1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chủ đề 2 gdđp 8 hiền

20 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tín Ngưỡng Tôn Giáo Ở Nghệ An
Người hướng dẫn Lê Thị Thu Hiền
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Môn Sơn
Chuyên ngành Giáo Dục Địa Phương
Thể loại Kế Hoạch Bài Dạy
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 5,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực - Nhận diện được loại hình tôn giáo, tín ngưỡng đang thực hiện trong gia đình mình; Nêu được một số loại hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Nghệ An; - Bước đầu nhận diện được đặc điểm

Trang 1

Ngày soạn: 28/9/2023 CHỦ ĐỀ 2: Tiết 5-6-7- 8 TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở NGHỆ AN

I MỤC TIÊU CẦN ĐẠT

1 Năng lực

- Nhận diện được loại hình tôn giáo, tín ngưỡng đang thực hiện trong gia đình mình; Nêu được một số loại hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Nghệ An;

- Bước đầu nhận diện được đặc điểm cơ bản về Đền, Đình, Chùa, Nhà thờ

- Giới thiệu được 1 công trình đại diện cho 1 tôn giáo, tín ngưỡng ở địa phương;

- Nêu được ý tưởng để bảo tồn và phát huy giá trị của các công trình tôn giáo, tín ngưỡng ở địa phương;

2 Phẩm chất

Luôn có tinh thần yêu quý, giữ gìn và phát huy truyền thống tín ngưỡng, tôn giáo tốt đẹp của gia đình, địa phương ở Nghệ An

II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU

1 Đối với giáo viên

- SGK, SGV GDĐP tỉnh Nghệ An

- Máy tính, máy chiếu

- Tranh ảnh về các Đền, đình, chùa, nhà thờ và các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An

2 Đối với học sinh

- SGK,

- Đọc trước bài học trong SGK

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

A HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG

a Mục tiêu: Kích thích nhu cầu tìm hiểu các Đền, đình, chùa, nhà thờ và các hoạt

động tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An

b Tổ chức thực hiện:

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập

- GV yêu cầu HS quan sát và trả lời câu hỏi: Kể tên các đình, đền, chùa, nhà thờ ở Nghệ An?

Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập

- HS quan sát tranh, thảo luận theo cặp đôi và thực hiện yêu cầu

- GV hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu cần thiết)

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận

- GV mời HS khác nhận xét, bổ sung

Bước 4: Đánh giá kết quả, thực hiện nhiệm vụ học tập

- GV đánh giá, nhận xét, chuẩn kiến thức

- GV dẫn dắt HS vào bài học: Con người Nghệ An siêng năng, cần cù, chân thật, một lòng tôn kính Tổ tiên, hướng về Đức Phật nên từ xa xưa đã có nhiều ngôi chùa được nhân dân xây dựng để thờ Phật Những ngôi chùa đã trở thành trung tâm sinh

Trang 2

hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng làng xã Trải qua những thăng trầm lịch sử,

có lúc thịnh, lúc suy song lực lượng tăng ni, phật tử xứ Nghệ luôn đồng hành cùng dân tộc, một lòng “sống đạo, hành đạo”, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của người dân và góp phần vào sự phát triển KT-XH của tỉnh nhà

B HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

Hoạt động 1: Tìm hiểu nguồn gốc và khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáoa Mục tiêu:

- Giới thiệu được nguồn gốc xuất hiện của tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An;

- Nêu được khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo

b Tổ chức hoạt động :

HOẠT ĐỘNG CỦA GV-HS

Bước 1 : GV chuyển giao nhiệm vụ

học tập

- GV cho HS thảo luận nhóm theo kĩ

thuật mảnh ghép, với nhiệm vụ sau:

+ Nhóm 1,2: Giới thiệu nguồn gốc của tín ngưỡng,

tôn giáo ở Nghệ An

+ Nhóm 3,4: Nêu được khái niệm tín ngưỡng, tôn

giáo.

Bước 2 : HS thực hiện nhiệm vụ

học tập

- HS thảo luận, đọc thông tin SGK, quan sát hình

SGK và trình bày nguồn gốc, khái niệm của tín

ngưỡng, tôn giáo.

- GV hướng dẫn, theo dõi, hỗ trợ HS

nếu cần thiết

Bước 3 : Báo cáo kết quả hoạt động

và thảo luận

- GV mời đại diện HS các nhóm trình bày sản phẩm

và giới thiệu.

