Giáo dục là nền tảng của sự phát triển con người về mọi mặt. Thời gian qua giáo viên là những người cố gắng hết sức trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Nhờ đó mà ngành giáo dục đã đạt được những thành tích đáng kể. Những người làm giáo dục phải có lòng nhiệt huyết với nghề. Ngoài việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, giáo viên còn có nhiệm vụ không kém phần quan trọng đó là không ngừng học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Giáo viên luôn là chiếc cầu nối cho học sinh nắm bắt được kiến thức cơ bản về con người, tự nhiên, xã hội… và một số kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết, của Tiếng việt, là một trong những mảng kiến thức quan trọng ấy. Đọc viết, nghe viết là những kĩ năng đặc trưng của phân môn Chính tả là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn Tiếng Việt trong nhà trường. Vì vậy là giáo viên dạy Lớp 1 tôi phải đặc biệt chú ý đến vấn đề học chính tả của các em ngay ở lớp đầu cấp. Chính tả là kỹ năng thật sự cần thiết đối với mọi người, không chỉ đối với học sinh tiểu học. Nếu ta đọc một văn bản được viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó. Trái lại, đọc một văn bản mắc nhiều lỗi chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ văn bản. Chính vì thế, tôi không muốn học sinh của mình mắc lỗi chính tả khi viết, nên tôi đã nghiên cứu và chọn đề tài “Rèn kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 1”. I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học. Phân môn Chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả. Đây là phân môn mang đậm dấu ấn truyền thống của việc dạy và học Tiếng Việt. Vì tôi đã tìm hiểu và nhận thấy những điểm mới, điểm nổi trội trong nội dung và phương pháp dạy học phân môn này để có những cách tiếp cận và chuyển tải phù hợp hơn đến các đối tượng học sinh, nhằm đạt được hiệu quả tốt trong việc hình hành kĩ năng nghe – viết cho cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ở trường phổ thông nói chung. Muốn đọc thông viết thạo, học sinh phải được học phân môn chính tả. Chính tả là phân môn có tính chất công cụ. Nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tập đầu tiên của học sinh. Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học tập Tiếng Việt. Ngoài ra, phân môn Chính tả còn rèn luyện
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Giáo dục là nền tảng của sự phát triển con người về mọi mặt Thời gianqua giáo viên là những người cố gắng hết sức trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ.Nhờ đó mà ngành giáo dục đã đạt được những thành tích đáng kể Những ngườilàm giáo dục phải có lòng nhiệt huyết với nghề Ngoài việc rèn luyện phẩm chấtđạo đức, tác phong, giáo viên còn có nhiệm vụ không kém phần quan trọng đó làkhông ngừng học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Giáo viên luôn là chiếc cầu nối cho học sinh nắm bắt được kiến thức cơbản về con người, tự nhiên, xã hội… và một số kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết,của Tiếng việt, là một trong những mảng kiến thức quan trọng ấy Đọc - viết, nghe
- viết là những kĩ năng đặc trưng của phân môn Chính tả là một trong những vấn đềđang được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng của môn Tiếng Việt trong nhàtrường Vì vậy là giáo viên dạy Lớp 1 tôi phải đặc biệt chú ý đến vấn đề học chính
tả của các em ngay ở lớp đầu cấp
Chính tả là kỹ năng thật sự cần thiết đối với mọi người, không chỉ đối vớihọc sinh tiểu học Nếu ta đọc một văn bản được viết đúng chính tả, người đọc có
cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó Trái lại, đọc một văn bản mắc nhiều lỗichính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu đầy
đủ văn bản
Chính vì thế, tôi không muốn học sinh của mình mắc lỗi chính tả khi viết,
