1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình chuyển biến tư tưởng của nho sĩ việt nam trong 30 năm đầu thế kỷ xx

324 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX
Tác giả NTHị Hạnh
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Hạnh
Trường học Học Viện Bảo Chỉ & Tuyển Truyền
Chuyên ngành Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 324
Dung lượng 41,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử đã minh chứng, trong thòi kỳ khủng hoảng tư tưỏng, lực lượng nòng cốt của công cuộc tiếp thu, đổi mói tư tưỏng và xã hội đầu thế kỷ XX là đội ngũ trí thức xã hội, đi tiên phong l

Trang 1

Q u a t r in h ^ CHƯYỂNBIẾN

TƯ TƯỎNG CỦA NHO SĨ VIỆTNAM

Trang 3

HOC VIỆN BẢO CHỈ & TUYỀN TRUYẺN'

jow~ ẲỚU

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - sự THẬT

Hà Nội - 2012

Trang 5

hành xâm lược các nước khác trên thế gidi, đặc biệt là các nưốc lạc hậu ỏ châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh Việt Nam phải đương đầu với sự xâm lược, đương đầu với sức mạnh thực dân và trong cuộc chiến không cân sức này, với sự bạc nhược của triều đình phong kiến, Việt Nam đã trỏ thành xứ thuộc địa Pháp.

Sự thất bại này không chỉ là thất bại về mặt kinh tế, quân

sự mà còn đánh dấu sự thất bại của ý thức hệ của ngưdi Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới Nhưng với truyền thông yêu nước, tinh thần đấu tranh kiên cưòng bất khuất, ngưòi Việt Nam đã không ngừng tìm cơ hội để chiến đấu “chôiig thực dân Pháp xâm lược, giành lại độc lập, chấn hưng đất nưởc.

Cho đến nay, các học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưỏng Việt Nam đều thông nhất quan điểm cho rằng CUỐI thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam rơí vào tình trạng khủng hoảng ý thức hệ Ý thức hệ phong kiến lấy học thuyết Nho giáo làm chủ đạo, tinh thần Phật giáo, Đạo giáo bổ sung đâ hoàn toàn bất lực trong việc giải quyết những nhiệm vụ của lịch sử dân tộc Ý thức hệ dân chủ tư sản phương Tây bắt đầu quá trình tham gia vào cấu trúc hệ tư tưỏng Việt Nam nhưng chưa hội đủ cả lượng và chất để giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn của Việt Nam, chưa kể đến những biến tướng tiêu cực của nó khi đối diện với thực tiễn yiệt Nam.

Trang 6

trò vũ khí đấu tranh giải phóng Lịch sử đã minh chứng, trong thòi kỳ khủng hoảng tư tưỏng, lực lượng nòng cốt của công cuộc tiếp thu, đổi mói tư tưỏng và xã hội đầu thế kỷ XX là đội ngũ trí thức xã hội, đi tiên phong là các Nho sĩ duy tân yêu nước.

Quá trình chuyển biến tư tưởng của đội ngũ Nho sĩ Việt Nam đầu thế kỷ XX diễn ra trong bốỉ cảnh những biến chuyển ' của lịch sử xã hội Việt Nam và thế giới và của chính bản thân

họ, Nó thể hiện lôgíc phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam, đáp ứng yêu cầu lịch sử xã hội Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ trong giai đoạn này có vai trò như là dấu gạch nôi cần thiết cho sự tmyền bá và phát triển của tư tưởng cách mạng vào Việt Nam giai đoạn sau.

Cho đến những năm cuôl của thập kỷ thứ hai thế kỷ XX chủ nghĩa Mác - Lênin đã được truyền bá vào Việt Nam bằng nhiều phương thức khác nhau nhưng được phôi hợp hài hòa dưới sự lãnh đạo thông nhất của Quốc tế Cộng sản, trong sự hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc Chủ nghĩa Mác - Lênin đã thức tỉnh ngưòi Việt Nam nhận ra một đưòng lốì cứu nưốc mới đầy triển vọng, làm cho nhân dân ý thức được sức mạnh vĩ đại của mình trong công cuộc đấu tranh giành xìộc lập dân tộc, giải phóng lao động, xây dựng chế độ mới dân chủ nhân dân, Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập và phát triển thành công ỏ Việt Nam, đáp ứng nhu cầu chính trị và xã hội của nhân dân Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng ý thức hệ thòi kỳ hày.

Trang 7

tiêu biểu, Nhà xuất bản Chùih trị quổc gia - Sự thật xuất bản cuốh sách: Quá trinh chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ của TS Trần Thị Hạnh.

Cuốh sách tập trung phân tích những điều kiện, tiền đề và nội dung cơ bản của quá trình chuyển biến tư tưởng của các Nho sĩ duy tân Việt Nam; nhận định, đánh giá những kết quả, hạn chế của quá trình đó đối với lịch sử tư tưỏng và xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử 30 năm đầu thế kỷ XX.

Xin trân trọng giói thiệu cuốn sách với bạn đọc.

Tháng 5 năm 2012

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - sự THẬT

Trang 9

CỦA NHO Sĩ VIỆT NAM TRONG 30 NĂM

của chủ nghĩa đế quốc Đến đầu thế kỷ XX, “miếng bánh

thế giới đã bị phân chia xong” Sự xâm lược và thông trị

của các nước tư bản đối vói các nưốc thuộc địa đã tạo ra• « «mâu thuẫn dân tộc giữa các nước xâm lược và nưồc bị xâm lược Sự phát triển của kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, tư tưởng của các nước phương Tây tuy đóng góp cho văn minh nhân loại nhưng không thể biện hộ

9

Trang 10

Tây bắt đầu trực tiếp đe dọa, thực hiện xâm ìược Các nước bị ảnh hưỏng của văn minh Trung Hoa như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao mô hình nhà nước quân chủ tập quyền chuyên chế vối các hình thức tổ chức khác nhau, trước tình hình đó, bắt đầu rỡi vào thế bế tắc về phương hướng phát triển, rơi vào khủng hoảng.

Mô hình kinh tế của các nước phướng Đông dựa trên nền nông nghiệp lúa nưốc theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hỢp hài hòa giữa đđn vị kinh tế hộ gia đình và đơn vị kinh tế cộng đồng công xã nông thôn Phương thức tổ chức của nền kinh tế này không khuyên khích sự tích lũy vốn đầu tư Thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đòi sóm nhưng dù phát triển đến đâu cũng không tự tạo ra sự thay đổi mô hình phát triển, hơn nữa

nó còn bị cản trỏ bỏi các chính sách của nhà nước phong

kiến “trọng nông ức thương”, “nông vi bản, thương vi mạt”,

“bếquan tỏa cảng”.

Cơ cấu xã hội điển hình của phưđng Đông gồm các giai cấp, tầng lớp điển hình: vua chúa, quý tộc, quan lại; nồng dân, nông nô; trí thức chủ yếu là nho sĩ, cao tăng, thiền sư; thợ thủ công; thương nhân Sự xâm lược của đế quốc phương Tây tàn phá xã hội cổ truyền phưđng Đông nhưng đồng thòi nó cũng dần tạo ra trong xã hội phương

10

Trang 11

Đông có nhiều thay đổi, có những thay đổi mang tính phổ biến, nhưng cũng có những thay đổi mang tính đặc thù của từng quốc gia, dân tộc ở đây xin khảo cứu một sô' quốc gia tiêu biểu;

a) N hật Bản cho đến giữa thế kỷ XIX (thời Edo) cũng

là nưốc phong kiến, thực hiện chính sách “b ế quan tỏa

cảng” Từ giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản bị các cưòng quốc

phương Tây tiến công đòi mồ cửa, buộc phải đứng trước hai sự lựa chọn; Thứ nhất, nếu tiếp tục thực hiện chính sách đóng cửa thì Nhật Bản phải tăng cưòng hđn nữa khả năng phòng thủ đất nước Thứ hai, nếu Nhật Bản chấp nhận yêu cầu mỏ cửa đất nưốc để giao thưdng thì Nhật Bản phải sửa đổi và nếu vậy Nhật Bản sẽ tránh được nguy

cơ của một cuộc chiến tranh, đồng thòi có nhiều khả năng vẫn tiếp tục duy trì được nền độc lập tương đốì của mình Quyết định mỏ cửa với phương Tây là một cố gắng cuối cùng của chính quyền nhằm tiếp tục giữ thế chủ động về ngoại giao Từ thời Thiên Hoàng Minh Trị (Meiji 1852 - 1912), Nhật Bản bắt đầu công cuộc duy tân Nhật Bản duy tân một cách đồng bộ và thực chất tuân theo những yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã nhanh chóng phát triển thành quốc gia cổ nền sản xuấtjtư bản chủ nghĩa, thành quốc gia cường thịnh trong khu vực

về mọi mặt, chuẩn bị “mặt bằn^’ để đua cuộc đua mối của

11

Trang 12

hành xâm lược thuộc địa vối tham vọng chiếm Tmng Quốc, Triều Tiên, châu Á và toàn thế giói.