- GV mời đại diện các nhóm khác

nhận xét, bổ sung GV giúp HS tóm

tắt những thông tin vừa tìm được để

đúc kết thành kiến thức bài học

- GV mở rộng thêm về nguồn gốc

xuất hiện của tín ngưỡng, tôn giáo ở

Nghệ An.:

Bước 4 : Đánh giá kết quả, thực

hiện nhiệm vụ học tập

- GV đánh giá, nhận xét, chuẩn kiến thức và rút ra

kết luận Tôn giáo tín ngưỡng ở Nghệ An xuất hiện

khi nào?

HS trình bày kết quả thảo luận

Theo sử cũ, vùng đất từ khe Nước

Lạnh phía Bắc đến đèo Ngang phía

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

1.Nguồn gốc

Tôn giáo, tín ngưỡng xuất hiện ở Nghệ An

từ thế kỉ XVI

Trang 3

thứ 1 (1428) thuộc đạo Hải Tây; năm

Quang Thuận thứ 7 (1466) đặt làm

thừa tuyên Nghệ An; năm Hồng Đức

thứ 21 (1490) đổi làm xứ; trong đời

Hồng Thuận (1509-1516) đổi làm

trấn Thời Mạc & thời Lê Trung

Hưng vẫn gọi như thế Thời Tây Sơn

đổi làm Trung Đô, nhưng vẫn gọi là

trấn Nghệ An Vùng đất Nghệ An bấy

giờ gồm các phủ: Diễn Châu (có các

huyện Đông Thành, Quỳnh Lưu);

Anh Đô (có 2 huyện Hưng Nguyên,

Nam Đường); Quỳ Châu (có 2 huyện

Thúy Vân, Trung Sơn); Trà Lân (gồm

4 huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Vĩnh

Khang, Hội Nguyên); ngoài ra còn 2

huyện: Thanh Chương (thời Lê sơ là

huyện Thanh Giang), Chân Phúc

(thời Tây Sơn đổi là Chân Lộc, từ

năm 1889 đến nay là Nghi Lộc) thuộc

phủ Đức Quang Phủ Đức Quang còn

có 4 huyện: La Sơn, Thiên Lộc,

Hương Sơn, Nghi Xuân nay đều

thuộc tỉnh Hà Tĩnh Phủ Hà Hoa (có

các huyện Thạch Hà, Kỳ Hoa, cả 2

huyện này nay đều thuộc Hà Tĩnh)

Phủ Ngọc Ma (có 1 châu Trịnh Cao)

Phủ Lâm An (có 1 châu Quy Hợp)

Phủ Trấn Ninh có 7 huyện Kim Sơn,

Thanh Vị, Cảnh Thuần, Quang Vinh,

Minh Quảng, Quang Lang, Trung

Thuận Phủ Trấn Ninh xưa là đất Bồn

Man, nay là miền Xiêng Khoảng

nước Lào Bài viết này chỉ nói đến

tình hình ở những vùng đất đến nay

vẫn thuộc Nghệ An

Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII,

tình hình chính trị Đại Việt rối ren,

các thế lực phong kiến ra sức tranh

giành quyền lực: hết cuộc đối đầu

quyết liệt Lê Mạc (1533-1592) đến

nội chiến đẫm máu Trịnh Nguyễn

(1627-1672), tiếp đó là bão táp khởi

nghĩa nông dân thế kỷ XVIII

Trang 4

-Thời Lê Mạc phân tranh, tướng Mạc

kéo quân vào Thanh - Nghệ 13 lần,

trong đó có 7 lần vào Nghệ An Nhân

dân Nghệ An hết sức khốn khổ trong

cảnh binh đao Năm 1572, sử cũ

chép: “Nghệ An nhiều phen bị nạn

binh lửa Các huyện, đồng ruộng bỏ

hoang, nhân dân đói khổ Dịch lệ lại

phát sinh, người chết đến quá nửa

Nhân dân phiêu giạt, hoặc tan tác vào

Nam ra Bắc Trong cõi Nghệ An đìu

hiu vắng tanh”

-Thời nội chiến Trịnh - Nguyễn,

Nghệ An luôn là bãi chiến trường:

