Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề của đề tài, chúng tôi dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhằm đảm bảo tính khách quan và toàn diện Chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để hệ thống hóa và khái quát hóa các nội dung liên quan, giúp phân tích sâu sắc và rõ ràng hơn về vấn đề nghiên cứu.
Ngoài ta trong quá trình xử lí tư liệu, chúng tôi còn sử dụng một số phương phỏp khỏc như so sỏnh, đối chiếu, thống kê, v.v…
Cấu trúc của khúa luận
Cơ sở ra đời của t- t-ởng xã hội xã hội chủ nghĩa
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của phong trào công nhân
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, các cuộc cách mạng công nghiệp tại châu Âu tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy nền kinh tế các nước lớn đạt mức cao mới Ngay cả các quốc gia chưa tiến hành cách mạng tư sản đã bắt đầu gặt hái thành tựu đáng kể về kinh tế dựa trên nền tảng chủ nghĩa tư bản, góp phần nâng cao rõ rệt mức sản xuất toàn cầu Các trung tâm công nghiệp sầm uất như cảng biển, thành phố lớn, hệ thống giao thông thủy bộ và phương tiện liên lạc hiện đại mọc lên ngày càng nhiều Tuy nhiên, cùng với sự phát triển này, mâu thuẫn giữa tư sản và công nhân ngày càng rõ rệt, khiến công nhân rơi vào tình cảnh vô cùng khổ cực và bất công.
Đằng sau bộ mặt lộng lẫy của chủ nghĩa tư bản là thực tế khắc nghiệt về đời sống công nhân, đã được Friedrich Engels vạch trần một cách sinh động và chân thực trong tác phẩm nổi tiếng "Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh".
Chủ nghĩa tư bản gây ra sự bóc lột tàn khốc, làm sâu sắc thêm khoảng cách giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân Những mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt, dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản là điều không thể tránh khỏi.
Chủ nghĩa tư bản đã cùng với sự ra đời và phát triển của nó thúc đẩy sự hình thành và phát triển của giai cấp công nhân, đồng thời khiến đời sống của họ trở nên vô cùng khắc nghiệt do sự bóc lột tàn bạo Giai cấp công nhân luôn căm thù chế độ tư bản vì những bất công và áp bức mà họ phải chịu đựng Trong giai đoạn đầu, do hạn chế về ý thức và trình độ tổ chức, công nhân thường liên kết với giai cấp tư sản để chống lại phong kiến, nhưng thường bị tư bản cướp đoạt thành quả cách mạng Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự tham gia tích cực và thái độ kiên quyết của công nhân trong các cuộc cách mạng vô sản, góp phần quan trọng vào tiến trình đấu tranh giải phóng giai cấp.
Máy móc không giúp cải thiện đời sống công nhân, mà còn gây ra sự bóc lột nhiều hơn và lan rộng nạn thất nghiệp Công nhân phản đối bằng cách đập phá máy móc, nhưng hành động này chỉ dẫn đến sự đàn áp tăng cường từ giới chủ Qua nhiều lần thất bại, nhận thức của công nhân ngày càng trưởng thành, phong trào đấu tranh của họ được nâng cao và phát triển mạnh mẽ hơn.
Trong những năm 20 – 30 của thế kỉ XIX, ở Pháp, cuộc khởi nghĩa
Cuộc khởi nghĩa năm 1831 của công nhân dệt Pháp lần đầu tiên phản ánh ảnh hưởng lớn của phong trào công nhân trong lịch sử Họ đứng lên để đòi tăng lương và thể hiện quyết tâm “Sống có việc làm hay chết trong chiến đấu”, tạo nên những trận chiến dữ dội trên đường phố và làm chủ thành phố trong ba ngày liên tiếp Tuy nhiên, do trình độ tổ chức còn hạn chế, họ không biết tiếp tục chiến đấu, dẫn đến việc quân đội nhanh chóng đàn áp phong trào Năm 1834, cuộc khởi nghĩa thứ hai diễn ra với khẩu hiệu chính trị trên lá cờ đỏ, thể hiện ý chí đấu tranh của công nhân Pháp nhằm đòi quyền lợi và thay đổi xã hội.
Cuộc khởi nghĩa của Lyông thể hiện bước trưởng thành của giai cấp công nhân, khi cả hai cuộc khởi nghĩa đều thất bại nhưng đánh dấu sự lớn mạnh của công nhân Pháp và lần đầu tiên họ bước vào chính trường với tư cách một lực lượng chính trị độc lập, chống trực tiếp giai cấp tư sản bằng biện pháp bạo lực Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa cũng bộc lộ những hạn chế về trình độ giác ngộ và tổ chức của công nhân, thiếu vai trò lãnh đạo lý luận và đảng tiên phong Dù thất bại, cuộc khởi nghĩa đã truyền cảm hứng cho công nhân ở các trung tâm khác nổi dậy hưởng ứng, và các phong trào này duy trì kéo dài suốt những năm 1930, phản ánh sự trưởng thành và ý chí đấu tranh của giai cấp công nhân.
Trong giai đoạn này, luồng tư tưởng xã hội chủ nghĩa nhỏ lẻ lan rộng trong công nhân Pháp, tiêu biểu là Luy Blăng và Pruđông, mặc dù còn nhiều nhược điểm như thiếu liên hệ với quần chúng và chưa nhận thức rõ lực lượng vô sản cũng như nhu cầu thành lập đảng vô sản Những vấn đề này sẽ được giải quyết thông qua học thuyết công sản khoa học của Mác - Ăngghen và thử nghiệm trong thực tiễn cách mạng Tại Anh, sau cuộc cải cách tuyển cử năm 1832, giai cấp tư sản đã phần nào hài lòng và rời xa cuộc đấu tranh, trong khi giai cấp vô sản vẫn tiếp tục đấu tranh đòi quyền tham gia bầu cử Phong trào Hiến chương phát triển mạnh trong những năm 1830-1840, đánh dấu bước tiến lớn của công nhân Anh và ảnh hưởng tích cực tới phong trào công nhân châu Âu và Bắc Mỹ; tổ chức lãnh đạo là Hội công nhân Luân Đôn, thành lập năm 1836, đã công bố 6 điểm chính như một cơ lĩnh dân chủ của công nhân Dù phong trào này diễn ra ba lần rồi bị đàn áp, song trong bối cảnh lịch sử đó, phong trào Hiến chương vẫn được xem là “một phong trào cách mạng vô sản lớn, thực sự quần chúng và có hình thức chính trị”.
Dưới sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân xuất hiện và ngày càng lớn mạnh Bị bóc lột và áp bức tàn khốc, công nhân đã đứng lên đấu tranh vì quyền lợi của mình, thể hiện qua các phong trào đấu tranh trong những năm 1830-1840 của thế kỷ XIX Những cuộc đấu tranh này chứng tỏ rằng giai cấp công nhân đã bước vào chính trường với vai trò của một giai cấp độc lập, mặc dù thiếu tổ chức vững mạnh và lý luận khoa học để giành thắng lợi Các phong trào xã hội chủ nghĩa không tưởng không thể đáp ứng yêu cầu của công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, nhưng chính điều này tạo điều kiện cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác và dẫn đến cao trào cách mạng năm 1848.
1.1.2 Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội không t-ởng 1.1.2.1 Sơ l-ợc về t- t-ởng xó hội xã hội chủ nghĩa thời cổ đại
Chế độ cộng sản nguyên thủy dần tan rã, nhường chỗ cho chế độ chiếm hữu nô lệ do giai cấp chủ nô thống trị Xã hội đã có bước phát triển đáng kể về kinh tế và cấu trúc xã hội phân chia rõ rệt thành người giàu, người nghèo, lực lượng thống trị và bị thống trị Cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột của các giai cấp và tầng lớp bị áp bức là quá trình tất yếu phản ánh mâu thuẫn cơ bản trong phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ Trong cuộc đấu tranh đó, khát vọng hướng tới một xã hội không còn áp bức bóc lột đã hình thành như một ước mơ chính đáng.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa thời cổ đại, những ước mơ và khát vọng của công chúng chỉ mới thể hiện qua các câu chuyện truyền miệng về những điều không tưởng, khi sau này xuất hiện các tác phẩm văn học cổ vũ phong trào đấu tranh và các cuộc khởi nghĩa của người nô lệ Những hình thái mơ ước này chủ yếu hướng tới việc trở về "thời đại hoàng kim", được gọi là "giang sơn ngàn năm của chúa" trong Thánh kinh, tượng trưng cho chế độ công xã nguyên thủy không có giai cấp áp bức, bóc lột, trong đó mọi người bình đẳng và tự do.