phương Đông Người Trung Hoa qua nhiều thê hệ đều cho mình là trung tâm của VÛ trụ, họ tin vào sức mạnt đa năng của các pho sách thánh hiền, họ tìm cách quản lj xã hội thông qua lòi dạy của các bậc thánh nhân, minh quân, quân tử, chủ yếu quản lý xã hội bằng kinh nghiệm Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về chế độ chính trị, Tmng Quốc từ một nước phong kiến quân chủ tập quyền chvyên chế trố thành chế độ nửa phong kiến nửa thuộc địa, ohụ thuộc vào tư bản phương Tây Mâu thuẫn dân tộc, nâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt Tuy nhiên, sự có mặt củi đế quốc phương Tây đã làm xuất hiện mầm mông của lãnh

tế tư bản, đưa nền kinh tế Trung Quốc thoát dần tình

trạng “b ế quan tỏa cảng”, nền kinh tế hàng hóa bắt iầu

phát triển theo phương thức tư bản chủ nghĩa Ngoại ĩâm thòi cận hiện đại cũng đã kích thích sự thay đổi thế giới quan của ngưòi Trung Quốc nói chung, của trí thức nói riêng, là nguồn của các trào Ixíu tư tưỏng cải cách, luy tân, cách mạng đầu thế kỷ XX, nhất là trong giới trí thức xuất thân sĩ phu phong kiến hay giai cấp tư sản mới linh thành Giai cấp tư sản Trung Quốc tuy mói hình thànk, vị trí, vai trò còn khiêm tốn trong xă hội nhưng họ lại đại biểu cho phương thức sản xuất mói, phương thức sản ìoiất

12

Trang 13

quần chúng lao động, vối những ngưòi có yêu cầu, có tinh thần cách mạng Do vậy, trong xã hội Trung Quốc xuất hiện các khuynh hưống cải cách, biến pháp, duy tân, cách mạng tùy theo từng giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trước tiên là khuynh hướng biến pháp dưói ảnh hưởng của tự tưỏng dân chủ tư sản phương Tây Các lãnh tụ tiêu biểu của khuynh hướng này là: Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Dương Thám Tú, Đàm Tự Đồng Họ học tập Nhật Bản, coi công cuộc duy tân của Nhật Bản như là người thầy gần nhất Họ đã tiến hành công cuộc duy tân vào năm 1898 theo mô hình Nhật Bản, muốn tập trung quyền lực và dựa vào một ông vua là Quang Tự như Minh Trị ở Nhật Bản Phong trào thất bại, biến pháp không được thi hành do ở địa phương phe thủ cựu còn nắm nhiều quyền binh, hơn nữa họ chỉ chú trọng tranh thủ sự ủng hộ của một bộ phận trong các tầng ìớp trên của xã hội

mà thiếu sự tham gia của quần chúng nhân dân, nhất là nông dân Tuy nhiên, phong trào cũng đã thức tỉnh được tinh thần yêu nước của nhâh dân, đề cao ý thức độc lập dân tộc chốhg ngoại xâm, ý thức dân chủ chống chuyên chế, mặc dù mới chỉ hạn che trong phạm vi quân chủ lập hiến Dựa vào phong trào díấu tranh bền bỉ, liên tục của quần chúng nhân dân, giai cấp tư sản Trung Quốc bắt đầu tập hỢp lực lượng và thành lập các hội, các đảng Đại diện ưu tú nhất cho phong trào cách mạng tư sản

1 3

Trang 14

thành lập Dân quốc, thực hiện bình đẳng Cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, Chính phủ lâm thòi được thành lập ở Nam Kinh, tuyên bô" thành lập Trung Hoa dân quốc, Tôn Trung Sơn được bầu làm Tổng thống lâm thòi Cách mạng Tân Hợi là một cuộc cách mạng tư sản có ý nghĩa lịch sử Sau hơn 2.000 năm, chế độ quân chủ bị lật đổ, chế độ cộng hòa ra đồi Thành công của cách mạng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ỏ Trung Quốc Tuy nhiên, bên cạnh những thành công và ý nghĩa lịch sử, Cách mạng Tân Hợi là cách mạng tư sản không triệt để, không nêu vấn đề đánh đuổi đế quốc, mới chỉ lật đổ được chế độ quân chủ chuyên chế nhà Thanh, chưa đụng chạm đến giai cấp địa chủ phong kiến, không giải quyết được vấn đề ruộng

đất cho nông dân Đó là “cuộc cách mạng không đến nơi”

như Hồ Chí Minh đã nhận định sau này

trọng, giàu tài nguyên và nhân lực dồi dào nên sớm trỏ thành đối tượng xâm lược của các nưốc tư bản phưđng Tây Thực dân Anh xâm chiếm Maỉâixia, Mianma; Pháp chiếm Việt Nam, Lào, Campuchia; Tây Ban Nha, sau đó là

Mỹ, chiếm Philippin; Hà Lan thôn tính Inđônêxia; chỉ có Thái Lan thoát khỏi tình trạng là nưóc thuộc địa Tùy tình hình cụ thể mà ỏ mỗi nưóc, thực dân có chính sách cai trị, bóc lột khác nhau, nhìn chung là vơ vét tài nguyên để đưa

14

Trang 15

cuộc khỏi nghĩa dưới ngọn cò phong kiến, tầng lốp trí thức cấp tiến ỏ các nưốc Đông Nam Á đã hướng cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc theo con đường dân chủ tư sản nhưng cũng chưa thành công triệt để.

vô sản đầu tiên trên thế giói dưói sự lãnh đạo của lãnh

tụ V.I Lênin và Đảng Bônsêvích Nga đã giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 7 tháng 11 năm 1917 sản phẩm trực tiếp của cách mạng là sự thành lập nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết Trong hơn 70 năm Liên Xô tồn tại

và phát triển đã đóng góp nhiều thành tựu vào văn minh của nhân loại, góp phần giúp nhân loại thoát khỏi thảm họa phát xít Mặc dù từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX,

do nliiều lý do khách quan và chủ quan, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ỏ Đông Âu sụp đổ, nhưng không vì thế mà cả hệ thống các nưổc xã hội chủ nghĩa sụp đổ Ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mưòi Nga vẫn mãi mãi được nhân loại tiến bộ nhắc đến vối sự kính phục và lòng biết dn sâu sắc Ngọn đuốc Cách mạng Tháng Mưồi Nga

đã soi sáng cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, ấm

no, hạnh phúc của các dân tộc và nhân dân lao động trên toàn thế giới

Thế giói có những chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội mạnh mẽ đã tác động đến sự chuyển biến chính trị,

15

Trang 16

a) Sự xuất hiện thể ch ế chính trị mởỉ ỏ Việt Nam ^ • • «

Nửa cuối thế kỷ XIX, nưổc Pháp tiến nhanh'’vâo giai đoạn phát triển đế quốc chủ nghĩa, thành công trong việc hình thành một hệ thông thuộc địa lớn thứ hai sau nưóc Anh Đối vối Việt Nam, thực dân Pháp đã mất 25 năm để hoàn thành sự xâm lược, từ 1858 đến 1883, trải qua 15

năm từ 1883 đến 1896 để “binh định” Việt Nam, bắt tay

vào khai thác thuộc địa Chương trình khai thác Đông Dương của thực dân Pháp có mục đích tối cao là biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn trọng yếu, bảo đảm lợi nhuận cao nhất cho tư bản chính quốc

“Chia để trị” là chính sách lớn của thực dân Pháp ỏ

Đông Dương Thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương bao gồm: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Campuchia Việt Nam bị chia cắt làm ba kỳ vôi ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến về hình thức; Nam

Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm quyền cùng với Lào và Campuchia Thực dân Pháp đã xóa hoàn toàn tên Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giói Đứng đầu Liên bang Đông Dương là Toàn quyền, thay mặt Chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọi mặt Dưới Toàn quyển là Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ và

16

Trang 17

Pháp, chỉ có hai người Việt đại diện cho dân “bản xứ” Đứng đầu các tỉnh là công sứ người Pháp Hệ thổhg chính quyển dưới tỉnh là phủ, huyện, xã trên lãnh thổ Việt Nam đều do người Việt quản lý, vối các chức tri phủ, tri huyện, tri châu, chánh tổng, xã trưởng, lý trxíỏng.