Giặc ra, thuyền chúa lại vào

Cửa nhà lại phá, hầm hào lại xây

(Ca dao) Đời sống nhân dân Nghệ An chưa

hề được cải thiện

Nhân dân Nghệ An vốn có truyền

thống đấu tranh kiên cường, bất khuất

chống áp bức dân tộc & áp bức giai

cấp nên vào thế kỷ XVIII, một số

lãnh tụ nông dân ngoài Bắc như

Nguyễn Diên, Nguyễn Hữu Cầu, Lê

Duy Mật khi gặp khó khăn đã rút vào

đây lập căn cứ địa Nhân dân Nghệ

An cũng hết lòng ủng hộ người anh

hùng áo vải Nguyễn Huệ trong cuộc

hành quân thần tốc cuối năm Mậu

Thân, góp phần làm nên chiến thắng

vĩ đại mùa Xuân Kỷ Dậu 1789

-Thế kỷ XVII - XVIII, trên cơ sở kinh

tế hàng hóa phát triển, sự giao lưu

giữa các địa phương được mở rộng

Hệ thống chợ huyện, chợ phủ, chợ

trấn làm cho thương nghiệp Nghệ An

trở nên khá nhộn nhịp Lam Thành

(khu vực chợ Tràng hiện nay) là lỵ sở

của Nghệ An thời Lê sơ, đến thời Lê

Trung Hưng, trấn ty chuyển vào Dinh

Trang 5

Cầu (xã Hà Trung, Kỳ Anh), sau lại

dời ra Dũng Quyết (phường Trung

Đô, TP Vinh hiện nay) .Phố Phù

Thạch bên bờ sông Lam cạnh lỵ sở

trấn cho đến đầu thế kỷ XIX từng nổi

tiếng là một nơi đô hội:

Phồn hoa nổi áng thị thành,

Đây Phù Thạch phố là danh lịch

triều

(Mai đình mộng ký Nguyễn Huy

Hổ)

Trong bối cảnh chính trị - xã hội phức

tạp, khủng hoảng niềm tin, tôn giáo,

tín ngưỡng ở Nghệ An phát triển khá

phong phú, đa dạng

Hoạt động 2: Tìm hiểu các tín ngưỡng tôn giáo ở

Nghệ An và Con Cuông

a Mục tiêu:

- Giới thiệu được các tôn giáo ở Nghệ An;

- Nhận xét được đặc điểm tôn giáo ở Nghệ An

b Tổ chức hoạt động:

Bước 1 : GV chuyển giao nhiệm vụ

học tập

- GV cho HS thảo luận nhóm theo kĩ

thuật mảnh ghép, với nhiệm vụ sau:

+ Nhóm 1,2: Giới thiệu các tín ngưỡng, tôn giáo ở

Nghệ An và địa phương em?

+ Nhóm 3,4: Nêu được đặc điểm của tín ngưỡng, tôn

giáo ở Nghệ An.

Bước 2 : HS thực hiện nhiệm vụ

học tập

- HS thảo luận, đọc thông tin SGK, quan sát hình

SGK giới thiệu các tín ngưỡng, tôn giáo và đặc điểm

tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An.

- GV hướng dẫn, theo dõi, hỗ trợ HS

nếu cần thiết

Bước 3 : Báo cáo kết quả hoạt động

và thảo luận

- GV mời đại diện HS các nhóm trình bày sản phẩm

và giới thiệu.

- GV mời đại diện các nhóm khác

nhận xét, bổ sung GV giúp HS tóm

tắt những thông tin vừa tìm được để

đúc kết thành kiến thức bài học

- GV mở rộng thêm về tín ngưỡng,

tôn giáo ở Nghệ An

2.Tín ngưỡng, tôn giáo

a.Tín ngưỡng: là niềm tin của con người được thể hiện

thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân

và cộng đồng.

b.Tôn giáo: là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống

quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức (Khoản 1 và 5 Điều 2 Luật

3 Đặc điểm tín ngưỡng ở Nghệ An và Con Cuông

- Thờ thành hoàng làng

- Đền thờ các danh nhân có công với dân làng

- Đền thờ các anh hùng dân tộc

- Thờ cúng tổ tiên chia ra làm 5 bậc:

+ Bậc thứ nhất là thờ phụng ông bà thủy tổ

họ và anh em đồng hàng, được thờ tự ở từ đường của họ

+ Bậc thứ hai là thờ phụng ông bà thủy

tổ chi và tổ tiên trong phạm vi chi, được thờ tự ở ngôi nhà thờ phái

Trang 6

Bước 4 : Đánh giá kết quả, thực

hiện nhiệm vụ học tập

- GV đánh giá, nhận xét, chuẩn kiến thức và rút ra

kết luận các tín ngưỡng, Tôn giáo, đặc điểm tín

ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An

HS trình bày kết quả thảo luận:

