứ mệnh mà Ngọc Hoàng đã trao cho nên ta vẫn phải im lặng
Thế rồi giặc Ân đến xâm lược nước ta, chúng kéo đến đông và mạnh khiến ai ai cũng
lo sợ Nhìn khuôn mặt lo âu của dân làng và cha mẹ, ta biết rằng đã đến lúc ta phải ra taygiúp đỡ họ Một hôm, đang nằm trên giường nghe thấy sứ giả đi qua rao tìm người giỏicứu nước, thấy mẹ đang ngồi buồn rầu lo lắng, ta liền cất tiếng bảo mẹ:
- Mẹ ơi! Mẹ đừng buồn nữa, mẹ hãy ra mời sứ giả vào đây cho con nói chuyện
Nghe ta cất tiếng nói mẹ vô cùng ngạc nhiên, mừng rỡ và mẹ ta càng ngạc nhiên hơnkhi ta đòi gặp sứ giả vì đó không phải là chuyện đùa, đọc thấy nỗi lo của mẹ ta vội trấn anmẹ:
- Mẹ đừng lo lắng gì cả cứ ra mời sứ giả vào đây!
Nửa tin nửa ngờ nhưng mẹ ta vẫn vội vã ra mới sứ giả vào Sứ giả bước vào căn nhànhỏ tuềnh toàng của cha mẹ ta, ông ta vô cùng ngạc nhiên nhìn thấy ta lúc này vẫn chỉ làthằng bé nằm ở trên giường, sứ giả có vẻ không tin tưởng lắm nhưng khi nghe ta nói:
"Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽphá tan lũ giặc này" Nghe những lời nói đầy quả quyết của ta sứ giả hiểu rằng ta khôngphải là một đứa trẻ bình thường, sứ giả vội vã trở về tâu với vua Sau này nghe kể ta biếtnhà vua rất vui mừng và đã truyền thợ giỏi ở khắp nơi đến làm gấp những thứ ta cần Còn ta khi sứ giả đi rồi ta liền vùng dậy và vươn vai mấy cái đã thành người lớn
Trang 31Ta bảo mẹ nấu cho ta nồi cơm ăn cho no để chuẩn bị đi đánh giặc Mâm cơm vừa bưnglên ta ăn một loáng đã hết nhẵn mà chẳng thấy no gì cả, mẹ lại đi nấu nồi khác cho đếnkhi nhà không còn gì để ăn Ta ăn vào bao nhiêu thì lớn nhanh thổi bấy nhiêu, đến nỗiquần áo phải thay liên tục Mẹ ta thấy ta ăn bao nhiêu cũng chưa no trong khi gạo thì đãhết, bà cụ liền chạy nhờ bà con hàng xóm Bà con đều vui lòng giúp mẹ ta vì biết ta làngười sẽ đi đánh giặc cứu dân làng Mọi người đến nhà ta nườm nượp, người có gạo gópgạo, người có rau, cà góp rau cà, tóm lại ai có gì góp nấy Mọi người còn đến giúp mẹ tathổi cơm cho ta ăn, ta ăn bao nhiêu lại to lớn lừng lững bấy nhiêu Những ngày đó làng ta
ai cũng khấp khởi vui mừng vì mong đợi ta nhanh chóng đi giết giặc, cứu nước
Một ngày, dân làng nhận được tin giặc đã kéo đến chân núi Trâu Làng ta lại được mộtphen khiếp sợ, trẻ con kêu khóc, người lớn thì lo âu, các cụ già thì trầm ngâm, ai ai cũngkhiếp sợ Mọi người nhìn ta như cầu cứu Ta rất hiểu tâm trạng của họ và đúng lúc đó sứgiả đem những thứ ta cần đến Lúc này, ta vùng đứng dậy, vươn vai một cái đã biến thànhmột tráng sĩ cao lớn phi thường Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng, ta liền mặc áo giápsắt, tay cầm roi sắt, nhảy lên mình ngựa, oai phong lẫm liệt Ta nhớ hôm đó bà con ra tiễn