1.1.2.2 T- t-ởng xã hội xã hội chủ nghĩa từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII
Từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, nhân loại đã có bước tiến dài trong đời sống kinh tế - xã hội, với sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ nét và các cuộc xung đột giữa các giai cấp trở nên quyết liệt hơn Những cuộc cách mạng tư sản nổ ra liên tiếp và giành thắng lợi, đưa giai cấp tư sản từng bước khẳng định vị thế thống trị Chủ nghĩa tư bản dần thay thế chế độ phong kiến tại phần lớn châu Âu và Bắc Mĩ, đồng thời tư bản tích tụ và tập trung mạnh mẽ, dẫn đến tranh chấp giai cấp ngày càng gay gắt Những điều kiện và tiền đề này đã thúc đẩy sự phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa sang một giai đoạn mới, có trình độ cao hơn, nhờ vào công lao và đóng góp của nhiều nhà tư tưởng vĩ đại.
Tômát Morơ (1478-1535) nổi bật với tác phẩm "Không tưởng" (Utopia), mô tả cuộc sống của người dân trên đảo Utopia, một địa danh không có thật Trong tác phẩm này, ông thể hiện những nội dung của chủ nghĩa xã hội một cách sáng tạo qua hình thức văn học "Không tưởng" của Tômát Morơ là tác phẩm chủ yếu giúp thế hệ sau hiểu rõ về tư tưởng xã hội chủ nghĩa, thể hiện quan điểm của ông về một xã hội lý tưởng Tác phẩm của ông đã góp phần làm rõ các nguyên tắc và giá trị của chủ nghĩa xã hội qua lăng kính văn học.
T- t-ởng cơ bản nổi bật và có tính chất chủ đạo của ông là t- t-ởng cho rằng, nguyên nhân sâu xa của mọi tệ nạn xã hội của áp bức và bất l-ơng trong lòng xã hội t- bản là chế độ tu hữu Trên cơ sở quan điểm đó, ông mô tả một cách tài tình tình trạng phân hoá giàu nghèo, những áp bức và bất công trong xã hội t- bản ngay khi mới hình thành,phân tích một cách sâu sắc sự khốn cùng của ng-ời nông dân do quá trình tích luỹ t- bản mang lại… Điều quan trọng và rất căn bản trong các quan niệm xã hội chủ nghĩa của ông là ở chỗ, ông chỉ ra rằng, muốn xoá bỏ bất công, áp bức, xoá bỏ tình trạng phân hoá giàu nghèo, cần xoá bỏ chế độ t- hữu Với quan điểm có tính chất căn bản này ông đã đ-ợc xếp vào một trong số các nhà t- t-ởng cộng sản chủ nghĩa của thế kỉ XVI
Grắccơ Ba Bớp (1760 – 1797) là nhà lãnh đạo xuất sắc của phong trào đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội trong cuộc cách mạng Pháp (1789), khi xã hội đang chuyển mình mạnh mẽ với sự bất ổn và phân chia rõ rệt các lực lượng Trong bối cảnh đó, nhiều nhà tư tưởng tiểu tư sản đã chuyển sang tham gia cách mạng để lật đổ chế độ phong kiến, còn giai cấp vô sản bắt đầu hình thành và có nhu cầu tách khỏi khối quần chúng nghèo khổ G Ba Bớp đã đưa ra bản Tuyên ngôn của những người bình dân, xem đây như một cương lĩnh hành động mang nhiệm vụ và biện pháp cụ thể, nhằm hướng tới mục tiêu một chế độ xã hội mới Đây còn là lần đầu tiên trong lịch sử vấn đề đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội được đặt ra như một phong trào thực tiễn chứ không chỉ dừng lại ở tư tưởng hay lí luận.
1.1.2.3 Chủ nghĩa xã hội không t-ởng – phê phán đầu thế kỉ XIX
Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
1.2.1 Cơ sở ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
- Cơ sở kinh tế - xã hội
Trong những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, đi đôi với sự hình thành và lớn mạnh của nền công nghiệp lớn, xác lập sự thống trị của chủ nghĩa tư bản ở các nước đã trải qua cách mạng xã hội hoặc có tiền đề cho thắng lợi của giai cấp tư sản chống chế độ phong kiến Đến những năm 50-60 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp hoàn thành trên hầu hết các quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ, biến đổi diện mạo các thành phố với các xí nghiệp hiện đại trang bị máy móc và tập trung hàng vạn công nhân, đồng thời thúc đẩy mạng lưới giao thông liên kết các trung tâm kinh tế Tuy nhiên, sự phồn thịnh này lại bị chi phối bởi quy luật giá trị thặng dư và lợi nhuận, khiến người công nhân trở thành món hàng của nhà tư bản, trong khi các khu công nghiệp nghèo đói rõ rệt so với các khu nhà giàu, dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa tư sản và vô sản Nhiều phong trào đấu tranh, khởi nghĩa quy mô lớn đã nổ ra, đặt ra yêu cầu phải có lý luận tiên phong để dẫn đường cho sự vận động tiến bộ của lịch sử, mở đường cho sự hình thành của chủ nghĩa xã hội như một hệ tư tưởng phản ánh đúng thực tế xã hội lúc bấy giờ.
Vào đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu lớn trong các lĩnh vực khoa học, văn hóa và tư tưởng, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại Trong khoa học tự nhiên, những phát minh nổi bật trong vật lý học và sinh học đã dẫn đến những bước đột phá mang tính cách mạng, mở ra kỷ nguyên mới của sự hiểu biết về thế giới tự nhiên.
Trong triết học và khoa học xã hội, sự ra đời của triết học cổ điển Đức với các nhà triết học vĩ đại như Hêghen và Phoiơbắc đã đặt nền móng cho tư duy hiện đại Kinh tế chính học cổ điển Anh với A Smít và Đ Ricácđô đã đóng góp những lý thuyết nền tảng cho nền kinh tế học hiện đại Chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán qua các tác phẩm của H.Xanhximông, S.Phuariê và Rôoen đã thúc đẩy các cuộc tranh luận xã hội và cách mạng tư duy Những giá trị khoa học và cống hiến của các nhà tư tưởng này đã tạo ra nền tảng cho các thế hệ tiếp theo kế thừa và phát triển Tuy nhiên, vấn đề còn lại là ai đủ năng lực để giữ gìn và phát huy những di sản này, cũng như cách thức kế thừa hiệu quả để thúc đẩy sự tiến bộ của triết học và khoa học xã hội.
1.2.2 Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học (1844 – 1895)
C.Mác (1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (1820 – 1895) tr-ởng thành ở một quốc gia có nền triết học phát triển rực rỡ với những thành tựu nổi bật là chủ nghĩa duy vật của L.Phoiơbắc và V.Ph.Hêghen Bằng trí tuệ uyên bác, các ông đã tiếp thu với một tinh thần phê phán đối với các giá trị của nền triết học cổ điển với kho tàng t- t-ởng lí luận mà các thế hệ tr-ớc để lại; sớm đắm mình trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động… tất cả những điều đó đã cho phép các ông đến với nhau, trở thành đôi bạn cùng chí h-ớng, giúp các ông nhận thức đ-ợc bản chất của những sự kiện kinh tế – xã hội, chính trị – xã hội đang diễn ra trong lòng xã hội tư bản “Kế thừa các giá trị khoa học trong kho tàng tưởng nhân loại, quan sát, phân tích với một tinh thần khoa học những sự kiện đang diễn ra… đã cho phép các ông từng bước phát triển học thuyết của mình,đ-a các giá trị t- t-ởng lí luận nói chung, t- tuởng xó hội xã hội chủ nghĩa nói riêng phát triển lên một trình độ mới về chất” [6, 135] Nhờ hai phát kiến vĩ đại: Chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng d-, các ông đã luận giải một cách khoa học sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, khắc phục một cách triệt để những hạn chế có tính lịch sử của chủ nghĩa xã hội không t-ởng
Quá trình C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội – khoa học có thể chia thành ba thời kì nhỏ:
Trong giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen chuyển đổi từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa xã hội và từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật biện chứng, thể hiện rõ qua các tác phẩm tiêu biểu như “Lời nói đầu của Góp phần phê phán triết học pháp quyền”, “Bản thảo kinh tế triết học 1844”, “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, “Gia đình thần thánh” và “Hệ tư tưởng Đức”, phản ánh sự chuyển biến sâu sắc trong tư duy triết học và chính trị của các nhà cách mạng.