*Tín ngưỡng Thành hoàng, thờ cúng tổ tiên…

Người Nghệ An rất kính cẩn thờ

Thành hoàng Thành hoàng là các

phúc thần cai quản, che chở, định

đoạt phúc họa cho cư dân làng xã

Thành hoàng của cư dân Nghệ An có

thể là Nhiên thần, Thiên thần hay

Nhân thần như các vị: Thượng Ngàn

công chúa, Cao Sơn Cao Các, Tứ vị

Thánh Nương, Liễu Hạnh công chúa,

Tam Tòa đại vương Lý Nhật Quang,

Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn…

Nhiều danh nhân từ thế kỷ XVI -

XVIII có công với dân làng như Đinh

Bạt Tụy (1516-1590) ở Hưng

Nguyên, Hồ Sĩ Dương (1621-1681) ở

Quỳnh Lưu, 2 anh em Trần Hưng

Học (1631-1673), Trần Hưng

Nhượng (1635-1710) ở Thanh

Chương, Trần Đăng Dinh (thế kỷ

XVII - đầu t.k XVIII) ở Yên Thành…

đều được dân làng quê hương thờ làm

Thành hoàng Các tín ngưỡng thờ

cúng tổ tiên, thờ cúng các anh hùng

dân tộc, những người có công với

làng xóm tiếp tục được duy trì, củng

cố Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi,

Quỳnh Lưu; họ Ngô ở Lý Trai, Diễn

Châu; họ Nguyễn Duy ở Cồn Lim -

Kẻ Ó (xã Thanh Lương, Thanh

Chương); họ Nguyễn Cảnh ở một số

xã thuộc huyện Nam Đường (nay

thuộc Đô Lương), Thanh Chương…

nhiều lần được trùng tu Nhiều danh

sĩ còn được con cháu trong họ lập đền

thờ riêng Đền thờ Cương quốc công

Nguyễn Xí ở Nghi Lộc được xây

dựng từ năm 1467; đền thờ Tấn quốc

+ Bậc thứ ba là thờ phụng ông bà thủy tổ chi và tổ tiên trong phạm vi chi, được thờ

tự trong nhà thờ chi

+Bậc thứ tư là tổ tiên nhà mình từ hàng ông bà cố đến ông bà nội và đồng hàng, được thờ tự ở nhà thờ của gia tộc

+ Bậc thứ năm là thờ phụng cha mẹ mình, khi mất được thờ tự ở nhà riêng của mỗi người con trai, hoặc tại nhà trưởng nam hoặc quý nam (con út)

(Thờ cúng tổ tiên – Dân tộc Kinh)

(Cúng tổ tiên - Dân tộc Thái)

Trang 7

công Nguyễn Cảnh Hoan ở Đô

Lương được xây dựng từ năm 1602

và nhiều lần được tôn tạo sau đó…

Một số vị thần Đạo Giáo, Đạo Mẫu

còn được phối thờ ở các đền lớn như

đền Cờn, đền Quả…

Đối với các dân tộc thiểu số, mỗi dân

tộc có hình thái tín ngưỡng riêng của

mình Tuy nhiên, đặc trưng nhất là

các hình thái tín ngưỡng nguyên thủy

và tín ngưỡng dân gian ngày nay còn

lưu giữ được trong các nhóm dân tộc

như nhóm Tày – Thái, nhóm Mông –

Dao; nhóm Hoa – Sán Dìu – Ngái;

nhóm Chăm – Ê đê – GiaRai; nhóm

Môn – Khmer

Bên cạnh đó, một trong những tín

ngưỡng lâu đời, phổ biến nhất của

người Việt và một số dân tộc thiểu số

khác là việc thờ cúng tổ tiên và cúng

giỗ những người đã mất Ở các gia

đình người Việt, nhà nào cũng có bàn

thờ tổ tiên và việc cúng giỗ, ghi nhớ

công ơn của các bậc tiền nhân rất

được coi trọng

Có thể nói: “Tục thờ cúng tổ tiên

là tín ngưỡng phổ biến nhất của người

Việt Nam Nó bắt nguồn từ niềm tin

rằng linh hồn người chết vẫn tồn tại

trong thế giới chúng ta và ảnh hưởng

tới cuộc sống của con cháu.” Từ thực

tế cuộc sống, sự sùng bái, nhớ ơn

người đã khuất đã sinh ra tín ngường

thờ cúng tổ tiên phổ biến sâu rộng ở

người Việt Hoạt động thờ cúng tổ

tiên thường diễn ra vào những ngày

giỗ, lễ, tết để tưởng nhớ những người

đã khuất thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn

kính… và cầu mong được “phù hộ”

