1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2010 pot

30 292 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học mễn cễng nghệ đạt hiệu quả
Tác giả Đỗ Văn Hướng
Trường học Trường THCS Đồng Tõm
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2010
Thành phố Đồng Phỳ
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 120,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số từ viết tắt trong đề tài:SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI : SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ ĐẠT HIỆU QUẢ I.ĐẶT VẤN ĐỀ: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.Cơ s

Trang 1

Một số từ viết tắt trong đề tài:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI : SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ ĐẠT HIỆU QUẢ

I.ĐẶT VẤN ĐỀ: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.Cơ sở lí luận:

Vào thập niên 80 của thế kỉ 20, các PPDHTC được triển khai và áp dụng đại trà tại các nước phương Tây như Mĩ, Canada, Pháp…với các phương pháp dạy học khám phá (J Bruner), phương pháp Động não, dạy học trải nghiệm (J Deway).Tại Liên Xô (cũ), có thể đề cập đến dạy học nêu vấn đề (hay còn gọi là dạy học giải

Trang 2

quyết vấn đề) của Maxmutov là cách tiếp cận khai phá về PPDH tích cực.Từ thập

kỉ cuối cùng của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và trong nước, một

số văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo thường nói tới việc cần thiết phải chuyển dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên

Lịch sử phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó có điều kiện chăm lo cho từng học sinh nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo đồng loạt" Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, cố gắng làm cho mọi học sinh hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Cách dạy này

đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng động của

xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, thực hiện "dạy học phân hóa", quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó

Trên thực tế, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được

Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học

Trong thập kỉ 90 của thế kỉ XX, các tài liệu giáo dục của trong và ngoài nước, kể cả các văn bản chính thống của Bộ Giáo dục & Đào tạo đều đề cập đến việc cần thiết chuyển từ dạy học lấy người dạy làm trung tâm sang dạy tập trung vào người học Đây là một quan điểm mang tính đột phá trong giáo dục Quan điểm này thời gian đầu khi mới xuất hiện không phải được đa số các nhà sư phạm, các nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục chấp nhận ngay, thậm chí còn bị hiểu sai lệch về ý nghĩa tích cực của nó Tuy nhiên, giờ đây quan điểm này được thừa nhận một cách rộng rãi trong dạy học cũng như nghiên cứu về giáo dục

Trang 3

Dạy học hướng vào người học (Learner’s centred) còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học lấy học sinh làm trung tâm,dạy học tập trung vào người học, Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh đến hoạt động học của người học như vai trò tự giác, tích cực, độc lập sáng tạo của các em trong quá

trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống là chỉ nhấn mạnh đến quá trình truyền thụ của người dạy mà thôi

Tại các nước phương Tây có nền giáo dục phát triển như Mĩ, Canada, các

nước châu Âu, lý thuyết LCI (Learner Centred Inquiry), tạm dịch là phương pháp dạy học khám phá hướng vào người học đang được phổ biến một cách rộng

rãi và nghiêm túc trong các loại hình nhà trường Theo Carol Blades (KEDP Casebook for Learner Centred Instruction 2002, Pp 9-11, University of Calgary, Canada), bản thân người học thích sự ganh đua, sự phấn đấu, sự thể hiện trong môi

trường học tập Người học càng ngày càng có nhiều kinh nghiệm, nhiều trải nghiệm trong cuộc sống Quá trình phát triển trí não thường đi đôi với các hoạt động cá nhân và các hoạt động cộng đồng, vì thế việc bản thân ngưòi học tự khám phá ra tri thức thông qua các hoạt động (theo cá nhân hoặc theo nhóm) là nền tảng,

cơ sở cho việc giáo dục con người Ở đây, người dạy đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển và định hướng quá trình dạy học

Thực hiện việc dạy và học tích cực không có nghĩa là từ bỏ các PPDH truyền thống Trong quá trình dạy học ở các cấp học khác nhau, các PPDH truyền thống vẫn được sử dụng một cách phổ biến Điều này phụ thuộc nhiều vào nội dung của bài và đối tượng người học Có những khái niệm ban đầu, những định lý, tiên đề được thừa nhận một cách mặc định (hệ thống lý thuyết khái niệm) cần cung cấp cho người học bắt buộc phải sử dụng các PPDH truyền thống, mặc dù tri thức truyền thụ cho người học mang tính áp đặt, thụ động Điều này đã, đang và sẽ luôn cần thiết trong dạy học.Tuy nhiên, lý thuyết của lý luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt nhận thức, các phương pháp thực hành mức độ tích cực cao hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan tích cực hơn các phương pháp dùng lời và chữ

