Trong Thơ v n nữ Nam B thế kỷ XX Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, ngư i biên soạn công trình n y đã nhận xét về tạp văn an: “vi t nhiều về ngư i Hoa, về con cháu của một dân tộ đã sinh
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH THỦY
DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG KÝ CỦA LÝ LAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH THỦY
DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG KÝ CỦA LÝ LAN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BIỆN MINH ĐIỀN
NGHỆ AN, 2014
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 3
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
4 đ h v nhiệm v nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên ứu 9
6 Đóng góp v ấu trúc của luận văn 9
Chương 1 THỂ OẠI TR N HÀNH TR NH S NG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA AN 10
1.1 nh tr nh sáng tạ nghệ thuật ủa nh văn an 10
1.1.1 an - n nh văn tiêu i u ủa a ộ v ủa văn họ iệt a hiện đại 10
1.1.2 n đư ng đ n với văn họ v h nh tr nh sáng tạ ủa an 12
1.2 tr ng văn nghiệp ủa an 19
1.2.1 Một số vấn đề về th loại ký và ký Việt a đương đại 19
1.2.2 Ký Lý Lan 27
Chương 2 VĂN HO SÀI G N NAM BỘ TRONG NHẬN THỨC PHẢN NH CỦA AN 34
2.1 ơ sở hiện thực của văn h á S i n – Nam Bộ trong ký Lý Lan 34
2.1.1 ng văn h á a ộ 34
2.1.2 Một số nét đặ trưng phổ quát của văn hóa a ộ 35
2.2 ăn h á đ thị S i n - Nam Bộ trong ký Lý Lan 36
2.2.1 ăn hóa đ thị được nhìn từ mặt sáng, tích cực 36
2.2.2 ăn hóa đ thị (S i n được nhìn từ mặt tối, hạn ch 48
2.3 ăn h á a ộ - v ng đất mới với nh ng bi u hiện đặ trưng (văn hóa miệt vư n, văn hóa s ng nước, kênh rạch, ) 56
Trang 4THỂ HIỆN VĂN HO NAM BỘ CỦA AN 63
3.1 Các th v đặ đi m của nó ở ký Lý Lan 63
3.1.1 Các th được chú ý trong văn học Việt a đương đại 63
3.1.2 Sự lựa chọn các th ủa Lý Lan 64
3.2 h n vật ngư i huyện v ái t i tá giả tr ng an 69
3.2.1 h n vật ngư i huyện tr ng an 69
3.2.2 Cái tôi tác giả với giọng điệu riêng trong an 73
3.3 g n ng ủa an 78
3.3.1 Ngôn ng Nam Bộ trong ký Lý Lan 78
3.3.2 Ngôn ng an sinh động, gần gũi đ i sống 81
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 5trư ng nhân tạ đ nu i dưỡng đ i sống vật chất và tinh thần của n ngư i Cùng với thiên nhiên thứ nhất do tạo hóa tạo nên, văn hóa trở thành môi trư ng sống của n ngư i, văn hóa được nhìn nhận l động lực của sự ti n
bộ xã hội… ăn học vừa l văn hóa, vừa bi u hiện văn h á, h nên văn học ũng l tấ gương ủa văn h á Tr ng tá phẩ văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự ti p nhận và tái hiện của nh văn Đó l nh ng vẻ đẹp của văn h á truyền thống dân tộ , văn hóa Hà Nội trong ký của Nguyễn Tuân, Thạ h a , ũ ằng…, là nh ng vẻ đẹp của văn h á ngư i Việt qua
tùy bút Quê hương tôi của Tràng Thiên, v.v ăn h á tá động đ n văn học
không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ hoạt động sáng tạo của nh văn v h ạt động ti p nhận của bạn đọc
Việt Nam có một nền văn hóa ph ng phú v đa dạng bởi sự đóng góp của văn hóa nhiều vùng miền, ph ng phú đa dạng nhưng thống nhất, bi u hiện đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, bản sắc dân tộc Nền văn hóa ấy tạo nên sức mạnh cố k t, duy trì và phát tri n đ i sống của dân tộc, bao hàm các giá trị đặ trưng, tiêu bi u, phản ánh diện mạo, truyền thống, bản lĩnh, phẩm chất, tâm hồn, lối sống của dân tộc Văn hóa d n tộc Việt Nam là sự tập hợp,
k t tinh nh ng giá trị bền v ng, nh ng tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ở nhiều vùng khác nhau, trải khắp ba miền Bắc – Trung – Nam (Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ) Đấy là nh ng giá trị được vun đắp nên qua lịch
sử h ng ng n nă đấu tranh dựng nước và gi nước Tuy đều là bi u hiện của văn hóa d n tộ , nhưng văn hóa ỗi vùng miền khác nhau lại có nh ng
đặ đi độ đá riêng… Có lẽ chỉ ó nh văn l ngư i nói được nh ng nét riêng độ đá n y ủa văn hóa v ng iền một cách tinh t , hấp dẫn nhất
ấu ấn văn h á v ng iền tr ng á sáng tá văn họ ( ất ứ ở th
l ại n , nhất l ủa nh ng tá giả ó ph ng á h, l ột vấn đề lớn, ó
Trang 6h t sức quan trọng, nhất là trong phản ánh, th hiện các bi u hiện của văn hóa dân tộ , văn hóa á v ng iền trên đất nước Rất nhiều tên tuổi lớn mà
sự nghiệp sáng tá được khẳng định bằng th ký ở nội dung này Nhiều trang đặc sắc của Nguyễn Tuân, Thạ h a , ũ ằng, Hoàng Phủ Ngọc
Tư ng, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Bình Nguyên Lộ , ăng Sơn,
Võ Phi n, Lý Lan không chỉ mang tới h độc giả nh ng tri thức, nhận thức mới mẻ, hấp dẫn về văn hóa v ng iền, mà còn góp phần vun đắp tâm
hồn, tư tưởng tình cảm cho họ Chẳng hạn, đọc Thương nhớ mười hai của
ũ Bằng, độc giả miền Nam có thêm hi u bi t tư ng tận về mảnh đất, văn hóa và tấm lòng của n ngư i xứ Bắc Tất cả là hồi quang của một th i quá khứ xa xưa, nhưng hi được bi u đạt bằng giọng văn đằm thắ nghĩa t nh, đau đáu nhớ thương, ỗng trở nên lung linh a qu như nh ng mảnh hồn thiêng dân tộc, từ đ y ngư i đọ ng yêu hơn quê hương, đất nước mình
1.3 an - ột nh văn huyên nghiệp, từng sống ở S i n, a
ộ, a hi u văn h á S i n, a ộ Tất cả các bài ký, tập ký của đều tập trung về văn h á S i n, a ộ, lấy đ y l đối tượng nhận thứ , phản ánh v th hiện
Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ
từ khi Việt a gi nh được độc lập v nă 1945 Nam Bộ là một trong ba vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ)
ăn hóa a ộ, ó th hia th nh a ti u v ng: ti u v ng Đ ng a ộ,
ti u v ng T y a ộ, v ti u v ng S i n Mảnh đất l nh n y l nơi ó
sự gặp gỡ trọn vẹn và diễn ra sự gia th a văn h á ủa 4 cộng đồng dân tộc Việt, a, hă , hơ-me tiêu bi u cho cả Nam bộ, tr ng đó ngư i Việt là chủ th chính Hình thành trên một v ng đồng ằng s ng nướ v trên ột
v ng đất đa tộ ngư i, văn h á a ộ có nhiều nét riêng độ đá
Trang 7Từng được sống tr ng i trư ng văn hóa a ộ, am hi u văn hóa Sài Gòn, Nam Bộ, Lý Lan ấp ủ khát vọng vi t về nó với tất cả tấm lòng gắn