“Sự khốn cùng của triết học”…[6,85]
Tác phẩm “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” ra đời vào đầu năm 1848 do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo, đánh dấu sự hình thành cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học Những nguyên lý cốt lõi trong tác phẩm này đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, xác định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người lấp đầy mối quan hệ giai cấp, phá bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới Nó chứng minh rằng chế độ xã hội chủ nghĩa là điều kiện tất yếu để đưa chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, giúp giai cấp công nhân từ bị bóc lột trở thành giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị Tác phẩm cũng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong cuộc đấu tranh vì một xã hội mới, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của phong trào quốc tế vô sản trong phong trào cộng sản và công nhân toàn cầu.
Thời kỳ này ghi nhận các sự kiện quan trọng của cách mạng dân chủ tư sản ở các quốc gia Tây Âu và việc thành lập Quốc tế I năm 1864, mở ra bước ngoặt trong phong trào cách mạng Điểm nổi bật của giai đoạn này là việc Karl Marx xuất bản tập I bộ “Tư bản”, đóng vai trò then chốt trong lý luận về chủ nghĩa tư bản và cuộc đấu tranh giai cấp.
(1867) khẳng định thêm một b-ớc vững chắc địa vị kinh tế – xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp công nhân
Trong giai đoạn này, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học được phát triển phong phú hơn nhờ tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp công nhân Karl Marx khẳng định rằng để giành lại quyền lực chính trị, giai cấp công nhân cần phá bỏ bộ máy quan liêu toàn trị và xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản Các nhà sáng lập chủ nghĩa khoa học đã xây dựng lý thuyết về cuộc cách mạng không ngừng, liên minh giai cấp của giai cấp công nhân, chiến lược và sách lược đấu tranh giai cấp, cũng như phương pháp và hình thức đấu tranh phù hợp trong các thời kỳ phát triển và suy thoái của cách mạng.
C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm Công xã Pari, đ-ợc thể hiện trong tác phẩm chủ yếu “Nội chiến ở Pháp”, “Phê phán cương lĩnh Gô ta”, “Chống Đuy rinh”,
“Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học”,
“Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước”…
Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã trình bày rõ ràng các luận điểm quan trọng về việc phá huỷ bộ máy nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước mới dựa trên nguyên lý cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời thừa nhận Công xã Pari là hình thái nhà nước của giai cấp công nhân Đặc biệt, trong hai tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta” và “Chống Đuyrinh”, các ông đã trình bày khái quát về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, nhận định rằng: “Hình thái cộng sản chủ nghĩa chia làm hai giai đoạn thấp và cao, về mục đích, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản khác biệt cơ bản với các xã hội đã tồn tại trong lịch sử, đó là một xã hội tạo điều kiện phát huy năng lực của con người” Để thực hiện mục tiêu này, các ông đã chỉ ra một số hướng đi cần thiết để tiến tới xây dựng xã hội mới.
Chủ nghĩa Mác coi hệ thống tri thức khoa học xã hội như một hệ thống chỉnh thể phản ánh các nguyên lý cơ bản phản ánh các quy luật vận động, biến đổi của xã hội, tồn tại vĩnh viễn và luôn được hoàn thiện; các phương pháp vận dụng những quy luật này có thể và cần thay đổi phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Như C.Mác và Ph.Ăngghen đã căn dặn, không thể xem những hạn chế hoặc sai lầm trong cách thức tác động là sai lầm của toàn bộ tri thức phản ánh quy luật, bởi vì những thất bại trong thí nghiệm của Edison không làm sai lệch nguyên lý chuyển đổi điện năng thành nhiệt năng.
V.I Lênin với việc phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện lịch sử mới
điều kiện lịch sử mới
V.I.Lênin (1870 – 1924) là ng-ời đã kế tục một cách xuất sắc sự nghiệp cách mạng và khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen Những đóng góp to lớn của Ng-ời vào vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học có thể đ-ợc chia thành hai thời kì cơ bản: Thời kì tr-ớc Cách mạng Tháng M-ời và thời kì sau Cách mạng tháng M-ời đến khi ng-ời từ trần
1.3.1 V.I Lênin vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học thời kì tr-ớc Cách mạng XHCN Tháng M-ời Nga
V.I Lênin đã kế thừa và vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học để phân tích và tổng kết các sự kiện lịch sử trong bối cảnh mới, từ đó hệ thống hóa những khái niệm phản ánh quy luật và thuộc tính chi phối sự vận động của xã hội trong quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Ông đã đề xuất các kiến thức về kiểu mới của đảng công nhân, nguyên tắc tổ chức, chính sách chiến lược trong hoạt động của đảng, cũng như các phương pháp cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản Lênin nhấn mạnh vai trò của cách mạng dân chủ tư sản mới, các điều kiện cần thiết cho chuyển biến thành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng với các quy luật và vấn đề xây dựng, bảo vệ chủ nghĩa xã hội, giải quyết các vấn đề dân tộc và cương lĩnh dân tộc Ngoài ra, ông nhấn mạnh mối liên hệ đoàn kết giữa công nhân và nông dân, các tầng lớp lao động khác, cũng như các vấn đề quốc tế, chủ nghĩa quốc tế vô sản, quan hệ của cách mạng xã hội chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc.
V I Lenin không chỉ hoạt động lý luận mà còn tích cực lãnh đạo Đảng cộng sản Nga tập hợp lực lượng đấu tranh chống chế độ phong kiến Nga hoàng Ông đã chỉ đạo cách mạng để giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga, góp phần vào sự nghiệp cách mạng của đất nước.
1.3.2 V.I.Lênin vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học thời kì sau Cách mạng XHCN Tháng M-ời Nga
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười, V.I Lênin đã phân tích rõ nội dung và bản chất của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Ông xác định cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh tổ chức các chính sách kinh tế phù hợp Chính sách kinh tế mới của Lênin tập trung học hỏi kinh nghiệm tổ chức và quản lý kinh tế của chủ nghĩa tư bản để cải tạo nền kinh tế tiểu nông lạc hậu của nước Nga Xô viết.
Trong giai đoạn này, V.I Lênin đã viết nhiều tác phẩm kinh điển để luận giải các vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa xã hội khoa học, đấu tranh chống lại các trào lưu phản bác như chủ nghĩa cơ hội xét lại, chủ nghĩa giáo điều và bệnh “tả khuynh” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
V.I Lênin thể hiện lòng trung thành vô hạn với lợi ích của giai cấp công nhân và lý tưởng cộng sản của Marx và Engels Ông không ngừng cống hiến về lý luận và chỉ đạo thực tiễn cách mạng, đồng thời phê phán bệnh giáo điều để thúc đẩy sự sáng tạo trong phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học Những đóng góp quan trọng này đã giúp V.I Lênin trở thành một thiên tài khoa học và lãnh tụ kiệt xuất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn cầu.
Mọi luận thuyết khoa học đều dựa trên sự kế thừa các tri thức đã tích lũy của nhân loại và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong từng lĩnh vực Quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học cũng tuân theo quy luật này, bằng cách kế thừa các yếu tố tích cực của các trào lưu xã hội chủ nghĩa trong lịch sử và các thành tựu của nhân loại C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập lý thuyết khoa học về chủ nghĩa xã hội, cung cấp kiến thức về các quy luật tự nhiên và xã hội, trang bị cho giai cấp vô sản công cụ đấu tranh chống lại bất công, bóc lột, và ủng hộ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng nhân loại khỏi áp bức và đói nghèo.