Trong PPDH dùng lời và chữ, nguồn tri thức được cung cấp chủ yếu từ phía người dạy và tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa Nguồn tri thức ở đây mang tính

hệ thống và chuẩn xác, có độ tin cậy cao Tuy nhiên, người học mặc nhiên bị động lĩnh hội những kiến thức này Phương pháp này có sử dụng kết hợp với phương pháp dạy học trực quan, song đồ dùng trực quan ở đây chủ yếu mang tính chất minh họa nội dung bài học.Với nhóm các PPDH trực quan thì các phương tiện trực quan, các đồ dùng trực quan được coi là nguồn cung cấp truyền tải tri thức đến cho người học Ngôn ngữ, lời nói của nhà sư phạm chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn sự tri giác các tài liệu trực quan (vật thật, mô hình dạy học, tranh ảnh, mẫu vật, băng hình, thí nghiệm ), sự phân tích và khái quát các kết quả đã được quan sát

Ở đây, người học dùng các giác quan để tri giác các tài liệu do người dạy trình diễn

và dùng tư duy của bản thân để rút ra tri thức mới, hình thành khái niệm.Còn với nhóm các PPDH thực hành, người học được trực tiếp thao tác trên đối tượng

Trang 4

nghiên cứu (chủ động quan sát bằng các dụng cụ khác nhau, làm thí nghiệm ), thực hành các bài tập, giải quyết các tình huống có vấn đề, thảo luận trong nhóm

về một tình huống học tập, tự mình tìm kiếm, khám phá tri thức mới phản ánh thế gới khách quan, thiết kế và thực hành các trò chơi… Có một câu ngạn ngữ xưa

của người Trung Hoa rất phù hợp với lý thuyết về dạy học tích cực: “Tôi nghe- tôi

sẽ quên, tôi xem- tôi sẽ nhớ, tôi làm- tôi sẽ hiểu”.So sánh dạy học cổ truyền và các mô hình dạy học mới

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế,

tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có

vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình

độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau:

Dạy học cổ truyền Các mô hình dạy học mới

Bản chất

Truyền thụ tri thức, truyền thụ

và chứng minh chân lí của

giáo viên.

Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Dạy học sinh cách tìm ra chân lí.

Mục tiêu

Chú trọng cung cấp tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo Học để đối

phó với thi cử Sau khi thi

xong những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến

Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và

tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội

Nội dung

Từ sách giáo khoa + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau: SGK, GV,

các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảng tàng, thực tế…: gắn với:

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu

Trang 5

Cỏc phương phỏp tỡm tũi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tỏc.

2.Cơ sở thực tiễn:

Với việc thực hiện chương trỡnh, sỏch giỏo khoa mới ở cấp THCS theo chuẩn KTKN đũi hỏi giỏo viờn phải đổi mới PPDH song trong thực tế việc đổi mới PPDH của giỏo viờn cỏc trường THCS cũn rất hạn chế, chưa đỏp ứng yờu cầu bởi gặp khụng ớt khú khăn Cụ thể như sau:

B ng1: Mức độ hiểu biết và kỹ năng sử dụng PPDH của GV: ả

Mức độ hiểu biết(%) KN sử dụng(%)

Hiểu Rất hiểu Thành thạo Rất thành thạo

Trang 6

- Trong nhiều trường hợp, nếu cho phép người học phát hiện, giải quyết, chiếm lĩnh tri thức thì mất rất nhiều thời gian Từ đó có thể thấy không thể áp dụng máy móc PPDHTC cho toàn bộ các bài học, các nội dung dạy học ;

- PPDHTC đòi hỏi một số điều kiện như GV, HS, phương tiện, tài liệu Thực tiễn cho thấy còn có những vùng HS chưa thích nghi với PPDHTC Tập quán lạc hậu của một số địa phương cũng cản trở PPDHTC ;

- Nếu quá thiên về PPDHTC có thể có ảnh hưởng thiên lệch trong tâm lí của trẻ, chẳng hạn: phủ nhận vai trò của môi trường; hoặc do đề cao quá vai trò người học

có thể dẫn đến coi nhẹ vai trò của người dạy và HS có thể tự mãn;

- PPDHTC chú trọng tính tự chủ trong việc thực hiện mục tiêu dạy học: nếu chỉ thiên về những kĩ năng, thành tựu đơn giản thì những HS xuất sắc bị thiệt thòi Ngược lại, nếu thiên về mục tiêu phát triển thì thiệt thòi cho HS chậm phát triển, kém thông minh

Trang 7

Trên cơ sở khảo sát thực tiễn đã nêu trên, cũng như mọi khó khăn khi thực hiện các PPDHTC của GV tại các trường trong toàn huyện Với kinh nghiệm của bản thân đã giảng dạy môn công nghệ từ năm 2004 đến nay Tôi mạnh dạn đưa ra một số phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp giáo viên giảng dạy tốt môn công nghệ THCS.