ó yêu thương ủa mình, vi t về nó với cảm nhận và cái nhìn riêng của mình
Chính vì vậy, n ho m trong n l vấn đề ó nghĩa s u
sắ trên nhiều phương diện…
2 Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Dấu ấn v n ho m trong n
2.2 Giới hạn của đề tài
Đề t i a quát t n ộ ủa an, gồm bảy tập đã được xuất bản:
Chân dung người Hoa (1994) Sài Gòn, Chợ Lớn rong hơi (1998) Khi nhà v n hó (1999)
Dặm đường lang thang (1999) Miên man tùy bút (2007) Bày tỏ tình yêu (2009)
Ở ngưỡng cửa cu đời (2010)
Và một số i đăng trên (https://sites.google.com/site/lylanmutman):
Ăn h o Tiều, Bông chùm bao, Chuyện làm n, Chù Minh Hương, Du xuân, Đêm Sài Gòn nghe ế h nh i êu, Mú lân, gười trong hẻm, Sài Gòn về sáng, Sỏi và đ , Thư viết ở Sài Gòn
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3.1 Về a t ủa i
Lý Lan sáng tác bằng nhiều th loại, với khá nhiều đề tài Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về th sáng tác của bà còn ít
Trên báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, số 24, ngày 15 – 6 - 1985,
Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận định: “ an l y út sớ đượ dư luận chú ý Với cách vi t giản dị mà linh hoạt, đậ đ hất Nam Bộ, Lý Lan th hiện phong cách của mình ngay từ nh ng tác phẩ đầu tay” Sau đó ột
Trang 8th i gian, nă 1994, ũng trên á Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, ra ngày
18 - 8 - 1994, Nguyễn Thị Thanh Xuân giới thiệu tập truyện ngắn Cỏ hát
của Lý Lan in chung Trần Thùy Mai Theo tác giả, “Tr ng nh ng trang vi t của cây bút mới vào nghề như an, húng ta ắt gặp đ y đó h nh ảnh tác giả: an đang tr ng giai đ ạn tự ngắ nh” h văn Sơn a qua tập
truyện ngắn Chiêm bao thấy núi của Lý Lan (Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí
Minh, 19910 nhận thấy ở an “ ái tươi trẻ, cái bình dân và sự ranh mãnh của nh ng cô gái trẻ S i n xưa v nay hất là có phẩ á h” [40; 4]
Khi M t góc phố Tàu của Lý Lan (Nxb Hội h văn, 2000) ra đ i,
ương Tr h n tuy n chọn và giới thiệu, ông khẳng định ph ng á h văn
xu i an “ h nh l nằm trong cái mạch của văn xu i a ộ Cây bút
n y đã ti p nhận một cách hồn nhiên kinh nghiệm của ngư i đi trướ đ rồi trong hoàn cảnh của nh, thê v đó nh ng sắc thái mới, làm nên một giọng điệu mới…l ột ti ng nói điề đạ , h ng l điệu, làm ồn, tự tin
ở sự tồn tại của nh, d đó l ột ti ng nói dễ gần, dễ thông cảm Chị đã
vi t đượ đều, vi t nhanh, vi t khỏe, có th tin l trước mắt chúng ta một
ph ng á h đã h nh th nh, ột mạ h văn đã hơi nguồn v đang hảy xi t chứ không phải là một sự “vi t h vui” h ặc ghé qua nghề nghiệp chốc lát rồi lại bỏ” “Riêng với Lý Lan, do hoàn cảnh riêng là lớn lên ở một miền đất ngư i Hoa sinh sống tập trung, chị lại có dịp nói kỹ về sinh hoạt của cộng đồng này, từ chuyện l ăn, ột tiệm chạp pô, tiệ nước tới việc vi t
ch ghi lại út t h ng y xu n… với nh ng n ngư i bả an nhau l ăn,
nh ng n ngư i nghèo nghèo, tội tội, đang vật lộn ki m sống và ki m cách thích nghi với mảnh đất mới”[74; 12-15] ương Trí Nhàn đã đặt văn xu i của Lý Lan trong mạ h văn xu i a ộ cùng với Hồ Bi u hánh, ăn
S , ương ồng S n, Sơn a , Trang Th Hy v.v Theo ương Tr Nhàn, an ó “lối k chuyện mộc mạ ”; lối h nh văn “tự nhiên mà không bao gi mang ti ng trau chuốt, đẽo gọt”, “Qua nh ng trang sách của chị, ngư i ta thấy hiện lên một phần hình ảnh xã hội sau chi n tranh với
Trang 9nh ng xáo trộn nghiệt ngã, và nh ng đổi thay trướ đ y h ng ai ng tới Song cái chính là qua nh ng trang sách ấy, ngư i ta cảm thấy như được gặp
gỡ với một tâm hồn nhạy cảm, bi t nh n đ i một cách nhân hậu đ tìm ra
nh ng vẻ đẹp và bất chấp mọi sự ái ă rắc rối, vẫn ó được một thái độ phải hăng, hợp lý, gi lấy niề tin h riêng nh”[74] Khi đặt Lý Lan bên cạnh một nh văn gốc Hoa là Hồ Dz nh, ương Tr h n nhận ra nét đặc biệt trong tâm lý sáng tạo của cả hai nh văn, đó l “ ái ảm giác về một
"thân phận ép" đã trở thành ám ảnh” [74] v h nh động vi t như ột sự giãi bày nh ng tình cảm sâu nặng trong lòng Nhìn chung, bài vi t của ương Tr h n đã th hiện sự am hi u sâu sắc về các sáng tác của Lý Lan [http://vuongdangbi.blogspot.com]
Các tác giả Ngô Thị i ú (“ h ng ngư i đ n ị thất lạ ”, á
Thanh niên, 3/2008), Trần Thuỳ ai (“ an, ngư i đi xuyên tư ng”, á Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Ch nhật, tháng 6/2008 , T ng Sơn
(giới thiệu Tiểu thuyết đàn bà, sachhay.com) có nh ng cách nhìn khác nhau
về Tiểu thuyết đàn bà
g i ra, ũng ần k đ n một số bài phỏng vấn an, như: “ gư i
ph n lu n ơ ước làm chủ cuộc sống” (Báo gười l o đ ng, website
nld.com.vn), “ an: với văn hương t i h ng ó tuổi” (phongdiep.net), bài phỏng vấn của Ngô Thị Kim Cúc (thanhnien.com.vn) nói về hoạt động sáng tá văn học thi u nhi của Lý Lan; bài phỏng vấn “ an, 16 nă h
Tiểu thuyết đàn bà” (tại buổi gia lưu với bạn đọ ng y 13/3/2008, đăng tải
trên website:http://www.vtc.vn/)
Trong Thơ v n nữ Nam B thế kỷ XX (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
2002), ngư i biên soạn công trình n y đã nhận xét về tạp văn an: “vi t nhiều về ngư i Hoa, về con cháu của một dân tộ đã sinh sống, gắn bó, hòa nhập với mảnh đất này từ a đ i nay…nhưng h ng thấy hi n hiện nỗi niềm xa xứ, nỗi sầu xứ mênh mang của một ngư i xa lạ, “thi u quê hương” (ch dùng của Nguyễn Tuân) hay u trầm, huyền ” hỉ thấy vẻ hiền lành,
Trang 10đơn sơ, ộc mạc của một cộng đồng ngư i gi u đức tính chia sẻ và cảm
th ng” [1; 686]
Tháng 2 nă 2007 trên website: http://evan.vnexpress.net, tác giả Anh
Vân vi t i “ an - ngư i đ n hồn nhiên với ch ” Tr ng i vi t này, Anh Vân gọi an l “ngư i bạn ha hơi, h n th nh ủa ch nghĩa” và với ch nghĩa, an ó “ ối quan hệ quấn qu t như t nh nh n” Tác giả bài vi t ũng nhận ra nét hồn nhiên không chỉ toát ra từ n ngư i mà còn
th hiện rõ trong giọng văn, ng n ng của an” v hẳng định sự trong sáng, dễ thương đã trở thành một trong nh ng nét riêng hấp dẫn ở giọng điệu của Lý Lan