Sau Chiến tranh thế giói thứ nhất (1914-1918), Pháp

là một nước thắng trận cho nên lại càng ra sức khai thác thuộc địa, chủ yếu ở Đông Dương và châu Phi Mục tiêu của Pháp là mở rộng cớ sỏ xã hội nhưng không ảnh hưởng đến nển tảng thông trị ở thuộc địa, Chủ trưdng chung của Pháp là tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào việc cai trị Sau khi đã xây dựng và củng cố được quyền lực của mình trên thực tế, thực dân Pháp tìm cách gạt bỏ vai trò của triều đình phong kiến trong công việc quốc gia Công cuộc cải cách về chính trị - hành chính vói

những biểu hiện như tăng cưòng số lượng công chức người

Việt trong bộ máy hành chính thuộc địa Chính sách này nhằm tranh thủ lôi kéo một bộ phận nhỏ trong giới thượng lưu người Việt Nam gồm một sô" nhà tư sản và địa chủ lớn

vì quyền lợi cá nhân đứng về phía Pháp để chống lại nhân dân ta, làm cho tình hình chính trị và sự phân hoá trong

xã hội ỏ Việt Nam càng thêm gay gắt

b) Sư thay đổi về cơ cấu xã hội

Dưới tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ

17

Trang 18

nghĩa do Pháp áp đặt vào xứ thuộc địa, nền kinh tế Việt Nam dần chuyển biến từ nền kinh tê nông nghiệp lạc hậu thòi phong kiến sang nền kinh tế thuộc địa - tư bản chủ nghĩa, có bước phát triển nhanh chóng nhưng cũng tạo ra một cd cấu kinh tế mất cân đối dẫn đến sự phân hoá thiếu triệt để của cơ cấu giai cấp, tầng lóp trong xã hội

So với xã hội đầu thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đã xuất hiện một bộ phận tư sản, quan cai trị người Pháp Người Pháp đã giành được mọi ưu tiên, ưu đăi trong các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kinh tế Tư bản Pháp có quyển lùng đoạn tuyệt đốỉ trong xã hội Việt Nam

Đốì với người Việt Nám, kết cấu xã hội theo tứ dân: sĩ, nông, công, thương bị xóa bỏ, thay vào đó là sự phân chia theo giai cấp dựa vào quyển lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng kiểu phương Tây Một sô' giai cấp cơ bản:

Nhà thồ, địa chủ quan lại, địa chủ bình dân, địa chủ kiêm

công thương bị phân hóa, gồm hai bộ phận chủ yếu; một hộ

phận trỏ thành chỗ dựa cho thực dân ngoại bang, ra sức

đàn áp, bóc lột nông dân Thực dân Pháp muôn tạo cho mình một hậu thuẫn chắc chắn nên có các chính sách ưu đãi đối với địa chủ và phong kiến quan liêu Các quan lại, hào, lý là lớp ngưòi thừa hành mẫn cán giúp thực dân Pháp can thiệp một cách có hiệu quả vào các tổ chức làng

xã, vốn xa lạ vối nhận thức của người Pháp Tầng lớp này

đã giúp chính quyền thực dân cai trị chặt chẽ xã hội mà lại tránh tiếp xúc trực tiếp vói dân chúng, vốn căm thù

18

Trang 19

thực dân đế quốc Thực dân Pháp tiến hành cải lương hướng chính nhằm từng bước đưa giai cấp địa chủ mới, sản phẩm của chế độ giáo dục thực dân lên thay thế lớp địa chủ cũ chịu ảnh hưỏng của giáo dục Nho giáo và chủ nghĩa yêu nước

Tuy vậy, vẫn có một hộ phận những gia đình phong

kiến tuy bị ràng buộc vối điền địa nhưng có tinh thần dân tộc, căm thù giặc, ủng hộ hoặc tham gia các cuộc nổi dậy chống Pháp, chốhg cả triều đình

- Gùxi cấp nông dân chiếm tới 90% dân sô', họ bắt đầu

bị tác động bởi nền kinh tế nửa thực dân, nửa phong kiến

Tư bản và địa chủ tay sai cưóp trắng trỢn ruộng đất của nông dân trong các làng xă Ruộng đất bị tập trung làm đồn điền, sưu thuê nặng nê làm cho nông dân bị ly tán, một sô" bị bần cùng hóa, thoát ly khỏi ruộng đất, ra thành thị, khu công nghiệp kiếm sốhg nhưng cũng không thoát khỏi ách áp bức bóc lột Những cuộc đấu tranh của nông dân ỏ nhiều vùng đã nổ ra dữ dội, quyết liệt nhưng không

có tổ chức nên đều thất bại; song tinh thần đấu tranh chống đê quốc, phong kiến thì không bao giò ngừng

- Công nhãn là giai cấp mới xuất hiện với lực lượng

rất mỏng, họ trở thành công nhân từ nhiều thành phần xã hội và con đường khác nhau, chủ yếu xuất thân từ nông dân Phần lón công nhân phải đi bán sức lao động cho tư bản vì bị tưôc đoạt hết tư liệu sản xuất nhưng cũng có một

bộ phận công nhân không chuyên nghiệp, công nhân thời

vụ, chỉ tranh thủ “tháng ba ngày tám” đi ra khu công

nghiệp, thành thị, bến cảng để làm thuê, thân phận họ

19

Trang 20

vẫn gắn bó mật thiết với nông thôn Đến năm 1906, có khoảng 55.000 công nhân Việt Nam, trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, số lượng tăng lên khoảng 10 vạn ngưòi, tập trung ỏ một sô' trung tâm công nghiệp như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn, Biên Hòa hình thành một giai cấp mới Do phương thức bóc lột của

tư bản Pháp và tư sản Việt Nam chủ yếu là tận dụng sức lao động chân tay của công nhân để kiếm lòi nhiều hơn nên công nhân Việt Nam không được tiếp cận với máy móc hiện đại, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật rất thấp, không được tiếp xúc với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thực thụ Họ không có quyển tự do nào: không được lập công hội, không được tự do bãi công Công nhân chịu

sự bóc lột trực tiếp nên đã sớm có tinh thần đấu tranh chống thực dân, sớm giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng trưởng thành Cuộc sống, làm việc và quan hệ xă hội của công nhân đã vượt ra ngoài khuôn khổ làng xã, nông dân và nông thôn Họ trỏ thành một bộ phận mới trong chủ thể tiếp biến tư tưỏng ỏ Việt Nam

Nhìn chung, đốì vối các tầng lồp lao động, thực dân Pháp thi hành các chính sách cai trị khắt khe, tàn bạo thông qua hệ thống chính quyền các cấp, với hàng loạt các chính sách kinh tế và xã hội chặt chẽ Người dân> phải đóng đủ các thứ thuế, chịu phu phen tạp dịch, phục vụ chiến tranh Chính sách kinh tế, chính trị của thực dân Pháp đã trỏ thành nguyên nhân quan trọng thúc đẩy nhân dân lao động, đặc biệt là nông dân và công nhân, nổi dậy đấu tranh chông ách áp bức, bóc lột của thực dân

2 0

Trang 21

- Sự tiếp xúc vốí nền kinh tế tư bản đã sản sinh ra những nhà thầu khoán, những nhà làm đại lý cho giói tư bản Pháp, những nhà kinh doanh thương nghiệp Việt

Nam Giai cấp tư sản Việt Nam hình thành một giai cấp

trong xã hội, hoạt động sản xuất và kinh doanh trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp Họ bắt đầu bước lên vũ đài chính trị sau chiến tranh thế giói thứ nhất nhưng cơ sở kinh tê của họ hết sức nhỏ yếu, luôn luôn bị chèn ép và cản trỏ từ nhiều phía Để khắc phục, họ cũng đã thành lập các đoàn, các hội nhằm nâng cao vỊ trí kinh tế và bảo vệ quyền lợi chính trị Trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, tư sản Việt Nam củng là lực lượng truyền bá các tư tưởng mới Sau thất bại của Khởi nghĩa Yên Bái (1930), vai trò chính trị của tư sản đă hầu như chấm dứt nhưng địa vỊ kinh tế và văn hóa tư tưỏng thì vẫn tồn tại

và phát triển đa dạng Ngoài tư sản Việt Nam còn có tư sản người Hoa, ngưòi Ấn Độ, người Miên (Campuchia) cũng bị thực dân chèn ép, bóc lột