sinh Lớp 1”
Trang 2I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Phân mônChính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả.Đây là phân môn mang đậm dấu ấn truyền thống của việc dạy và học Tiếng Việt
Vì tôi đã tìm hiểu và nhận thấy những điểm mới, điểm nổi trội trong nội dung vàphương pháp dạy học phân môn này để có những cách tiếp cận và chuyển tải phùhợp hơn đến các đối tượng học sinh, nhằm đạt được hiệu quả tốt trong việc hìnhhành kĩ năng nghe – viết cho cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, cácmôn học ở trường phổ thông nói chung
Muốn đọc thông viết thạo, học sinh phải được học phân môn chính tả Chính
tả là phân môn có tính chất công cụ Nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tậpđầu tiên của học sinh Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học tập TiếngViệt Ngoài ra, phân môn Chính tả còn rèn luyện cho học sinh một số phẩm chấtnhư: Tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt
và chữ Tiếng Việt
Ở bậc tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí vô cùng quan trọng Vì học sinhLớp 1 là giai đoạn đầu cấp và cũng là giai đoạn then chốt trong quá trình hìnhthành khả năng chính tả cho học sinh Không phải ngẫu nhiên mà ở bậc tiểu họchọc chính tả còn được bố trí thành một phân môn độc lập (thuộc môn Tiếng Việt)
có tiết dạy riêng Giống như các phân môn khác, tính nổi bật của môn Chính tả làtính thực hành, chỉ có thể hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh thông quaviệc thực hành và luyện tập
Đối với học sinh Lớp 1 khi học phân môn Chính tả sẽ gặp những khó khănnhất định Vì các em là lứa tuổi đầu tiên phải làm quen với môn học này một cáchmới lạ, bỡ ngỡ Nó đòi hỏi các em phải có trí tư duy về nhiều mặt đối với nhữngbài chính tả nghe/ viết vừa phải nghe bằng tai và viết thành chữ cho đúng nên mỗikhi dạy tiết này tôi đều phải đầu tư, chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng phù hợp để vụ cho
Trang 3tiết dạy không còn khô khan Điều mà tôi băn khoăn lo lắng là làm thế nào để tiếtdạy không còn nhàm chán giữa thầy, trò để đạt kết quả cao
Nhằm giúp học sinh từng bước làm quen và có kĩ năng viết đúng chính tả tạocho các em sự thích thú và chủ động, tích cực học tập ở phân môn Chính tả nên tôi
học sinh Lớp 1”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Phân môn Chính tả trong nhà trường có mục đích giúp học sinh nắm vữngcác quy tắc và hình thành kỹ năng chính tả, nói cách khác, giúp học sinh hình thànhnăng lực và thói quen viết đúng chính tả Ngoài ra còn rèn cho học sinh lòng yêuquý Tiếng Việt
Về chương trình dạy chính tả bắt đầu ở tuần 25, mỗi tuần có hai tiết tậpchép Học sinh nhìn lên bảng, nhìn sách giáo khoa để chép lại bài theo cỡ chữ nhỏ,kết hợp nghe giáo viên đọc từng tiếng – mỗi bài viết từ 20 đến 30 chữ trong thờigian từ 10 đến 15 phút Ở tuần 31, 33, 35, mỗi tuần có một tiết chính tả (tập chép)
và một tiết chính tả (nghe/viết) yêu cầu: Viết đều nét, rõ ràng, thẳng dòng, đúngchính tả
Mục đích dạy phân môn Chính tả là hình thành cho học sinh năng lực viếtthành thạo, thuần thục chữ viết theo các “chuẩn chính tả” nghĩa là giúp học sinhhình thành kỹ xảo chính tả và luôn viết đúng chính tả
Phân môn chính tả nhằm ba mục đích, với mức độ như sau:
1/ Rèn kỹ năng nghe, viết đúng chính tả với các chỉ tiêu cần đạt: Viết đúngmẫu, đúng chính tả, không mắc phải 5 lỗi mỗi bài tốc độ viết 1 – 2 chữ /1 phút
2/ Kết hợp việc luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng
cố nghĩa từ, trau dồi kiến thức cơ bản về ngữ pháp Tiếng Việt, góp phần phát triểnthao tác tư duy: Nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ
Trang 43/ Bồi dưỡng một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như:Cẩn thận, chính xác, khiếu thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm.
Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết ở chương trình học kỳ
II bắt đầu từ tuần 25 với tổng số bài chính tả mà học sinh được học là 26 bài (cảcác bài ôn tập – kiểm tra) Hình thức chủ yếu là tập chép, có xen kẽ thêm hình thứcchính tả nghe/viết Mỗi bài chính tả tăng dần độ dài Kết hợp trong bài chính tả chohọc sinh làm các bài tập về các từ dễ viết sai chính tả theo quy tắc như: Luyện viết
các vần khó, các chữ bắt đầu bằng g/gh; ng/ngh; c/k/q,…Tập ghi các dấu câu (dấu
chấm, dấu chấm hỏi) Tập trình bày một bài chính tả ngắn
Trên cơ sở đó, phân môn chính tả còn giải quyết vấn đề dạy cho học sinhbiết chữ để học, dùng chữ để học các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp.Chính tả trước hết là môn học có tính chất thực hành Nói cách khác, chính tả lànhững quy ước của xã hội trong ngôn ngữ Mục đích chính tả là làm phương tiệntruyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm cho người viết và người đọc đều đượchiểu nội dung văn bản Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, nókhông cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt, có tính chất sáng tạo cá nhân
Phân môn Chính tả còn có nhiệm vụ: Phối hợp với Tập Viết, tiếp tục củng
cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về hệ thống chữ viết và hệ thống ngữ âm tiếng việt.Phân môn Chính tả dạy cho học sinh hệ thống chữ cái, mối liên hệ âm – chữ cái –cấu tạo và cách viết chữ Cung cấp tri thức cơ bản về hệ thống quy tắc chuẩn,thống nhất chính tả Tiếng Việt là liên kết và khu biệt khi viết chữ, các quy tắc nhậnbiết và thể hiện chức năng của chữ viết … Rèn luyện thuần thục kĩ năng viết, đọc,hiểu chữ viết Tiếng Việt
Trong tiếng việt có 14 nguyên âm làm âm chính, trong đó có 11 nguyên âmđơn: a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô,ơ, u, ư và 3 nguyên âm đôi: ia (ya, iê, yê); ua (uô); ưa(ươ)
Vị trí của âm chính trong âm tiết được xác định như sau :
Thanh điệu
Trang 5Phụ âm đầu Vần
Khi viết các dấu ghi thanh ( `, ?, ~, /, ) được đánh lên trên hoặc dưới âmchính
Các nguyên âm đơn có đặc điểm không thay đổi cách viết ở trong các từkhác nhau (trừ trường hợp i có khi viết y)
Hán việt: y tá, ý kiến …
Các nguyên âm đôi có cách vi t khác nhau, tu vào c u t o c a âm ti t: ết khác nhau, tuỳ vào cấu tạo của âm tiết: ỳ vào cấu tạo của âm tiết: ấu tạo của âm tiết: ạo của âm tiết: ủa âm tiết: ết khác nhau, tuỳ vào cấu tạo của âm tiết:
Viết Trong trường hợp Ví dụ
đầu âm tiết không có âm đầu)
Xuyến, quyên, yên, yết,yêu…
