Năng lực - Nhận diện được loại hình tôn giáo, tín ngưỡng đang thực hiện trong gia đình mình; Nêu được một số loại hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Nghệ An; - Bước đầu nhận diện được đặc điểm
Trang 1Ngày soạn: 28/9/2023 CHỦ ĐỀ 2: Tiết 5-6-7- 8 TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở NGHỆ AN
I MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Năng lực
- Nhận diện được loại hình tôn giáo, tín ngưỡng đang thực hiện trong gia đình mình; Nêu được một số loại hình tôn giáo, tín ngưỡng ở Nghệ An;
- Bước đầu nhận diện được đặc điểm cơ bản về Đền, Đình, Chùa, Nhà thờ
- Giới thiệu được 1 công trình đại diện cho 1 tôn giáo, tín ngưỡng ở địa phương;
- Nêu được ý tưởng để bảo tồn và phát huy giá trị của các công trình tôn giáo, tín ngưỡng ở địa phương;
2 Phẩm chất
Luôn có tinh thần yêu quý, giữ gìn và phát huy truyền thống tín ngưỡng, tôn giáo tốt đẹp của gia đình, địa phương ở Nghệ An
II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
1 Đối với giáo viên
- SGK, SGV GDĐP tỉnh Nghệ An
- Máy tính, máy chiếu
- Tranh ảnh về các Đền, đình, chùa, nhà thờ và các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An
2 Đối với học sinh
- SGK,
- Đọc trước bài học trong SGK
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
A HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG
a Mục tiêu: Kích thích nhu cầu tìm hiểu các Đền, đình, chùa, nhà thờ và các hoạt
động tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An
b Tổ chức thực hiện:
Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập
- GV yêu cầu HS quan sát và trả lời câu hỏi: Kể tên các đình, đền, chùa, nhà thờ ở Nghệ An?
Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập
- HS quan sát tranh, thảo luận theo cặp đôi và thực hiện yêu cầu
- GV hướng dẫn, hỗ trợ HS (nếu cần thiết)
Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận
- GV mời HS khác nhận xét, bổ sung
Bước 4: Đánh giá kết quả, thực hiện nhiệm vụ học tập
- GV đánh giá, nhận xét, chuẩn kiến thức
- GV dẫn dắt HS vào bài học: Con người Nghệ An siêng năng, cần cù, chân thật, một lòng tôn kính Tổ tiên, hướng về Đức Phật nên từ xa xưa đã có nhiều ngôi chùa được nhân dân xây dựng để thờ Phật Những ngôi chùa đã trở thành trung tâm sinh
Trang 2hoạt văn hóa tâm linh của cộng đồng làng xã Trải qua những thăng trầm lịch sử,
có lúc thịnh, lúc suy song lực lượng tăng ni, phật tử xứ Nghệ luôn đồng hành cùng dân tộc, một lòng “sống đạo, hành đạo”, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của người dân và góp phần vào sự phát triển KT-XH của tỉnh nhà
B HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hoạt động 1: Tìm hiểu nguồn gốc và khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáoa Mục tiêu:
- Giới thiệu được nguồn gốc xuất hiện của tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An;
- Nêu được khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo
b Tổ chức hoạt động :
HOẠT ĐỘNG CỦA GV-HS
Bước 1 : GV chuyển giao nhiệm vụ
học tập
- GV cho HS thảo luận nhóm theo kĩ
thuật mảnh ghép, với nhiệm vụ sau:
+ Nhóm 1,2: Giới thiệu nguồn gốc của tín ngưỡng,
tôn giáo ở Nghệ An
+ Nhóm 3,4: Nêu được khái niệm tín ngưỡng, tôn
giáo.
Bước 2 : HS thực hiện nhiệm vụ
học tập
- HS thảo luận, đọc thông tin SGK, quan sát hình
SGK và trình bày nguồn gốc, khái niệm của tín
ngưỡng, tôn giáo.
- GV hướng dẫn, theo dõi, hỗ trợ HS
nếu cần thiết
Bước 3 : Báo cáo kết quả hoạt động
và thảo luận
- GV mời đại diện HS các nhóm trình bày sản phẩm
và giới thiệu.