- Xã hội thuộc địa còn chứa đựng trong lòng nó hàng

vạn công chức làm công trong guồng máy cai trị Tầng lớp

tiểu tư sản ra đồi bao gồm các nhà tiểu công nghệ, tiểu

thương, những người làm việc ở các sỏ công hay tư, những người làm nghề tự do, học sinh các trưòng Tuy đời sốhg vật chất của những người này so với các tầng lớp lao động khác có phần khá hơn nhưng họ cũng bị chèn ép rất nhiều

về mặt chuyên môn nghề nghiệp củng như chính trị

Tầng lớp trí thức, bắt đầu có sự phân hóa về tư tưởng

và hành động giữa bộ phận trí thức theo Nho học thủ cựu

21

Trang 22

và trí thức Nho học theo xu hướng duy tân, Trí thức Tây học là những người trưởng thành từ học trò, trở thành thầy giáo, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, kiến trúc sư, nhà văn được đào tạo theo khoa học kỹ thuật phương Tây, đội ngũ ngày càng đông đảo Đây là bộ phận nhạy cảm và năng động trong quá trình hội nhập văn hóa tư tưỏng Đông - Tây đầu thê kỷ XX Ngay trong bản thân các bộ phận trí thức cũng có sự phân hóa theo các khuynh hướng tư tưởng khác nhau Tầng lớp trí thức trực tiếp, gián tiếp tiếp thu các hệ tư tưởng mói từ bên ngoài vào, chuyển biến trong

tư tưởng và hành động, trở thành lãnh tụ tinh thần cho các khuynh hướng, trào lưu tư tưởng ở Việt Nam Đến giữa thê kỷ XX, khi nổ ra cách mạng, chính quyển dân chủ nhân dân được xây dựng, đông đảo trí thức trong và ngoài nưdc tích cực tham gia ở họ, có sự thay đổi thê giới quan, chính trị quan rất tích cực, góp phần vào thành quả của cách mạng, bồi đắp, phát triển văn minh của dân tộc Một

bộ phận trí thức bảo thủ, trì trệ, cam phận làm tay sai cho triều đình và chính quyền thực dân Một bộ phận khác chọn phương thức “lánh đòi, ỏ ẩn”, “mũ ni che tai” trước vận mệnh của dân tộc Trong đội ngũ trí thức Tây học, sự phân hóa cũng không kém phần sâu sắc; kẻ Tây học để phục vụ Tây, đi ngưỢc lại phong trào yêu nưốc giải phóng dân tộc; người Tây học nhiệt thành yêu nưốc, có tinh thần cách mạng, đấu tranh chống giặc ngoại xâm như Nguyễn

An Ninh, Phan Văn Trường

Đô thị xuất hiện ỏ Việt Nam đồng thời hình thành cư dân trung và hạ lưu Họ là những thợ thủ công, buôn bán

22

Trang 23

nhỏ, những ngưdi làm thuê trong các xí nghiệp, bến xe, bên tàu Cuộc sống của họ dần xa rồi nông thôn Họ từ nhiều vùng miên với nhiều phong tục tập quán khác nhau đến tụ cư ở đô thị nên văn hóa đô thị cũng trỏ thành một điểm mới trong văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX Hdn nữa, ở đô thị còn có thành phần ngoại kiều: người Hoa, người Ân Độ, kiều dân Pháp, tạo ra sự giao thoa trực tiếp về mọi mặt giữa họ với các giai cấp, tầng lốp người Việt Điểu đó cũng có tác động đến sự hình thành phong cách tư duy mới và phưdng thức hành động mối trong xă hội Việt Nam

Các tầng lớp xã hội, các quan hệ xã hội ỗ Việt Nam biến động không ngừng cả về quy mô ỉẫn tính chất, phá võ kết cấu xã hội cũ, tạo kết cấu xã hội mới Trong xã hội Việt Nam, nhân tô" kinh tế dần trỏ thành thưốc đo giá trị

để chi phối các quan hệ xã hội, xác lập vị trí xã hội của các thành viên Mặt khác, thành phần dân tộc cũng là thưóc

đo giá trị trong xã hội Người Pháp được đối xử đặc biệt,

ưu tiên về mọi mặt, còn người bản xứ cho dù là công chức hay tư sản cũng vẫn bị'•xem là hèn hạ, bị chèn ép, kìm hãm Như vậy, giữa ngưòi Pháp và ngưòi Việt có mâu thuẫn dân tộc Các quan hệ, mâu thuẫn giai cấp, dân tộc đan xen và trỏ nên rất phức tạp trong xã hội Việt Nam, đồng thời cũng chứa đựng nhiều yếu tố tích cực cho công cuộc duy tân, cách mạng

c) Sự thay đổi về g iáo dục, văn hóa

Chính sách xã hội của thực dân Pháp đối vối các giai

23

Trang 24

tầng xã hội trong xã hội Việt Nam rất khác nhau Đôi với các tầng lớp trên, Pháp dành cho họ những đặc quyền đặc lợi cả về kinh tế, chính trị và văn hóa Đối với tầng lốp dưới, thực dân Pháp chủ trương tăng cường bóc lột, áp bức

và đẩy họ vào chế độ ngu dân Thực dân Pháp chủ trưdng nhanh chóng xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học, mỏ rộng hệ thông giáo dục Pháp - Việt Giáo dục Việt Nam có nhiều thay đổi về hệ thông tổ chức, cơ cấu ngành nghề và nội dung đào tạo nhưng có sự phân biệt lốn giữa người Pháp và người bản xứ, tình trạng thất học vẫn là phổ biến Trong lịch sử cai trị thuộc địa Việt Nam, ngưòi Pháp đã cải cách giáo dục hai lần, vào năm 1906 và năm 1917 Mục đích cơ bản nhất của Pháp là từng bưốc xác lập nền giáo dục duy nhất trên toàn quốc, dạy toàn bằng tiếng Pháp, phục vụ lợi ích cho chủ nghĩa thực dân Pháp Đầu thế kỷ XX,

hệ thống giáo dục ỏ Việt Nam cũng tồn tại ba hình thức khác nhau tương ứng với Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ ở Nam Kỳ, chữ Hán hầu như bãi bỏ, đa số các tổng xã đều

có trường tiểu học Pháp - Việt dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ và nhất là Trung Kỳ, các trường lốp dạy chữ Hán vẫn tồn tại khắp nơi, trường dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ rất ít Chính ba chế độ giáo dục khác nhau làm cho ngưòi Pháp khó bề thông nhất chính sách cai trị

Họ cải cách giáo dục không phải vì lợi ích của dân tộc Việt Nam mà vì mục đích chính trị của họ

Cải cách giáo dục lần thứ nhất vào năm 1906, do toàn

quyền p Beau khởi xướng và chỉ đạo, giáo dục Pháp - Việt

và giáo dục Nho giáo cùng tồn tại Hệ thống các trưàng

24

Trang 25

Pháp - Việt được tổ chức lại gồm hai bậc: tiểu học và trung học Hệ thống trưòng chữ Hán nằm trong nền giáo dục Nho giáo được chia làm ba bậc: ấu học, tiểu học và trung học; chữ Pháp tăng dần thòi lượng trong chương trình ỏ các bậc Trong hệ thốhg trường chữ Hán, Pháp cải cách cả nội dung thi Hương Nhà cầm quyền Pháp cũng đã tổ chức một số trưồng nữ học, trường dạy nghề Cuộc cải cách này, người Pháp cô' làm cho hai nển giáo dục xích lại gần nhau, nền giáo dục của thực dân đã xâm nhập vào nền giáo dục Nho giáo Nhưng vì cùng một lúc, người học phải học cả một ỉúc ba thứ chữ, hai loại nội dung nên dẫn đến

tình trạng chất lượng “cựu học không dày mà tăn học củng

mỏng” Mâu thuẫn giữa những người cựu học và tân học

ngay trong một thế hệ học sinh đã nảy sinh

Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai được chính quyền

thuộc địa tiến hành từ năm 1917 đến năm 1929 với mục đích xóa bỏ nền giáo dục Nho giáo, xác lập và củng cô" nền giáo dục Việt Nam do ngưòi Pháp thốhg nhất, tổ chức và nhằm phục vụ mục đích nô dịch của người Pháp Cuối năm 1917, Toàn quyền Anbe Sarraut đã ký nghị định ban hành Bộ học quy gồm 7 chương, 558 điều Học quy xác định công việc giáo dục ở Việt Nam chủ yếu dạy phổ thông và thực nghiệp Trường học chia làm trường Pháp chuyên dạy học sinh ngưòi Pháp theo chương trình chính quốc, trường Pháp - Việt chuyên dạy ngưồi Việt theo chưđng trình bản xứ Nền giáo dục chia làm ba cấp; tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học Chương trình học

nặng nề và bị ''Pháp hóa" cao độ Người Việt Nam dần xa

25

Trang 26

tiếng mẹ đẻ, coi thường, rẻ rúng tiếng mẹ đẻ, coi tiếng Pháp là ngôn ngữ chính, coi tư tưởng của thực dân là tư tưởng chính thống Đặc trưng của nền giáo dục nô dịch là chỉ có mục đích phục vụ quyền lợi của chủ nghĩa thực dân, hoàn toàn không phục vụ cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam

Về văn hóa, tư tưởng, các trào lưu tư tưởng mói, các thành tựu khoa học và kỹ thuật, văn hóa và nghệ thuật phương Tây thông qua sách báo trong và ngoài nước tràn vào nước ta, thúc đẩy và tăng cưòng mốì quan hệ tiếp xúc giữa hai nển văn hóa Á - Âu, Đông - Tây; có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thòi giữa những yếu tô' văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại lai, giữa nền văn hóa nô dịch của các nhà tư bản thực dân và nền văn hóa mới« w

đang nảy sinh và dần dần phát triển trong lòng xã hội thuộc địa Việt Nam Cùng với sự mỏ mang, phát triển của các đô thị, cùng vối cao trào đòi tự do dân chủ, nhiều trí thức tiến bộ đã dùng báo chí làm công cụ đấu tranh, để bộc lộ những quan điểm chính trị của mình Hoạt động báo chí, văn hóa đã diễn ra sôi nổi trên cả nước Cùng với các hoạt động báo chí, một sô' trí thức còn thành lập các đại lý hoặc cơ sở sản xuất, mua bán các tài liệu, sách báo

có tư tưỏng yêu nưốc phổ biến trong nhân dân Các ấn phẩm văn hóa tiến bộ đã phần nào phản ánh được nguyện vọng tự do, dân chủ, nhân đạo, yêu nưốc của nhân dân, được đông đảo thanh niên hưởng ứng, trở thành động lực quan trọng của cao trào đấu tranh đòi tự do dân chủ những năm 20 - 30 của thế kỷ XX

26

Trang 27

Những đặc điểm và chuyển biến trong chính trị, kinh

tế, văn hóa, tư tưởng ỏ Việt Nam và khu vực, trên thế giói

là những điểu kiện khách quan cho sự chuyển biến tư tưỏng của Nho sĩ Việt Nam đầu thế kỷ XX Trong đội ngũ Nho sĩ Việt Nam trưỏng thành đầu thế kỷ XX, bộ phận Nho sĩ duy tân đã thể hiện được sự nắm bắt điều kiện khách quan, thời cơ cũng như thách thức để từ đó chuyển biến tư tưởng và hành động một cách tích cực, vì mục đích lớn lao là giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân

Mặt khác, tư tưỏng không chỉ bị quyết định bỏi tồn tại

xă hội mà còn có tính kế thừa các hệ tư tưỏng từ trưóc đó hoặc có sự giao thoa, tiếp biến giữa các hệ tư tưởng trong cùng thòi đại

VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

1 Khủng hoảng của Nho giáo ở Trung Quốc và Việt Nam

a) K hủng hoảng của Nho giáo ồ Trung Quốc

Khi các nưốc đế quốc phương Tây xâm lược Trung Quốc cũng là khi hình thành cuộc giao lưu, tiếp xúc ván hóa, tư tưỏng Đông - Tây; trong công cuộc đố, Nho học mất dần vị trí thống trị đòi sông tinh thần xã hội Đòi sống tinh thần của xã hội Trung Quốc đã xuất hiện hệ thống tư tưởng của những nhà canh tân trong giai cấp địa chủ, như Củng Tự Trân, Ngụy Nguyên, Lâm Tắc Từ Họ có tinh

27

Trang 28

thần cải cách, một mặt kế thừa những quan điểm triết học tiến bộ, tư tưởng lịch sử tiến hóa, duy vật của các nhà Nho tiền bối, mặt khác đấu tranh chống sự xâm lược của đế quốc, đấu tranh phê phán triết học Lý học duy tâm của môn phái Trình - Chu Họ đưa ra tư tưởng phản đối Thiên

mệnh, coi mọi sự vật đều có thể biến đổi nhưng là “tiệm

hiến”, đề cao quan điểm lịch sử tiến hóa, chủ trương cải

cách xă hội, đổi mới pháp chế Các ông đều yêu cầu triều đình cải cách chế độ học tập, khoa cử, chủ trương coi trọng hiện tại, xem nhẹ cái cổ xưa, đề xướng phưđng pháp

nghiên cứu “kinh thế chí dụng”, “thông kinh chí dụng” tức

là học tập nghiên cứu phải đáp ứng được nhu cầu của thực

tế xã hội Tuy nhiên, triết học của các ông vẫn dựa vào các phạm trù triết học cũ, về hình thức và nội dung vẫn chưa thoát khỏi kinh học truyền thống, tuy có yếu tố duy vật biện chứng nhưng chỉ giói hạn ở việc thừa nhận sự liên hệ

và vận động mang tính chất tuần hoàn mà thôi Chủ trương canh tân của các ông vẫn thừa nhận, tôn trọng và lấy triều đình phong kiến làm trung tâm, hơn nữa do tính giai cấp và ảnh hưởng lâu dài của thê giói quan Nho giáo nên tư tưỏng của các ông còn thiếu tính nhất quán, thiếu triệt để, còn nhiều hạn chế Các nhà Nho canh tân đều bị triều đình lưu đày, biệt xứ, đánh dấu sự cáo chung của xu hưóng phát triển tích cực của Nho học Trung Quốc Năm

1905, kỳ thi Nho học cuối cùng tại Trung Quốc chính thức chấm hết vai trò chính trị - tư tưởng của Nho giáo, Nho học và Nho sĩ.«

Nho giáo Trung Quốc đầu thế kỷ XX vẫn tồn tại dưối

28

Trang 29

hai hình thức Hình thức chủ yếu là phê phán, bài bác những gì lạc hậu, duy tâm của Nho giáo, đây là hình thức khá phổ biến, có vai trò quan trọng trong sự phát triển tư tưởng Trung Quôc Hình thức thứ hai là bảo lưu, khôi phục dẫn đến tái sinh Nho giáo Cuộc đấu tranh tư tưỏng giữa hai hình thức này đại diện cho cuộc đấu tranh tư tưởng, văn hóa Trung Quốc Cách mạng Tân Hợi nổ ra, chế độ phong kiến Trung Quốc tồn tại hàng nghìn năm bị xóa bỏ, một chính thể dân chủ theo khuynh hưống phướng

tưởng, cách mạng không đặt ra vấn đề loại bỏ Nho giáo một cách trực tiếp, mà vẫn kế thừa những yếu tô" tích cực, hợp lý của Nho giáo, nhất là trong tư tưỏng đạo đức Thành quả của cách mạng đã làm mất chỗ dựa chính trị

vô cùng quan trọng của Nho giáo - đó là hệ thống chính trị phong kiến; do đó Nho giáo chuyển từ địa vị ý thức hệ của giai cấp thống trị sang địa vị giá trị trong tư tưỏng truyền thống xã hội