Bài vi t “ an: T nh yêu vẫn còn nguyên vẹn” ủa Tư ng y đăng
trên báo Saigongiaiphongonline là bài vi t ghi lại nh ng hoạt động v đóng
góp của Lý Lan tại buổi Tổ chức Hội sách Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ
5, nhân dịp đón t t Mậu Tý, 2008 Qua bài vi t này tác giả ũng hé ở một
số chi ti t về cuộ đ i của nh văn th ng qua u trả l i của nh văn với bạn đọc
Tác phẩm của Lý Lan trở th nh đề tài nghiên cứu cho một số luận văn
thạ sĩ, như Đặ điểm truyện ngắn Lý Lan của Lê Thị Huỳnh Lan (Cao học
15 Đại học Vinh), Cảm hứng nữ quyền trong v n xuôi tự sự c a Lý Lan của Nguyễn Thị Hà (Cao họ 16 Đại học Vinh), Đặ điểm tạp v n a Lý Lan
của Lê Ti n ũng ( a họ 16 Đại học Vinh)
3.2 đề i a t a
ị h sử nghiên ứu vấn đề văn hóa a ộ tr ng Lan th nói còn trống vắng Chỉ có một vài bài vi t ó đề cập một vài chi ti t về nội dung và cách vi t ký của bà
Ký là một th loại được Lý Lan vi t nhiều, song th loại này của bà hưa thu hút được sự quan tâm cần thi t, đúng ức của giới nghiên cứu
Nh ng đánh giá hủ y u dành cho truyện ngắn v đặc biệt cho cuốn ti u
thuy t mới xuất bản gần đ y ủa bà: Tiểu thuyết đàn bà, còn ký thì mới chỉ
Trang 11có một vài bài vi t lẻ tẻ in trên các báo Tác giả Việt Bằng tr ng i “Đọc
Miên man tuỳ bút của an” đăng trên viet ang đề cập đ n hai nội
dung: “Miên man tùy bút là tập hợp của 11 đ ản văn (personal essays,
n nfi ti n h ng ó đề tài mà chỉ đượ đánh số từ 1 đ n 11 Tất cả đều liên quan tới tác giả từ thủa ấu th i mẹ mất sớm, theo cha về Chợ Lớn h đ n khi thành công trong sự nghiệp và thành danh trong cuộ đ i” v : “Tr ng
Miên man tùy bút, nhiều đ ạn được diễn tả bằng nh ng mẩu đối thoại thay
vì miêu tả hay thuật truyện Vi t đối thoại ũng l ột sở trư ng của Lý an”[8]
Trên đ i Châu Á tự do, tác giả Mặ h phát i: “ h văn n Lý
Lan, một cây vi t có sứ sáng tá đa dạng” tr ng đó hủ y u tập trung phân tích, làm rõ cách vi t, nghệ thuật k chuyện của Lý Lan Với cái nhìn có tính hiện thực, Mặ đã hái quát: “Qua nhiều tác phẩm, Lý Lan có khuynh hướng miêu tả đ i thư ng dưới cái nhìn của một nh á hơn l ột nh văn Chị ghi nhận sự kiện và sắp x p chúng bằng nh ng trình tự mà sự kiện liên
t c xảy ra và không hoa mỹ, hư ấu”[61] Điều đáng hú ủa Lý Lan là tác giả lu n đưa h nh ảnh cuộc sống sống động v văn hương, l h văn hương gi u hơi thở Mặc Lâm phát bi u: “ ằng trực giác của một ngư i n , chị lặng lẽ quan sát nh ng gánh h ng r ng đang ng y ng y sinh h ạt mà chị gọi chung là nh ng cái chợ h ng r ng”[61]
Tháng 4 nă 2008, á Thể th o & n ho , số 111 h đăng i “
Lan: Mẹ đưa n đ n trư ng mãi là bi u tượng đẹp nhất” ủa tác giả Yên hương Đ y l i vi t về tác phẩ được chọn giảng tr ng nh trư ng
( hương tr nh văn học lớp 7): Cổng trường mở ra của an Yên hương
đã gi nh nh ng ưu ái h nh văn hi ngợi a “nh ng tâm sự rất dung dị nhưng lại vô cùng cả động như h nh giọng văn ủa ”[38] Nguyễn
Long Khánh trong bài giới thiệu cuốn Miên man tùy bút trong
t nvinhvanh ad vn đã ó nh ng nhận xét sơ ộ về hình thức của cuốn tùy út: “Một cuốn sách giản dị, mộc mạc chân thành: Ngư i vi t nhớ đ n đ u,
Trang 12vi t đ n đó, h ng sắp đặt ũng h ng hú lắ đ n hình thức, nghệ thuật
th hiện”[35]… Về mặt nội dung, Nguyễn Long Khánh khẳng định Miên
man tùy bút là cuốn sá h “ thật ấ áp t nh đ i, t nh ngư i, có sức quy n rũ
dịu d ng lay động mỗi trái ti ngư i đọ ó như ột dòng suối mát trong róc rách gi a ngày nắng hạ ang đ n niềm vui, hy vọng và sức mạnh tiềm
ẩn đ chúng ta ngẩng a đầu đi tr ng uộc sống”[35]
Các tác giả biên soạn công trình Thơ v n nữ Nam B thế kỷ XX (Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) nhận xét: Lý Lan “vi t nhiều về ngư i Hoa,
về con cháu của một dân tộ đã sinh sống, gắn bó, hòa nhập với mảnh đất này từ a đ i nay…nhưng h ng thấy hi n hiện nỗi niềm xa xứ, nỗi sầu xứ mênh mang của một ngư i xa lạ, “thi u quê hương” ( h dùng của Nguyễn Tuân) hay u trầm, huyền ” hỉ thấy vẻ hiền l nh, đơn sơ, ộc mạc của một cộng đồng ngư i gi u đức tính chia sẻ và cả th ng” [1; 686]
Nhìn chung, các bài báo nghiên cứu về v đặc biệt là vấn đề văn hóa Nam bộ trong ký của Lý Lan vẫn còn quá ít ỏi, sơ s i, n u không muốn nói
ng v nét riêng tr ng ph ng á h của an, ũng từ đ y, đề xuất ột
số vấn đề về ó nghĩa l luận v thự tiễn về ti p nhận v nghiên ứu dấu
ấn văn h á v ng iền, địa phương tr ng á sáng tá văn họ …
4.2 Nhiệm v nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra ột ái nh n hái quát về an v th l ại trên
h nh tr nh sáng tạ ủa nh văn
4.2.2 Đi s u hảo sát, ph n t h, xá định nh ng i u hiện ủa văn
h á S i n, a ộ tr ng của an
Trang 134.2.3 Đi s u hả sát, ph n t h, xá định nghệ thuật th hiện văn h á
S i n, a ộ ủa an
Cuối cùng rút ra một số k t luận về th nh ng ủa an hi ó
sự tha gia ủa th nh tố văn h á văn h á S i n, a ộ (gọi hung l văn h á a ộ …
5 Phương pháp nghiên ứu
Luận văn vận d ng nhiều phương pháp nghiên ứu khác nhau, trong
đó ó á phương pháp h nh: phương pháp liên ng nh, phương pháp thống
kê - phân loại, phương pháp ph n t h - tổng hợp, phương pháp s sánh - loại h nh, phương pháp ấu trúc - hệ thống
6 Đóng góp ấu trúc của luận ăn
6.1 Đ p
- Luận văn l ng tr nh đi s u t hi u sự phản ánh v th hiện văn
h á a ộ ủa an với cái nhìn tập trung và hệ thống
- K t quả nghiên cứu của luận văn ó th làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hi u, nghiên cứu an nói riêng, iệt a đương đại nói hung…
6.2 C u trúc của luậ
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồ 3 hương
Chương 1: Th l ại trên h nh tr nh nghệ thuật ủa an Chương 2: ăn h á a ộ tr ng nhận thứ ủa an Chương 3: ghệ thuật th hiện văn h á a ộ ủa an
Trang 14Chương 1 THỂ OẠI TR N HÀNH TR NH
S NG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA AN 1.1 H nh t nh áng tạ nghệ th ật ủa nh ăn an
1.1.1 a – ti i ủa a ủa
iệt a iệ đại