Mặt khác, còn trang bị cho học sinh một công cụ quan trọng để học tập vàgiao tiếp (ghi chép, viết, đọc và hiểu bài, làm bài…) phát triển ngôn ngữ và tư duykhoa học cho học sinh Chính tả còn có quan hệ với chính âm, với tập viết và tậpđọc…Phân môn chính tả còn góp phần bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm,phẩm chất tốt đẹp qua cách sử dụng ngôn ngữ: Tính khoa học, tính chính xác vàtính thẫm mĩ ở học sinh Mục đích của chính tả là rèn luyện khả năng: “Đọc thông,viết thạo” chủ yếu là viết đúng chuẩn mực chữ viết và dạng thức viết
Với tầm quan trọng của phân môn Chính tả như vậy Là một giáo viêndạy lớp 1 tôi thiết nghĩ phải rèn luyện và phát huy kỹ năng viết chính tả cho học
Trang 6sinh ngay từ lớp 1 Từ đó làm nền tảng, là kiến thức cơ bản để các em học chính tả
Trang 7III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1/ Phối hợp với gia đình, nhà trường giúp các em tiến bộ trong học tập:
Sau khi tổ chức dạy thực nghiệm tiết chính tả và có kết quả như bảng thống
kê trên tôi xin ý kiến Ban giám hiệu cho họp phụ huynh nhằm thông báo kết quảhọc tập của các em, khi các bậc phụ huynh nắm được tình hình học tập của con emmình qua phiếu liên lạc, tôi mong muốn các bậc phụ huynh hãy quan tâm, kiểm tra,giúp đỡ con em mình hơn nữa Đặc biệt là chương trình Tiếng việt ở học kỳ II cónhiều thay đổi, mức độ của chương trình được nâng cao, so với học kỳ I học sinhchỉ học âm, ghép vần nhưng học kỳ II các em được tiếp cận với nhiều phân mônnhư: Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện, mỗi phân môn có những đặc thùriêng Mỗi tuần các em được học 2 tiết với hình thức chính tả tập chép và chính tảnghe/ viết
Riêng phân môn Chính tả là phân môn hoàn toàn mới lạ đối với các em, khihọc bài chính tả nghe/viết học sinh phải vận dụng các kĩ năng nghe, viết, mà phảinắm được quy tắc chính tả mới viết chính xác bài viết …v.v…
Riêng những gia đình chưa đủ điều kiện quan tâm đến việc học của con em,nên các em lơ là việc học, tôi trao đổi riêng sau giờ họp nêu rõ lực họcvà khả nănghọc chính tả của các em, ngoài giờ học trên lớp thì sự hỗ trợ của phụ huynh ở nhà
cùng với giáo viên, nhà trường giúp các em học tập tốt
Sau cuộc họp, tất cả phụ huynh đã đồng ý với đề nghị mà tôi đã đưa ra
2/ Phân loại trình độ và sắp xếp chỗ ngồi:
Học lực của từng em đã được thể hiện rõ, tôi tiến hành xếp lại chỗ ngồi chohọc sinh Mỗi tổ xếp xen kẽ theo học lực: giỏi, khá, trung bình, yếu và xen kẽ các
em theo nhóm đã phân loại được như bảng thống kê trên nhằm thực hiện phương
châm: “Học thầy không tày học bạn”
Trang 8Tôi hy vọng với cách sắp xếp như vậy ngoài các kiến thức cơ bản, hệ thốngđược học ở giáo viên, trẻ còn có thể hỗ trợ lẫn nhau trong học tập Sự hỗ trợ giữacác học sinh giúp các em tự tin vào khả năng của bản thân và tự rút kinh nghiệm vềcách học của chính mình.