Từ năm 1915 đến năm 1919, các hoạt động phê phán Nho học từ góc độ văn hóa tư tưởng diễn ra khá sôi nổi Các học giả như Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu, Ngô Ngu, Hồ Thích, Lỗ Tấn đã tích cực vận động “tân văn hóa”, phủ định sự tổn tại của Nho giáo trong đồi sốhg tư tưởng, văn hóa, luân lý xã hội Họ muôn bài trừ những phong tục tập quán lạc hậu, những ảnh hưởng xấu của Nho giáo trong đòi sông xã hội, trong suy nghĩ

và hành động của nhân dân Trung Quốc đâ tồn tại hàng nghìn năm

29

Trang 30

Trong lúc đó, Lưdng Thấu Minh giường cao ngọn cò Nho học, tuyên bố Nho giáo là cốt lõi của văn hóa Trung Quốc, Nho giáo còn thì Trung Quốc còn, Nho giáo là dòng sinh mệnh không bao giờ dứt, tương lai của văn hóa thế

giới chính là văn hóa Trung Quốc Trong tác phẩm “Trung -

Tây văn hóa cập kỳ triết học”, ông cho rằng, phải chuyển

hóa Nho giáo cho thích hỢp vối thời đại; lấy văn hóa Trung Quốc làm nên tảng, dung hợp với văn hóa phương Tây nhằm tạo ra một thứ Nho học mối trong thòi kỳ dân chủ,

tự do, bình đẳng Tư tưỏng của tân Nho gia đưỢc sự ủng

hộ mạnh mẽ của tầng lóp sĩ phu xuất phát từ ý thức, tình cảm đối vổi văn hóa truyền thốhg dân tộc, có giá trị nhân văn sâu sắc Điều này có ý nghĩa tư tưỏng to lồn vì trong bối cảnh của cách mạng, Nho giáo mặc dù bị tấn công, phê phán mạnh mẽ nhưng vẫn chứng tỏ sức sông mãnh liệt của nó, tác động ảnh hưỏng đến văn hóa tư tưỏng ỏ các nước phương Đông vẫn khá sâu sắc Sự khủng hoảng và suy yếu của Nho học, sự phân hóa của giối Nho sĩ Trung Quốc tác động khá mạnh mẽ và sâu sắc tối ý thức hệ Việt Nam, tối tư tưỏng của giói Nho sĩ Việt Nam

b) Khủng hoảng cùa Nho giáo ỏ Vỉêt Nam

Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên, trải qua quá trình phát triển lâu dài cùng với quá trình phát triển của nhà nưôc phong kiến Việt Nam Nho giáo

từ chỗ là công cụ tinh thần của kẻ xâm lược ngoại bang, vâi những quy tắc chính trị đạo đức gò bó chỉ phục vụ lợi ích cho tầng lớp thốhg trị, không được đa sô" nhân dân

30

Trang 31

XV đến đầu thế kỷ XX Nho giáo giành toàn quyền trong

việ{ chi phối nên giáo dục - khoa cử, tuyển chọn nhân tài

phự: vụ cho giai cấp quý tộc xây dựng và củng cố nhà nước

phong kiến Tầng lốp trí thức dù xuất thân từ quý tộc, địa

chủ hay nông dân đều là sản phẩm của nền giáo dục Nho

giác Trí thức dù ở trình độ nào đểu được học triết học - triết

lý của Nho giáo Ngay từ khi cắp sách đi học những chữ

cao hơn, đỗ đạt, người học nhất thiết phải học tư tưỏng của Khổng - Mạnh, phải học bộ Tứ thư; Luận ngữ, Mạnh

Tử, Trung dung, Đại học và nhiều sách ghi lại ìồi, ý của các )ậc hiền nhân trong lịch sử

Vhư chúng ta đã biết, từ khi bưổc lên thống lĩnh vũ đài chính trị - tư tưỏng của nhà nưốc phong kiến Việt Nan, Nho giáo đã sử dụng giáo dục như là một công cụ hữu hiệu để tạo dựng đội ngũ quan lại từ trung ương đến địa jhương, để bồi dưổng nhân tài Tuy nhiên, để có thể đỗ đạt rong các kỳ thi của Nho giáo, Nho sinh phải học, khổ luyện cả cuộc đòi từ khi còn nhỏ thậm chí đến khi đầu bạc Mỗi kỳ thi có tới hàng nghìn thí sinh, nhưng cũng chỉ đỗ hơn chục người Thi cử khắc nghiệt là vậy nhưng sô" học trò d học, đi thi không ngừng gia tăng, phần vì họ muốn

31

Trang 32

có tri thức, trở thành kẻ sĩ, nhưng phần chủ yếu là muốn thay đổi địa vị xã hội, từ bình dân lên thượng lưu, kê đó là quyền lực, quyền lợi được bảo đảm Nho sĩ thi đỗ không

những vinh thân phì gia mà còn “cả họ được nhỉf \ Nhưng

cũng từ thực trạng thi cử Nho giáo thời phong kiến, chúng

ta có thể thấy rõ sự phân hóa trong đội ngũ Nho sĩ Chúng tôi trích theo tác giả Chưđng Thâu một đoạn Nguyễn Khắc Viên viết về Nho sĩ:

“Hàng nghìn thí sinh thi Hướng trỏ về làng, họ vẫn sống nghèo khổ như trưốc, nhưng một khi người ta đã học hành nhiều năm, thì ngưòi ta không nghĩ đến cầm cái cày hay là đồ nghề của một người thợ thủ công, lại càng không nghĩ đến việc quang gánh đi buôn Từ nay cho đến chết họ

là một Nho sĩ Nhưng mà phải biết cách mưu sinh Đôi khi những hoa lợi ruộng đất của gia đình cũng đủ ăn tiêu, thường thường là những người vđ quay sợi dệt cửi, buôn bán đôi chút để cho chồng tiếp tục học hành chờ đến khoa thi sau Khoa thi thì chỉ mở ba năm một lần (đến năm

1919 thì hoàn toàn chấm dứt chế độ thi cử này) và cái may

đỗ đạt vốn không nhiều nhặn gì Vì vậy, người ta thấy có nưốc Nho sĩ đến 50, 60 tuổi vẫn có mặt ở khoa thi và chịu

sự thử thách như những thanh niên 18 tuổi Khắp nơi trên đất nước có hàng vạn Nho sĩ sốhg như vậy Suốt đồi

họ học tập và ôn tập những sách vở kinh điển và cho đến chết, ôm mốỉ hy vọng được đỗ đạt Trong khi chò cái ngày may mắn có thể thay đổi sô" phận, những Nho sĩ làm đủ thứ nghề; dạy học, làm thầy cúng, làm văn thuê Họ làm văn khế, đơn thỉnh cầu, đđn kiện, giữ hộ tịch và các sổ

32

Trang 33

sách của làng xã Một sô người sau khi học về nghề thuổc

thì đi thăm bệnh các con bệnh, kê đơn bốc thuốc Một số

khác, có một ít kiến thức vê khoa chiêm tinh, về phong thủy thì lấy các lá sô' tử vi, xem hướng nhà, chọn đất để cất mộ tố là những yếu tô" đưa lại sự quan trọng cho sự thịnh vượng của một gia đình hay một họ Có những cuộc hát đốì đáp của nam nữ thanh niên diễn ra giữa làng này vối làng kia, đằng sau mỗi nhóm hát ấy thường có một nhà Nho Có những gánh hát bán chuyên nghiệp thường diễn ở

/

các làng những vở chèo, ngưòi ta thấy có những chủ đề về nông dân Ngôn ngữ nông dân cộng với những kỹ xảo văn chương của các Nho sĩ thu hút người nghe không ít Nhưng nghề vinh dự hơn cả của Nho sĩ là nghề dạy học”'.

Triều Nguyễn thê kỷ XIX ra sức đề cao Nho học, chấn hưng Nho học bằng cách chấn chỉnh lại giáo dục, soạn lại kinh sách theo cả tư tưởng Hán Nho, Tống Nho, Đưòng Nho, Minh - Thanh Nho, trong đó khuynh hướng Hán Nho, Tông Nho có vai trò quan trọng nhất với các nhà Nho tiêu biểu như vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị, vua Tự Đức, Phan Thanh Giản, Tùng Thiện Vương Họ chủ trương tuyệt đối hóa chế độ quân chủ chuyên chế, cổ vũ cho

“giềng mối chính thông” Có những nhà Nho tìm về với tư

tướng Khổng - Mạnh như Nguyễn Văn Siêu Nhìn chung, Nho giáo Việt Nam thòi Nguyễn vẫn phát triển vì nó phù

1 Chương Thâu: Góp phần tim hiếu Nho giáo, Nho sĩ, trí thức Việt Nam trước năm 1975, Nxb, Văn hóa thông tin và Viện Văn hoá xuất bán, Hà Nội, 2007, tr 131-132,

3 3

Trang 34

hợp với xã hội tiểu nông gia trưỏng, nên nó vẫn ăn sâu vào các tầng lốp xã hội Trong khi ở Nhật Bản và Trung Quốc, vôi nền kinh tế - xã hội có nhiều biến chuyển, thành thị và thương nhân ngày càng phát huy vai trò trong cơ cấu kinh

tê - xã hội nên đã xuất hiện ý thức chốhg lại hệ tư tưỏng

phong kiến, lấy Nho giáo là hạt nhân làm cho Nho giáo và quan hệ tông tộc ỏ các nước này rạn nứt, thì ỏ Việt Nam

nó lại được củng cố và tạo điểu kiện phát triển trỏ ỉại dưới

triều Nguyễn.