ta rất đông mọi người nhìn ta đầy tin tưởng, khắp nơi vang lên lời chúc chiến thắng và tacòn nhìn thấy cả những giọt nước mắt tự hào, yêu thương của cha mẹ ta Từ biệt bà conxóm giềng, cha mẹ những người đã yêu thương, nuôi nấng, ta thầm hứa sẽ chiến đấu hếtlòng để không phụ công của bà con dân làng, cha mẹ
Sau phút chia tay, một mình một ngựa ta lao thẳng vào trận đánh Ngựa đi đến đâuphun lửa rừng rực đến đó, lũ giặc vô cùng khiếp sợ Chúng đổ rạp và tan xác dưới roi sắtcủa ta và ngọn lửa của con chiến mã Cả bãi chiến trường đầy thây quân giặc Đúng lúcthế trận đang lên nhanh như vũ bão thì cây roi sắt trong tay ta gẫy gập, ta liền nhổ lấynhững khóm tre quanh mình quật liên tiếp vào lũ giặc Lũ giặc lại được một phen khiếp
sợ, rơi vào thế hỗn loạn và chẳng mấy chốc bỏ chạy tan tác khắp nơi Những tên may mắnsống sót vội vã thoát thân bỏ chạy vào hẻm núi sâu, tìm cách trở về nước Làng quê sạchbóng quân thù Tiếng reo vui của dân làng vang lên rộn rã
Nhìn trăm họ hạnh phúc ta vô cùng sung sướng, vậy là sứ mệnh Ngọc Hoàng giao cho
ta đã hoàn thành, chợt nhớ đến cha mẹ già ta cũng muốn về thăm nhưng lời Ngọc Hoàngdặn dò khi hoàn thành sứ mệnh phải trở về trời khiến ta chẳng dám trái lệnh Nhìn đấtnước, dân làng một lần cuối ta thúc ngựa phi lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáp sắt, rồi cả người
và ngựa lẳng lặng bay về trời Ta ra đi nhưng trong lòng đầy tiếc nuối vì không được sốngcùng những người dân hiền lành tốt bụng Dẫu vậy, ta cũng hài lòng vì từ đây ai ai cũngđược sống trong cảnh thanh bình, hạnh phúc
Sau đó, vua đã phong cho ta là Phù Đổng Thiên Vương Ta cảm thấy rất vui khi được
Trang 32nhận danh hiệu đó, bởi ta đã đem đến sự bình yên và hạnh phúc cho mọi người Đó chính
là điều quý giá nhất đối với ta, nó còn quý hơn cả ngọc ngà châu báu mà nhà vua hứa bantặng cho ta sau khi đánh thắng quân giặc
Đề 2 Đóng vai Thủy Tinh kể lại truyện Sơn Tinh Thủy Tinh.
DÀN BÀI
MB: Thủy Tinh tự giới thiệu khái quát về mình và dẫn vào câu chuyện.
+ Người kể xưng “ta” phù hợp với cách xưng hô của vị thần nước
TB: Thủy Tinh kể lại các sự việc:
- Vua Hùng tổ chức kén rể
- Mình đến tham gia cuộc thi tài kén rể cùng với Sơn Tinh.
- Vua Hùng ra điều kiện chọn rể
- Việc mình đến sau không lấy được Mỵ Nương
- Việc mình tức giận đem quân đuổi đánh Sơn Tinh
- Việc mình giao tranh với Sơn Tinh trong vòng cả tháng trời…
- Kể lại việc mình không quên mối thù nên hằng năm vẫn dâng nước đánh Sơn
Tinh nhưng mình đều thua.
KB: Nói lên suy nghĩ của người kể chuyện (Thủy Tinh).