h văn an tên thật là Lý Thị an sinh ng y 16 tháng 7 nă 1957 tại quê mẹ làng Bình Nhâm, huyện Thủ Dầu Một, tỉnh nh ương iện nay, an đã lập gia đ nh với giá sư Sử họ ngư i Mỹ tên là Mart Stewart và sống ở hai nơi a ỳ và Việt Nam
Thuở nhỏ, Lý Lan sống ở quê ngoại ng nh h l v ng đất nổi
ti ng với nh ng vư n cây trái xum xuê, nh ng làng nghề truyền thống lâu
đ i của v ng đ ng a ộ Đi đ u, l g an ũng nhớ về nơi h n nhau cắt rốn - nơi an tr u n gọi đó l quê ẹ, nơi ở đó đất và ngư i đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của : “Quê ẹ và tuổi thơ ở quê mẹ là mạ h nước ngầm của đ i tôi Khi nào khát tình cả , hát đề tài,
khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy…” [49]
ha an l ngư i Quảng Đ ng, Trung Quố Ông di ư đ n Việt Nam từ nửa đầu th kỷ XX h văn l t quả của mối tình không biên giới Hoa - Việt Khi nhắ đ n quê nội, Lý Lan không nói về một v ng đất c th
mà là một ký ức, một tiềm thức qua l i k của ha: “ ối mòn nào Lỗ Tấn đã
đi qua th nh đư ng Và vầng trăng n ạ h đã ngẩng đầu nhìn rồi nhớ
cố hương” Mẹ mất sớm, Lý Lan ở với ha “ngư i đ n ng di d n h ”, nhưng h nh t hồn a thượng của ng đã gợi mở lòng yêu thích học hành và niề say ê văn học cho con gái mình Khi theo cha r i làng Bình Nhâm vào sống ở Sài Gòn - Chợ Lớn, Lý Lan ti p t c học tập nh sự ưu sinh nhọc nhằn của ngư i cha Lý Lan tốt nghiệp đại họ Sư phạm, trở thành
Trang 15nhà giáo rồi th nh nh á , nh văn nh thơ, nhà biên kị h điện ảnh, nhà dịch thuật nổi ti ng được nhiều độc giả ưu ái, n mộ
Nh ng ng i trư ng ghi dấu tuổi học trò của nh văn an l trư ng
tư th Trung hánh, trư ng ti u học cộng đồng Chợ Quán, trư ng trung
họ ia ng v trư ng Đại họ Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Lý Lan
đã trưởng thành và gắn bó sâu sắc ở thành phố năng động này Sài Gòn là nơi n u gi tâm hồn nh văn an l u nhất, bền nhất ơi đó, an ó
“ ả tỷ chuyện về Sài Gòn - Chợ Lớn” ởi S i n tr ng an l “ ột thành phố h phóng v nh d n, nă ảy triệu n ngư i của thành phố đã quy n rũ t i ằng nh ng bí ẩn của sức sống và sự hồi sinh kỳ lạ”
an yêu th h văn hương từ nhỏ hi đỗ v đại họ Sư phạm, cô sinh viên khoa ngoại ng Lý Lan vẫn “ hưa đ nh từ bỏ mộng văn hương,
có lúc nào rảnh l v thư viện ượn sá h văn họ v giá tr nh h a văn
đọ ” [51] Truyện ngắn đầu tay Chàng nghệ sĩ in trên Báo Tuổi trẻ và
được giải thưởng vẫn hưa đưa an đ n với nghiệp văn hương huy n
đi thực t ở T y inh đã giúp Lý Lan sớm thực hiện ướ ơ l nh văn của nh: “ hi đất nước thanh bình, tôi vừa ư i tám tuổi, đang ắp sách
đ n trư ng, hưa từng ra khỏi thành phố, chỉ nhìn thấy chi n tranh trên màn ảnh nhỏ” [51] Đ n khi tận mắt chứng ki n mảnh đất cha ông bị bom cày đạn xới an đã “đứng lặng ngư i ng h ng trước mảnh đất d y đặc hố ” từ gi y phút “l ng rưng rưng uốn hó ” an “ h ng n nhìn sự vật bằng đ i ắt h ng h lướt trên bề mặt Từ ấy, chị bắt đầu con
đư ng cầ út.” [68,105]
Khi nhắ đ n an, ngư i ta thư ng è the danh xưng “ giá dạy ti ng Anh” như ột lợi th rất riêng của một nh văn từng cắt nghĩa:
ti ng Anh là ngôn ng th i đại, ngư i thích học ti ng Anh ít nhiều có óc
h áng đạt, nói chung là nh ng ngư i “gi được nhịp ti nh đập tương đối cùng nhịp với phần s i động nhất của cuộc sống hiện nay”
Trang 16Lý Lan dạy học ở trư ng trung học Cần Giuộc (Long An) từ nă 1980
h văn h rằng cô giáo vi t văn ó nh ng thuận lợi riêng: “ ằng việc dạy học, tôi thi t lập quan hệ hai chiều với nh ng ngư i trẻ tuổi ó đầu óc
h áng đạt, mới v dá ” Bà không quên hình ảnh nh ng đứa họ tr đen đúa, gầy gò cứ lặng lẽ đạp xe “hộ tống” giá suốt chặng đư ng hàng ch c cây số, h đ n khi thấy cô lọt vào quầng sáng thành phố mới chịu quay về Chính nh ng ánh mắt ng y thơ, t hồn trong sáng của họ tr đã giúp
an vượt qua đượ h nh nh Đó ũng h nh l h nh trang giúp nh văn
vi t nh ng đề tài nhà giáo, tuổi trẻ hấp dẫn độc giả bằng nh ng trải nghiệm thực t ă 1984, an về dạy ở trư ng ng ương h ng nă sau
đó l trư ng Lê Hồng Ph ng, trư ng Đại họ ăn ang Đ n nă 1997, Lan chuy n sang làm báo, dành nhiều th i gian cho vi t lách và chấm dứt hẳn nghề dạy học
1.1.2 đư đ ới t tạ ủa a
Lý Lan bắt đầu sự nghiệp sáng tác bằng truyện ngắn Chàng nghệ sỹ
(tác phẩm ra đ i nă 1978 sau huy n đi la động thực t về nông thôn của
Lý Lan) Đ y h nh l th nh ng ướ đầu tr ng văn nghiệp Lý Lan Từ đó,
bà ti p t c sáng tác truyện ngắn đều đặn đăng trên á Tuổi trẻ, n nghệ,
Phụ nữ thành phố Với th mạnh ở vốn văn hóa, vốn sống phong phú, một
trí tuệ thông minh, một tâm hồn nhạy cả , an đã hứng tỏ t i năng đa dạng của mình trên nhiều th loại: truyện ngắn, ti u thuy t, thơ, tuỳ bút, ghi hép, văn học dị h…
h đ n nay, an đã h xuất bản một khối lượng tác phẩm khá lớn
với nhiều th loại há nhau Trước h t cần nói đ n truyện ngắn, có: Cỏ hát (1983), Chút lãng mạn trong mư (1987), Chiêm bao thấy núi (1991),
Truyện (1992, in chung, gồm Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Hải
Chi), Đất khách (1995), Dị m ng (1999), Qúa chén (2000), M t góc phố
Tàu (2001), Truyện ngắn bốn cây bút nữ (2002), gười đàn bà ể chuyện
(2006), Hồi xuân (2009)
Trang 17Truyện vi t cho thi u nhi, có: Ngôi nhà trong cỏ (1984), H i lồng đèn (1991), Những người lớn (1992), Mư huồn chuồn (1993), Bí mật c a tôi
và thằn lằn đen (1996), người và ba con vật (2002)
Về ti u thuy t, có: Lệ Mai (1998), Tiểu thuyết đàn bà (2008)
Lý Lan còn vi t cả kịch bản phim: ơi bình yên him hót (1986), Đất
khách (2000)
Về ký (bao hàm nhiều th : tạp văn, t y út, ghi hép,… , ó:
Chân dung người Hoa (1994), Sài Gòn, Chợ Lớn rong hơi (1998) Khi nhà v n hó (1999)
Dặm đường lang thang (1999) Miên man tùy bút (2007) Bày tỏ tình yêu (2009)
Ở ngưỡng cửa cu đời (2010)
Về thơ:
Thơ n, ưu Thị ương, Th nh guyên (1999) Quán bạn (in chung, 2001)
Là mình (2005)
Về dịch thuật: Harry Potter
Đóng góp ủa an h văn học Việt Nam hiện đại là rất đáng được ghi nhận Một số giải thưởng văn học đã được nhận đã hứng minh