cho mọi điều tốt lành Người Việt

Nam lấy lòng biết ơn làm nền tảng

đạo lý, là con cháu đều phải biết ơn

những đấng sinh thành Ngày giỗ của

( Cúng cơm mới – Dân tộc Thái)

( Cúng tổ tiên- Dân tộc Thổ)

Trang 8

cha mẹ, ông bà… là kỷ niệm ngày

mất, tạo nên cơ sở cho quan hệ gia

đình Có tồn tại linh hồn hay không

thì không thể biết, nhưng có một điều

chắc chắn là con cháu thì phải biết ơn

tổ tiên

Tổ tiên là những bậc tiền bối cùng

huyết thống đã mất, hoặc là trực hệ

sinh ra cháu, chắt, hoặc là bang hệ,

thuộc hàng tổ bác, chú, cô, dì Tổ tiên

có bên nội, bên ngoại: “nội thân,

ngoại thích” Nhưng trách nhiệm thờ

cúng bao giờ cũng thuộc về bên nội

Việc thờ phụng tổ tiên có thể chia ra

làm năm bậc:

Bậc thứ nhất là thờ phụng ông bà

thủy tổ họ và anh em đồng hàng,

được thờ tự ở từ đường của họ

Bậc thứ hai là thờ phụng ông bà

thủy tổ chi và tổ tiên trong phạm vi

chi, được thờ tự ở ngôi nhà thờ phái

Bậc thứ ba là thờ phụng ông bà

thủy tổ chi và tổ tiên trong phạm vi

chi, được thờ tự trong nhà thờ chi

Bậc thứ tư là tổ tiên nhà mình từ

hàng ông bà cố đến ông bà nội và

đồng hàng, được thờ tự ở nhà thờ của

gia tộc

Bậc thứ năm là thờ phụng cha mẹ

mình, khi mất được thờ tự ở nhà riêng

của mỗi người con trai, hoặc tại nhà

trưởng nam hoặc quý nam (con út)

( Cúng tổ tiên – Dân tộc Mông)

( Tết – dân tộc Khơ Mú)

4.Các tôn giáo ở Nghệ An

a Nho giáo

Trang 9

* Tôn giáo

- Nho giáo

Nho giáo vốn là một học thuyết về

đạo đức, chính trị Người ta cũng gọi

học thuyết này là Nho giáo để chỉ một

loại học thuyết khi đi vào các mặt của

đời sống được kinh điển hóa, giáo

điều hoá như một lý luận có ý nghĩa

tôn giáo, một “đạo”

Mặt khác, Nho sĩ còn thờ trời, thờ Khổng Tử (551

-479 tr.Cn) và các tiên hiền Khổng Tử - người sáng

lập Nho học được người Trung Hoa xưa tôn là Đại

Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương Thánh Sư 大大大

大大大大大大, được thờ ở Văn Miếu Người Nghệ An

“nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng

học hành; không mê đạo Phật…chỉ thờ thánh Khổng

(từ phủ huyện xã thôn đều có văn chỉ)”

Đúng vậy, văn chỉ, còn được gọi là

văn từ, từ vũ, nhà văn thánh từ thế kỷ

XVI trở đi, có mặt khắp nơi Ví dụ

nhà văn thánh Quỳnh Lưu ở làng

Thiện Kỵ (nay thuộc xã Quỳnh

Vinh), quê hương Lê Quỳnh (1613

- ?), đỗ Tiến sĩ năm 1643, khai khoa

cho Quỳnh Lưu, sau chuyển về

Quỳnh Đôi; nhà văn thánh Diễn Châu

ở Lý Trai, nay là xã Diễn Kỷ; nhà văn

thánh Thanh Chương ở xã Thổ Hào,

nay là xã Thanh Giang…

-Phật giáo, Đạo giáo.

Bị đẩy khỏi cung đình từ thế kỷ XV, Phật giáo, Đạo

giáo trỗi dậy khá mạnh mẽ từ thế kỷ XVI Đến thế kỷ

XVII - XVIII tư tưởng tam giáo đồng nguyên lại trở

về trong nhiều trí thức Đại Việt ở Đàng Ngoài.

Hương Hải thiền sư (1628 - 1715) gốc người Nghệ

An là một trong số đó Tuy vậy, ông sinh ra & lớn

lên ở Quảng Nam, từng thi đỗ Hương tiến, làm Tri

phủ Triệu Phong rồi từ quan đi tu, từng trụ trì ở chùa

b Phật giáo, đạo giáo

( Phật giáo - Lễ An Cư Kết Hạ )

( Đạo giáo)

c Đạo thiên chúa

( Thiên chúa giáo)

Trang 10

Thiên Tĩnh, núi Quy Kinh (Thuận Hóa) Sau bị chúa

nghi ngờ, ông lại vượt biển ra Bắc (1682), được trấn

thủ Nghệ An đón tiếp rất nồng hậu, được chúa Trịnh

Tạc cho trụ trì ở chùa Nguyệt Đường (Phố Hiến,

Hưng Yên) Còn bản thân người Nghệ An “không

mê đạo Phật” đúng như Bùi Dương Lịch & các tác

giả Đại Nam nhất thống chí nhận xét Tuy vậy, trong

bối cảnh thế kỷ XVI - XVIII ở Đàng Ngoài nhiều

chùa chiền lại được trùng tu & xây dựng mới , ở

Nghệ An Phật giáo cũng có chiều phát triển Chùa

Quỳnh Thiên ở xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu được xây

dựng từ năm 1531, trùng tu lần 1 giữa thế kỷ XVII,

lần 2 năm 1746; chùa Nam Sơn hay chùa Ngang ở

trên đồi Nam Sơn xã Nam Hoành, nay là xã Khánh

Sơn được xây dựng lâu đời nhất từ thế kỷ XI được

trùng tu năm 1586 ; chùa Đại Tuệ ở núi Đại Huệ,

huyện Nam Đàn được xây dựng từ thời Hồ (đầu thế

kỷ XV), trùng tu năm 1668 Trên nền chùa xưa còn

một tấm bia đá bị vỡ thành nhiều mảnh, dòng lạc

khoản của bia còn đọc được dòng chữ Hán “Cảnh Trị

lục niên” (1668) Đại Nam nhất thống chí chép 6

ngôi chùa có phong cảnh đẹp ở Nghệ An bấy giờ

(không kể các vùng thuộc Hà Tĩnh hiện nay) như

chùa Bột Đà ở xã Phật Kệ, chùa Hương Lâm ở xã

Nộn Hồ, chùa Đại Tuệ ở núi Đại Huệ, chùa Yên

Quốc trên núi Hùng Sơn, chùa Linh Vân ở xã Yên

Trường, chùa Lữ Sơn ở xã Xuân Áng thì chùa Bột

Đà, chùa Linh Vân được xây dựng từ thời Bắc thuộc,

chùa Đại Tuệ được xây dựng từ thời Hồ; 3 chùa còn

lại chưa rõ được xây dựng lúc nào nhưng có khả

năng đều được trùng tu vào các thế kỷ XVI - XVIII.

Đạo giáo có nguồn gốc là học thuyết

Lão Trang Có 2 phái Đạo giáo chính:

phái Thần tiên của các đạo sĩ trí thức

chủ trương tu tiên, luyện đan, cầu

trường sinh bất tử; phái Phù thuỷ

dùng pháp thuật trừ tà, trị bệnh phổ

biến trong dân gian Ở Nghệ An thời

kỳ kỷ cương xã hội đổ nát thế kỷ

XVII- XVIII, một số nhà nho chán

chen chúc danh lợi chốn quan trường,

thoát đời, bỏ đi tu tiên, tiêu biểu là

Phạm Viên Ông là con trai một vị

Thượng thư người huyện Đông

Thành Tương truyền gặp ngày giỗ

mẹ, ông từ quê dẫn 4 gia đồng khiêng

mâm cỗ biếu cha làm quan ở kinh

thành, trong nháy mắt quà biếu đã ra

đến cầu Giền Về sau Phạm Viên

thành tiên bỏ nhà đi mất không rõ

tung tích

Một bộ phận trong dân gian tin vào

Ngày đăng: 02/10/2023, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w