- GV mời đại diện các nhóm khác
nhận xét, bổ sung GV giúp HS tóm
tắt những thông tin vừa tìm được để
đúc kết thành kiến thức bài học
- GV mở rộng thêm về nguồn gốc
xuất hiện của tín ngưỡng, tôn giáo ở
Nghệ An.:
Bước 4 : Đánh giá kết quả, thực
hiện nhiệm vụ học tập
- GV đánh giá, nhận xét, chuẩn kiến thức và rút ra
kết luận Tôn giáo tín ngưỡng ở Nghệ An xuất hiện
khi nào?
HS trình bày kết quả thảo luận
Theo sử cũ, vùng đất từ khe Nước
Lạnh phía Bắc đến đèo Ngang phía
DỰ KIẾN SẢN PHẨM
1.Nguồn gốc
Tôn giáo, tín ngưỡng xuất hiện ở Nghệ An
từ thế kỉ XVI
Trang 3thứ 1 (1428) thuộc đạo Hải Tây; năm
Quang Thuận thứ 7 (1466) đặt làm
thừa tuyên Nghệ An; năm Hồng Đức
thứ 21 (1490) đổi làm xứ; trong đời
Hồng Thuận (1509-1516) đổi làm
trấn Thời Mạc & thời Lê Trung
Hưng vẫn gọi như thế Thời Tây Sơn
đổi làm Trung Đô, nhưng vẫn gọi là
trấn Nghệ An Vùng đất Nghệ An bấy
giờ gồm các phủ: Diễn Châu (có các
huyện Đông Thành, Quỳnh Lưu);
Anh Đô (có 2 huyện Hưng Nguyên,
Nam Đường); Quỳ Châu (có 2 huyện
Thúy Vân, Trung Sơn); Trà Lân (gồm
4 huyện Tương Dương, Kỳ Sơn, Vĩnh
Khang, Hội Nguyên); ngoài ra còn 2
huyện: Thanh Chương (thời Lê sơ là
huyện Thanh Giang), Chân Phúc
(thời Tây Sơn đổi là Chân Lộc, từ
năm 1889 đến nay là Nghi Lộc) thuộc
phủ Đức Quang Phủ Đức Quang còn
có 4 huyện: La Sơn, Thiên Lộc,
Hương Sơn, Nghi Xuân nay đều
thuộc tỉnh Hà Tĩnh Phủ Hà Hoa (có
các huyện Thạch Hà, Kỳ Hoa, cả 2
huyện này nay đều thuộc Hà Tĩnh)
Phủ Ngọc Ma (có 1 châu Trịnh Cao)
Phủ Lâm An (có 1 châu Quy Hợp)
Phủ Trấn Ninh có 7 huyện Kim Sơn,
Thanh Vị, Cảnh Thuần, Quang Vinh,
Minh Quảng, Quang Lang, Trung
Thuận Phủ Trấn Ninh xưa là đất Bồn
Man, nay là miền Xiêng Khoảng
nước Lào Bài viết này chỉ nói đến
tình hình ở những vùng đất đến nay
vẫn thuộc Nghệ An
Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII,
tình hình chính trị Đại Việt rối ren,
các thế lực phong kiến ra sức tranh
giành quyền lực: hết cuộc đối đầu
quyết liệt Lê Mạc (1533-1592) đến
nội chiến đẫm máu Trịnh Nguyễn
(1627-1672), tiếp đó là bão táp khởi
nghĩa nông dân thế kỷ XVIII
Trang 4-Thời Lê Mạc phân tranh, tướng Mạc
kéo quân vào Thanh - Nghệ 13 lần,
trong đó có 7 lần vào Nghệ An Nhân
dân Nghệ An hết sức khốn khổ trong
cảnh binh đao Năm 1572, sử cũ
chép: “Nghệ An nhiều phen bị nạn
binh lửa Các huyện, đồng ruộng bỏ
hoang, nhân dân đói khổ Dịch lệ lại
phát sinh, người chết đến quá nửa
Nhân dân phiêu giạt, hoặc tan tác vào
Nam ra Bắc Trong cõi Nghệ An đìu
hiu vắng tanh”
-Thời nội chiến Trịnh - Nguyễn,