h điều đó Truyện ngắn Chàng nghệ sỹ đạt giải Khuy n khích cuộ thi văn xuôi Tuổi trẻ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Ch nghĩ xã h i của Th nh đ n Thành phố Hồ h inh, nă 1978 Truyện ngắn Cỏ hát đạt giải Nhì cuộc thi văn xu i ủa báo n nghệ Thành phố Hồ Chí Minh,nă 1981 Tập truyện Ngôi nhà trong cỏ đạt giải thưởng văn học thi u nhi của hội h văn Việt a , nă 1984 Truyện ngắn Đêm hông hiến tranh đạt giải Nhìn cuộ thi văn xuôi của báo n nghệ Thành phố Hồ Chí Minh,nă 1985 Truyện ngắn Cần Giu c đạt giải Nhì cuộ thi văn xu i ủa báo n nghệ
Thành phố Hồ Chí Minh, nă 1989 Truyện ngắn Ngựa ô đạt giải Nhì cuộc
Trang 18thi truyện ngắn – thơ ủa Tạp chí n nghệ quân đ i nă 1989 – 1990 Tập thơ Là mình được trao giải thưởng thơ ủa Hội h văn Th nh phố Hồ Chí inh, nă 2006 Tiểu thuyết đàn bà được giải thưởng văn xu i ủa Hội Nhà
văn Th nh phố Hồ h inh, nă 2009
Truyện ngắn và ti u thuy t Lý Lan qua các th i kỳ đều ang đậm dấu
ấn của th i đại Mảnh đất v n ngư i Nam Bộ là nguồn cảm hứng mãnh liệt chi phối ngòi bút Lý Lan Nét riêng trong truyện ngắn, ti u thuy t của bà
h nh l nh văn lu n th hiện cuộc sống v n ngư i ở nh ng điều bình thư ng, nhỏ nhặt, sâu kín trong tâm hồn, đặc biệt l ngư i ph n Đó là
nh ng trang vi t thấ đẫm tinh thần nhân bản
Lý Lan đ lại dấu ấn trong văn xu i tự sự Việt a đương đại trên rất nhiều phương diện nổi bật như: Dân chủ hoá về cảm hứng, đề tài; sáng tạo nên nhiều tình huống truyện độ đá ; đưa hất th i sự vào tác phẩm, xây dựng h nh tượng nhân vật có chiều s u… Đặc biệt việc đưa hất th i sự vào văn hương v góp ti ng nói mạnh mẽ cho phong trào n quyền tr ng văn học là nh ng đóng góp xuất sắc của Lý Lan Cùng với Lê Minh Khuê, Y Ban, Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọ Tư, v.v , an đã góp phần tạo nên một “d ng” văn học n khó lẫn tr ng văn học hiện đại Việt Nam
Lý Lan còn đóng góp h văn học Việt Nam một màu sắc Nam Bộ rất riêng v độ đá Tr ng văn ủa an, ngư i ta không chỉ bắt gặp hình ảnh b n đ , s ng nước, nh ng hình ảnh n ngư i la động cần cù gắn với
nh ng miệt vư n, nh ng ánh đồng xanh, nh ng á h xưng h (ổng, cổ,
ảnh), ngôn ng c th sinh động (mắc mớ gì, hen, hớ, b mày, hút đỉnh) mà
còn bắt gặp ở đó sự pha trộn văn h á gi a Đ ng – Tây, gi a ngư i Hoa và ngư i Việt trong một lối vi t giản dị, gần với văn ph ng á h á tá
phẩm đậm màu sắc Nam Bộ của bà đó l : Chị ấy lấy chồng hư ?, Đêm s o,
Diễn viên hạng b , Đêm thảo nguyên, Ngựa ô, v.v…
Truyện ngắn và ti u thuy t của Lý Lan góp phần khẳng định tính chất
“ ở” ủa các th loại tự sự, đưa văn hương gần với cuộ đ i Trong tác
Trang 19phẩm của Lý Lan, các th loại luôn có mối quan hệ tương quan với nhau, đều có sự “ ộng sinh” nhất định Đọc truyện ngắn, ti u thuy t của Lý Lan,
n u ngư i đọc tinh ý có th dễ dàng nhận ra dấu ấn của tuỳ bút, của văn phong báo chí Tuỳ bút của Lý Lan gần với truyện ngắn, ti u thuy t (tính chất chủ quan trong miêu tả, bi u lộ cảm xúc, tính tr tình, có nhân vật và các mối quan hệ có th tạo nên cốt truyện) Lý Lan đã đưa các mẩu đối thoại một cách hồn nhiên các vào truyện ngắn, ti u thuy t Truyện ngắn và ti u thuy t của Lý Lan chỉ có vài tác phẩm là k t thúc theo lối truyền thống, còn lại là k t thúc theo lối “ ỏ ngỏ” Lý Lan quan niệm văn hương ũng như cuộc sống, sẽ chẳng bao gi có câu nói cuối cùng về nó cả
Lý Lan rất thành công khi đưa v tá phẩm chất Nam Bộ, góp phần khẳng định tính chất mở trong các th loại tự sự, đưa văn hương gần với cuộ đ i Lý an đã ó cả một quá trình phấn đấu, sáng tạo, luôn giành th i gian đ nghiền ngẫm, quan tâm tới văn họ nước nhà, gắn bó với tổ quốc, với quê hương
Ở mảng truyện vi t cho thi u nhi, an ũng ó nh ng đóng góp rất đáng Lý Lan tâm sự: “ ăn học thi u nhi chi m cái gác xép trong ngôi nhà sáng tạo của tôi Nh ng bài báo chi m không gian b p; ti u thuy t, truyện và nghiên cứu k như ph ng l việc; nhật v thơ hi m phòng ngủ; ghi chép và tạp văn đượ d nh h ph ng há h; n l g như ái h ng hiên hóng gió Gá xép l nơi t i ất gi buồn vui thương nhớ, là chỗ tôi lẳng lặng tìm về, quên tất cả nh ng thứ ở “tầng dưới”, t hồn được thanh
lọ , v nh đơn giản l nh”[58]
Đ n nay, Lý Lan đã ó sáu tập truyện vi t cho trẻ em, tiêu bi u là: Ngôi
nhà trong cỏ (1984) gồ a ươi truyện ngắn hay, H i lồng đèn (1991), Những người lớn (1992) Nh ng truyện ngắn vi t cho thi u nhi đều bắt
nguồn từ th i thơ ấu của nh văn ở quê ngoại, từ sự quan sát nh ng đứa trẻ
tr ng gia đ nh, h ng xó ở cả nông thôn và thành thị với cái nhìn mới mẻ, hiện đại của một ngư i vi t quan tâm sâu sắ đ n trẻ nhỏ Tập truyện dài
Trang 20Mư huồn chuồn (1993) là câu chuyện về nh ng rung động đầu đ i, nh ng
t tư t nh ảm và cả nh ng bi n đổi của cuộ đ i tá động đ n các bạn trẻ
sắp tốt nghiệp trung học Bí mật c a tôi và thằn lằn đen (1996) là cuộc phiêu lưu ủa n ngư i vào th giới loài vật người và ba con vật (2002) là
truyện dài về ba em nhỏ và ba con vật gồm Bồ Câu, chó Mực và Gà Trống trong cuộ phiêu lưu quanh vư n Truyện này gồm chín câu chuyện nhỏ sử
d ng lối vi t tả thực, nhân hóa k t hợp với khoa học viễn tưởng như n ngư i dùng máy nghe loài vật nói chuyện g i ra, nh văn n nhiều truyện ngắn vi t cho bạn đọc nhỏ tuổi đăng rải rác trên các báo Với tấm lòng tha thi t vì trẻ nhỏ, Lý Lan k nh ng câu chuyện cổ tích hiện đại cho các em nghe nhằm truyền tải nh ng tâm tình, nh ng bài học sâu sắc cho trẻ thơ Tuy đối tượng là trẻ e , nhưng á h vi t của Lý Lan chứng tỏ tác giả là một ngư i vi t cẩn trọng và có trách nhiệ h văn Sơn a từng nhận xét về an: “T i nhớ lần đầu tiên đã ngạc nhiên khi thấy diễn tả buổi sáng con cào nhảy ra sân cỏ tập th d c, chuyện dành cho trẻ thơ nhưng ngư i lớn đọc rất th h” [69; 4] nh văn nhất quán trong cách vi t, chọn
nh ng đề tài bình dị nhưng lu n ẩn chứa sự quan tâm sâu sắ đ n bạn đọc
nhỏ tuổi Đầm hì vôi, gười xanh lá cây, Tự nhiên buồn là nh ng truyện
được thi u nhi yêu thích
Tập truyện thi u nhi đầu tay của Lý Lan Ngôi nhà trong cỏ (Nxb Kim