Trong lịch sử tồn tại của mình, triều Nguyễn đã tổ

chức 39 kỳ thi đại khoa, với 558 Nho sĩ đỗ đệ nhất giáp (bảng nhăn, thám hoa), đệ nhị giáp, tam giáp, phó bảng

Hơn một trăm năm, ngoài số lưỢng Nho sĩ đỗ đạt, có danh

vọng trong xă hội, còn rất nhiều Nho sĩ vẫn sốhg cuộc sốhg bình dân có khi còn là nghèo túng trong các làng xã.

Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, Nho giáo Việt Nam cũng bước vào giai đoạn khủng hoảng đi tới suy vong trên vũ đài tư tưỏng Trước hết, lịch sử đã đặt ra cho Nho

sĩ ba vấn đề tư tưỏng lớn cần phải giải quyết mà chưa có

tiền lệ Đó là cuộc đấu tranh tư tưỏng giữa “chính đạo và

tà giáo”, giữa “duy tân và thủ cựu”, giữa “chủ chiến và chủ hòa” Nho sĩ giải quyết được ba vấn đề tư tưởng này mới có

thể minh chứng cho sự tồn tại hđp lý của Nho giáo đối với

đòi sống xã hội Nho giáo, Nho sĩ dưới triểu Nguyễn đã không giải quyết đúng đắn, hỢp logic, hợp thời đại ba vấn

để của tư tưỏng thòi đại, càng làm cho Nho giáo bất lực trước nhiệm vụ lịch sử dân tộc Năm 1919, thực dán

Pháp đã bãi bỏ nền giáo dục - khoa cử Nho học, khiến cho

3 4

Trang 35

Nho học dần dần bị quên lãng, Tuy nhiên trong dân gian, việc học chữ Hán, tư tưỏng đạo đức luân iý Nho giáo vẫn tồn tại, chi phối các quan hệ ứng xử của con ngưòi Những nám 20 - 30 của Lhế kỷ XX, đă xuất hiện cuộc đấu tranh trên lĩnh vực báo chí giữa một bên là phê phán Nho giáo

và một bên là bảo vệ Nho giáo, nhưng đó chỉ là trên văn đàn Những tư tưởng gì của Nho giáo mà được nhân dân lưu giữ, phát triển thì đó là bảo vệ, những tư tưỏng gì bị đào thải thì đó là cái cần phải phê phán, tiếp biến của lịch

sử tư tưởng Việt Nam là như vậy.

Nho giáo đã tạo nên một đội ngũ trí thức cho xã hội Việt Nam, đó là Nho sĩ Nho sĩ Việt Nam trong lịch sử đã tiếp thu, khai thác những quan điểm tích cực của Nho giáo để khẳng định những giá trị truyền thống của dân tộc, nâng nó lên thành những tư tưởng ổn định, thúc đẩy

sự phát triển của đất nưốc, tạo nên một sức mạnh to lớn

để góp phần giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn hiến của Việt Nam Tuy nhiên, ngay trong

thời kỳ hệ tư tưởng Nho giáo và địa vị của Nho sĩ đưỢc đưa

lên cao nhất và giữ vai trò chủ yếu trong xă hội và cấu trúc hệ tư tưởng Việt Nam, thì tư tưỏng của Nho sĩ cũng

đã biểu hiện những mặt hạn chế, tiêu cực như là; Nho sĩ tin tưởng sâu sắc vào mệnh trời, tiền định, định mệnh, không có thói quen giải thích thế giới và càng không có ý nghĩ cải tạo thế giối theo chiều hướng phát triển như trí thức phương Tây Trong chế độ phong kiến Việt Nam, quan lại ở vị trí cao được mọi người phải kính nể và sẽ được phân phong nhiều ruộng đất, nhiều bổng, lộc Tầng

35

Trang 36

lớp bình dân muốn trở thành quan lại thì phải cố gắng học tập, thi đỗ hoặc bỏ tiền ra mua một chức quan Nho sĩ là đội ngủ trí thức phần nhiều xuất thân bình dân nhưng do

cơ chế của xã hội phong kiến, họ có thể bị tha hóa nhanh chóng về mặt nhân cách đạo đức khi họ làm quan Điều này mâu thuẫn với lý tưởng đạo đức và nhân cách của Nho

sĩ, vì vậy, nhiều Nho sĩ tích cực đã từ bỏ chốn quan trường hoặc đã thi đỗ nhưng không ra làm quan cho triều đình phong kiến áp bức, bóc lột nhân dân, họ từ bỏ lý tưởng chính trị - xã hội đã từng trau dồi, trở về sống cuộc sống thanh bạch, bình dân nơi làng xã, dạy chữ thánh hiền cho nhân dân.

Thế giới quan Nho giáo làm cho nhà Nho thoát ly khỏi sản xuất, không quan tâm đến các nhu cầu sản xuất vật

nông, công, thương" không khuyến khích sản xuất phát triển Mốì quan tâm của nhà Nho về con người chỉ là mối quan hệ giữa người với người trong đạo đức - chính trị, không phải trong sản xuất, kinh doanh, cho nên, khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, Nho sĩ không có hệ thốhg khái niệm trong tư duy để có thể hiểu thực chất xã hội

phương Tây Nho sĩ được trang bị trong tư tưởng mô hình

xã hội lý tưởng của nhân loại là mô hình của thánh nhân,

hình đó Vì lẽ đó, họ không hướng suy nghĩ và hành động của người trí thức vào sự phát triển tương lai của xã hội, không khuyến khích, thậm chí còn kìm hãm những tư tưởng, chủ trương canh tân, duy tân, đặc biệt là theo mô

36

Trang 37

hình phương Tây Một bộ phận Nho sĩ vẫn suy nghĩ theo

lốì như vậy Họ đã bị lịch sử vượt qua

Thực trạng xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đã

gây nên cuộc khủng hoảng về ý thức hệ và tạo nên sự phần hóa đội ngũ của trí thức Nho học Trưốc hết là sự hình thành những trí thức yêu nước, quyết định ly khai triều đình nhà Nguyễn, phản đối chủ trương cầu hòa của triều đình Hành động này thể hiện sự đảo lộn những quan điểm

cơ bản nhất trong thế giới quan Nho giáo của họ: đó là tư tưởng tôn quân, trung quân tuyệt đối, trung quân là thần phục mệnh trời mà họ đã học, đã tin và làm theo Hành động đầu hàng của triều Nguyễn đã khiến tư tưỏng đó trong Nho sĩ bị phá sản; họ lựa chọn và đặt chủ nghĩa yêu nước lên trên trung quân, không thuận mệnh tròi thể hiện

ở ý vua mà thuận theo ý dân, lòng dân, cùng nhân dân chiến đấu giành lại đất nưóc Trong lịch sử, Nho sĩ Việt Nam thường phân hóa: Nho sĩ quan phương và Nho sĩ bình dân Mỗi thòi đại qua kỳ hưng thịnh đến lúc suy tàn, vua quan phản dân hại nước thì sô" Nho sĩ đi về phía lợi ích của nhân dân tăng lên gấp bội Triều đình nhà Nguyễn không

còn '‘quân minh, thần trung” thì ngay cả những Nho sĩ

quan phưđng cũng bị phân hóa thành hai phái Phái chủ

ch iế n đi với nhân dân theo quan điểm “lấy dân làm gốc” (dĩ

dân vi bản) chủ trương Ịập lại sơn hà xã tắc thanh bình,

tìm ""minh chủ" m ố i C h ủ n g h ĩa y ê u nư ớ c t r u y ề n th ổ h g c ủ a

nhân dân Việt Nam đã làm kim chỉ nam cho hành động của

các sĩ phu yêu nước Trên khắp nước Việt Nam đã dấy lên

phong trào đấu tranh yêu nước do các sĩ phu phong kiến tổ

37

Trang 38

áp ở Nam Bộ thì phong trào “Văn thân cần vương” được

đông đảo các sĩ phu trong cả nước hưỏng ứng Cuộc khởi

nghĩa ở Hưđng Sơn (Nghệ Tĩnh) do Phan Đình Phùng tổ

chức bị thất bại thì cuộc đấu tranh vũ trang Yên Thế (Bắc Giang) lại dấy lên Nhưng phong trào này cũng giảm dần sức mạnh và tàn lụi Sô" đông các sĩ phu yêu nước thời đó

cùng chung câu than thở: “Thôi thánh hiền! Thôi hào kiệt!