Quá trình tiếp nhận t- t-ởng xã hội xã hội chủ nghĩa của ng-ời trung quốc
(cuèi thÕ kû XIX ®Çu thÕ kû XX ) 2.1 Tình hình Trung Quốc cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Kể từ thế kỷ XVII, đặc biệt là thế kỷ XVIII và XIX, các quốc gia thực dân phương Tây đã đẩy mạnh hoạt động chiếm đoạt thị trường toàn cầu Trong khu vực châu Á, các nước như Ấn Độ, Indonesia, Mã Lai và Myanmar đã rơi vào cảnh bị các đế quốc tranh giành và xâm chiếm Trung Quốc cũng không ngoại lệ, nhanh chóng trở thành mục tiêu và trung tâm của các cuộc xâm lược nhằm phục vụ lợi ích của các quốc gia đế quốc.
Cuối triều Mãn Thanh, xã hội phong kiến Trung Quốc b-ớc vào giai đoạn khủng hoảng về mọi mặt
Từ giữa thế kỷ XIX, Trung Quốc vẫn duy trì các quan hệ sản xuất trung cổ, trong đó nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo và là nguồn thu chính để thu thuế Tuy nhiên, chính quyền Mãn Thanh suy yếu, gây áp lực nặng nề lên đời sống nông dân qua chế độ chiếm hữu đất đai của địa chủ và hệ thống thuế má phức tạp, khiến nông dân càng thêm khổ cực Sự bóp nghẹt này dẫn đến sự suy thoái của nền kinh tế nông nghiệp Trung Quốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế quốc gia.
Trước cuộc chiến tranh Nha Phiến lần nhất, triều đình nhà Thanh duy trì chính sách “bế quan toả cảng”, phong tỏa các miền duyên hải và cấm hoạt động buôn bán với nước ngoài, chỉ cho phép thương mại tại Quảng Châu Tuy nhiên, chính sách này không thể kéo dài, và cuộc Chiến tranh Nha Phiến kết thúc bằng thất bại của nhà Thanh, dẫn đến các hiệp ước bất bình đẳng bắt buộc Trung Quốc từ bỏ chính sách cấm vận Điều ước Nam Kinh ký ngày 29/12/1842 với Anh là điều khoản đầu tiên đưa Trung Quốc vào vòng kiểm soát của các thế lực nước ngoài, mở đầu cho chuỗi các hiệp ước gây tổn thất lớn cho đất nước.
Mĩ và lần l-ợt Trung Quốc phải kí các điều -ớc với Bỉ, Thuỵ Điển, Na Uy,
Các đế quốc như Bồ Đào Nha, Nga và Mỹ ký kết các hiệp ước nhằm chia sẻ thị trường tiêu thụ trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp Pháp giành quyền tự do truyền đạo để mở đường xâm lược Trung Quốc, đặc biệt chú trọng vùng Hoa Nam – một thị trường hấp dẫn Đồng thời, Pháp còn buộc nhà Thanh chấp nhận các nguyên tắc “đối xử bình đẳng” với các nước như Bỉ, Thụy Điển, Na Uy, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, nhưng cũng đẩy nhân dân Trung Quốc vào tình trạng lệ thuộc ngày càng nặng nề.
Trong giai đoạn từ năm 1843 đến 1921, Trung Quốc chịu áp lực từ các nước đế quốc buộc phải mở 90 hải cảng để thúc đẩy thương mại quốc tế Bên cạnh đó, các nước này còn thuê đất lập các "tô giới" - những khu vực đặc biệt hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài Những sự kiện này phản ánh quá trình bị xâm lấn và mất tự chủ của Trung Quốc trong thời kỳ nửa đầu thế kỷ XX.
1845, đế quốc Anh lập tô giới bên sông Hoàng Phố ở Th-ợng Hải Năm
Vào năm 1847, đế quốc Mỹ đã xây dựng tô giới tại Thượng Hải, mở đầu làn sóng thiết lập các khu vực này trên các thành phố lớn ven biển Trung Quốc Sau đó, hầu hết các thành phố thương mại quan trọng đều bị các đế quốc xâm chiếm và khoanh vùng thành tô giới riêng, biến chúng thành các cứ điểm xâm lược về kinh tế và quân sự Trong đó, Hương Cảng cùng những vùng tô giới khác trở thành những đất riêng của các cường quốc phương Tây, đồng thời là trung tâm của hoạt động xâm lược và kiểm soát thuộc địa.
Trong giai đoạn hình thành các vùng tô giới, nhiều ngành công nghiệp mới đã được xây dựng để phục vụ mục đích kinh tế của thực dân phương Tây Năm 1845, Anh lập xưởng đóng tàu bên sông Hoàng Phố, Quảng Châu, còn Mỹ mở xưởng sửa chữa tàu ở Thượng Hải vào năm 1852, góp phần phát triển ngành công nghiệp nhẹ như sản xuất diêm và xà phòng trong vùng tô giới Bên cạnh đó, hoạt động buôn bán người, bao gồm lao động cho phụ nữ và trẻ em, diễn ra sôi động, với hơn 1,2 triệu người Trung Quốc bị bán sang các thuộc địa của Anh ở ấn Độ, Đông Nam Á và châu Âu trong khoảng thời gian từ 1851 đến 1875.
Thực dân mở cửa Trung Quốc nhằm biến đất nước thành thị trường tiêu thụ, dẫn đến hàng hóa ngoại quốc tràn vào với mức thuế thấp Các mặt hàng ngoại nhập, đặc biệt là vải vóc, cạnh tranh gay gắt, khiến nghề dệt truyền thống của Trung Quốc bị phá sản Vải ngoại quốc rẻ, đẹp và bền khiến hàng thủ công truyền thống mất khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa Các nước xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc các mặt hàng công nghiệp, trong khi nhập khẩu chủ yếu nông phẩm từ Trung Quốc, gây suy giảm nền kinh tế cổ truyền của đất nước.
Sự tiếp nhận t- t-ởng xó hội xã hội chủ nghĩa của tầng lớp văn thân sĩ
Từ cuối thế kỷ XIX, người Trung Quốc đã biết đến chủ nghĩa xã hội, mặc dù Mác và các tác phẩm của ông mới chỉ được giới thiệu mà chưa gây chú ý sâu rộng Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho người dân Trung Quốc vốn đang chịu đựng áp bức và lạc hậu Tầng lớp trí thức là những người tiên phong trong việc tiếp xúc với chủ nghĩa Mác – Lênin và nhận thấy đây là phương pháp đấu tranh cách mạng hiệu quả Chính vì vậy, sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá rộng rãi và coi là tư tưởng chỉ đạo phong trào cách mạng Trung Quốc.
Tiếp xúc sớm nhất với trào lưu xã hội chủ nghĩa ở châu Âu là nhân vật như Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, thuộc phái lập hiến trong giai cấp tư sản Trong khi đó, Tôn Trung Sơn lại thuộc phái cách mạng dân chủ của giai cấp này, góp phần định hình sự phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Khang Hữu Vi (1858-1927) là lãnh tụ của phong trào “Duy Tân Mậu Tuất” và một trong những nhà t- t-ưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc vào cuối thế kỉ XIX Năm 1884, ông đã xuất bản tác phẩm “Đại Đồng Thư”, mà ông tự nhận là cuốn sách giúp khám phá bí mật của thế giới.
Trong tác phẩm "Đại Đồng Thư", Khang Hữu Vi chia tiến hóa của xã hội loài người thành ba thời đại chính Thời đại đầu tiên được gọi là "loạn thế", đặc trưng bởi sự xuất hiện của Đế vương quân trưởng, sự phân chia rõ ràng giữa các giai cấp giàu sang và nghèo hèn, cùng với hiện tượng đa thê và đa dân tộc.
Giai đoạn “Thăng bình” (Tiểu khang) đặc trưng bởi việc không có Đế vương hay Quân vương, chuyển sang chế độ bầu Tổng thống, trong đó quyền lợi chính trị bình đẳng, các gia đình có một vợ một chồng, và các dân tộc có xu hướng đồng hoá nhau Thời đại thứ ba là “Thái bình” (Đại đồng), diễn ra khi không còn nhà nước, không còn Đế vương, Tổng thống, hay tài sản tư hữu, và xã hội không còn phân chia giai cấp giàu sang hay nghèo hèn, nam nữ bình đẳng, các dân tộc đồng hoá lẫn nhau.
Qua những đặc điểm mà Khang Hữu Vi nêu ra, có thể hiểu cái gọi là
Trong lịch sử Trung Quốc, "Loạn thế" đề cập đến thời kỳ phong kiến, còn "Thăng bình" tượng trưng cho thời đại tư bản chủ nghĩa, và "Thái bình" là hình mẫu của thời kỳ cộng sản mà ông mơ ước Khang Hữu Vi sau khi tiếp xúc với chủ nghĩa xã hội không tưởng ở châu Âu đã viết "Đại Đồng Thư", nhưng ý tưởng của ông khác biệt, một bên chống lại chế độ phong kiến, một bên chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa Mao Trạch Đông nhận xét rằng Khang Hữu Vi không thể tìm ra con đường đi đến "Đại đồng", khiến ông chỉ còn là người theo chủ nghĩa lập hiến, rơi vào mâu thuẫn rõ rệt Lương Khải Siêu chỉ ra rằng khi phát hiện ra những lý tưởng mới, con người thường chống lại chính những lý tưởng đó, thể hiện sự sợ hãi đối với tương lai Chính vì thế, ý tưởng "Đại đồng thư" chỉ còn là "dư âm của quá khứ" và thể hiện nỗi sợ hãi về tương lai, đúng như lời của C.Mác và F.Ăng ghen Đến năm 1919, dưới ảnh hưởng của phong trào cách mạng do Cách mạng tháng Mười khởi xướng, Khang Hữu Vi đã hạ thấp giá trị của chính lý tưởng của mình, nhận xét rằng chỉ sau 35 năm đã thấy rõ việc "đại đồng thư" đã gần như thành hiện thực.
Lương Khải Siêu là một nhà lí luận chống chủ nghĩa xã hội sớm ở Trung Quốc, nổi bật với tư tưởng phản đối mạnh mẽ việc thực hiện chủ nghĩa xã hội qua các phong trào cách mạng Trong bài “Chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc” năm 1903, ông cho rằng học thuyết của C Mác đã có từ cổ xưa tại Trung Quốc, nhưng đến năm 1906, khi tranh luận với báo “Dân báo” về cách mạng Trung Quốc, ông thể hiện rõ quan điểm phản đối chủ nghĩa xã hội Mặc dù thừa nhận chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa tôn vinh cao nhất và đẹp đẽ nhất thế giới trong tương lai, Lương Khải Siêu không tin rằng chủ nghĩa xã hội sẽ trở thành hiện thực, ông dự đoán rằng cách mạng xã hội hoàn chỉnh, theo trình độ của các nước Âu-Mĩ hiện nay, cũng phải mất một trăm năm nữa mới có thể thành công Do đó, ông kiên quyết phản đối phương thức Đồng minh hội dùng “quốc hữu ruộng đất” và “bình quân địa quyền” để kêu gọi quần chúng làm cách mạng, cho rằng những chính sách này chỉ làm tỉnh thức quần chúng dễ bị thao túng hơn và giai cấp tư sản không thể xác lập quyền lực của mình một cách lâu dài.
Các nhà bình luận tranh luận về khái niệm “chủ nghĩa xã hội” do Tôn Trung Sơn và nhóm chính luận của tờ “Dân báo” thúc đẩy, trong đó Lương Khải Siêu phản đối và khẳng định rằng đó không phải là chủ nghĩa Mác Tôn Trung Sơn, Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu cùng chia sẻ quan điểm rằng Trung Quốc đã có truyền thống xã hội chủ nghĩa từ thời cổ đại Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn giữa họ nằm ở chỗ Lương Khải Siêu xem chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng không thể thực hiện, trong khi Tôn Trung Sơn cho rằng chủ nghĩa xã hội có thể thực hiện được và coi đó là mục tiêu của giai cấp tư sản.
Chu Chấp Tín là một chính luận gia nổi bật thuộc phái Tôn Trung Sơn, được biết đến qua bài viết “Tiểu sử của các nhà cách mạng xã hội ở Đức”, đăng trên số báo gần đây Ông góp phần phân tích các phong trào cách mạng xã hội tại Đức và làm rõ ảnh hưởng của các nhà hoạt động này đối với phong trào cách mạng trong khu vực, thể hiện rõ vai trò trung tâm của ông trong lĩnh vực chính luận và lịch sử cách mạng Việt Nam.
Bài viết giới thiệu sơ lược về tiểu sử của các nhân vật C Mac, F ĂngGhen, Latxan cũng như tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Mặc dù có dùng quan điểm xét lại để phê bình học thuyết Mác, nhưng các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận rằng “Mác xem tư bản là do tước đoạt mà có, và những điều bàn về tư sản hiện tại quả thật không có chỗ nào là không chính đáng” nhằm nhấn mạnh tính xác thực của các luận điểm của ông về bản chất của tư bản và hệ thống tư hữu.
Nguyên nhân căn bản khiến chủ nghĩa Mác – Lênin khó truyền bá sâu rộng ở Trung Quốc trước cách mạng tháng Mười là do “xã hội Trung Quốc thiếu những điều kiện cần thiết và tư tưởng của chủ nghĩa Mác bị hiểu sai, bóp méo trong vòng nhỏ hẹp của các phần tử trí thức tư sản và tiểu tư sản” Thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga mở ra cơ hội đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào các nước thuộc địa và lạc hậu, kết hợp với phong trào giải phóng dân tộc của các quốc gia này để thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa toàn cầu Những phần tử trí thức tiên tiến của Trung Quốc sau Cách mạng tháng Mười đã nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác, xem đó như một bước phá vỡ giấc ngủ dài hàng trăm năm của nhân dân Trung Quốc và đưa đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đồng thời làm cho nhân dân Trung Quốc thực sự tiếp thu chủ nghĩa Mác trong sự hân hoan sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười.
Sự tiếp nhận t- t-ởng xã hội chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn đầu thế kỉ
2.3.1 Vài nét khái quát về Tôn Trung Sơn
Tôn Trung Sơn (1866 – 1925), tên thật là Tôn Văn, tự Đức Minh, hiệu Dật Tiên và sau khi du học ở Nhật Bản đổi tên thành Trung Sơn, là lãnh tụ kiệt xuất của phong trào cách mạng dân chủ tư sản Trung Quốc Ông sinh trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Thuý Hanh, huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông, và trở thành cha đẻ của Trung Hoa dân quốc Giang Trạch Dân đã tôn vinh ông là một trong ba đại vĩ nhân của Trung Quốc trong thế kỷ XX Suốt đời, ông đấu tranh không ngừng vì hòa bình, tự do và dân chủ cho nhân dân Trung Quốc.
Năm 1879, Tôn Trung Sơn theo anh trai sang Honolulu (Hawaii) để học tập, nhờ sự giúp đỡ của người anh – một hoa kiều trên đất Hawaii Ông được học tại một trường tốt do đạo Cơ Đốc Anh mở, nơi ông tiếp thu phong cách dạy học mới và hệ tư tưởng tiến bộ Từ những trải nghiệm này, ông đã nảy sinh nguyện vọng đổi mới đất nước và cứu vớt đồng bào Năm 1882, Tôn Trung Sơn tốt nghiệp trung học với thành tích xuất sắc trong môn tiếng Anh, đạt thứ hai toàn trường, và được vua Hawaii tặng một bộ sách, niềm tự hào lớn của cộng đồng hoa kiều tại Hawaii Trình độ tiếng Anh của ông là công cụ đắc lực giúp ông nghiên cứu các học thuyết kinh tế, chính trị phương Tây trong hành trình hoạt động sau này.
Từ năm 1885, sau thất bại trong cuộc chiến tranh Trung – Pháp, Tôn Trung Sơn quyết tâm lật đổ triều đình Mãn Thanh nhằm hướng tới sự tự do và tiến bộ cho đất nước Trong quá trình học tại trường Y Bác Tế và sau đó là Y Anh Văn ở Hồng Kông, ông tích cực truyền bá tư tưởng cách mạng mặc dù đối mặt với sự phản đối gay gắt, bị coi là kẻ phản nghịch hoặc mắc bệnh tâm thần Tuy nhiên, ý chí của ông không bao giờ khuất phục, ông vẫn kiên trì đấu tranh, tin rằng nhiệm vụ của mình không chỉ chữa bệnh cho mọi người mà còn chữa bệnh cho đất nước đang gặp nhiều khủng hoảng.
Năm 1894, ông đã xuất dương sang Nhật Bản và sau đó đến Mỹ để vận động cộng đồng Hoa kiều tìm hướng cứu nước hiệu quả Tôn Trung Sơn đã thành lập tổ chức cách mạng mang tên Hội Hưng Trung nhằm đoàn kết và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc Trong bản tuyên ngôn của Hội, Tôn Trung Sơn nhấn mạnh về nguy cơ lớn mà dân tộc đang phải đối mặt, cảnh báo rằng “Nếu một ngày kia ”, biểu hiện rõ quyết tâm và trách nhiệm của ông trong công cuộc giải phóng đất nước.
Trung Quốc bị chia cắt sẽ dẫn đến con cháu chúng ta bị lệ thuộc và mất đi độc lập, gây nguy hiểm cho tính mạng, tài sản của nhân dân Triều đình Mãn Thanh bị vạch trần về sự đen tối, bán quan tước, tham ô trục lợi, gây ra cảnh bóc lột tàn bạo hơn cả lang hổ, khiến nhân dân rơi vào cảnh đói rét, bơ vơ và cuộc sống vô cùng khắc nghiệt Trong bối cảnh đó, Hồng Trung hội đề ra chiến lược “đánh đuổi Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập chính phủ cộng hòa” nhằm thoát khỏi ách đô hộ và giải phóng đất nước.
Tháng 2 – 1895, Tôn Trung Sơn về n-ớc, lập ra những cơ sở của H-ng Trung hội ở H-ơng Cảng, Quảng Châu, Th-ợng Hải Tháng 10 –
Tôn Trung Sơn đã tổ chức nhiều cuộc khởi nghĩa nhằm đánh đổ chế độ phong kiến nhà Thanh, mặc dù những cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Quảng Châu năm 1895 và 1900 bị thất bại do bị đàn áp, nhưng đều góp phần thức tỉnh ý chí tự giải phóng của người dân Trung Quốc Dù thất bại trong cuộc khởi nghĩa năm 1900, Tôn Trung Sơn vẫn rất lạc quan, vì ông nhận thấy rằng sau những thất bại này, dư luận trong nước bắt đầu nhìn nhận tích cực và tiếc thương cho các cuộc đấu tranh của ông Những hành động của ông chứng tỏ ông đã góp phần bừng tỉnh ý thức tự do và giải phóng dân tộc Trung Quốc, mở đường cho phong trào cách mạng sau này.
D-ới ảnh h-ởng của Tôn Trung Sơn, các trí thức t- sản và tiểu t- sản trong n-ớc cũng thành lập một số tổ chức các mạng t-ơng tự nh- Hoa H-ng hội (Tr-ờng Sa), Quang Phục hội (Th-ợng Hải) Năm 1905, nhằm tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh cách mạng phát triển, Tôn Trung Sơn đã đứng ra thống nhất các tổ chức cách mạng thành một đảng thống nhất lấy tên là Trung Quốc Đồng Minh hội, Tôn Trung Sơn đ-ợc bầu làm Tổng lí Đại hội đã thông qua c-ơng lĩnh cách mạng do Tôn Trung Sơn soạn thảo với nội dung “Đánh đổ Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, kiến lập dân quốc, bình quân địa quyền” Bên cạnh đó Đồng Minh hội còn cho ra tờ
"Dân báo" đã trở thành cơ quan ngôn luận chính thức của phong trào cách mạng Trong số báo đầu tiên, Tôn Trung Sơn giới thiệu tóm tắt về chủ nghĩa Tam dân với các nội dung chính: "Dân tộc, Dân quyền, Dân sinh" Việc công bố chủ nghĩa Tam dân đã đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, lý luận và cơ cấu lãnh đạo cách mạng dân chủ được đề ra rõ ràng, mở ra bước ngoặt quan trọng cho sự nghiệp đấu tranh của dân tộc.
Kể từ sau ngày thành lập, hoạt động của Đồng Minh hội dưới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Trung Quốc Sau khi chiến thắng phái cải lương trong cuộc tranh luận kéo dài từ 1905 đến 1909, phong trào chống Mãn Thanh đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, tiến tới khởi nghĩa quy mô ở Quảng Châu, Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên và Phúc Kiến Ngày 10-10-1911, khởi nghĩa Vũ Xương đã thành công, mở đầu cho sự sụp đổ của chính quyền cũ Sau đó, chính phủ Dân quốc lâm thời do Tôn Trung Sơn làm Tổng thống được thành lập, mở ra kỷ nguyên mới cho sự nghiệp cách mạng Trung Quốc.
Sau thắng lợi của cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, quyền lực đã lọt vào tay tên quân phiệt Viên Thế Khải, buộc Tôn Trung Sơn tiếp tục hoạt động cách mạng nhằm khôi phục độc lập và tự do cho Trung Quốc Năm 1912, ông cải tổ Đồng Minh Hội thành Quốc dân đảng với mong muốn phục hồi phong trào cách mạng, nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc xác định hướng đi phù hợp Đến năm 1917, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga và các chính sách của nước Nga Xô Viết đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy của Tôn Trung Sơn, giúp ông nhận ra cần phải thay đổi tư duy và nhìn nhận cuộc cách mạng theo hướng mới Phong trào vô sản phát triển mạnh mẽ ở Trung Quốc đã thúc đẩy ông sáng lập chủ nghĩa Tam dân mới, như một chiếc cầu nối giữa Quốc dân đảng của ông và phong trào cách mạng vô sản quốc tế Trên thực tế, Quốc dân đảng thời cuối đời của ông mang tính chất như một mặt trận thống nhất, tập hợp các lực lượng cách mạng Vào sáng ngày 12-3-1925, Tôn Trung Sơn qua đời trong sự tiếc thương của toàn thể phong trào dân tộc, trước lúc ra đi, ông đã dốc hết sức hô to các khẩu hiệu hòa bình, phấn đấu và cứu lấy Trung Quốc Sự ra đi của ông để lại một nỗi tiếc thương sâu sắc, khi mất đi một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cuộc cách mạng Trung Quốc và một chiến sĩ cách mạng vĩ đại của phong trào cách mạng thế giới.
2.3.2 Sự ra đời của chủ nghĩa Tam dân mới
Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại, đặc biệt ảnh hưởng sâu sắc đến các quốc gia châu Á, Phi và Mỹ Latin Cách mạng Tháng Mười đã đề cao vấn đề dân tộc trong nước Nga Xô Viết, giải quyết vấn đề này dựa trên nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, qua đó giúp nhiều dân tộc khỏi ách thống trị của Sa hoàng Hội đồng ủy ban nhân dân đã công khai cam kết bảo vệ tự do văn hóa, tín ngưỡng và phong tục của các dân tộc bị đàn áp Đặc biệt, ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười đối với Trung Quốc là vô cùng rộng lớn và sâu sắc, thúc đẩy thay đổi tư tưởng, góp phần vào tiến trình cách mạng của Trung Quốc và định hướng phát triển đất nước Cuộc cách mạng này đã truyền cảm hứng cho nhân dân Trung Quốc đấu tranh chống phong kiến và đế quốc, hướng tới giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới Chính sách của Chính phủ Liên Xô sau Cách mạng đã khẳng định quyền lợi của các dân tộc tại Trung Quốc bằng việc hoàn trả các đặc quyền trước đó Những thành tựu của Cách mạng Tháng Mười Nga thể hiện rõ sức mạnh của chủ nghĩa Mác – Lênin, mở rộng vấn đề dân tộc, kết hợp phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa với cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo bước đột phá cho phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức và mở ra con đường đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thuộc địa lạc hậu.
Sự thành công của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga đã tạo nên sức hút lớn đối với Tôn Trung Sơn và chính sách của Liên Xô Sau thời gian mò mẫm không tìm ra lối thoát, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười năm 1917 đã thức tỉnh Tôn Trung Sơn Vào tháng 6 năm 1918, ông đã gửi thư cho Lenin và chính phủ Liên Xô, nhấn mạnh rằng "cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc có chung mục đích, giai cấp vô sản hai nước có lợi ích chung, làm cơ sở cho việc giữ vững lâu dài" Từ đó, Tôn Trung Sơn bắt đầu xúc tiến việc nghiên cứu và học tập về học thuyết Mác – Lênin để phục vụ cho chiến lược cách mạng của mình.
Năm 1922, sau khi bị phản bội bởi viên tướng dưới quyền, Tôn Trung Sơn buộc phải rời Quảng Châu để đến Thượng Hải, nơi ông có cơ hội tiếp xúc với các nhân viên của cơ quan quốc tế của Nga Xô Viết nhằm học hỏi kinh nghiệm cách mạng Thông qua những người này, ông hiểu rõ hơn về bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa và nhận thấy rằng để thoát khỏi sự áp bức của các cường quốc phương Tây, Nhật Bản và Mỹ, Trung Quốc cần tiến hành cuộc cách mạng vô sản dựa trên lý luận của Nga và Xô Viết Tôn Trung Sơn thể hiện sự tin tưởng vào các nguyên lý của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác – Lênin, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận tri thức từ Nga Xô Viết Ông đã cử Trần Hữu Nhân gặp đại diện của nước Nga Xô Viết để chuyển gửi lời rằng, ông tin tưởng sâu sắc vào Nga Xô Viết như một người bạn chân thành duy nhất trong cuộc cách mạng Trung Quốc, và rằng ngay cả trong thời điểm khó khăn nhất, Nga Xô Viết vẫn sẽ là đồng minh đáng tin cậy nhất của ông.
Năm 1923, Tôn Trung Sơn đã cử một đoàn đại biểu do Trương Giới Thạch dẫn đầu sang Nga Xô Viết để khảo sát tình hình chính trị, quân sự và công tác đảng nhằm chuẩn bị cho việc xây dựng đảng và quân đội Vào ngày 15-11-1923, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Quốc dân Đảng quyết định tổ chức quân nghĩa dũng của đảng, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ở Việt Nam.
Năm 1923, Ban chấp hành Trung ương lâm thời quyết định đặt tên Trường quân nghĩa dũng là Trường sĩ quan quốc dân Tháng 1-1924, trong khuôn khổ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Quốc dân đảng, Trường sĩ quan lục quân chính thức được thành lập, còn gọi là Trường quân sự Hoàng Phố Hiệu trưởng của trường là Tướng Giới Thạch, cùng với sự tham gia giảng dạy của nhiều chuyên gia đến từ Liên Xô, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
Sự tiếp nhận t- t-ởng xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và sự ra đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc
sự ra đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc
2.4.1 Sự ra đời của giai cấp công nhân Trung Quốc
Trước chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất, xã hội Trung Quốc chủ yếu phân chia thành hai giai cấp chính là đại chủ phong kiến và nông dân Sau chiến tranh Nha phiến, xuất hiện các giai cấp mới như tư sản và công nhân, phản ánh sự chuyển biến đáng kể trong cấu trúc xã hội đất nước.
Quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa Tư bản ở Trung Quốc phản ánh sự hình thành và trưởng thành của giai cấp công nhân trong điều kiện đặc biệt của một quốc gia nửa thuộc địa, nửa phong kiến Giai cấp công nhân Trung Quốc phát triển trong bối cảnh lịch sử xã hội phức tạp, chịu ảnh hưởng từ những điều kiện đặc thù khiến quá trình hình thành và phát triển này khác biệt so với các quốc gia khác Trước Cách mạng Tân Hợi, số lượng công nhân công nghiệp của Trung Quốc khoảng 600.000 người, tăng lên gần 2 triệu vào năm 1919, bên cạnh đó còn có gần 12 triệu công nhân làm việc trong các xí nghiệp thủ công Toàn bộ đội ngũ lao động làm thuê tại Trung Quốc lên đến khoảng 50 triệu người, phản ánh quy mô và sự phát triển của lực lượng lao động trong giai đoạn lịch sử này.
Có khoảng 30 triệu người làm việc trong ngành nông nghiệp tại Trung Quốc, cho thấy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đang diễn ra Tuy nhiên, nhìn chung Trung Quốc vẫn còn là một nước nửa thuộc địa với trình độ phát triển công nghiệp còn thấp, tàn tích phong kiến vẫn chiếm ưu thế trong cấu trúc kinh tế xã hội Đồng thời, sự phân hoá giai cấp chưa hoàn toàn được giải quyết, phản ánh mức độ phát triển còn hạn chế của nền kinh tế.
Giai cấp công nhân Trung Quốc từ khi mới ra đời đã mang những đặc điểm nổi bật, trong đó nổi bật là sự tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Thượng Hải, Thiên Tân, Thanh Đảo, Vũ Hán, Quảng Châu, chủ yếu làm việc trong các xí nghiệp lớn từ 500 công nhân trở lên, đặc biệt trong các ngành như đường sắt, mỏ, vận tải, dệt, đóng tàu và chế biến thực phẩm Sự tập trung này là một trong những đặc điểm nổi bật giúp phát triển ý thức giai cấp, tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Giai cấp công nhân Trung Quốc phải chịu cùng lúc ba tầng áp bức của chủ nghĩa đế quốc, phong kiến và giai cấp tư sản trong nước, đồng thời mặc dù số lượng không nhiều, họ lại có mối liên hệ mật thiết với giai cấp nông dân và các lao động khác Khác với các nước châu Âu, Trung Quốc ít xuất hiện tầng lớp "công nhân quý tộc", điều này giúp đoàn kết lực lượng và phát huy ý chí cách mạng kiên quyết trong giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân Trung Quốc còn trẻ về tuổi đời và thiếu kinh nghiệm, trình độ văn hóa thấp hơn so với giai cấp tư sản, và còn mang nặng tư tưởng nông dân cùng quan điểm phong kiến và lạc hậu Điều này là hạn chế của giai cấp công nhân Trung Quốc cũng như các giai cấp công nhân thuộc địa, phụ thuộc khác, gây ra khó khăn trong công tác tổ chức và lãnh đạo phong trào công nhân của Đảng cộng sản Tuy nhiên, khi được trang bị lý luận cách mạng và khoa học, giai cấp công nhân Trung Quốc có tiềm năng trở thành lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc, dân chủ và xây dựng xã hội chủ nghĩa.
2.4.2 Sự phát triển của phong trào công nhân Trung Quốc d-ới ảnh h-ởng của Cách mạng XHCN Tháng M-ời Nga
Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp công nhân Trung Quốc đã bắt đầu tổ chức các cuộc đấu tranh cách mạng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Trong giai đoạn đầu (trước phong trào Ngũ Tứ), các cuộc đấu tranh của công nhân chủ yếu mang tính tự phát nhưng theo thời gian, các cuộc bãi công ngày càng trở nên thường xuyên hơn và mang tính chất quần chúng mạnh mẽ hơn Tuy nhiên, trước phong trào Ngũ Tứ, các hoạt động đấu tranh của công nhân còn đang trong giai đoạn sơ khai, chịu ảnh hưởng lớn từ giai cấp tư sản và chưa đạt đến độ phát triển toàn diện.
Nh-ng từ sau cách mạng Tháng M-ời, nhất là sau phong trào Ngũ
Phong trào yêu nước ở Trung Quốc bắt đầu phát triển mạnh mẽ, góp phần chuyển đổi cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát sang tự giác Dưới ảnh hưởng của cách mạng Tháng Mười và cao trào cách mạng thế giới, giai cấp công nhân Trung Quốc đã từng bước thức tỉnh ý thức chính trị, làm tăng nhiệt huyết và khí thế đấu tranh của họ Trước khi có Đảng Cộng sản, phong trào yêu nước và phong trào công nhân Trung Quốc diễn ra sôi nổi, tiêu biểu là phong trào Ngũ.
Tứ là một cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của phong trào công nhân Trung Quốc, đánh dấu lần đầu tiên giai cấp công nhân thể hiện sự giác ngộ chính trị và sức mạnh của mình qua cuộc bãi công lớn, với hơn 60.000 công nhân tham gia trong phong trào Ngũ Tứ Cuộc bãi công này đã phá vỡ cục diện phân tán trước đó, giúp phong trào công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập chống đế quốc và tay sai của chúng Mặc dù bắt đầu từ phong trào học sinh, sinh viên, nhưng sau ngày 3-6, giai cấp công nhân trở thành lực lượng chủ đạo, mở ra bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của phong trào cách mạng Phong trào Ngũ Tứ không chỉ là sự khởi đầu cho vai trò của công nhân như một lực lượng độc lập trên chính trường, mà còn mở đường cho giai cấp công nhân Trung Quốc đứng trong hàng ngũ của phong trào công nhân quốc tế Trong thời gian ngắn hơn một tuần, giai cấp công nhân thể hiện rõ ý thức chính trị cao độ và sức mạnh to lớn của mình, với cuộc bãi công có tính chất chống đế quốc rõ ràng, góp phần vào thắng lợi chung của phong trào Các tổ chức công đoàn, nhóm hội đã tham gia lãnh đạo, phát động quần chúng, qua đó giúp giai cấp công nhân thoát khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản, tiến bước độc lập trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp Dù chưa có đảng chính trị tiên phong, nhưng dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng Tám và phong trào cách mạng thế giới, ý thức cách mạng của công nhân Trung Quốc đã vượt lên, trở thành lực lượng chủ đạo, không còn phụ thuộc vào giai cấp tư sản Phong trào Ngũ Tứ đã giúp công nhân nhận thức rõ sức mạnh của đoàn kết, tăng cường tự giác trong đấu tranh, đồng thời rút ra bài học về sự khác biệt căn bản giữa họ và giai cấp tư sản về lợi ích chính trị, kinh tế, góp phần nâng cao ý thức đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân.
Sự trưởng thành của giai cấp công nhân và nhận thức ngày càng nâng cao về ý thức giai cấp đã tạo điều kiện thuận lợi để chủ nghĩa Mác – Lênin lan tỏa sâu rộng trong quần chúng Sau Cách mạng Tháng Tư và phong trào Ngũ Tứ, các phần tử trí thức Mácxít đã nhận thức đúng vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và bắt đầu phê phán tư tưởng “kẻ lao tâm trị người lao lực” Họ nhấn mạnh rằng thành công của cách mạng Trung Quốc phụ thuộc vào việc huy động và đoàn kết rộng rãi quần chúng trong cuộc đấu tranh Các trí thức cách mạng bắt đầu quan tâm tới đời sống và tâm nguyện của nhân dân lao động, thúc đẩy phong trào “kết hợp với công nông” và “vì công nông phục vụ”, xem đó là bước ngoặt quan trọng để xác định con đường cách mạng đúng đắn dựa trên sự kết hợp chặt chẽ với quần chúng lao động.
Năm 1920, các tiểu tổ Cộng sản được thành lập ở Trung Quốc dựa trên các “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác” và sự hỗ trợ của Cục phương Đông của Quốc tế cộng sản, mở đầu cho phong trào cộng sản tại Trung Quốc Các tổ chức này đã tích cực xuất bản báo chí nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác và đoàn kết phong trào công nhân, như báo “Giới lao động” của tiểu tổ Thượng Hải phát hành các bài phân tích về cuộc sống khốn khổ của công nhân và con đường tự giải phóng cho giai cấp này Các tiểu tổ khác như Bắc Kinh và Quảng Đông cũng ra mắt các tờ báo tiến bộ như “Tiếng nói người lao động”, “Lao động thanh” và “Lao động và phụ nữ”, nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy phong trào cách mạng trong công nhân và phụ nữ.
Ngoài việc sử dụng báo chí để tuyên truyền cách mạng, các cộng sản sáng tạo ra phương thức mở trường học ban đêm nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác Trước tiên, tiểu tổ Bắc Kinh mở trường bổ túc lao động, sau đó các tiểu tổ Thượng Hải và nhiều nơi khác cũng bắt đầu tổ chức Thực tiễn cho thấy, mở trường cho công nhân ban đêm là biện pháp hiệu quả để tăng cường sự đoàn kết giữa trí thức cộng sản và công nhân Hoạt động này giúp thầy trò hiểu nhau, cảm thông, xây dựng khối đoàn kết chặt chẽ, đồng thời tạo cơ hội phát hiện và bồi dưỡng những công nhân tích cực để thành nòng cốt lãnh đạo phong trào công nhân Các hoạt động của các tiểu tổ cộng sản tại công nhân đã góp phần nâng cao ý thức giai cấp cho công nhân, từ đó thúc đẩy yêu cầu tổ chức rộng rãi các đoàn thể công nhân thống nhất về nhận thức Vào tháng 10 năm 1920, hội nghị trù bị của công hội cơ khí Thượng Hải được triệu tập, đánh dấu bước quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức công đoàn công nhân.
Năm 1920, công hội đầu tiên chính thức ra đời dưới sự chỉ đạo của những người cộng sản, đánh dấu bước khởi đầu của phong trào công đoàn tại Trung Quốc Sau đó, các công hội ngành in và ngành dệt lần lượt được thành lập tại Bắc Kinh, dựa trên cơ sở các trường bổ túc dạy nghề Tại Vũ Hán, câu lạc bộ công nhân cũng được thành lập nhằm thúc đẩy tổ chức và đoàn kết của giới lao động.
Sa, Hồ Nam, Hồ Bắc… các đoàn thể công nhân cũng đã lần lượt ra đời
Dưới ánh sáng của Cuộc cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác – Lênin được truyền bá rộng rãi ở Trung Quốc sau phong trào Ngũ Tứ, góp phần thúc đẩy phong trào công nhân Trung Quốc phát triển mạnh mẽ Các tiểu tổ Cộng sản ra đời dựa trên sự hoạt động tích cực của phong trào công nhân, tạo điều kiện hình thành Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1921 Quá trình này còn liên quan chặt chẽ đến sự giúp đỡ và chỉ đạo của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đối với cách mạng Trung Quốc. -Tăng cường hiểu biết về lịch sử phong trào công nhân và Cách mạng Trung Quốc qua viết lại bài báo chuẩn SEO cùng chúng tôi! [Learn more](https://pollinations.ai/redirect/2699274)
2.4.3 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc
Xuất phát từ thực tế và nhận được sự giúp đỡ từ quốc tế cộng sản, tư tưởng chủ nghĩa xã hội đã chiến thắng mọi luận điệu chống phá của phản động Chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành tư tưởng chính của Trung Quốc, góp phần vào sự phát triển của phong trào cách mạng đất nước Vào ngày 23-7-1921, các cán bộ cộng sản Trung Quốc đã tổ chức đại biểu toàn quốc lần đầu tại Thượng Hải nhằm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, với sự tham gia của 12 đại biểu đại diện cho 57 đảng viên từ 7 tổ chức cộng sản nội địa Đại hội, dưới sự chứng kiến của đại diện Quốc tế cộng sản Malin và Ban thư ký Viễn Đông Bnhikôki, đã diễn ra bí mật từ ngày 23-7 đến 5-8-1921, với mục tiêu chính là xây dựng nền móng cho Đảng Trong quá trình thảo luận, đã nổ ra những cuộc tranh luận gay gắt xoay quanh ba khuynh hướng chính, phản ánh các xu hướng quan điểm khác nhau về hướng đi của phong trào cộng sản Trung Quốc.
Khuynh hướng chủ trương thành lập một Đảng Cộng sản có kỷ luật cao, có tinh thần chiến đấu kiên định theo kiểu Bônsêvích, nhằm mục tiêu hướng đến giai cấp công nhân và xây dựng nền chuyên chính vô sản Đây là khuynh hướng chiếm đa số ủng hộ trong phong trào cách mạng.