Đồng, Hà Nội, 1984 được giải thưởng văn học thi u nhi của Hội h ăn Việt Nam Gần đ y, x ăn họ v Trung t ăn hóa g n ng Đ ng
T y đã h tái ản tập truyện 30 câu chuyện nhỏ xinh gói ghém trong cuốn sách chỉ ngót 100 trang không khi n h ngư i đọc cả giá “đọc nhanh quá” hay “ngắn quá” ở mỗi truyện ngắn, hay chỉ là một mẩu nhỏ của tập
sá h đều mang một bài họ đạ đức nhỏ vốn rất cần thi t cho lứa tuổi thi u nhi còn phải học hỏi thật nhiều ở cuộ đ i đ hoàn thiện mình Đọc cuốn sách nhỏ này, bạn đọc nhỏ tuổi thích tìm hi u sẽ nhận thấy có một “s ng
h n” về nh ng ki n thức thiên nhiên: cây cỏ, các loài sinh vật của đồng cỏ,
Trang 21gió ưa, ốn a… Tá giả thổi vào mỗi thứ một linh hồn khi n cỏ cây, kỳ nhông, cào cào, d than, nhái bén hay búp bê, chó mèo, mầm cây, lá non đều trở nên sống động và có tính cách rất riêng Đ i hi húng ta ũng ắt gặp nh ng bức tranh thiên nhiên thuần khi t tr ng đó gió ưa, ặt tr i và các sinh vật đồng nội sống trong một xã hội riêng của chúng, tất cả đầy ắp
âm thanh và màu sắc (truyện Mù mư , gôi nhà trong ỏ,…)
Tinh thần chủ y u toát lên từ truyện thi u nhi của Lý Lan là nh ng bài
họ đạ đứ được tác giả vận d ng khôn khéo qua từng câu chuyện của
nh th nh th ng điệp gửi đ n các em nhỏ Truyện đầu tiên của cuốn Ngôi
nhà trong cỏ: Ăn hế trả gì, từ cổ tích quen thuộc về cây kh của chàng trai
y đ n điều tưởng như hỉ có trong cổ t h đó l á h h nh xử cả động đầy t nh nghĩa gi a nh ng ngư i th n tr ng gia đ nh v ả với nh ng ngư i
xa lạ gặp cảnh ơ h n Truyện Ba con kiến (Ngôi nhà trong cỏ) là ng ngôn
về nh ng kẻ h y lư i và hậu quả của nó là cả ba chú ki n phải nhịn đói v hia l a nhau Sau đó ỗi con vật sống một nẻo và phải làm l ng vất vả vì
sự sinh tồn Truyện Con ưỡng xanh (Ngôi nhà trong cỏ) là bài học về cách
ứng xử trong cuộc sống N u ta đối xử c c cằn vô lễ với bạn è, ngư i thân thì sẽ phải nhận lại cách xử sự như vậy ở ngư i khác Mẩu chuyện đầu tiên
“t i” cho thằn lằn nghe (cuốn Bí mật giữa tôi và thằn lằn đen) là
chuyện về con gián, thực chất là sự phóng chi u tưởng từ câu t c ng “gần
mự th đen” u huyện thứ hai về con ve sầu ng ngôn về thói “th ng rỗng êu t ”…
Tuy vẫn phảng phất nh ng bài họ đạ đứ nhưng ỗi nhân vật dù là con vật, đồ vật hay n ngư i đều toát lên vẻ hồn nhiên, đáng yêu Đ i hi chỉ là nh ng câu chuyện vui mang dáng dấp cổ tích về “hội thi đơn a”, chi c bàn cổ… th ỗi nhân vật đều mang một vẻ riêng về tính cách, sở trư ng, sở đ ản như l sự đa dạng của xã hội n ngư i Ngựa ô giỏi hí, ca
sỹ ve giỏi hát, vượn giỏi hú, Hách Dịch giỏi hét, còn ban giám khảo gồ Đá
a ương, Thép Đã T i v Th i Gian thì rất công minh trong việc chấm
Trang 22giải… uộc sống muôn màu muôn vẻ làm nên một trái đất xanh tươi xinh
xắn l th ng điệp của truyện H i thi đơn
Trong khá nhiều nh ng câu chuyện nhỏ của mình, tác giả Lý Lan dành cho khoảnh khắ đáng yêu nhất của lứa tuổi nhi đồng đang họ đ m số,
nh ng tr như “ hơi nă ư i”, “ hơi hầu ua”, “ á sấu lên b ”… h ng
tr hơi n y ó th nhiều nơi cả nh ng miền quê ũng h ng n n a Đó chỉ còn là nh ng ký ứ đẹp về một th i hi siêu nh n v ga e nline hưa phổ bi n trong cuộc sống sinh hoạt của trẻ em nông thôn Về điều này phải
k đ n nh ng truyện như Chơi n m mười, Cô giáo em, Con rùa lật ngửa,
Gà trống làm gì H p bánh tây Búp bê c a Ti, Cu Búp vẽ tranh, mùa hè giày đi đâu…
Câu chuyện mà theo l i tác giả th “định gi lại cho riêng mình, chép trong một quy n vở đẹp, đ dành khi nào thích ai lắm mới k h nghe”, cuối ng đã được k cho một chú thằn lằn đen, v ột đê huya hỉ vì một l d đơn giản: Con thằn lằn đen đang uồn Chỉ bằng 6 dòng mở đầu tập sá h, an đã đ lại một th ng điệp: Hãy bi t chia sẻ với nh ng ngư i xung quanh Cho dù "tôi" là ai, là tác giả Lý Lan nổi ti ng hay ngư i mẹ đang chuyện cho bé nghe, là một é đang ngồi bên cửa sổ dán mắt vào cuốn sá h n y ũng đều đúng ả Bởi th giới của ai không có nh ng con thằn lằn bí mật, củ tỏi củ hành, hạt tiêu ớt đỏ Quần áo của ai chẳng kêu lên khi gián lỡ chân mà mất vệ sinh Nh ng mẩu đối thoại đáng yêu nhưng đầy thú vị bên trong một th giới khác, ngay cận kề húng ta ũng rất sinh động
v đáng yêu "T i" v t nh đượ nghe, v t nh được dẫn dắt vào cuộc phiêu lưu nơi gó nh , hộ n, ngăn hạn b p Với tài k chuyện duyên dáng, Lý
an đã dẫn dắt độc giả nhỏ tuổi vào nh ng cuộ phiêu lưu thú vị, nơi ỗi
góc nhà, hộ n đều trở th nh đối tượng đ khám phá Bí mật giữa tôi và
thằn lằn đen chính là nh ng bài học nâng niu cuộc sống mà tác giả đã truyền
đạt nhẹ nhàng qua nh ng câu chuyện hồn nhiên góp nhặt Từ nh ng l i mẹ dạy n “ ẹ sanh con ra cho bầu tr i xanh vô tận Mẹ sanh n ra đ đương
Trang 23đầu với dông tố phũ ph ng ẹ sanh con ra với nă tháng v ng, hỉ bất
tử nh ng trái ti dũng ả ”, cho tới cảm nhận ẩn d thanh cao về bi n:
“ hi giọt sương, d ng s ng, con suối không chỉ bi t có riêng mình, thì bi n bao la tràn ngập sắc màu, âm thanh Bi n nhân ái, giàu có và bất tận” tất cả đều khi n chúng ta cảm nhận t nh yêu thương a la tr ng uộc sống này.Với độc giả ăng n n nói, truyện thi u nhi của Lý Lan là một món quả nhỏ dễ thương v ũng rất đỗi bổ ích Nh ng câu chuyện về bài học vào
đ i hưa a gi là thừa đối với các em nhỏ n hưa trưởng thành
Điều rất đáng nói l an xe văn hương h ng phải l tr hơi
ch nghĩa l trá h nhiệm của ngư i cầm bút chân chính với n ngư i, với xã hội Bà chọn cách vi t giản dị, giàu kỹ thuật như ột ngư i bạn tâm tình với bạn đọc về nh ng điều mình quan sát trong cuộc sống bằng cách k chuyện bình dân, không quá câu nệ về hình thức và ngôn ng giàu màu sắc Nam Bộ
Sáng tác bằng nhiều th loại với một khối lượng tác phẩm khá lớn, đề cập đ n nhiều vấn đề khác nhau thuộc nhiều lĩnh vự , an ũng đã th hiện được cái riêng của nh tr ng sáng tá v đã ó nh ng đóng góp nổi
bật h văn học Việt a đương đại
1.2 t ng ăn nghiệp ủa an
1.2.1 M t số v đề về th loại ký và ký Việt a đươ đại
Theo nhiều tài liệu: Từ điển thuật ngữ v n học (do Lê Bá Hán, Trần
Đ nh Sử - Nguyễn hă Phi đồng chủ biên, Nxb Giáo d c, 2007 [24], Lí