Thôi anh hùng! Nghìn năm sự nghiệp nước về đông" Tiếng thở dài đó thể hiện sự thất bại của thế giổi quan Nho giáo Thế giói quan ấy không giúp Nho sĩ vạch ra cương lĩnh

ch ố n g n go ại x â m p h ù hỢp tro n g k hi kẻ th ù củ a ch ú n g ta

không phải là ngưồi Hán nữa Thất bại trong cuộc chiến này, các sĩ phu yêu nưóc thấy rằng: ta yếu địch mạnh, các kinh sách thánh hiền không vạch ra được lốì thoát, sức

mạnh của chủ nghĩa yêu nưâc truyền thốhg cần phải có một

đ ư ờ n g lố ỉ đ ú n g đ ắ n m ó i p h á t h u y được L ô g íc c ủ a lịc h sử v à

tư tưởng thôi thúc các sĩ phu yêu nước của thế hệ tiếp theo tìm hệ tư tưỏng mới, chủ trướng mới, con đường mới giải phóng dân tộc Họ là những Nho sĩ duy tân trưỏng thành đầu thế kỷ XX.

Để đổi mói tư duy, trước hết, Nho sĩ duy tân phóng tầm mắt tối các nưốc láng giềng, các nước trong khu vực

để nhìn nhận, đánh giá, học hồi.

3 8

Trang 39

2 Tư tưởng cải câch, duy tđn của Nhật Bản, Trung Quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

a) Tư tưởng cải câch, duy tđn Nhật Bản

Trong quâ trình phât triển của mình, lịch sử tư tưởng Nhật Bản hầu như không có hiện tượng độc tôn về tư tưỏng Đặc trưng năy lă do nền văn hóa Nhật Bản có tính chất mở của một quốc gia hải đảo, ngưồi Nhật Bản vốn sốtn hình thănh phong câch tư duy độc lập, tự chủ, duy lý

ở thế kỷ XIX, do nền chính trị phong kiến phđn quyền vói những đặc tính văn hóa - xê hội của mỗi vùng, tầng lớp thị dđn, đô thị phât triển cũng tạo điều kiện cho sự phât triển

đa dạng câc học thuyết, quan điểm, học phâi, có những cuộc đấu tranh tư tưởng, học phâi Giữa thế kỷ XIX, trong quâ trình vận động cải câch, vai trò của câc tầng lốp trong

xă hội đối với tiến trình cải câch có khâc nhau, tạo ra đặc trưng của phong trăo cũng như tư tưỏng cải câch, duy tđn Nhật Bản

Thănh thị ỏ Nhật Bản ra đòi sớm, phât triển vă so vdi một số nước Đông  khâc, thănh thị lă nơi hội tụ của nhiều đẳng cấp trong xê hội, trong đó có giối chủ công - thương nghiệp, những tập đoăn doanh thướng lốn Vai trò của thương nhđn đối với nền kinh tế Nhật Bản cẵg ngăy căng lớn, nhưng do họ còn có quyền lợi gắn với tập đoăn phong kiến nín họ không trở thănh một lực lượng chính trị, xê hội độc lập, không đủ lực lượng vă uy tín để tập hỢp

lực lượng tiến hănh cải câch, duy tđn, câch mạng thay đổi thể chế kinh tế, chính trị, xê hội đương thòi

3 9

Trang 40

Do điều kiện chính trị, xã hội thòi phong kiến ỏ Nhật Bản, mặc dù Nho giáo được coi là hệ tư tưởng chính thốhg của giai cấp phong kiến nhưng trí thức Nho sĩ lại không trố thành một tầng lốp có tính thuần nhất Tầng lớp võ sĩ trong xã hội phong kiến Nhật Bản tuy giữ vai trò quản lý

xã hội, nên mặc dù giữa họ có sự khác nhau về địa vị xã hội và kinh tế nhưng lại có đặc điểm chung đó là lối sông coi trọng sự thẳng thắn, trung thực, ưa hành động, coi trọng các giá trị thực tế, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chịu trách nhiệm trước các quyết định của cá nhân mìnih,

hy sinh tính mạng vì danh dự và quyền lợi dân tộc Do vậy, trong tiến trình cải cách ở Nhật Bản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đẳng cấp võ sĩ là lực lượng tiên phong và giữ vai trò quyết định Sang đầu thế kỷ XX, tầng lốp võ sĩ

và trí thức Tây học là lớp người tiếp tục phát triển tư tưỏng duy tân và thực hiện duy tân xã hội trong nhiểu lĩnh vực Họ là những nhà tư tưỏng và nhà hoạt động d»uy tân nổi tiếng như: Fukuzawa Yukichi (1834-1901), Mori Arinori (1847-1889), Nakamura Masanao (1832-1891), Kato Hiroyuki (1836-1916), Nishi Amane (1829-1897), Taguchi Ukichi (1828-1903) Trong không khí của một đất nước đang thực hiện công cuộc Minh Trị duy tân, ttiọ

đã dịch sách phương Tây, viết sách, mở trường học theo Hôi phương Tây, thực học, thực dụng để nâng cao dân trí, đẳo tạo thanh niên trở thành những ngưòi gánh vác trọmg trách xây dựng nước Nhật Bản văn minh Họ dịch nhiểu tác phẩm về tư tưởng, chính trị, kinh tế, luật phá)p, giáo dục phương Tây ra tiếng Nhật Có thể liệt kê m(ột

4 0

Ngày đăng: 22/08/2023, 02:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội đại hiểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại hiểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
2. Hồ Chí Minh; Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn "tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
3. Phan Bội Châu: Toàn tập, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1990. Chường Thâu (sưu tầm, biên soạn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa
4. Chương Thâu (sưu tầm, biên soạn): Phan Bội Châu về một sô' vấn đề văn hóa - xã hội - chính trị, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu về một sô' vấn đề văn hóa - xã hội - chính trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa
5. Phan Chu Trinh; Tuyển tập, Nhà xuất bản Đà Nằng, 1995. (Nguyễn Văn Dương biên soạn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nằng
6. Phan Chu Trinh: Toàn tập, Nhà xuất bản Đà Nắng, 2005. (Chưđng Thâu biên soạn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nắng
7. Huỳnh Thúe Kháng: Thơ văn, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1965. (Vương Đình Quang tuyển chọn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
8. Huỳnh Thúc Kháng: Thơ vân, Nhà xuất bản Đà Nằng, 1989. (Chương Thâu biên soạn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ vân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nằng
9. Huỳnh Thúc Kháng niên phổ và thơ trả lời Kỳ ngoại hầu Cường Để, Nhà xuất bản Văn hóa - thông tin, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huỳnh Thúc Kháng niên phổ và thơ trả lời Kỳ ngoại hầu Cường Để
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - thông tin
10. Võ Nguyên Giáp; Cụ Phan Bội Châu là một đấng thiên sứ, một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa lớn, Tạp chí Xi/a và Nay (2), 1998, tr. 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cụ Phan Bội Châu là một đấng thiên sứ, một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa lớn," Tạp chí Xi/a "và Nay
12. Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
13. Trần Văn Giấu; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám - Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, Tập 1, 2, 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám - Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
14. Trần Văn Giàu; Tuyển tập, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
15. Đỗ Bàn cùng nhiều tác giả: Tư tường canh tân đất nước dưới triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tường canh tân đất nước dưới triều Nguyễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa
16. Nguyễn Đức Bình: Nhiệm vụ trung tâm của công tác triết học hiện nay, Tạp chí Triết học, 1997, tr.7-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ trung tâm của công tác triết học hiện nay," Tạp chí "Triết học
17. Boudarel: Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông, Nhà xuất bản Văn hóa - thông tin, Hà Nội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - thông tin
18. Trương Văn Chung - Doãn Chính (Đồng chủ biên): Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nhà xuất bản Chính trị quốic gia,Hà Nội,- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốic gia
19. Phan Đại Doãn (Chủ biên); Một sô' vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sô' vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
20. Đinh Dung: Thử tim hiểu ảnh hưởng của Nho giáo trong đường lối ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XX, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (6) 295, 1997, tr.73 -78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tim hiểu ảnh hưởng của Nho giáo trong đường lối ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XX," Tạp chí "Nghiên cứu lịch sử
21. Đinh Trần Dương: Ý chí cứu nước của nhóm sĩ phu bị tù ở Côn Đảo đầu thế kỷ XX, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (2) 327, 2003, tr. 65-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý chí cứu nước của nhóm sĩ phu bị tù ở Côn Đảo đầu thế kỷ XX," Tạp chí "Nghiên cứu lịch sử

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm