1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình luật kinh tế

89 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Môn Học: Luật Kinh Tế
Tác giả Lê Thị Thùy Trang
Trường học Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Khái niệm và đặc trưng của luật kinh tế (8)
    • 1.1. Khái niệm (8)
    • 1.2. Đặc trưng của luật kinh tế (8)
  • 2. Những nội dung cơ bản của luật kinh tế (9)
    • 2.1. Đối tượng điều chỉnh (9)
    • 2.2. Phương pháp điều chỉnh (10)
    • 2.3. Chủ thể của luật kinh tế (11)
    • 2.4. Nguồn của luật kinh tế (12)
    • 2.5. Vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường (12)
  • Chương 02: PHÁP LUẬT KINH TẾ (14)
    • 1. Pháp luật về đầu tư (14)
      • 1.1. Khái niệm và phân loại về đầu tư (14)
      • 1.2. Hình thức đầu tư (15)
      • 1.3. Thủ tục đầu tư (16)
      • 1.4. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư (tại VN) (18)
      • 1.5. Lĩnh vực đầu tư (18)
    • 2. Pháp luật về công ty (20)
      • 2.1. Khái niệm (20)
      • 2.2. Các loại công ty theo luật hiện hành (20)
    • 3. Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh (22)
      • 3.1. Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân (22)
      • 3.2. Pháp luật về hộ kinh doanh (23)
      • 3.3. Cá nhân kinh doanh không phải đăng ký kinh doanh (24)
    • 4. Pháp luật về hợp tác xã (24)
      • 4.1. Khái niệm (24)
      • 4.2. Quy chế thành lập, tổ chức (25)
      • 1.4. Quy chế pháp lý về xã viên (thành viên) hợp tác xã (29)
      • 1.5. Quy chế pháp lý về tài sản và tài chính HTX (30)
  • Chương 03: LUẬT PHÁ SẢN (32)
    • 1. Khái niệm (32)
      • 1.1. Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản (32)
      • 1.2. Phá sản – thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thanh lý nợ đặc biệt. 31 1.3. Phân loại phá sản (33)
    • 2. Luật phá sản (34)
      • 2.1. Nội dung cơ bản của luật phá sản (34)
      • 2.2. Thủ tục phá sản doanh nghiệp, Hợp tác xã (35)
  • Chương 4: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH (45)
    • 1. Một số vấn đề chung về hợp đồng dân sự (45)
      • 1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng dân sự (45)
        • 1.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng (48)
      • 1.3. Thực hiện hợp đồng dân sự (50)
      • 1.4. Trách nhiệm pháp lý (trách nhiệm dân sự) do vi phạm hợp đồng dân sự (51)
    • 2. Một số vấn đề riêng về hợp đồng thương mại (0)
      • 2.1. Khái niệm, phân loại hợp đồng thương mại (53)
      • 2.2. Một số vấn đề khác của hợp đồng thương mại (54)
  • Chương 5:MỘT SỐ HỢP ĐỒNG THÔNG DỤNG TRONG KINH DOANH (62)
    • 1. Hợp đồng mua bán hàng hoá (62)
      • 1.2. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá (62)
      • 1.3. Ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá (63)
    • 2. Hợp đồng đại lý (64)
      • 2.2. Các hình thức đại lý (64)
      • 2.3. Hợp đồng đại lý (64)
      • 2.4. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng đại lý (65)
    • 3. Hợp đồng đấu giá và đấu thầu hàng hoá (66)
      • 3.1. Đấu giá hàng hoá (66)
      • 3.2. Đấu thầu hàng hoá (67)
    • 4. Quy định của pháp luật về quảng cáo, khuyến mãi (68)
      • 4.1. Quảng cáo (68)
      • 4.2. Khuyến mại (70)
    • 5. Quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại (71)
  • Chương 6: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN (74)
    • 1. Các khái niệm (74)
    • 2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại toà án (75)
      • 2.1. Cơ cấu tổ chức của toà án nhân dân các cấp (75)
      • 2.2. Các chủ thể trong tố tụng kinh doanh, thương mại (77)
      • 2.3. Thẩm quyền giải quyết (77)
      • 2.4. Thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại toà 76 Chương 7: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI (78)
      • 1.1. Trọng tài vụ việc (81)
      • 1.2. Trọng tài thường trực (quy chế) (82)
    • 2. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức trọng tài thương mại (82)
      • 2.1. Quyền (82)
      • 2.2. Nghĩa vụ (82)
    • 3. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng trọng tài ở nước ta (82)
      • 3.1. Thẩm quyền và nguyên tắc, thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại (82)
      • 3.2. Thoả thuận trọng tài (83)
      • 3.3. Hội đồng trọng tài và trọng tài viên (84)
      • 3.4. Trung tâm trọng tài thương mại (85)
      • 3.5. Tố tụng trọng tài (85)
      • 3.6. Quyền yêu cầu Toà án huỷ phán quyết của trọng tài (87)
      • 3.7. Thi hành phán quyết trọng tài (87)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (89)

Nội dung

Khái niệm và đặc trưng của luật kinh tế

Khái niệm

Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội

Nội dung bài viết liên quan đến sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người trong xã hội với nguồn lực có hạn.

Pháp luật kinh tế là tập hợp các quy phạm pháp luật từ nhiều ngành luật khác nhau, ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội Nó bao gồm các quy định liên quan đến các quan hệ kinh tế, có mối liên hệ chặt chẽ trong tổ chức quản lý kinh tế và hoạt động kinh doanh Các ngành luật chính trong pháp luật kinh tế bao gồm luật kinh tế, luật tài chính ngân hàng, luật lao động, luật đất đai và môi trường.

Luật kinh tế là một phần quan trọng của pháp luật, bao gồm các quy định do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế trong tổ chức và quản lý kinh tế, cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp.

Luật kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc công nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất, kinh doanh Nó quy định mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế.

Đặc trưng của luật kinh tế

Sản xuất xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên hai thành phần kinh tế chủ yếu: quốc doanh trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại, cùng với thành phần tập thể trong nông nghiệp, trong đó hợp tác xã cấp cao đóng vai trò nòng cốt.

Thứ hai, nhà nước làm chủ tập thể

Chế độ kế hoạch hóa tập trung cho phép Chính phủ và Nhà nước kiểm soát toàn bộ các yếu tố sản xuất, đồng thời giữ quyền quyết định trong việc sử dụng các yếu tố này.

Trong một nền kinh tế được quản lý bởi nhà nước, các nhà làm kế hoạch quyết định loại và khối lượng hàng hóa sản xuất, trong khi các doanh nghiệp thực hiện sản xuất dựa trên các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Nhà nước sử dụng mệnh lệnh hành chính để quản lý nền kinh tế, áp đặt hệ thống chỉ tiêu chi tiết từ trên xuống dưới Tất cả các phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự và tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước cấp phát vốn và vật tư cho doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho nhà nước, với việc nhà nước chịu trách nhiệm bù lỗ và thu lợi nhuận.

Thứ tư, công nghiệp nặng được lựa chọn làm ngành động lực chính của tăng trưởng và phát triển kinh tế

Thứ năm, Nhà nước độc quyền về kinh tế đối ngoại

Thời kỳ bao cấp được hiểu là giai đoạn mà luật kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, nhằm quản lý chặt chẽ và toàn diện các đơn vị kinh tế quốc doanh Điều này bao gồm quy định về sở hữu tài sản, tổ chức hoạt động sản xuất, quan hệ hợp đồng và chế độ phân phối, với mục tiêu đảm bảo tính kế hoạch hóa tập trung và sự bao cấp của nhà nước.

 Thời kỳ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

Mục tiêu phát triển kinh tế thị trường là nhằm giải phóng sản xuất và huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Điều này bao gồm việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh tế và cải thiện đời sống của người dân.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Kinh tế nhà nước kết hợp với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế và mức đóng góp vốn vào sản xuất, kinh doanh, đồng thời thông qua phúc lợi xã hội Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng giai đoạn phát triển Ngoài ra, phát triển kinh tế cần đi đôi với việc nâng cao văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Luật kinh tế Việt Nam hiện nay là tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc công nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Một số đặc trưng nổi bật của nền kinh tế trong giai đoạn này bao gồm sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp và sự thay đổi trong cơ chế quản lý kinh tế.

Nền kinh tế nhiều thành phần tạo điều kiện cho sự phát triển và duy trì các loại hình doanh nghiệp đa dạng, phản ánh nhiều hình thức sở hữu khác nhau.

Nhà nước đóng vai trò là nhà đầu tư và chủ sở hữu với trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn đầu tư vào doanh nghiệp Doanh nghiệp, với tư cách là pháp nhân, có quyền tự do tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc thị trường và được đối xử bình đẳng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Những nội dung cơ bản của luật kinh tế

Đối tượng điều chỉnh

8 Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế do luật kinh tế tác động vào bao gồm:

1- Nhóm quan hệ quản lý kinh tế

– Là quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh

– Đặc điểm của nhóm quan hệ này:

Quan hệ quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý và các chủ thể kinh doanh phát sinh và tồn tại khi các cơ quan này thực hiện chức năng quản lý của mình Sự tương tác này không chỉ đảm bảo việc thực thi các quy định pháp luật mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế.

Trong mối quan hệ này, các bên tham gia có vị trí không bình đẳng, vì nó được hình thành và thực hiện dựa trên nguyên tắc quyền uy và sự phục tùng.