II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

Trong chương trình môn học công nghệ THCS, chủ yếu có 4 dạng bài:

- Bài giảng lí thuyết

- Bài giảng thực hành

- Bài ôn tập

- Bài kiểm tra

Để sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực , vào giảng dạy cho từng dạng bài nêu trên.Trước tiên, thầy cô cần quan tâm tới một số các vấn đề sau đây:

- Phát huy tính tích cực của học sinh qua vai trò hướng dẫn của giáo viên

- Thiết kế bài giảng khoa học

- Tăng cường ứng dụng CNTT trong giảng dạy, khuyến khích áp dụng giáo án điện tử (GAĐT) sao cho phù hợp với nội dung từng bài học

- GV sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu

- Tác phong thân thiện, coi trọng việc động viên khuyến khích học sinh

- Dạy học sát đối tượng ,theo chuẩn KTKN

- GV đánh giá sát trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh, hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình.

1.Đối với bài giảng lí thuyết:

Theo PPDH truyền thống, GV quen sử dụng các phương pháp như ; vấn đáp, thuyết trình , giải thích …nên thường mắc phải những sai sót trong quá trình dạy

đó là:

- Phân phối thời gian không hợp lí cho từng nội dung bài do nhận thức,hiểu biết của học sinh chưa đều

- Hệ thống câu hỏi quá nhiều, chồng chéo, nhiều lúc còn sai lệch trọng tâm bài

- Không đảm bảo đầy đủ , chính xác về nội dung cần đạt theo chuẩn

Từ những sai sót đó, mà học sinh sẽ trở lên thụ động khi lĩnh hội kiến thức, sẽ nhàm chán với môn học thường được cho là môn phụ này Mặt khác, những PPDH trên rất ít thậm chí không thể kích thích được sự chú ý, tập trung của đa số học sinh …Kết hợp với các PPDH truyền thống nêu trên , tôi thường sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực khác và thấy rất hiệu quả

a.Với những nội dung mà chuẩn KTKN yêu cầu ở mức độ biết:

Giáo viên thường cho học sinh thảo luận trả lời câu hỏi, rồi kết luận về một nội dung, một vấn đề nên rất tốn thời gian cho các nội dung khác Những nội dung này, GV chỉ cần sử dụng các kĩ thuật :

- Xóa một phần nội dung

- Bỏ tiêu đề cho nội dung

- Thay đổi thứ tự nội dung

Trang 8

- Sử dụng tranh câm

- Tạo thông tin ghép đôi

Thay vì được cung cấp thông tin đầy đủ để đọc,tìm hiểu, học sinh sẽ được đương đầu với những thách thức dưới dạng thông tin đã qua xử lí Nhờ đó, học sinh sẽ tập trung hơn, suy nghĩ nhiều hơn …chiếm lĩnh được toàn bộ nội dung mà

GV cần truyền thụ

Ví dụ 1: Để học sinh biết được khái niệm về các phép chiếu

GV : Cho học sinh quan sát hình và hoàn thành vào chỗ chấm

……… là phép chiếu mà các tia chiếu xuất phát từ một điểm

……… là phép chiếu mà các tia chiếu song song với nhau nhưng không vuông góc với mặt phẳng chiếu

……… là phép chiếu mà các tia chiếu vuông góc với mặt phẳng chiếu

Ví dụ 2: Để học sinh nhận biết đâu là nguồn gốc và tính chất của vải sợi thiên nhiên

GV: Em hãy dùng các cụm từ trong ngoặc (nguồn gốc,tính chất) hoàn thành vào chỗ chấm:

………

Vải sợi thiên nhiên được dệt bằng các dạng sợi có sẵn trong thiên nhiên,có nguồn gốc từ thực vật như sợi bông,lanh,đay,gai và có nguồn gốc từ động vật như sợi tơ tằm,sợi len từ lông cừu,lạc đà

………

Vải sợi bông,vải tơ tằm có độ hút cao nên thoáng mát nhưng dễ bị nhàu.Khi đốt sợi vải,tro bóp dễ tan

Ví dụ 3: Để biết được vai đất trong trồng trọt

GV: Cho học sinh quan sát tranh câm và yêu cầu trình bày suy nghĩ Sau đó GV cho học sinh kết luận đầy đủ về vai trò của đất trồng theo dẫn dắt, gợi ý của GV

Trang 9

Ngoài các kĩ thuật dạy học trên , khi giới thiệu bài mới để thu hút sự chú ý và kích thích tư duy não bộ của học sinh tôi thường đặt ra các vấn đề cần giải quyết trong nội dung bài học

Ví dụ 4 : Bài “ Sử dụng hợp lí và tiết kiệm điện năng” \Công nghệ 8

- Vì sao cần phải sử dụng hợp lí và tiết kiệm điện năng?

- Sử dụng điện năng như thế nào là hợp lí ?

- Làm thế nào để có thể tiết kiệm điện?

Ví dụ 5 : Bài “Cắm hoa dạng tỏa tròn”\ Công nghệ 6

- Cắm hoa dạng tỏa tròn được thực hiện như thế nào?

- Những bình hoa dạng tỏa tròn được trang trí ở những vị trí nào? Nó có ý nghĩa gì?

Ví dụ 6: Bài “Nối dây dẫn điện”\ Công nghệ 9

Trong quá trình lắp đặt cũng như sửa chữa mạch điện,ta thường phải thực hiện nối dây dẫn điện

- Có những loại mối nối nào? Chúng được nối như thế nào?

Thông thường , đối với những nội dung mà chuẩn KTKN yêu cầu ở mức độ biết tôi chỉ cần đặt câu hỏi với những cụm: Cho biết,kể tên,liệt kê,…

b.Với những nội dung chuẩn KTKN yêu cầu ở mức độ hiểu:

Để học sinh tích cực trong giờ học, chủ động tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức, sáng tạo, vận dụng tốt kiến thức đã học vào thực tiễn Tôi thường sử dụng các phương pháp : thảo luận nhóm, nêu và giải quyết vấn đề,…kết hợp với một vài kĩ thuật dạy học như ;

b1 Kĩ thuật dạy học “khăn trải bàn”

Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

Ý kiến chung của cả nhóm về chủ đề

Trang 10

Viết ý kiến cá nhân

* Cách tiến hành kĩ thuật “khăn trải bàn”:

Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm) Mỗi người ngồi vào vị trí như vẽ trên tấm khăn phủ bàn trên đây Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…).Viết vào ô đánh

số của bạn những điều bạn thích về câu hỏi (chủ đề) và những điều bạn không thích Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút Khi mọi người đều đã xong, chia sẻ và thảo luận các câu trả lời Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn Cả nhóm quyết định lựa chọn một câu hỏi/chủ đề nghiên cứu

*Các nhiệm vụ trong nhóm:

+ Người quản gia:

Bạn sẽ tìm hiểu xem nhóm cần những tài liệu gì và bạn có thể tìm những tài liệu đó ở đâu Bạn cần thu thập các tài liệu một cách nhanh chóng để nhóm có thể

Trang 11

làm việc Trong quá trình nhóm làm việc, nếu cần tham khảo hoặc sử dụng thêm tài liệu nào, bạn là người duy nhất được phép đi lấy nó Khi nhiệm vụ của nhóm đã hoàn thành, bạn sẽ nộp bài tập nhóm cho giáo viên và trả các tài liệu đã lấy vào đúng chỗ ban đầu.

- Bạn sẽ đảm bảo sao cho các thành viên trong nhóm không thảo luận quá to

- Nếu các thành viên trong nhóm tranh luận gay gắt, bạn có thể yêu cầu họ nói một cách nhẹ nhàng hơn

- Nếu nhóm của bạn bị các nhóm khác làm ảnh hưởng, bạn có thể là đại diện yêu cầu nhóm đó bình tĩnh và trật tự hơn

+ Người giám sát về thời gian:

- Bạn sẽ phụ trách việc theo dõi đồng hồ để biết thời gian làm việc của nhóm

- Ngay từ khi bắt đầu làm việc, bạn sẽ thông báo với các thành viên thời gian cho phép

- Khi nhóm dành quá nhiều thời gian cho một bài tập, bạn cần thông báo với các thành viên trong nhóm, ví dụ như “Chúng ta phải chuyển sang câu hỏi khác thôi, nếu không toàn bộ bài tập sẽ không thể hoàn thành được”

- Trong quá trình thảo luận, bạn có thể thông báo về thời gian còn lại

- Khi thời gian cho phép gần hết, bạn cần thông báo với nhóm để hoàn thành bài tập

* Thư ký:

- Bạn sẽ chuẩn bị bút và giấy trong quá trình làm việc

Trang 12

- Ghi lại những câu trả lời đã được thống nhất trong nhóm một cách cNn thận

và rõ ràng

* Người phụ trách chung:

- Bạn cần theo dõi để các thành viên đều ở tập trung làm việc trong nhóm

- Khi có thành viên nào trong nhóm thảo luận sang vấn đề không có trong bài tập, bạn phải yêu cầu họ quay trở lại nội dung làm việc

- Bạn cũng cần đảm bảo rằng khi một người trong nhóm trình bày thì các thành viên còn lại chú ý lắng nghe

- Bạn tạo điều kiện cho tất cả thành viên trong nhóm đều được trình bày và tham gia

- Khi nhóm mất đi sự tập trung, bạn cần động viên họ tiếp tục

b2 Kĩ thuật “Các mảnh ghép”

Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm: Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp Kích thích sự tham gia tích cực của HS nhằm: Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2)

1

1 2 3

Trang 13

* Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép”

Vòng 1:

- Hoạt động theo nhóm 3 người

- Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C)

- Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao

- Mỗi thành viên đều trình bày được nhóm đã tìm ra câu trả lời như thế nào.Vòng 2:

- Hình thành nhóm 3 người mới (1người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1 người từ nhóm 3)

- Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia

sẻ đầy đủ với nhau

.- Nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết

- Lời giải được ghi rõ trên bảng

* Bốn yếu tố chủ đạo trong kĩ thuật

- Sự phụ thuộc tích cực

- Trách nhiệm cá nhân

- Tương tác trực tiếp

- Nhiệm vụ yêu cầu động não

* Ra nhiệm vụ “Mảnh ghép” như thế nào?

- Lựa chọn một chủ đề thực tiễn

- Xác định một nhiệm vụ phức hợp – bao gồm các phần khác nhau (để thực hiện ở vòng 2)

- Xác định những yếu tố cần thiết để giải quyết nhiệm vụ phức hợp (kiến thức,

kĩ năng, thông tin, chiến lược)

Trang 14

- Xác định các nhiệm vụ mang tính chuẩn bị (cho vòng 1) Xác định các yếu tố

hỗ trợ cần thiết để hoàn thành thành công vòng 2

* Vai trò – nhiệm vụ trong nhóm (ví dụ)Trưởng nhóm: Phân công nhiệm

vụ.Thư kí: Ghi chép kết quả.Phản biện: Đặt các câu hỏi phản biện.Hậu cần: Chuẩn

bị đồ dùng tài liệu cần thiết.Liên lạc với nhóm khác: Liên hệ với các nhóm khác.Liên lạc với thày cô: Liên lạc với giáo viên để xin trợ giúp

Lãnh đạo-tổ chức-thuyết phục khuyên nhủ-quan tâm-khuyến

khích-cảm thông

HỢP TÁC PHẢN ĐỐI

Cởi mở-chấp nhận ý kiến phê bình-lắng nghe-giữ đúng lời đợi chờ-mềm dẻo

Thể hiện sự thất vọng &không

hài lòng-im lặng – rút lui -

đứng bên lề-thu mình

THỤ ĐỘNG

Trang 15

Tìm ra điều bạn đã biết

về một chủ đềTìm ra điều bạn muốn biết về một chủ đềThực hiện nghiên cứu

và học tập

Sơ đồ KWL

Chủ đề: ………

Họ tên: ………Ngày: ……….K(Điều đã biết) W(Điều muốn biết) L(Điều học được)

Sơ đồ tư duy:

Sơ đồ tư duy là gì?

Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm

Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Các nhánh chính lại được phân chia thành các nhánh cấp 2, cấp 3,…Trên các nhánh, ta có thể thêm các hình ảnh hay các kí hiệu cần thiết Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà các ý tưởng thông thường không thể làm được Là một công cụ tổ chức tư duy Là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Là một phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả:Mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng Bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng

Vấn đề liên quanVấn đề liên quan

Chủ đề

Vấn đề liên quanVấn đề liên quan

Ngày đăng: 19/06/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tổ - SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2010 pot
Hình th ức tổ (Trang 5)
B4. Sơ đồ KWL và Sơ đồ tư duy - SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2010 pot
4. Sơ đồ KWL và Sơ đồ tư duy (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w