3/ Đối với giáo viên:
Nắm vững nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy Giọng đọc phải
rõ ràng, chuẩn theo tiếng phổ thông Giáo viên phải đầu tư cho tiết dạy, chuẩn bịtranh ảnh (vật thật), phục vụ cho tiết dạy và phần bài tập…) sao cho một tiết dạychính tả không còn nhàm chán, nặng nề đối với các em nữa
Uốn nắn cách phát âm của học sinh, các em thường có thói quen nói sao viếtvậy, đặc biệt là các em ở miền Nam
Ví dụ: khỏe khoắn viết là phẻ phắn, bơi lội viết là bê lội…
Theo phân phối chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt (Lớp 1) Ngoài họcphần học âm, học vần, tập đọc, tập viết các em còn phải làm quen một phân mônnữa đó là Chính tả Đây là một phân môn mới mẻ đối với học sinh đầu cấp nên đòihỏi gidáo viên phải biết đưa ra những biện pháp khéo léo và phù hợp với đối tượnghọc sinh và làm sao cho tiết dạy không mất thời gian và giúp các em có hứng thú ởmôn học này
- Về cơ bản nói chung phần lớn học sinh viết chính tả đúng hiện nay đều dựavào nhớ từng từ một Theo cách này học sinh chỉ cần tập trung nhớ mặt chữ củanhững từ dễ viết sai, nắm vững một số nguyên tắc cơ bản thì việc viết một đoạnvăn ngắn đối với các em sẽ không gặp khó khăn
4/ Giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả:
Học sinh phải nắm âm đứng cuối vần, cuối âm tiết trong Tiếng Việt có cácphụ âm cuối: p, t, m, n, ng (nh), ch và 2 bán nguyên âm i (y); u (o)
Ví dụ: tắt, xắp, chắc, bám, bán, ngang, cách, tai, tay, tàu,
Trang 9Những âm tiết có âm cuối là p, t, c chỉ có 2 thanh điệu (/ và )
Ngoài các âm trên, ở ví trí cuối âm Tiếng Việt không có một âm nào khác.Đây là một trong những đặc điểm riêng của cấu trúc âm tiết Tiếng Việt
Muốn đạt được những điểm trên đòi hỏi người giáo viên phải biết hướng dẫnhọc sinh chuẩn bị trước bài và đọc thông, viết thạo bài chính tả sẽ viết, nắm đượcnội dung chính tả của bài, nhận xét những hiện tượng chính tả hoặc cách trình bàymột văn bản Mặt khác, học sinh phát âm chuẩn xác giữa cách đọc và cách viếtphải thống nhất với nhau Điều mà giáo viên cần chú trọng ở đây là làm sao chohọc sinh của mình không mắc sai nhiều lỗi chính tả khi viết, gặp phải nhiều tiếng
có vần khó làm ảnh hưởng đến thói quen của các em
Ví dụ: tàu thủy thì viết tàu thỉ, ngoằn ngoèo thì viết ngoằn ngoè,…
Phân môn Chính tả Lớp 1 nói về hình thức các em chỉ học kiểu bài tập chép(nhìn viết) là hình thức chủ yếu Ở kiểu bài này, giáo viên phải đọc cả bài viết chohọc sinh nghe trước khi viết Giáo viên viết theo mẫu chữ hiện hành trên bảng lớp
rõ ràng Hình thức tập chép đòi hỏi học sinh chuyển từ hình ảnh thị giác (nhìn bảngviết) thành hành động tái tạo lại dạng thức viết Tập chép là hình thức lặp đi, lặp lạinhiều lần dạng thức viết của các chữ cái các từ trong văn bản Do đó, tập chép vừagiúp học sinh củng cố kỹ năng viết các chữ cái, định hình dạng thức các đơn vịngôn ngữ, vừa có tác dụng hoàn thiện kỹ năng đọc Ngoài ra, giáo viên còn cho họcsinh luyện viết đúng chữ cái ở các vị trí có phụ âm đầu hoặc vần và thanh dễ nhầmlẫn
Nói về dấu thanh gồm 5 thanh đệm (trừ thanh 1 – thanh ngang không có dấughi), thanh 2 – dấu huyền (`), thanh 3 – dấu ngã (~), thanh 4 – dấu hỏi (?), thanh 5– dấu sắc(/), thanh 6 – dấu nặng (.)
Nếu âm chính ghi bằng hai chữ nguyên âm đôi: ia, ya, ie, ua, uô, ưa, ươ thì dấu ghithanh thường ghi bằng 2 cách:
cái đầu:
Trang 10Ví dụ: mía, múa, sữa, …
cái sau:
Ví dụ: tiết, thuyền, buổi, …
Điều mà giáo viên cần lưu ý là khi giáo viên đang đọc văn bản của bài viếtthì giáo viên phải hết sức tập trung quan sát và phát hiện kịp thời hiện tượng họcsinh vội vã ghi lại lời giáo viên đọc Kinh nghiệm cho rằng, ở học sinh cấp 1 với sựvội vã như vậy sẽ không đạt được kết quả tốt Chính vì thế đòi hỏi giáo viên khôngchỉ dạy mà còn phải biết bao quát lớp học và phải thống nhất một tiến trình mộtbài dạy môn chính tả sao cho phù hợp với học sinh lớp mình
Khi học sinh viết bài xong, giáo viên nên đọc lại một lần để học sinh rà soátlại bài viết của mình Hướng dẫn học sinh theo dõi bài viết để sửa lời văn Giáoviên cần đọc chậm khi đọc từ khó có thể phân tích cách viết cho học sinh sửa lỗingay lúc đó Sau mỗi bài viết là phần bài tập Những hình thức bài tập thường được
sử dụng là: Điền phụ âm đầu g/gh, ng/ngh, c/k/q, … Điền vần và thanh … Hình
thức bài tập chính tả âm, vần phong phú và mang đậm tính tình huống cho họcsinh Ngoài ra, giáo viên cần hết sức chú ý cách hướng dẫn học sinh làm bài tập,giúp các em nắm vững yên cầu của bài tập giáo viên nên chuẩn bị vật thật, tranhảnh phù hợp với nội dung bài tập, hệ thống câu hỏi, bằng lời giải thích hoặc bằngcách hướng dẫn học sinh cách làm mẫu, nhẹ nhàng, khéo léo lôi cuốn các em vàocác tình huống nhằm kích thích sự ham muốn giải bài tập của các em, tránh manglại cảm giác nặng nề, tâm lý ngại khó trước các yêu cầu rất đa dạng của hệ thốngbài tập này
Tuy nhiên, điều giáo viên cần lưu ý cần khai thác có hiệu quả các bài tậptrong sách giáo khoa, tổ chức cho học sinh làm bài tập cũng như uốn nắn thường
chính tả ở học sinh nói chung
5 Khuyến khích động viên và nêu g ươ ng:
Trang 11Sau mỗi bài, mỗi tiết học nên tạo cho học sinh niềm vui vì đã hoàn thành bàihọc, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân bằng những lời động viên khen ngợi,tuyên dương và nêu gương những em luôn luôn viết đúng, trình bày sạch sẽ.
Tạo cho các em mong muốn tìm tòi, chú ý tốt nhất cho bài học của mình
Vì vậy, cho dù đã hoàn thành bài học, bài làm học sinh cũng vẫn không thoả mãnvới những gì đạt được Học sinh cần tự kiểm tra, đánh giá và luôn tìm cách hoànthiện việc đã làm
IV CÁC BƯỚC THỰC HIỆN:
A Phân môn chính tả không phải chỉ là một môn học phát hiện, mà là mộtmôn học phát hiện và sửa chữa những vi phạm (sửa lỗi chính tả), chính tả TiếngViệt không đơn giản là cách viết theo sát ngữ âm, cách viết hoàn toàn giống nhưnói Mà chính tả có xu hướng thống nhất, chuẩn hoá, không phải là chính tả chotừng phương ngữ, từng khu vực có biến thể ngữ âm riêng biệt
- Nội dung chính tả bao gồm các nguyên tắc dùng chữ để viết âm tiết vàmột số nguyên tắc viết chữ ngoại lệ
Theo đó mỗi nguyên tắc trên là sự hoà hợp, khái quát hoá một nhóm phươngpháp cụ thể, nhằm dạy cho học sinh viết đúng và hạn chế viết sai chính tả
* Dạy chính tả gắn với sự phát triển tư duy Trong quá trình dạy chính tả,giáo viên thường xuyên dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh các quy tắc chính tả và ghi nhớ
để áp dụng vào việc viết văn bản bằng một hệ thống thao tác tư duy hợp lý
a/ Phân chia nhiệm vụ thực hành quy tắc thành các bước cụ thể
b/ Lần lượt giải quyết các bước cụ thể đó theo một trình tự logic
c/ Vận dụng các kinh nghiệm thực tiễn vào việc giải quyết từng bước cụ thể
và giải quyết nhiệm vụ chung
Ví dụ: Dạy cho học sinh biết phân biệt l/n Nhiệm vụ chính tả ở trường hợpnày là giải quyết hiện tượng viết như nói, nói sao viết vậy, phát âm nhầm lẫn l/n thìviết cũng không phân biệt Khác với quy tắc phân biệt ch, tr, x, s Trong một sốphương ngữ vẫn tồn tại phát âm l/n nhưng lại chỉ có ch, x không có tr, s Vì thế, có
Trang 12thể phân chia lần lượt cho học sinh tìm nguyên nhân viết nhầm lẫn l/n cách phát âml/n để viết đúng.
Nói tóm lại, nguyên tắc dạy chính tả gắn liền với phát triển tư duy cho họcsinh đòi hỏi:
+ Vận dụng các phương pháp tích cực lĩnh hội tri thức rèn luyện thao tác tưduy giúp học sinh chủ động và rèn luyện kĩ năng chính tả tự động hoá
+ Hướng dẫn học sinh hoạt động trí tuệ để “hiểu” chữ viết và chức năngcủa chữ viết, tác dụng của nó trong quá trình giao tiếp và tư duy bằng ngôn ngữTiếng Việt
+ Luyện tập thực hành các hình thức chính tả để củng cố kĩ năng thao tác tưduy khoa học cho học sinh
* Ví dụ:
Phụ âm đứng đầu âm tiết trong Tiếng việt có 21 phụ âm đầu là: b, c(q, k), d (gi), đ, g (gh), h, l, m, n, r, s, t, v, x, nh, ng (ngh), th, ph, c, h, tr, kh Có cácphụ âm được ghi bằng những ký hiệu khác nhau:
bi u th âm có dùng ba ch :c, k, q trong đó:
Để biểu thị âm có dùng ba chữ :c, k, q trong đó: ể biểu thị âm có dùng ba chữ :c, k, q trong đó: ị âm có dùng ba chữ :c, k, q trong đó: ữ :c, k, q trong đó:
Viết Trong trường hợp Ví dụ
o, ô, u, ư
Ca, căn, cân, cô, cơ, cử,cung,
đệm)
Quả, quang, quên,
- Riêng trường hợp ka, ki theo thói quen k viết trước a mà không phải là c
Song, ng i ta ph i th ng chia âm ti t thành b n ki u nh sau: ư sau:ời ta phải thường chia âm tiết thành bốn kiểu như sau: ư sau:ời ta phải thường chia âm tiết thành bốn kiểu như sau: ết khác nhau, tuỳ vào cấu tạo của âm tiết: ố học sinh là 35 em và kết ể biểu thị âm có dùng ba chữ :c, k, q trong đó: ư sau:
Âm tiết
âm chính: a, o, ô, ơ, u,
ư, e, ê, i,
Cha, mẹ, cô ,chú …
Trang 132 Nửa mở Cuối âm tiết là nguyên
phụ âm: u (o), i (y)
Về mặt chức năng các âm tiết có thể là 1 từ: Ăn, người đi, … có thể là một bộ phậncủa từ: tổ / quốc, siêng / năng, vui / vẻ,…
Về ngữ nghĩa âm tiết có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa từ vựng: ra – đi - ô,…
B Dạy chính tả hướng về dạng thức viết của hoạt động lời nói, yêu cầu sựphát triển của hoạt động lời nói phong phú đa dạng Muốn có kỹ năng viết, họcsinh không chỉ biết lý thuyết mà chủ yếu phải phải thông qua hoạt động viết
Nội dung chính tả bao gồm các quy tắc dùng chữ để viết âm tiết và một số chữngoại lệ
Ví dụ:
Vần có âm đệm u: uê, uyt, uêch,…
Vần có âm cuối u: au, êu, iu, …
Vần có âm chính i: ich, in, it,…
Trường hợp nguyên âm đôi có âm chính và âm cuối: iêu, ươi, uôi,…
- Dùng chữ và cách dùng chữ để viết âm tiết là nội dung chính của phânmôn Chính tả Viết đúng chính tả là viết đúng các âm tiết trong văn bản Do đóchính tả ỏ tiểu học được coi trọng Ở học sinh lớp 1, trước hết học sinh phải hìnhdung trong đầu các chữ cái được thể hiện bằng hình nét theo dạng chữ để tránh sailầm về ngữ âm và ngữ nghĩa
Ví dụ: to tác – to tát; hạt mưa – hạc mưa,…
- Viết chữ là nhiệm vụ của phân môn tập viết Nhưng viết đúng kiểu dạng chữ cũng
là nội dung của phân môn Chính tả Chính tả chủ yếu là ghi âm tiết, các chữ cáibiểu tượng thính giác âm thanh được giao tiếp nhận qua thính giác lời nói Bên
Trang 14cạnh đó học sinh không những chỉ viết đúng mà còn phải viết sạch và đẹp, biếtcách trình bày một đoạn thơ hay đoạn văn ngắn là điều tất yếu.
- Tiếng việt chỉ cần “viết như nói”, “viết như nghe” đã phát sinh quan niệm đơngiản khi viết đúng chính tả học sinh phải nắm được cấu trúc và thuộc bảng chữ cái
để khi phát âm thành tiếng và viết đúng chính tả Viết đúng chính tả còn là sự táitạo các mẫu chữ là kĩ năng hoạt động ghi nhớ các biểu tượng thị giác về chữ vàcách viết có liên quan đến nghĩa:
Âm – cách viết – nghĩa (biểu tượng thính giác)Chữ
Nghĩa – cách viết (biểu tượng thị giác)
C Dạy chính tả dựa vào trình độ phát triển ngôn ngữ của trẻ em, tức là trên
cơ sở trình độ trẻ em nắm được trình độ sử dụng dạng thức nói, nguồn gốc dân tộc
và địa bàn cư trú khác nhau Do đó, nội dung, hình thức và yêu cầu dạy chính tả ởLớp 1 coi trọng trước hết mối liên hệ âm – chữ, phát âm và ghi âm, viết và đọc
Trong giờ chính tả, giáo viên cần sử dụng phương phá , hình thức tổ chứclinh hoạt, hợp lý giúp học sinh có ý thức tự giác học tập giúp các em tiếp thu bàiđạt kết quả, đồng thời biểu hiện ở sự tập trung chú ý trong giờ học giúp học sinhtạo ra hứng thú học tập cộng với việc giảng dạy của giáo viên Để hoàn thiện kĩnăng đọc – viết và hiểu về cấu trúc của bài chính tả gồm có 3 phần: Bài chép – viếtđúng – luyện tập
a/ Bài chép: Giáo viên chép nguyên văn bản mẫu lấy từ những bài tập đọc
đã học trước Giáo viên cho học sinh luyện viết đúng chữ âm tiết ở các vị trí có phụ
âm đầu hoặc vần, thanh dễ nhầm lẫn… nếu một số từ ngữ trong bài được coi là
“có vấn đề” về mặt chính tả và cũng chính là “ trọng điểm chính tả” mà học sinhcần lưu ý khi viết để phân biệt lỗi chính tả theo từng địa phương nơi mình đangdạy