luận v n học ( inh Đức chủ biên, Nxb Giáo d c, 1998 [19, 210), 150 thuật ngữ v n học của Lại Nguyên Ân [5], m bài giảng về thể loại của
Hoàng Ngọc Hi n (Nxb Giáo d c, 1999) [27, 5), vi.wikipedia, v.v , Ký là tên
gọi cho một nhóm th tài nằm ở phần giao nhau gi a văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi hép tư liệu các loại), chủ y u l văn xu i tự sự
hướng đ n nh ng phạm vi thông tin và nhận thứ đa dạng, ký ũng rất phong phú, bao gồm nhiều th , nhiều ti u loại:
Trang 241 Ký sự: là một th của ký thiên về tự sự, thư ng ghi chép các sự
kiện, hay k lại một câu chuyện khi nó mới xảy ra
2 Phóng sự: là một th ký nổi bật bằng nh ng sự thật xác thực, dồi
dào và nóng hổi, không chỉ đưa tin n dựng lại hiện trư ng cho mọi ngư i quan sát, đánh giá, d đó nó nghiêng hẳn về phía tự sự, miêu tả, tái hiện sự thật Ở phương T y đề ra công thức 5W cho phóng sự (What: cái gì
đã xảy ra, Where: xảy ra ở đ u, When: xảy ra khi nào, Who: xảy ra với ai, Why: tại sao lại xảy ra)
3 Nhật ký: là một th loại ký mang tính chất riêng tư, đ i thư ng
nhiều nhất N u hầu h t các tác phẩ văn họ l đ gia lưu với ngư i khác, thì nhật ký lại chỉ đ gia lưu với chính mình Là ghi chép của cá nhân về sự kiện có thật đã, đang v ti p t c diễn ra theo th i gian, nhật thư ng bao gồm cả nh ng đ ạn tr tình ngoại đề và nh ng suy nghĩ ó t nh hất chủ quan về sự kiện Một nhật ký có phẩm chất văn học khi nó th hiện được một th giới tâm hồn, khi qua nh ng sự việc và tâm tình cá nhân tác giả giúp ngư i đọc nhìn thấy nh ng vấn đề xã hội trọng đại
4 Hồi ký: nh ng ghi chép có tính chất suy tưởng của cá nhân về quá
khứ, một dạng gần như tự truyện của tác giả Hồi ký cung cấp nh ng tư liệu của quá khứ đương th i tác giả hưa ó điều kiện nói được Khác với nhật , d đặc thù th i gian đã l i xa, sự kiện trong hồi ký có th bị nhớ nhầm hoặ tưởng tượng thê ngư i vi t không tự bi t
5 Bút ký: là một th của ký, nằm trung gian gi a ký sự và tùy bút
Bút ký thiên về ghi lại một cảnh vật nh văn ắt thấy tai nghe, thư ng trong các chuy n đi út tái hiện n ngư i và sự việc một cách phong phú, sinh động, nhưng qua đó i u hiện khá trực ti p huynh hướng cảm nghĩ ủa tác giả, có màu sắc tr tình K t hợp linh hoạt á phương thức nghị luận, tự sự, tr t nh nhưng t y the độ đậm nhạt khác nhau của các phương thức mà ta có bút ký chính luận, bút ký tùy bút v.v
Trang 256.Tùy bút: Là một th của đối lập với phóng sự N u phóng sự
thiên về tự sự với đi m tựa là sự kiện, thì tùy bút nghiêng hẳn về tr tình với
đi m tựa là cái tôi của tác giả Hình thức th loại n y h phép nh văn phóng bút vi t tùy theo cảm hứng, tùy cảnh, tùy việ suy tưởng, nhận xét, đánh giá, tr nh y v.v Nh ng chi ti t, n ngư i c th trong tác phẩm chỉ
là cái cớ đ tác giả bộc lộ cả xú , suy tư v nhận thứ , đánh giá
7 Du ký: loại ký có cốt truyện ghi chép về vẻ kỳ thú của cảnh vật
thiên nhiên và cuộ đ i; nh ng cảm nhận, suy tưởng của n ngư i trong
nh ng chuy n du ngoạn Du ký phản ánh, truyền đạt nh ng nhận bi t,
nh ng cả tưởng, suy nghĩ ới mẻ của bản th n ngư i du lịch về nh ng điều mắt thấy tai nghe ở nh ng xứ sở xa lạ, nơi ọi ngư i ít có dịp đi đ n, chứng ki n Hình thức du ký có th bao gồm các ghi chép, ký sự, hồi , thư tín, hồi tưởng v.v Tác giả của du tư ng bộc lộ niềm say mê khát khao tìm ki m, khám phá nh ng điều mới lạ
8 Ký hành: một dạng thức của nhật ký hành trình hay du ký của văn
học Nhật Bản, thư ng phát tri n đậ đặc tính chất tr tình thông qua sự k t hợp của nh ng đ ạn tản văn v thơ ổi ti ng trong th ký này phải k đ n
nh ng sáng tác của nh thơ hật Bản atsu ashō
8 Truyện ký: ngược lại với ký sự, thư ng tập trung cốt truyện vào
việc trần thuật một nhân vật: nh ng danh nhân về khoa học và nghệ thuật,
nh ng anh hùng trên mặt trận chi n đấu và sản xuất, chính khách, nhà hoạt động cách mạng
9 Tản ăn: Giới nghiên cứu ó ngư i cho tản văn l ột loại ký, có
ngư i cho rằng ký chỉ bao gồm một phạm vi hẹp hơn tản văn[1]
Có hai ý
ki n như trên ởi khái niệm tản văn được hi u the nghĩa rộng hoặ nghĩa hẹp The nghĩa rộng, tản văn l văn xu i, đối lập với vận văn (văn vần)
ưu iệp trong n tâm điêu long chia toàn bộ thư tị h th nh "văn" v
" út", tr ng đó văn l "vận văn", n út l tản văn Tr ng văn học cổ các áng văn xu i h ng vi t the văn iền ngẫu như inh, truyện, sử, tập, bi u,
Trang 26chi u, cáo, hịch, phú, minh, luận đều là tản văn The nghĩa hẹp, tản văn l tác phẩ văn xu i ngắn gọn, hàm xúc, giàu khả năng hơi gọi với k t cấu có
sự k t hợp linh hoạt tất cả á phương thứ , phương tiện bi u hiện nghệ thuật, nội dung thư ng th hiện đ i sống theo ki u chấ phá v đặ trưng quan trọng nhất là nó th hiện đậm nét dấu ấn cá nhân của ngư i cầm bút
Ngoài nh ng th ký phổ bi n nói trên, trong thực t còn có nhiều th
ký khác, và trong mỗi th nói trên ũng ó th bao gồm nhiều ti u th loại Ranh giới gi a các th loại nói trên ũng h ng tuyệt đối, luôn có tình
trạng chuy n hóa, thâm nhập lẫn nhau Trong gười bạn đọc ấy[2], Tô Hoài nhận xét: Trước kia từ đi n văn học phân chia: phóng sự thì chỉ trình bày sự việc, bút ký thì có nh ng l i bình phẩm của ngư i vi t Bây gi ta có th đọc một i út tr ng đó h ng thi u nh ng đ ạn vi t theo lối phóng sự, lẫn hồi ký, có khi cả th truyện ngắn ai dá đánh uộc: bút ký bây gi không bằng ng y trước?" Chỉ trong nh ng cuốn sách lý luận và sách giáo khoa các nhà nghiên cứu mới phân chia th tài một cách chính xác, trong khi thực t văn học luôn diễn ra nh ng y u tố ngoại biên, m nh e, đặc biệt với
nh ng tác giả văn học ó năng hi u đặc biệt và sự linh hoạt a độ khi cầm bút… òn có rất nhiều nh ng khái niệm khác về th loại Ký Tuy nhiên có
th thấy gi a các ý ki n có nh ng đi m gặp gỡ Có th thấy nh ng th ký văn học là nh ng hình thức ghi chép linh hoạt tr ng văn xu i, với nhiều dạng há nhau: tư ng thuật, miêu tả, bình luận về nh ng sự kiện và con ngư i có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc tôn trọng tính xác thực và chú