+ Cơ sở pháp lý: Chủ yếu thông qua các văn bản pháp lý do các cơ quan quản lý có thẩm quyền ban hành

2- Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau

Các quan hệ kinh tế thường xuất hiện từ hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường với mục tiêu tạo ra lợi nhuận.

Trong hệ thống quan hệ kinh tế được điều chỉnh bởi luật kinh tế, nhóm quan hệ này là nhóm chủ yếu, thường xuyên và phổ biến nhất.

+ Chúng phát sinh trực tiếp trong quá trình kinh doanh nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh doanh của các chủ thể kinh doanh

+Chúng phát sinh trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng kinh tế hoặc những thoả thuận

Chủ thể chính trong nhóm quan hệ này là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, tham gia vào mối quan hệ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và mang lại lợi ích cho tất cả các bên.

+ Nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ tài sản – quan hệ hàng hoá- tiền tệ

3- Quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một số doanh nghiệp

Các quan hệ kinh tế trong kinh doanh phát sinh giữa tổng công ty, tập đoàn và các đơn vị thành viên, cũng như giữa các đơn vị này trong nội bộ của tổng công ty hoặc tập đoàn.

Cơ sở pháp lý : Thông qua nội quy, quy chế, điều lệ, cam kết.

Phương pháp điều chỉnh

Phương pháp mệnh lệnh được áp dụng chủ yếu để điều chỉnh các mối quan hệ quản lý kinh tế giữa những chủ thể không bình đẳng Luật kinh tế tác động vào nhóm quan hệ này bằng cách quy định quyền ra quyết định chỉ thị bắt buộc cho các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế trong phạm vi chức năng của họ Các chủ thể kinh doanh, tức bên bị quản lý, có nghĩa vụ thực hiện các quyết định đó.

Phương pháp thoả thuận là công cụ quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể bình đẳng trong quá trình kinh doanh Bản chất của phương pháp này nằm ở việc tạo ra sự đồng thuận và hợp tác giữa các bên, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững trong các hoạt động kinh tế.

Luật kinh tế đảm bảo quyền bình đẳng cho các bên trong quan hệ kinh tế, cho phép họ tự do thỏa thuận các vấn đề quan tâm khi thiết lập hoặc chấm dứt quan hệ mà không bị ảnh hưởng bởi ý chí của tổ chức hay cá nhân nào Điều này nhấn mạnh rằng quan hệ kinh tế chỉ được hình thành dựa trên sự thống nhất ý chí của các bên và phải tuân thủ các quy định của nhà nước.

Chủ thể của luật kinh tế

Chủ thể của luật kinh tế bao gồm các tổ chức và cá nhân đủ điều kiện tham gia vào các quan hệ được điều chỉnh bởi luật kinh tế.

2.3.1 Điều kiện để trở thành chủ thể của luật kinh tế

+ Phải được thành lập một cách hợp pháp

Các cơ quan và tổ chức được coi là hợp pháp khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, đồng thời tuân thủ các thủ tục pháp lý quy định Những tổ chức này phải hoạt động dưới hình thức nhất định, với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rõ ràng theo quy định của pháp luật.

+ Phải có tài sản riêng

Một tổ chức được coi là có tài sản riêng khi

• Tổ chức đó có một khối lượng tài sản nhất định phân biệt với tài sản của cơ quan cấp trên hoặc của các tổ chức khác

• Có khối lượng quyền năng nhất định để chi phối khối lượng tài sản đó và phải tự chịu trách nhiệm độc lập bằng chính tài sản đó

+ Phải có thẩm quyền kinh tế

Thẩm quyền kinh tế là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ kinh tế được pháp luật công nhận Nó phải tương ứng với chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của chủ thể luật kinh tế Thẩm quyền này xác định giới hạn pháp lý mà các chủ thể có thể hoặc không thể hành động Đồng thời, thẩm quyền kinh tế là cơ sở pháp lý cho các chủ thể thực hiện hành vi pháp lý, từ đó tạo ra các quyền và nghĩa vụ cụ thể.

2.3.2 Các loại chủ thể của luật kinh tế

– Nếu căn cứ vào chức năng hoạt động của chủ thể luật kinh tế gồm:

Cơ quan quản lý kinh tế là các tổ chức nhà nước có nhiệm vụ thực hiện chức năng quản lý kinh tế, bao gồm cả cơ quan có thẩm quyền chung và cơ quan có thẩm quyền riêng.

Các đơn vị sản xuất kinh doanh bao gồm doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và cá nhân có quyền kinh doanh, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp.

– Nếu căn cứ vào vị trí, vai trò và mức độ tham gia vào các quan hệ luật kinh tế thì có các chủ thể sau:

Doanh nghiệp là chủ thể chủ yếu và thường xuyên của luật kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường ở Việt Nam Chúng được thành lập với mục đích chính là thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Mười tồn tại của chúng gắn liền với hoạt động kinh doanh, cho thấy sự tham gia thường xuyên vào các quan hệ kinh tế Sự tham gia này không chỉ thể hiện tính phổ biến mà còn cho thấy tính liên tục và phạm vi rộng rãi của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Chủ thể không thường xuyên của luật kinh tế bao gồm các cơ quan hành chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội Trong quá trình hoạt động, những đơn vị này thường ký kết hợp đồng kinh tế để phục vụ cho mục tiêu chính của mình Tuy nhiên, sự tham gia của các tổ chức này vào các quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh không diễn ra liên tục, do đó chúng không được coi là chủ thể chính của luật kinh tế.

Nguồn của luật kinh tế

Nguồn của Luật kinh tế bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, nhưng trong bối cảnh hội nhập hiện nay, nguồn này còn mở rộng ra các điều ước quốc tế và một phần cũng bao gồm tập quán thương mại.

- Các luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động kinh doanh

- Các luật khác có quan hệ mật thiết với kinh doanh

- Các văn bản dưới luật về kinh tế

- Các điều ước quốc tế về thương mại: công ước, hiệp ước, hiệp định quốc tế đa phương và song phương.

Vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường

 Vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế:

- Thiết lập trật tự của những quan hệ kinh tế

- Điều tiết thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động kinh doanh

- Nâng cao trách nhiệm và kỷ luật của các bên tham gia quan hệ kinh tế

- Điều hoà các lợi ích để đảm bảo một nền kinh tế có tính tổ chức cao, ổn định bình đẳng theo định hướng xã hội chủ nghĩa

 Vai trò của các phương tiện pháp luật:

- Cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước thành các qui định áp dụng cho các chủ thể kinh doanh

- Tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể kinh doanh

- Xác định địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh

- Điều chỉnh các hành vi kinh doanh, giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG

Luật kinh tế thời kỳ bao cấp và luật kinh tế hiện nay có những khác biệt rõ rệt, với luật hiện tại hướng tới việc tạo ra môi trường kinh doanh tự do và cạnh tranh hơn Nền kinh tế phát triển hiện nay mang lại nhiều mặt tích cực như tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, cải thiện đời sống người dân và thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, cũng tồn tại những thách thức như sự chênh lệch giàu nghèo gia tăng, ô nhiễm môi trường và áp lực cạnh tranh khốc liệt đối với các doanh nghiệp trong nước.

Câu 3: Nêu vai trò của luật kinh tế trong nền kinh tế hiện nay

PHÁP LUẬT KINH TẾ

Pháp luật về đầu tư

1.1 Khái niệm và phân loại về đầu tư

Đầu tư là quá trình sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và tài sản vật chất để tái sản xuất giản đơn hoặc mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế, cũng như trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội.

Luật đầu tư 2005 định nghĩa đầu tư là hành động mà nhà đầu tư sử dụng vốn từ các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để tạo ra tài sản, nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư cùng các quy định pháp luật liên quan.

Luật Đầu tư 2014 quy định rằng đầu tư kinh doanh là hành động mà nhà đầu tư sử dụng vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh Điều này có thể được thực hiện thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp của tổ chức kinh tế, cũng như đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

** Các khía cạnh của đầu tư:

Thứ 1, đó là phải hành động đầu tư bằng cách bỏ vốn vào kinh doanh của nhà đầu tư

Luật đầu tư tại Việt Nam không áp dụng cho các hoạt động đầu tư phi tài sản Nhà nước cam kết bảo vệ nguồn vốn và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư, đảm bảo rằng chúng không bị quốc hữu hóa hoặc tịch thu thông qua các biện pháp hành chính.

Thứ 2 :Luật đầu tư điều chỉnh các nhà đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, không điều chỉnh các hoạt động đầu tư có mục đích phi lợi nhuận Khái niệm kinh doanh ở đây được hiểu là “việc nhà đầu tư thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.”

Thứ 3, Nhà đầu tư tham gia vào các hoạt động đầu tư theo Luật doanh nghiệp hiện hành gồm:

 Công ty cổ phần, công ty TNHH, Công ty hợp danh, DNTN

 Hợp tác xã, Hợp tác xã liên hiệp

 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước 1/7/2006

 Hộ kinh doanh, cá nhân

 Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam

 Các tổ chức theo quy định của pháp luật Việt Nam

- Nếu căn cứ vào mức độ tham gia quản lý hoạt động của nhà đầu tư thì phân chia đầu tư thành 2 loại là trực tiếp và gián tiếp

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác mà không trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư Hình thức này cũng bao gồm việc tham gia vào các quỹ đầu tư chứng khoán và các chế định tài chính khác.

+ Hoạt động đầu tư trực tiếp là hoạt động trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra

Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư, hoạt động đầu tư có thể được phân chia thành hai loại chính: đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

+ Đầu tư trong nước: nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Đầu tư nước ngoài là quá trình mà các nhà đầu tư từ nước ngoài đưa vốn, bao gồm tiền và tài sản hợp pháp khác, vào Việt Nam nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư.

Luật Đầu tư 2014 đã có những thay đổi đáng chú ý về hình thức đầu tư, bao gồm nhiều loại hình đầu tư khác nhau.

Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam được quy định tại Điều 22 Luật đầu tư 2014 và hướng dẫn cụ thể tại Điều 44 Nghị định 118/2015/NĐ-CP Trước khi thành lập, nhà đầu tư nước ngoài cần có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giấy CNĐKĐT) Ngoài ra, nhà đầu tư phải đảm bảo các điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ và các quy định theo điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

- Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế: Được quy định tại Điều 24 Luật đầu tư 2014

Hình thức đầu tư này đề cập đến việc nhà đầu tư góp vốn hoặc mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế nhằm thực hiện các hoạt động đầu tư.

Nhà đầu tư nước ngoài có thể thực hiện đầu tư thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn góp vào tổ chức kinh tế, tuân thủ các quy định về hình thức và điều kiện đầu tư Đồng thời, các thủ tục liên quan đến việc góp vốn, mua cổ phần cũng cần được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.

Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP, được quy định tại Điều 27 Luật Đầu tư 2014, là hình thức hợp tác giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án nhằm thực hiện các dự án đầu tư.

Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, được quy định tại Điều 28 Luật đầu tư 2014, là hình thức hợp tác kinh doanh giữa các nhà đầu tư nhằm phân chia lợi nhuận và sản phẩm mà không cần thành lập tổ chức kinh tế Các bên tham gia hợp đồng BCC sẽ thành lập ban quản lý để điều phối hoạt động hợp tác.

Hợp đồng BCC yêu cầu 14 điều phối để thực hiện, với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được xác định qua thỏa thuận giữa các bên Hình thức đầu tư này ngày càng phổ biến với cả nhà đầu tư trong và ngoài nước nhờ vào tính chủ động và linh hoạt, vì không cần thành lập pháp nhân Tuy nhiên, nhược điểm lớn là việc không có con dấu riêng có thể gây rắc rối, khi các nhà đầu tư phải thỏa thuận sử dụng con dấu của một trong số họ, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho dự án đầu tư.

Pháp luật về công ty

Doanh nghiệp là tổ chức mà các thành viên cùng nhau góp vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh, tuân theo nguyên tắc chia sẻ lợi nhuận và chịu trách nhiệm về thua lỗ Các đặc điểm chính của doanh nghiệp bao gồm sự hợp tác giữa các thành viên và việc chia sẻ rủi ro trong kinh doanh.

- Mục đích thành lập công ty là nhằm kinh doanh thu lợi nhuận

- Mỗi thành viên tham gia vào phải góp vốn Hình thức góp vốn tùy vào sự thỏa thuận giữa các thành viên

- Công ty là sự liên kết của nhiều người, thể hiện thành 1 tổ chức có cơ cấu chặt chẽ

2.2 Các loại công ty theo luật hiện hành

2.2.1 Công ty TNHH một thành viên

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc cá nhân sở hữu, với chủ sở hữu chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản trong giới hạn vốn điều lệ.

+ Có tư cách pháp nhân bắt đầu từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Công ty TNHH một thành viên không có quyền phát hành cổ phần và chủ sở hữu công ty hoàn toàn quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty Chủ sở hữu có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ cho tổ chức, cá nhân khác, đồng thời chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH một thành viên có thể bao gồm Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty cùng với Giám đốc, tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh Đặc biệt, loại hình công ty này không có quyền phát hành cổ phiếu.

2.2.2 Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, thường có các thành viên là người thân quen Các thành viên trong công ty chia lãi dựa trên tỷ lệ vốn góp và chịu trách nhiệm về nợ nần cũng như nghĩa vụ tài sản khác trong giới hạn số vốn đã cam kết Đây là một hình thức công ty đối vốn nhưng có yếu tố trọng nhân.

Thành viên của công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức, với số lượng tối thiểu là 2 và tối đa là 50 thành viên Các thành viên này phải đảm bảo không thuộc nhóm đối tượng bị cấm tham gia vào việc thành lập, quản lý và góp vốn.

Công ty chính thức có tư cách pháp nhân từ ngày nhận giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp cần có thêm giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, cùng với các yêu cầu về vốn pháp định hoặc các yêu cầu khác để được xác định là đủ điều kiện kinh doanh.

Thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong giới hạn số vốn mà họ đã cam kết góp vào công ty.

+ Không được quyền phát hành cổ phần, số lượng thành viên tối đa là 50 thành viên

- Cơ cấu tổ chức công ty TNHH 2 thành viên trở lên:

Hội đồng thành viên: gồm các thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty

Thành viên trong tổ chức có quyền chỉ định người đại diện tham gia Hội đồng thành viên (HĐTV), số lượng này thường được quy định bởi Điều lệ công ty Điều lệ cũng quy định cụ thể về kỳ họp của HĐTV, yêu cầu tối thiểu mỗi năm phải tổ chức ít nhất một cuộc họp.

Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

+ Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần;

+ Cổ đông có thể là cá nhân, tổ chức;

+ Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không giới hạn số lượng tối đa;

+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 120 của Luật này và các hạn chế trong Điều lệ công ty Nếu Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần, thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được ghi rõ trên cổ phiếu tương ứng.

+ Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân bắt đầu từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

+ Có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

 Cơ cấu tổ chức cơ bản của công ty Cổ phần:

Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là các cơ cấu quan trọng trong công ty cổ phần Nếu công ty có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần, thì không bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát.

Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc cần đảm bảo rằng ít nhất 20% thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập Đồng thời, cần thành lập Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị, với cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động do Hội đồng quản trị ban hành.

Trong trường hợp công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật, Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc/Tổng giám đốc sẽ là người đại diện Nếu Điều lệ công ty không quy định, Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ là người đại diện theo pháp luật Đối với công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật, cả Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc sẽ đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty.

- Đại hội đồng cổ đông

“Điều 139 Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông

1 Đại hội đồng cổ đông họp thường niên mỗi năm một lần Ngoài cuộc họp thường niên, Đại hội đồng cổ đông có thể họp bất thường Địa điểm họp Đại hội đồng cổ đông được xác định là nơi chủ tọa tham dự họp và phải ở trên lãnh thổ Việt Nam

2 Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính Trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác, Hội đồng quản trị quyết định gia hạn họp Đại hội đồng cổ đông thường niên trong trường hợp cần thiết, nhưng không quá 06 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính.”

Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh

Theo điều 188 Luật doanh nghiệp 2020:

Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân sở hữu, người này chịu trách nhiệm toàn bộ bằng tài sản cá nhân cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.

–DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào

Mỗi cá nhân chỉ được phép thành lập một doanh nghiệp tư nhân và không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh hay thành viên công ty hợp danh Doanh nghiệp tư nhân không có quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong các loại hình công ty như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

3.1.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân (DNTN)

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, khác với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh DNTN không có hội đồng cổ đông hay hội đồng thành viên, và chủ sở hữu không phải là một tổ chức như trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chủ sở hữu của DNTN có quyền quyết định cao nhất và chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác Nếu chủ sở hữu doanh nghiệp thua lỗ và không đủ tài sản công ty để trả nợ, họ phải dùng tài sản cá nhân để chi trả Do đó, DNTN có trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh, và pháp luật quy định rằng chủ doanh nghiệp tư nhân không thể đồng thời là thành viên công ty hợp danh hoặc chủ hộ kinh doanh, vì cả hai đều có trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của mình.

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không có tư cách pháp nhân, điều này có nghĩa là tài sản của DNTN không tách biệt với tài sản của chủ doanh nghiệp Cấu trúc tổ chức của DNTN đơn giản, chỉ do một cá nhân làm chủ, dẫn đến việc không có sự phức tạp trong quản lý Bên cạnh đó, DNTN không có quyền phát hành chứng khoán, do quy mô nhỏ và hạn chế về vốn điều lệ, khiến cho việc phát hành cổ phiếu có thể gây rối loạn trong việc xác định trách nhiệm tài chính với cổ đông Cuối cùng, DNTN cũng không có quyền góp vốn hoặc mua cổ phần trong các loại hình công ty khác như công ty hợp danh hay công ty trách nhiệm hữu hạn, vì không có tư cách pháp nhân.

Người không thể tự mình tham gia vào quan hệ xã hội dưới danh nghĩa cá nhân, vì vậy doanh nghiệp tư nhân không có quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp Chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ có thể góp vốn hoặc mua cổ phần, phần vốn góp dưới danh nghĩa cá nhân của mình, không được đại diện cho doanh nghiệp tư nhân.

3.1.3 Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) có cơ cấu tổ chức đơn giản, cho phép chủ doanh nghiệp toàn quyền quyết định các hoạt động kinh doanh Chủ doanh nghiệp có thể tự quản lý hoặc thuê người khác để điều hành Cấu trúc tổ chức của DNTN phụ thuộc vào cách thức quản lý và sắp xếp của chủ sở hữu.

3.2 Pháp luật về hộ kinh doanh

Theo Nghị định 78/2015/NĐ-CP, hộ kinh doanh được thành lập bởi cá nhân hoặc nhóm cá nhân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình Hộ kinh doanh chỉ được đăng ký tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không cần đăng ký kinh doanh, trừ khi kinh doanh các ngành nghề có điều kiện Mức thu nhập thấp sẽ được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định theo từng địa phương.

* Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định

Cá nhân nộp thuế khoán là những người kinh doanh có doanh thu từ việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, ngoại trừ những cá nhân được quy định tại Điều 3, Điều 4 và Điều 5 của Thông tư 92/2015/TT-BTC.

Cá nhân nộp thuế khoán có mức doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm sẽ không phải nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân, đồng thời doanh thu này cũng được coi là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân trong năm.

Cá nhân nộp thuế khoán kinh doanh không trọn năm, bao gồm cá nhân mới khởi nghiệp, cá nhân kinh doanh theo mùa vụ, và cá nhân ngừng/nghỉ kinh doanh, có mức doanh thu hàng năm 100 triệu đồng trở xuống Trong trường hợp này, cá nhân sẽ không phải nộp thuế giá trị gia tăng và cũng không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, vì doanh thu này được xem là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân cho một năm.

Doanh thu tính thuế thực tế trong năm được xác định dựa trên số tháng hoạt động kinh doanh Đối với cá nhân nộp thuế khoán, nếu cơ quan thuế đã thông báo số thuế phải nộp nhưng cá nhân không kinh doanh trọn năm, họ sẽ được giảm số thuế khoán tương ứng với số tháng ngừng hoặc nghỉ kinh doanh trong năm.

3.3 Cá nhân kinh doanh không phải đăng ký kinh doanh

Các trường hợp không phải đăng ký kinh doanh

Căn cứ khoản 2 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, các trường hợp này bao gồm:

- Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối;

- Những người bán hàng rong, quà vặt;

- Những người buôn chuyến (mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ);

- Những người kinh doanh lưu động (bán hàng tích hợp trên những phương tiện di chuyển như xe đẩy, xe máy, xe tải nhỏ…);

- Những người làm dịch vụ có thu nhập thấp

Tuy nhiên nếu kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, những đối tượng nêu trên vẫn phải đăng ký kinh doanh theo quy định.

Pháp luật về hợp tác xã

Theo Luật Hợp tác xã năm 2012:

- "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất

Bảy thành viên đã tự nguyện hợp tác để hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất và kinh doanh, nhằm tạo ra việc làm và đáp ứng nhu cầu chung Họ cam kết hoạt động dựa trên nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.

Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, có tư cách pháp nhân, được thành lập bởi ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện với mục tiêu hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Tổ chức này hoạt động dựa trên nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý, nhằm đáp ứng nhu cầu chung của các hợp tác xã thành viên.

Khi hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã phát triển lên trình độ cao hơn, sẽ hình thành các doanh nghiệp thuộc hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã Những doanh nghiệp này sẽ hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp.

4.2 Quy chế thành lập, tổ chức

Bước 1: Xác định nhu cầu hợp tác

Các vấn đề cần được xác định:

– Đối tượng cần hợp tác

– Điều kiện sản xuất kinh doanh, lợi thế và mối quan tâm của địa phương

– Các thuận lợi, khó khăn trong hoạt động của HTX

Các vấn đề nêu trên cần được phân tích và đánh giá để xác định hướng phát triển cho HTX, từ đó giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề trong cộng đồng địa phương.

Bước 2 : Sáng lập và công tác vận động

Nhiệm vụ 1: Tìm sáng lập viên

Sáng lập viên đóng vai trò thiết yếu trong hợp tác xã (HTX), là những cá nhân, hộ gia đình hoặc pháp nhân khởi xướng và tham gia vào việc thành lập HTX.

Sáng lập viên của hợp tác xã (HTX) cần có ý tưởng rõ ràng về việc hình thành sự hợp tác, hiểu biết sâu sắc về luật pháp và tổ chức HTX, đồng thời phải có nhiệt huyết, uy tín và khả năng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ mà HTX hướng tới Họ cũng cần có khả năng đề xuất các chương trình và lập kế hoạch hoạt động hiệu quả cho HTX.

Nhiệm vụ 2: Vận động và chuẩn bị

Sáng lập viên cần gửi báo cáo bằng văn bản đến UBND cấp xã nơi dự kiến đặt trụ sở chính của HTX, trong đó nêu rõ việc thành lập, địa điểm trụ sở, phương hướng sản xuất, kinh doanh và kế hoạch hoạt động của HTX.

Sáng lập viên tiến hành tuyên truyền, vận động các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân khác có nhu cầu tham gia HTX

Tài liệu tuyên truyền về Luật Hợp tác xã năm 2012 và các nghị định liên quan bao gồm Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã, Nghị định 107/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 193/2013/NĐ-CP, cùng với Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo hoạt động của hợp tác xã.

Nhiệm vụ 3: Xây dựng dự thảo Điều lệ HTX

Sáng lập viên xây dựng Điều lệ hợp tác xã theo quy định tại Điều 21 Luật Hợp tác xã năm 2012

Nhiệm vụ 4 bao gồm việc xây dựng dự thảo phương hướng sản xuất kinh doanh dịch vụ của Hợp tác xã (HTX), nhằm định hướng phát triển bền vững Nhiệm vụ 5 tập trung vào việc xác lập danh sách những người có nhu cầu tham gia HTX, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và mở rộng của tổ chức.

Nhiệm vụ 6 yêu cầu thu thập ý kiến đóng góp từ cộng đồng, đặc biệt là những người sẽ trở thành thành viên, về dự thảo Điều lệ và Phương hướng sản xuất kinh doanh dịch vụ của Hợp tác xã (HTX).

Nhiệm vụ 7 liên quan đến việc tổ chức họp bàn cơ cấu tổ chức hợp tác xã (HTX) và đề cử các chức danh trong Hội đồng quản trị, bao gồm Chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát và Trưởng Ban Kiểm soát Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của HTX, được thành lập qua hội nghị hoặc đại hội thành viên, với quy trình bầu cử kín Số lượng thành viên Hội đồng quản trị phải từ 03 đến 15 người, theo quy định của điều lệ, và nhiệm kỳ của hội đồng này tối thiểu là 02 năm và tối đa là 05 năm.

– Giám đốc: là người điều hành hoạt động của hợp tác xã

Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên có nhiệm vụ hoạt động độc lập, kiểm tra và giám sát hoạt động của hợp tác xã theo quy định pháp luật và điều lệ Các thành viên của ban kiểm soát được bầu trực tiếp bởi đại hội thành viên thông qua hình thức bỏ phiếu kín, với số lượng không quá 07 người do đại hội quyết định Hợp tác xã có từ 30 thành viên trở lên bắt buộc phải bầu ban kiểm soát, trong khi hợp tác xã dưới 30 thành viên có thể thành lập ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên theo quy định của điều lệ Trưởng ban kiểm soát cũng được bầu trực tiếp từ các thành viên của ban và nhiệm kỳ của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên đồng thời với nhiệm kỳ của hội đồng quản trị.

– Chuẩn bị báo cáo tuyên truyền và vận động thành lập HTX

Bước 3: Tổ chức Hội nghị thành lập HTX

Hội nghị thành lập HTX do sáng lập viên tổ chức

Thành phần tham gia hợp tác xã (HTX) bao gồm sáng lập viên, người đại diện hợp pháp của sáng lập viên, cũng như người đại diện hợp pháp của hộ gia đình, pháp nhân và các cá nhân khác có mong muốn gia nhập HTX.

Khách mời: đại diện Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã, huyện, đại diện sở, phòng, ban chức năng, Liên minh HTX tỉnh…

– Thông qua dự thảo Điều lệ (xây dựng theo Điều 21 Luật HTX năm 2012)

– Thông qua Phương án sản xuất kinh doanh (Phụ lục I-2 – Thông tư 03/2014/TT- BKHĐT)

– Thông qua danh sách thành viên (Phụ lục I-3 – Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT)

– Bầu cử hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, trưởng ban kiểm soát (Phụ lục I-4 – Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT)

– Thông qua nghị quyết hội nghị thành lập HTX

– Khi thành lập HTX, HTX gửi tới cơ quan đăng ký HTX nơi HTX dự định đặt trụ sở chính 01 bộ hồ sơ đăng ký thành lập HTX, gồm:

– Giấy đề nghị đăng ký thành lập HTX theo mẫu quy định tại Phụ lục I-1;

– Điều lệ của HTX được xây dựng theo Điều 21 Luật HTX;

– Phương án sản xuất kinh doanh theo mẫu quy định tại Phụ lục I-2;

– Danh sách thành viên theo mẫu quy định tại Phụ lục I-3;

– Danh sách hội đồng quản trị, giám đốc, ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên theo mẫu quy định tại Phụ lục I-4;

– Nghị quyết của hội nghị thành lập về những nội dung quy định tại Khoản 3 Điều

20 Luật HTX đã được biểu quyết thông qua

HTX được cấp giấy chứng nhận đăng ký khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm;

– Hồ sơ đăng ký theo quy định Điều 7 Thông tư 03/2014/TT-BKHĐT

– Tên của HTX được đặt theo quy định tại Điều 7, 8, 9, 10 Nghị định 193/2013/NĐ-

Trụ sở chính của HTX tại Việt Nam là địa điểm giao dịch quan trọng, được xác định rõ ràng với địa chỉ bao gồm số nhà, tên đường, xã, phường, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, và tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Thông tin liên lạc bao gồm số điện thoại, số fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có) cũng được cung cấp đầy đủ.

Người đại diện hợp pháp của hợp tác xã (HTX) và liên hiệp HTX phải thực hiện việc kê khai đầy đủ, trung thực và chính xác các thông tin theo quy định, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung đã kê khai.

LUẬT PHÁ SẢN

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TRONG KINH DOANH

SỐ HỢP ĐỒNG THÔNG DỤNG TRONG KINH DOANH

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN

Ngày đăng: 22/09/2023, 08:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w