+ Người viết có thêm vào một số lời kể, chi tiết; các bình luận, đánh giá của nhân vật; yếu
tổ bày tỏ suy nghĩ của nhân vật
+ Cách kết thúc truyện: nêu lí do kết thúc, tóm lược các sự kiện tiếp theo, nêu bài học tâmđắc
Bài tham khảo
Chào các bạn trẻ! Ta là Thuỷ Tinh, một người đã không biết bao nhiêu lần đánhnhau với Sơn Tinh để cướp Mỵ Nương, nhưng không hiểu tại sao lần nào ta cũng thua
Nguyên do cũng vì hôm ấy, ta nghe bọn thuỷ binh bàn tán xôn xao rằng: HùngVương thứ mười tám có một người con gái tên là Mỵ Nương, người đẹp như hoa, tínhnết hiền dịu, ngài thương yêu con gái hết mực, muốn kén cho con một người chồngxứng đáng Không đợi chờ gì nữa, ta liền đến xin cầu hôn nàng Nào ngờ khi vừa đếnthì gặp một người cùng chung mục đích Anh ta mặc bộ áo giáp, bước đi rất mạnh mẽ.Cúi xuống lạy vua Hùng: rồi anh ta bắt đầu trổ tài: vẫy tay về phía đông, bỗng dưngphía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi Mọingười đồn rằng, anh ta vốn là Sơn Tinh, là chúa tể của vùng non cao Anh chàng giỏigiang đấy, nhưng so sao được với ta, chúa miền nước thẳm Ta vuốt nhẹ bộ quần áođược thêu bằng những chiếc vảy cá to và cứng đang mặc rồi xin được trổ tài Ta vung
Trang 33tay, cất tiếng gọi oang oang.
Bỗng đâu một luồng gió mạnh nổi lớn, rồi mây đen ùn ùn kéo đến, mưa trút xuống
ào ào
Nhìn xung quanh nhà vua và triều thần, ai nấy đều khiếp sợ, ta vui lắm Trổ tàixong, ta cũng lạy tạ vua Hùng Ngài băn khoăn không biết chọn ai, từ chối ai, Ngàiphán:
- Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái Thôi thì ngàymai, ai đem sính lễ đến trước ta sẽ gả con gái cho
Chúng ta tâu hỏi đồ sính lễ cần sắm những gì, ngài nghĩ ngại một lúc rồi bảo:
- Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chíncựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ phải đủ một đôi
Thật tức, những thứ đó sẵn có ở chỗ Sơn Tinh, ta tìm kiếm thì khó khăn lắm.Nhưng một người tài giỏi như ta, không có gì là không làm được Nào ngờ hôm sau,mới tờ mờ sáng, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến rước Mị Nương về núi
Ta đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đánhSơn Tinh Vừa đuổi theo, ta vừa hét; "Sơn Tinh, trả Mỵ Nương cho ta!" Trận đánh giữahai chúng la diễn ra thật ác liệt Ta hô mưa, gọi gió, làm thành giông bão rung chuyển
cả đất trời
Nước ngập nhà cửa, ruộng đồng, tưởng như thành Phong Châu đang nổi lềnhbềnh trên biển nước Ta đinh ninh chắc hẳn mình giành lại được Mỵ Nương nên rất đắcchí Nhưng không, dù gió thét ào ào, mưa trút như thác, Sơn Tinh vẫn đứng vững vàng,nét mặt bình thản bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi ngăn chặn dòng nước lũ Hắn và tađánh nhau ròng rã mấy tháng trời Cuối cùng, ta đuối sức, đành rút quân về
Từ đó oán nặng, thù sâu, năm nào ta cũng làm mưa gió bão lụt dâng nước đánhhắn Nhưng lần nào cũng vậy, vẫn không thắng nổi hắn để cướp lại Mỵ Nương, ta lại lủithủi rút quân về, với tâm trạng đầy oán hận
Đề 3 ĐÓNG VAI LANG LIÊU KỂ LẠI TRUYỆN BÁNH CHƯNG, BÁNH GIẦY.
BÀI LÀM
Ta tên là Liêu Là con trai nhà vua nhưng ta không giống các anh em khác, quanh nămthức khuya dậy sớm trồng ngô khoai, cấy lúa Trong nhà ta chỉ ngô lúa là nhiều
Một hôm, vua cha gọi chúng ta lại, phán rằng:
- Cha biết mình gần đất xa trời Cha muốn truyền ngôi cho một người trong số các con.Các con hãy làm cỗ để cúng lễ tổ tiên Ai làm được món ăn quý vừa ý ta thì sẽ được chọn.Nghe vua cha phán truyền như thế, các hoàng tử anh em của ta thi nhau cho người đi khắpnơi tìm kiếm thức ăn quý, nào là sơn hào hải vị, nem công, chả phượng để mong được làmvua Ta không có điều kiện làm việc ấy mà cũng không muốn thế vì ta nghĩ món ăn đáng
Trang 34cúng Tiên vương phải do tay mình làm ra Ta băn khoăn, lo lắng bao ngày Ta nhiều lúagạo, đậu đỗ, ngô khoai, nhưng những thức đó thì tầm thường quá, biết làm thế nào? Mộtđêm, ta mơ thấy thần tiên mách bảo: "Hãy lấy gạo làm bánh mà tế lễ" Càng ngẫm ta thấylời thần thật đúng, các thứ của ngon vật lạ kia ăn mãi rồi cũng chán, còn lúa gạo thì dùngđược mãi Ta bèn chọn lấy thứ gạo nếp trắng ngon nhất, ngâm kĩ, làm bánh hình vuônggói trong lá dong Nhân bánh bằng thịt lợn, đậu xanh Ta lại làm thêm một thứ bánh hìnhtròn bằng cách giã mịn cơm nếp đã đồ thật dẻo Những thứ bánh ấy thật thơm ngon, tasung sướng dâng cúng Tiên vương.
Ngày lễ Tiên vương, các anh em ta dâng lên bao nhiêu của ngon vật lạ nhưng vua cha chỉlướt qua Đến mâm cúng của ta, Người dừng lại rất lâu Ta bày những lời thần mách bảo.Sau khi cùng triều thần ăn thử, Người rất vừa lòng và phán rằng, bánh hình vuông tượngtrưng cho đất, có cây cỏ muông thú, đặt tên là bánh chưng, bánh hình tròn tượng trưngcho trời, đặt tên là bánh giầy
Vua cha trang trọng tuyên bố ta giành phần thắng và được truyền ngôi Ta vô cùngsung sướng và cảm động Từ đó, ta luôn chăm lo cho việc trồng cấy, chăn nuôi của nhândân để nhà nhà đều được no ấm
ĐỀ SỐ 4: EM HÃY ĐÓNG VAI THÁNH GIÓNG ĐỂ KỂ LẠI TRUYỀN THUYẾT NÀY ( Tham khảo bài 2)
bà lão thấy lạ bèn ướm thử chân vào, thế là ta nhân đó hóa luôn thành bào thai trong bụng
bà cụ
Hai ông bà mừng lắm, đủ ngày đủ tháng thì ta ra đời Để nghe ngóng lòng người, taquyết không nói không rằng suốt ba năm, mặc cho bố mẹ tha hồ dỗ dành Nước mắt bà cụchảy tràn như suối, ta biết bà buồn lắm nhưng đã định từ trước như vậy nên suốt ngàynằm im, quay mặt vào vách
Giặc kéo đến, chúng đi hàng đàn hàng lũ, thế rất mạnh, quan quân triều đình đánh khôngnổi Khắp nơi náo loạn, vua bèn cho sứ giả đi khắp nơi tìm người hiền tài để giúp nước.Tiếng xứ giả vang khắp nơi, thời khắc quyết định đã đến Ta vươn vai đứng dậy rồi nóivới mẹ
Mẹ ra bảo sứ giả vào đây cho con nói chuyện
Mẹ ta lúc đang chuẩn bị quang gánh thép dân làng đi chạy giặc, nghe ta nói thế thì vôcùng sửng sốt và mừng rỡ, vội ra gọi sứ giả vào
Sứ giả vào, thấy ta chỉ là một cậu bé con, có ý coi thường và thất vọng
Thằng bé này thì đánh sao nổi giặc?
Trang 35Thấy ông ta nói vậy, ta quyết định dọa ông ta để chơi Với một tay lấy chiếc cối đá, ta chỉhất khẽ một cái «huỵch», chiếc cối đã rơi sát bên chân ông ta Sứ giả biết ta không phải làngười thường, vội quỳ xuống nói.
Xin thần tiên thứ tội Người cần binh khí gì và thêm bao nhiêu quân đánh giặc ạ?
Ta cho sứ giả đứng dậy rồi bảo
Ngươi về bẩm với nhà vua, rèn cho ta một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt và một chiếcnón bằng sắt, hẹn ngày mai phải xong
Sứ giả vội lĩnh ý ra về Ta quay sang nói với mẹ
Mẹ chuẩn bị thật nhiều cơm cho con ăn, để con còn lấy sức đi đánh giặc
Mẹ ta nấu một nồi cơm đầy, ta chỉ ăn đánh vèo một cái đã hết mà vẫn chưa thấm tháp gì
Mẹ bối rối vì trong nhà hết sạch gạo, may sao bà con hàng xóm biết chuyện, các nhà đều
về nấu cơm mang sang Bảy nong cơm, ba nong cà, ta cũng chỉ ăn loáng cái đã hết Ănxong, ta vươn mình đứng dậy, bước ra sân thì người đã quá mái nhà Mọi người ai lấy làmmừng rỡ, vội về chuẩn bị dao, gậy để đi đánh giặc
Hôm sau sứ giả mang đến một con ngựa sắt, một chiếc nón sắt và một chiếc roi sắt nhỏ.Nón thì ta đội không vừa, roi sắt thì vừa đập xuống đã gãy, ngựa sắt tung bờm hí vangnhưng với ta lúc này, trông nó không khác một con mèo nhỏ Ta bảo sứ giả
Ngươi về rèn ngay một con ngựa to gấp mười lần con này, một chiếc nón thật to và mộtchiếc roi thật lớn
Sứ giả vâng lệnh, nhà vua biết tin bèn tập hợp tất cả sắt thép mọi nơi, tất cả thợ giỏi đềuđược vời về cung để kịp rèn cho ta một con ngựa sắt to đúng bằng một con voi, một chiếcnón to đúng bằng một tán cây đa và một cây gậy to đúng bằng cột đình
Mọi thứ đã có đủ Ta đội nón sắt, cầm gậy sắt nhảy lên lưng ngựa Ngựa sắt vươn cổ hílên một tiếng, lửa phun rừng rực đốt cháy trụi cả một đám tre đầu ngõ
Lạy mẹ con đi!
Ta nói rồi ra roi, lên ngựa Ngựa tung bờm phi nước kiệu đưa ta thẳng đến chỗ quân giặc,khắp nơi nhân dân nô nức cầm dao, gậy theo sau Ngựa phi đến đâu, tre hai bên đườngvàng sém đến đấy (sau này được gọi là tre đằng ngà) Vết chân ngựa in xuống đất thànhmột dãy ao hồ (bây giờ vẫn còn ở làng Phù Đổng)
Trông thấy ta từ xa, quân giặc vội quay đầu, vứt giáo tháo chạy Nhưng chúng chạy đâucho thoát? Ngựa ta phun lửa đốt chúng cháy trụi từng mảng roi sắt ta vung ra một lần thì
có cả chục thằng bị hất tung lên trời Những thằng sống sót đều bị dân chúng đi theo tiêudiệt cả
Bỗng «rắc» một cái, chiếc roi sắt gãy làm đôi Quân giặc thấy thế mừng rỡ định hè nhauxông lại Sẵn các bụi tre bên đường, ta vươn mình nhổ bật lên quật túi bụi xuống đầu giặc.Chẳng mấy chốc quân giặc đã tan tác không còn một mống
Giặc tan, vua cho sứ giả ra tận nơi, phong cho ta là Phù Đổng Thiên Vương, mời về kinhthành để ban thưởng Nhưng từ trên mây cao Ngọc Hoàng đã cất tiếng gọi ta rồi
Gửi dân lời chào bố mẹ, ta một mình một ngựa lên núi Lên đến đỉnh, ta cởi áo giáp vắttrên ngọn cây cao, ngựa sắt cất cánh từ từ bay vào không gian
Thế đấy các cháu ạ Nhiều người hỏi ta sao không ở lại mà lãnh thưởng, ta đã bảo họrằng: Ta tuy có tiêu diệt được nhiều quân giặc thật, nhưng chiến công này trước hết thuộc
Trang 36về cha mẹ nuôi ta, về dân làng Phù Đổng đã góp gạo, góp cà nuôi ta khôn lớn, về nhândân khắp nơi đã không quản hiểm nguy, theo ta đi đánh đuổi quân thù.
Hướng dẫn học sinh học ở nhà:
- Học bài, nắm chắc kiến thức đã được ôn tập
- Đọc lại các truyền thuyết và kể lại bằng lời của các nhân vật còn lại
Ngày soạn: 28/2/2023
Ngày dạy:
ÔN TẬP GIỮA KÌ 2 A.MỤC TIÊU
- Củng cố kiến thức về các thể loại VB đọc, kiểu bài viết, kiến thức về thực hành tiếngViệt đã học
- Vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học để luyện tập, củng cố kĩ năng đọc, viết, nói vànghe để làm dạng đề kiểm tra giữa học kì II
- Năng lực nhận diện và phân tích, tổng hợp các kiến thức đã học
- Năng lực sử dụng các biện pháp nghệ thuật, ngôn từ để hình thành đoạn văn, bài văntheo yêu cầu
- Giáo dục ý thức chăm chỉ, trung thực trong học tập
Đọc kĩ đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Một hôm người dì ghẻ đưa cho hai chị em mỗi người một cái giỏ bảo ra đồng bắt con tôm cái tép Mụ ta hứa hẹn: “Hễ đứa nào bắt được đầy giỏ thì thưởng cho một cái yếm đỏ”.
Ra đồng, Tấm nhờ mò cua bắt ốc đã quen nên chỉ một buổi là được đầy giỏ vừa cá vừa tép Còn Cám thì đủng đỉnh dạo hết ruộng nọ sang ruộng kia, mãi đến chiều vẫn
Trang 37không đượcgì.
Thấy Tấm bắt được một giỏ đầy, Cám bảo chị:
- Chị Tấm ơi, chị Tấm! Đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng.
Tin là thật, Tấm bèn xuống ao lội ra chỗ sâu tắm rửa Cám thừa dịp, trút hết tép của Tấm vào giỏ của mình, rồi ba chân bốn cẳng về trước Lúc Tấm bước lên chỉ còn giỏ không, bèn ngồi xuống… bưng mặt khóc hu hu”.
(Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - Nguyễn Đổng Chi )
Câu 1 Đoạn văn trên được trích từ văn bản thuộc thể loại nào? Hãy kể tên 3 tác phẩm
cùng thể loại mà em biết
Câu 2 Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn?
Câu 3 Giải nghĩa từ “đủng đỉnh” trong đoạn văn trên.
Câu 4 Xác định thành ngữ dân gian trong văn bản? Nêu ý nghĩa của việc sử dụng thành
ngữ đó?
PHẦN II: Viết
Đóng vai nhân vật trong câu chuyện cổ tích mà em thích và kể lại câu chuyện đó
(Đã có trong đề cương)
Gợi ý đáp án
Phần I Đọc - hiểu
- Đoạn trích trên được trích trong văn bản Tấm Cám thuộc thể loại truyện cổ tích
- 3 tác phẩm cùng thể loại: Thạch Sanh, Cây khế, Sọ Dừa
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự
Từ "đủng đỉnh" nghĩa là thong thả, chậm rãi trong từng cử chỉ, từng hành động, tỏ ra không khẩn trương hoặc không vội vã
C4 Thành ngữ trong đoạn trích:
+ “mò cua bắt ốc”: chỉ cuộc sống vất vả của Tấm;
+ “ba chân bốn cẳng” gợi hành động đi rất vội, rất nhanh của Cám sau khi đã lừa và lấy hết giỏ tép của Tấm.
ĐỀ SỐ 2
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
“Tự nhiên ở trên không, có một đàn chim sẻ đáp xuống sân nhặt thóc ra một đằng, gạo ra một nẻo Chúng nó lăng xăng ríu rít chỉ trong một lát đã làm xong, không suy suyển một hạt Nhưng khi chim sẻ đã bay đi rồi, Tấm lại nức nở khóc Bụt lại hỏi:
- Con làm sao còn khóc nữa?
- Con rách rưới quá, người ta không cho con vào xem hội.
- Con hãy đào những cái lọ xương bống đã chôn ngày trước lên thì sẽ có đủ mọi thứ cho con trẩy hội.