Nghệ An luôn là bãi chiến trường:
Giặc ra, thuyền chúa lại vào
Cửa nhà lại phá, hầm hào lại xây
(Ca dao) Đời sống nhân dân Nghệ An chưa
hề được cải thiện
Nhân dân Nghệ An vốn có truyền
thống đấu tranh kiên cường, bất khuất
chống áp bức dân tộc & áp bức giai
cấp nên vào thế kỷ XVIII, một số
lãnh tụ nông dân ngoài Bắc như
Nguyễn Diên, Nguyễn Hữu Cầu, Lê
Duy Mật khi gặp khó khăn đã rút vào
đây lập căn cứ địa Nhân dân Nghệ
An cũng hết lòng ủng hộ người anh
hùng áo vải Nguyễn Huệ trong cuộc
hành quân thần tốc cuối năm Mậu
Thân, góp phần làm nên chiến thắng
vĩ đại mùa Xuân Kỷ Dậu 1789
-Thế kỷ XVII - XVIII, trên cơ sở kinh
tế hàng hóa phát triển, sự giao lưu
giữa các địa phương được mở rộng
Hệ thống chợ huyện, chợ phủ, chợ
trấn làm cho thương nghiệp Nghệ An
trở nên khá nhộn nhịp Lam Thành
(khu vực chợ Tràng hiện nay) là lỵ sở
của Nghệ An thời Lê sơ, đến thời Lê
Trung Hưng, trấn ty chuyển vào Dinh
Trang 5Cầu (xã Hà Trung, Kỳ Anh), sau lại
dời ra Dũng Quyết (phường Trung
Đô, TP Vinh hiện nay) .Phố Phù
Thạch bên bờ sông Lam cạnh lỵ sở
trấn cho đến đầu thế kỷ XIX từng nổi
tiếng là một nơi đô hội:
Phồn hoa nổi áng thị thành,
Đây Phù Thạch phố là danh lịch
triều
(Mai đình mộng ký Nguyễn Huy
Hổ)
Trong bối cảnh chính trị - xã hội phức
tạp, khủng hoảng niềm tin, tôn giáo,
tín ngưỡng ở Nghệ An phát triển khá
phong phú, đa dạng
Hoạt động 2: Tìm hiểu các tín ngưỡng tôn giáo ở
Nghệ An và Con Cuông
a Mục tiêu:
- Giới thiệu được các tôn giáo ở Nghệ An;
- Nhận xét được đặc điểm tôn giáo ở Nghệ An
b Tổ chức hoạt động:
Bước 1 : GV chuyển giao nhiệm vụ
học tập
- GV cho HS thảo luận nhóm theo kĩ
thuật mảnh ghép, với nhiệm vụ sau:
+ Nhóm 1,2: Giới thiệu các tín ngưỡng, tôn giáo ở
Nghệ An và địa phương em?
+ Nhóm 3,4: Nêu được đặc điểm của tín ngưỡng, tôn
giáo ở Nghệ An.
Bước 2 : HS thực hiện nhiệm vụ
học tập
- HS thảo luận, đọc thông tin SGK, quan sát hình
SGK giới thiệu các tín ngưỡng, tôn giáo và đặc điểm
tín ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An.
- GV hướng dẫn, theo dõi, hỗ trợ HS
nếu cần thiết
Bước 3 : Báo cáo kết quả hoạt động
và thảo luận
- GV mời đại diện HS các nhóm trình bày sản phẩm
và giới thiệu.
- GV mời đại diện các nhóm khác
nhận xét, bổ sung GV giúp HS tóm
tắt những thông tin vừa tìm được để
đúc kết thành kiến thức bài học
- GV mở rộng thêm về tín ngưỡng,
tôn giáo ở Nghệ An
2.Tín ngưỡng, tôn giáo
a.Tín ngưỡng: là niềm tin của con người được thể hiện
thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân
và cộng đồng.
b.Tôn giáo: là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống
quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức (Khoản 1 và 5 Điều 2 Luật
3 Đặc điểm tín ngưỡng ở Nghệ An và Con Cuông
- Thờ thành hoàng làng
- Đền thờ các danh nhân có công với dân làng
- Đền thờ các anh hùng dân tộc
- Thờ cúng tổ tiên chia ra làm 5 bậc:
+ Bậc thứ nhất là thờ phụng ông bà thủy tổ
họ và anh em đồng hàng, được thờ tự ở từ đường của họ
+ Bậc thứ hai là thờ phụng ông bà thủy
tổ chi và tổ tiên trong phạm vi chi, được thờ tự ở ngôi nhà thờ phái
Trang 6Bước 4 : Đánh giá kết quả, thực
hiện nhiệm vụ học tập
- GV đánh giá, nhận xét, chuẩn kiến thức và rút ra
kết luận các tín ngưỡng, Tôn giáo, đặc điểm tín
ngưỡng, tôn giáo ở Nghệ An
HS trình bày kết quả thảo luận:
*Tín ngưỡng Thành hoàng, thờ cúng tổ tiên…
Người Nghệ An rất kính cẩn thờ
Thành hoàng Thành hoàng là các
phúc thần cai quản, che chở, định
đoạt phúc họa cho cư dân làng xã
Thành hoàng của cư dân Nghệ An có
thể là Nhiên thần, Thiên thần hay
Nhân thần như các vị: Thượng Ngàn
công chúa, Cao Sơn Cao Các, Tứ vị
Thánh Nương, Liễu Hạnh công chúa,
Tam Tòa đại vương Lý Nhật Quang,
Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn…
Nhiều danh nhân từ thế kỷ XVI -
XVIII có công với dân làng như Đinh
Bạt Tụy (1516-1590) ở Hưng
Nguyên, Hồ Sĩ Dương (1621-1681) ở
Quỳnh Lưu, 2 anh em Trần Hưng
Học (1631-1673), Trần Hưng
Nhượng (1635-1710) ở Thanh
Chương, Trần Đăng Dinh (thế kỷ
XVII - đầu t.k XVIII) ở Yên Thành…
đều được dân làng quê hương thờ làm
Thành hoàng Các tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên, thờ cúng các anh hùng
dân tộc, những người có công với
làng xóm tiếp tục được duy trì, củng
cố Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi,
Quỳnh Lưu; họ Ngô ở Lý Trai, Diễn
Châu; họ Nguyễn Duy ở Cồn Lim -
Kẻ Ó (xã Thanh Lương, Thanh
Chương); họ Nguyễn Cảnh ở một số
xã thuộc huyện Nam Đường (nay
thuộc Đô Lương), Thanh Chương…
nhiều lần được trùng tu Nhiều danh
sĩ còn được con cháu trong họ lập đền
thờ riêng Đền thờ Cương quốc công
Nguyễn Xí ở Nghi Lộc được xây
dựng từ năm 1467; đền thờ Tấn quốc
+ Bậc thứ ba là thờ phụng ông bà thủy tổ chi và tổ tiên trong phạm vi chi, được thờ
tự trong nhà thờ chi
+Bậc thứ tư là tổ tiên nhà mình từ hàng ông bà cố đến ông bà nội và đồng hàng, được thờ tự ở nhà thờ của gia tộc
+ Bậc thứ năm là thờ phụng cha mẹ mình, khi mất được thờ tự ở nhà riêng của mỗi người con trai, hoặc tại nhà trưởng nam hoặc quý nam (con út)
(Thờ cúng tổ tiên – Dân tộc Kinh)
(Cúng tổ tiên - Dân tộc Thái)
Trang 7công Nguyễn Cảnh Hoan ở Đô
Lương được xây dựng từ năm 1602
và nhiều lần được tôn tạo sau đó…
Một số vị thần Đạo Giáo, Đạo Mẫu
còn được phối thờ ở các đền lớn như
đền Cờn, đền Quả…
Đối với các dân tộc thiểu số, mỗi dân
tộc có hình thái tín ngưỡng riêng của
mình Tuy nhiên, đặc trưng nhất là
các hình thái tín ngưỡng nguyên thủy
và tín ngưỡng dân gian ngày nay còn
lưu giữ được trong các nhóm dân tộc
như nhóm Tày – Thái, nhóm Mông –
Dao; nhóm Hoa – Sán Dìu – Ngái;
nhóm Chăm – Ê đê – GiaRai; nhóm
Môn – Khmer
Bên cạnh đó, một trong những tín
ngưỡng lâu đời, phổ biến nhất của
người Việt và một số dân tộc thiểu số
khác là việc thờ cúng tổ tiên và cúng
giỗ những người đã mất Ở các gia
đình người Việt, nhà nào cũng có bàn
thờ tổ tiên và việc cúng giỗ, ghi nhớ
công ơn của các bậc tiền nhân rất
được coi trọng
Có thể nói: “Tục thờ cúng tổ tiên
là tín ngưỡng phổ biến nhất của người
Việt Nam Nó bắt nguồn từ niềm tin
rằng linh hồn người chết vẫn tồn tại
trong thế giới chúng ta và ảnh hưởng
tới cuộc sống của con cháu.” Từ thực
tế cuộc sống, sự sùng bái, nhớ ơn
người đã khuất đã sinh ra tín ngường
thờ cúng tổ tiên phổ biến sâu rộng ở
người Việt Hoạt động thờ cúng tổ
tiên thường diễn ra vào những ngày
giỗ, lễ, tết để tưởng nhớ những người
đã khuất thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn
kính… và cầu mong được “phù hộ”
cho mọi điều tốt lành Người Việt
Nam lấy lòng biết ơn làm nền tảng
đạo lý, là con cháu đều phải biết ơn
những đấng sinh thành Ngày giỗ của
( Cúng cơm mới – Dân tộc Thái)
( Cúng tổ tiên- Dân tộc Thổ)
Trang 8cha mẹ, ông bà… là kỷ niệm ngày
mất, tạo nên cơ sở cho quan hệ gia
đình Có tồn tại linh hồn hay không
thì không thể biết, nhưng có một điều
chắc chắn là con cháu thì phải biết ơn
tổ tiên
Tổ tiên là những bậc tiền bối cùng
huyết thống đã mất, hoặc là trực hệ
sinh ra cháu, chắt, hoặc là bang hệ,
thuộc hàng tổ bác, chú, cô, dì Tổ tiên
có bên nội, bên ngoại: “nội thân,
ngoại thích” Nhưng trách nhiệm thờ
cúng bao giờ cũng thuộc về bên nội
Việc thờ phụng tổ tiên có thể chia ra
làm năm bậc:
Bậc thứ nhất là thờ phụng ông bà
thủy tổ họ và anh em đồng hàng,
được thờ tự ở từ đường của họ
Bậc thứ hai là thờ phụng ông bà
thủy tổ chi và tổ tiên trong phạm vi
chi, được thờ tự ở ngôi nhà thờ phái
Bậc thứ ba là thờ phụng ông bà
thủy tổ chi và tổ tiên trong phạm vi
chi, được thờ tự trong nhà thờ chi
Bậc thứ tư là tổ tiên nhà mình từ
hàng ông bà cố đến ông bà nội và
đồng hàng, được thờ tự ở nhà thờ của
gia tộc
Bậc thứ năm là thờ phụng cha mẹ
mình, khi mất được thờ tự ở nhà riêng
của mỗi người con trai, hoặc tại nhà
trưởng nam hoặc quý nam (con út)
( Cúng tổ tiên – Dân tộc Mông)
( Tết – dân tộc Khơ Mú)
4.Các tôn giáo ở Nghệ An
a Nho giáo
Trang 9* Tôn giáo
- Nho giáo
Nho giáo vốn là một học thuyết về
đạo đức, chính trị Người ta cũng gọi
học thuyết này là Nho giáo để chỉ một
loại học thuyết khi đi vào các mặt của
đời sống được kinh điển hóa, giáo
điều hoá như một lý luận có ý nghĩa
tôn giáo, một “đạo”
Mặt khác, Nho sĩ còn thờ trời, thờ Khổng Tử (551
-479 tr.Cn) và các tiên hiền Khổng Tử - người sáng
lập Nho học được người Trung Hoa xưa tôn là Đại
Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương Thánh Sư 大大大
大大大大大大, được thờ ở Văn Miếu Người Nghệ An
“nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng
học hành; không mê đạo Phật…chỉ thờ thánh Khổng
(từ phủ huyện xã thôn đều có văn chỉ)”
Đúng vậy, văn chỉ, còn được gọi là
văn từ, từ vũ, nhà văn thánh từ thế kỷ
XVI trở đi, có mặt khắp nơi Ví dụ
nhà văn thánh Quỳnh Lưu ở làng
Thiện Kỵ (nay thuộc xã Quỳnh
Vinh), quê hương Lê Quỳnh (1613
- ?), đỗ Tiến sĩ năm 1643, khai khoa
cho Quỳnh Lưu, sau chuyển về
Quỳnh Đôi; nhà văn thánh Diễn Châu
ở Lý Trai, nay là xã Diễn Kỷ; nhà văn
thánh Thanh Chương ở xã Thổ Hào,
nay là xã Thanh Giang…
-Phật giáo, Đạo giáo.
Bị đẩy khỏi cung đình từ thế kỷ XV, Phật giáo, Đạo
giáo trỗi dậy khá mạnh mẽ từ thế kỷ XVI Đến thế kỷ
XVII - XVIII tư tưởng tam giáo đồng nguyên lại trở
về trong nhiều trí thức Đại Việt ở Đàng Ngoài.
Hương Hải thiền sư (1628 - 1715) gốc người Nghệ
An là một trong số đó Tuy vậy, ông sinh ra & lớn
lên ở Quảng Nam, từng thi đỗ Hương tiến, làm Tri
phủ Triệu Phong rồi từ quan đi tu, từng trụ trì ở chùa
b Phật giáo, đạo giáo
( Phật giáo - Lễ An Cư Kết Hạ )
( Đạo giáo)
c Đạo thiên chúa
( Thiên chúa giáo)
Trang 10Thiên Tĩnh, núi Quy Kinh (Thuận Hóa) Sau bị chúa
nghi ngờ, ông lại vượt biển ra Bắc (1682), được trấn
thủ Nghệ An đón tiếp rất nồng hậu, được chúa Trịnh
Tạc cho trụ trì ở chùa Nguyệt Đường (Phố Hiến,
Hưng Yên) Còn bản thân người Nghệ An “không
mê đạo Phật” đúng như Bùi Dương Lịch & các tác
giả Đại Nam nhất thống chí nhận xét Tuy vậy, trong
bối cảnh thế kỷ XVI - XVIII ở Đàng Ngoài nhiều
chùa chiền lại được trùng tu & xây dựng mới , ở
Nghệ An Phật giáo cũng có chiều phát triển Chùa
Quỳnh Thiên ở xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu được xây
dựng từ năm 1531, trùng tu lần 1 giữa thế kỷ XVII,
lần 2 năm 1746; chùa Nam Sơn hay chùa Ngang ở
trên đồi Nam Sơn xã Nam Hoành, nay là xã Khánh
Sơn được xây dựng lâu đời nhất từ thế kỷ XI được
trùng tu năm 1586 ; chùa Đại Tuệ ở núi Đại Huệ,
huyện Nam Đàn được xây dựng từ thời Hồ (đầu thế
kỷ XV), trùng tu năm 1668 Trên nền chùa xưa còn
một tấm bia đá bị vỡ thành nhiều mảnh, dòng lạc
khoản của bia còn đọc được dòng chữ Hán “Cảnh Trị
lục niên” (1668) Đại Nam nhất thống chí chép 6
ngôi chùa có phong cảnh đẹp ở Nghệ An bấy giờ
(không kể các vùng thuộc Hà Tĩnh hiện nay) như
chùa Bột Đà ở xã Phật Kệ, chùa Hương Lâm ở xã
Nộn Hồ, chùa Đại Tuệ ở núi Đại Huệ, chùa Yên
Quốc trên núi Hùng Sơn, chùa Linh Vân ở xã Yên
Trường, chùa Lữ Sơn ở xã Xuân Áng thì chùa Bột
Đà, chùa Linh Vân được xây dựng từ thời Bắc thuộc,
chùa Đại Tuệ được xây dựng từ thời Hồ; 3 chùa còn
lại chưa rõ được xây dựng lúc nào nhưng có khả
năng đều được trùng tu vào các thế kỷ XVI - XVIII.
Đạo giáo có nguồn gốc là học thuyết
Lão Trang Có 2 phái Đạo giáo chính:
phái Thần tiên của các đạo sĩ trí thức
chủ trương tu tiên, luyện đan, cầu
trường sinh bất tử; phái Phù thuỷ
dùng pháp thuật trừ tà, trị bệnh phổ
biến trong dân gian Ở Nghệ An thời
kỳ kỷ cương xã hội đổ nát thế kỷ
XVII- XVIII, một số nhà nho chán
chen chúc danh lợi chốn quan trường,
thoát đời, bỏ đi tu tiên, tiêu biểu là
Phạm Viên Ông là con trai một vị
Thượng thư người huyện Đông
Thành Tương truyền gặp ngày giỗ
mẹ, ông từ quê dẫn 4 gia đồng khiêng
mâm cỗ biếu cha làm quan ở kinh
thành, trong nháy mắt quà biếu đã ra
đến cầu Giền Về sau Phạm Viên
thành tiên bỏ nhà đi mất không rõ
tung tích
Một bộ phận trong dân gian tin vào