Tấm vâng lời, đi đào các lọ lên Đào lọ thứ nhất, lấy ra được một bộ áo mớ ba, một cái xống lụa, một cái yếm lụa điều và một cái khăn nhiễu Đào lọ thứ hai, lấy ra
Trang 38được một đôi giày thêu, đi vừa như in Lọ thứ ba đào lên thì thấy một con ngựa bé tí, nhưng vừa đặt con ngựa xuống đất, bỗng chốc nó đã hí vang lên và biến thành ngựa thật Đào đến lọ cuối cùng thì lấy ra được một bộ yên cương xinh xắn Tấm mừng quá
vội tắm rửa rồi thay bộ vào, đoạn cưỡi lên ngựa mà đi Ngựa phóng một chốc đã đến kinh đô Nhưng khi phóng qua một chỗ lội, Tấm đánh rơi một chiếc giày xuống nước không kịp nhặt Khi ngựa dừng lại ở đám hội, Tấm lấy khăn gói chiếc giày còn lại rồi chen vào biển người.”
(Nguyễn Đồng Chi, Tấm Cám, trích Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam)
Câu 1: Đoạn trích trên thuộc phần mở đầu, phần giữa hay phần kết của truyện “Tấm
Cám”? Do đâu mà em biết điều đó?
Câu 2: Chỉ ra những chi tiết kì ảo trong đoạn trích.
Câu 3: Người kể chuyện trong đoạn trích trên đây của truyện Tấm Cám và người kể
chuyện trong truyện “Thạch Sanh” có phải cùng một kiểu không?
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
“Đền Cuông gắn với một huyền thoại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Đền thờ Thục An Dương Vương - một vị vua có công lớn trong buổi đầu dựng nước.
Lễ hội đền Cuông được tổ chức vào dịp rằm tháng Hai âm lịch hằng năm thu hút đông đảo người dân về dự Sau nhiều năm bị lãng quên, năm 1993, lễ hội đền Cuông được phục hồi Từ đó đến nay, lễ hội được duy trì hàng năm và trở thành một sinh hoạt văn hoá tâm linh không thể thiếu của người dân Nghệ An và du khách thập phương.
[ ] Gần 20 năm qua, lễ hội đền Cuông được tổ chức hằng năm với các lễ nghi trang trọng mà linh thiêng: lễ khởi quang, lễ cáo trung thiên, lễ yết, lễ rước, lễ đại tế và
lễ tạ Lễ khai quang diễn ra đầu tiên, được tổ chức vào ngày 12 tháng Hai âm lịch để xin phép các vị thần cho nhân dân dọn dẹp đền, chuẩn bị cho lễ hội Sau lễ khai quang là lễ cáo trung thiên được tổ chức vào sáng ngày 14 tháng Hai để báo cáo với các vị thần rằng công việc dọn dẹp đền đã hoàn thành, mời các vị về đền tham dự lễ hội và chứng giám cho lòng thành kính của nhân dân Lễ yết diễn ra vào chiều tối ngày 14 tháng Hai gồm 6 bước được tiến hành qua 35 lần xướng Sau phần hành lễ là phần dâng hương của đại diện các ban ngành và người dân về dự lễ Cũng trong tối 14 tháng Hai, còn có
lễ rước vua và công chúa vị hành Sáng 15 tháng Hai tiến hành lễ rước vua, công chúa
và tướng Cao Lỗ từ đình Xuân Ái về đền Cuông Sau đó là lễ đại tế Lễ đại tế là lễ chính, bao gồm 8 bước Trình tự và nội dung của buổi lễ tương tự như lễ yết, nhưng có thêm hai lần dâng hương, rượu Lễ tế được tổ chức vào sáng ngày 16 tháng Hai để tạ ơn các vị thần đã về dự lễ Trong thời gian lễ hội, ban ngày có các trò chơi truyền thống, thi đấu thể thao như đánh đu, chọi gà, kéo co, cờ người, biểu diễn võ cổ truyền, thi đấu bóng
chuyền, hội trại, ban đêm có hát ca trù, tuồng, chèo, đốt lửa trại, Không khí lễ hội thật là hấp dẫn, tưng bừng, náo nhiệt.”
Trang 39(Theo Anh Tuấn, Đền Cuông: truyền thuyết và lễ hội, tạp chí điện tử Văn hoá
Nghệ An, ngày 29/3/2012)
Câu 1: Văn bản có đoạn được trích ở trên thuộc loại văn bản gì?
Câu 2: Sự kiện nào được thuật lại trong đoạn trích? Sự kiện đó diễn ra ở đâu, vào thời
điểm nào trong năm?
Câu 3: Tác giả đã thuật lại sự kiện theo trình tự nào? Căn cứ vào đâu mà em xác định
Đọc kĩ đoạn văn và trả lời câu hỏi bằng cách chọn chữ cái trước câu trả lời đúng
Giặc đã đến chân núi Trâu Mọi người lo lắng sợ hãi, vừa lúc đó, các thứ mà Gióng cần đã xong, sứ giả vội đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến Gióng đứng dậy vươn vai trở thành một tráng sĩ lực lưỡng, chàng mặc áo giáp vào, cầm roi thúc mông ngựa, ngựa hí một tiếng vang trời Gióng nhảy lên lưng ngựa, ngựa phun lửa phi thẳng đến nơi có giặc, Gióng vung một roi, hàng chục tên giặc chết như ngả rạ, giặc chạy không kịp, bị roi sắt của Gióng giáng vào người Bỗng nhiên roi sắt gãy, Gióng nhanh trí nhổ những bụi tre bên đường làm vũ khí Thế giặc tan vỡ, chúng giẫm đạp lên nhau
bỏ chạy, Gióng thúc ngựa đuổi đến chân núi Sóc Sơn Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.
(Trích Thánh Gióng – SGK Kết nối tri thức – Ngữ văn/Tập 2)
Câu 1: Đoạn văn trên trích từ văn bản nào
Câu 3: Cụm từ nào trong câu sau là cụm danh từ:
Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc
A Tráng sĩ bèn nhổ
B Những cụm tre cạnh đường
C quật vào giặc
D những cụm tre cạnh đường quật vào giặc
Trang 40Câu 4: Chi tiết sau đây có ý nghĩa gì?
“Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời”.
A Hình ảnh Gióng bất tử trong lòng nhân dân
B Gióng xả thân vì nghĩa lớn, không hề đòi công danh, phú qu
Ngày soạn: 5/3/2023
ÔN LUYỆN VĂN TỰ SỰ: KỂ LẠI MỘT TRUYỆN CỔ TÍCH.
A MỤC TIÊU
- Biết cách kể lại một truyện truyền thuyết
- HS phát triển được năng lực giao tiếp: Kể về một truyền thuyết mình yêu thích
- Hoàn cảnh và sự kiện được kể
- Những đặc điểm chính của nhân vật
- Giáo dục những bài học nhân sinh qua các câu chuyện cổ tích
B TỔ CHỨC:
D NỘI DUNG
Yêu cầu đối với bài văn đóng vai nhân vật, kể lại một truyện cổ tích.
Ngôi kể:ngôi thứ nhất Người kể chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện
Nội dung: Có thể sáng tạo nhưng phải đảm bảo cốt truyện, không được thay đổi,biến dạng
Trình tự sắp xếp hợp lí các chi tiết, đảm bảo kết nối giữa các phần
Có thể bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu cảm để tả người, tả vật hay thể hiện cảm xúccủa nhân vật
Dàn bài:
- Mở bài: Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu chuyện định kể
- TB: Kể lại diễn biến câu chuyện
- KB: kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện
II.Thực hành.
Đề 1: Đóng vai Công chúa kể lại truyện Thạch Sanh
Ta là công chúa Quỳnh Nga, vợ của chàng Thạch Sanh Chồng của ta là một ngườidũng cảm, lương thiện và mạnh mẽ Chàng đã trải qua một tuổi trẻ nhiều biến cố, để cóđược những ngày tháng bình yên như ngày hôm nay
Ta nghe chồng ta kể lại rằng: anh mồ côi cha mẹ từ sớm, một mình sống trong túplều tranh dưới gốc cây đa Chàng vốn chăm chỉ lại lương thiện nên đã bị tên Lý Thông lừa