đ n tính th i sự của đối tượng miêu tả
Trong nền văn học của một dân tộc, bên cạnh nh ng th loại như truyện ngắn, ti u thuy t, thơ, sự góp mặt của th đã góp phần làm cho
nền văn họ đó n đối, nhiều màu sắ , đa dạng và hài hoà Th loại ký với
nh ng đặ trưng riêng ủa mình có vai trò quan trọng tr ng văn họ v đ i sống Điều n y đã được nh ng nh văn đi trướ tr ng nước và th giới
khẳng định
Trang 27Nhà văn T i h rằng: "Từ chỗ bắt đầu chỉ như l nh ng ghi chép
có tính chất tài liệu, kí trở thành một vũ h lợi hại của các nền văn học ti n
bộ và cách mạng trong cuộ đấu tranh chống kẻ thù giai cấp và xây dựng xã hội" h văn i i n ũng hẳng định th ký là "thứ vũ h nhẹ, ơ động
và có hiệu lực, có th xông xáo trên khắp các mặt trận của chi n trư ng"
h văn guyễn Huy Thông lại nhấn mạnh tính chất ơ động và khả năng ứng chi n linh hoạt của th ký: "Với sở trư ng nhiều mắt của th loại văn
họ n y, á nh văn ó th khi thì dựng lên nh ng bức tranh rộng lớn về cuộc sống, miêu tả sự việ , hi th đi s u v ột địa phương, ột con ngư i với nh ng chi ti t, có khi với cả nh ng số liệu c th Khi thì nói lên
nh ng cả nghĩ nhẹ nhàng của mình, khi thì lại là một sự tranh luận sôi nổi,
h ng h an nhượng"
Với tính chất phóng h áng v linh động, giúp h nh văn ngay trong một bài vi t vừa phản ánh được hiện tại, vừa quay về được quá khứ,
vừa miêu tả, vừa suy nghĩ iện luận Không chỉ các nh văn tr ng nước mà
á nh văn lớn trên th giới ũng hẳng định vai trò quan trọng của th loại
đối với văn họ v đ i sống M.Gorki khẳng định: "Bút kí là một công tác lớn lao và quan trọng" Lỗ Tấn ũng đặc biệt đề can vai trò của tạp văn,
một hình thức bút kí chính luận Ông khẳng định Tạp văn th hiện chức năng ủa nghệ thuật tham gia c th vào nhiệm v đấu tranh xã hội, với
nh ng ăn ứ xác thực, c th của ngư i thật, việc thật nên rất có sức thuy t
ph c Tuy nhiên không phải không có nh ng đánh giá, nhận định sai lệch về vai trò của th loại tr ng văn học Nhiều nh văn xe l th loại thấp kém so với truyện ngắn, thơ hay ti u thuy t, xem vi t như l ng việc của tay trái Lịch sử phát tri n của văn học qua hàng ch c th kí với nh ng đóng góp xứng đáng ủa nhiều tác phẩm ký có giá trị đã á ỏ quan niệm sai lầm trên
ang đặ trưng ghi hép về sự thật, phản ánh ngư i thật ,việc thật nhưng l ột th loại văn học, tức mang tính nghệ thuật hình vì th
Trang 28nh ng sự thật trong ký phải được chắt lọ đ có sức phản ánh lớn nhất Trong thực t không phải bao gi các tác giả ũng ó điều kiện thuận lợi đ nắm bắt đối tượng, bởi có nh ng hạn ch cả về mặt không gian và th i gian hưng nh sự hư ấu á nh văn h ta nh ng tác phẩm hoàn chỉnh về đối tượng c th
Một nét đặ trưng quan trọng của th loại ký là sự có mặt, chứng ki n của cái Tôi trong tác phẩ gư i vi t ký chỉ k lại, ghi lại cái mà bản thân ngư i vi t hoặc nhân vật có thật trong tác phẩm tham dự, chứng ki n Vì cái Tôi trong ký vừa góp phần bả đảm tính hiện thực của đối tượng miêu tả, vừa phải bồi đắp h h nh tượng nghệ thuật ph ng phú v sinh động
Cuộc sống xã hội ngày càng bộn bề phức tạp, và các tác phẩ đã kịp th i phản ánh cái hiện thự đó Xuất hiện ở nước ta từ th i trung đại, nhưng phải sang th i hiện đại ký mới thực sự trở thành một th loại văn học hiện đại Ký th loại ơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực Nh ng tác phẩ ra đ i đã đáp ứng được nhu cầu bức thi t của xã hội, đồng th i vẫn gi được nh ng y u tố nghệ thuật
Lý Lan là một cây bút n năng động v t i năng ên ạnh việc vi t văn, n l ột nhà giáo, một nhà dịch thuật, một nhà biên kịch Trong sáng tá văn học, Lý Lan vi t bằng nhiều th loại: truyện ngắn, ti u thuy t, thơ, … v ở th loại n ũng th nh ng Tuy hưa ó ột giải thưởng
n được trao ở th loại nhưng á tá phẩm ký của bà vẫn đượ đánh giá
cao Tập Bày tỏ tình yêu đượ đánh giá l sự k t tinh t i năng ủa Lý Lan
trong th loại ký Bên cạnh sự thành công ở th loại truyện ngắn, ti u thuy t,
thơ á tá phẩm ký của an ũng đượ đánh giá a Bày tỏ tình yêu
đượ xe như l ột cuốn tạp ký với nhiều th như: tuỳ bút, nhật ký, hồi ký,
du ký, bút ký
Ký là một th loại gồm nhiều ti u loại, việ xá định ranh giới rõ ràng tuyệt đối gi a các ti u th h t sức phức tạp Khi xem xét các tác phẩm trong
Trang 29từng trư ng hợp c th ũng ần lưu rằng ranh giới gi a các th không phải là tuyệt đối mà chúng có sự thâm nhập lẫn nhau
Ở Việt Nam, nh ng tác phẩm ký nổi ti ng ũng đã xuất hiện từ sớm
như Thượng kinh ký sự, ũ trung tùy bút Nh ng nă 1930-1945 chứng ki n
sự phát tri n mạnh của các tác phẩm phóng sự vi t về các tệ nạn xã hội, mà
Ngô Tất Tố (với Việc làng, Tập n i đình), Nguyễn Đ nh ạp với Ngõ
hẻm ngoại ô, Tam Lang với Tôi kéo xe, ũ Trọng Ph ng với Vỡ đê, v.v… l
nh ng nh văn tiêu i u
Tr ng văn học cách mạng, loại th ký bắt đầu từ sáng tác của Nguyễn
Ái Quốc nh ng nă 20 ủa th kỷ 20 Sau Cách mạng Tháng Tá đ n nay
có nhiều tác phẩm ký có giá trị nhất định như Truyện và ký sự của Trần Đăng, Ở rừng của Nam Cao, Ký sự Cao Lạng của Nguyễn uy Tưởng, Vỡ
tỉnh của Tô Hoài, Sống như nh của Trần Đ nh n, gười mẹ cầm súng
của Nguyễn Đ nh Thi, Những ngày nổi giận của Ch Lan Viên, Họ sống và
chiến đấu của Nguyễn Khải, Đường lớn của Bùi Hi n, Miền đất lửa của
Nguyễn Sinh v ũ n, Rất nhiều ánh lửa của Hoàng Phủ Ngọ Tư ng,
Quê hương tôi a Tràng Thiên, v.v…
Từ th i đi đổi mới đ n nay, theo Lý Hoài Thu, “ vẫn l th l ại nhạy ả nhất trướ nh ng vấn đề th i sự xã hội Sứ ạnh ủa th
h nh l sứ sống nội tại ủa nguyên ẫu hiện thự ản th n quy luật vận động ủa đ i sống đã lựa họn h nh văn nh ng n ngư i, nh ng sự việ ang t nh đi n h nh Th ả hóa l ng ngư i, ang đ n nhận thứ v
niề tin h độ giả từ nh ng "người thật việ thật" ấy ới tư tưởng d n
hủ ạnh ẽ, với tinh thần sẵn s ng "dấn thân", nhập uộ , đã trở th nh
th l ại tiên ph ng nhất ủa d ng văn họ th i ỳ đổi ới, trên ơ sở t n
trọng hiện thự há h quan (t nh xá thự ủa đối tượng "người thật việ
thật"), đã góp phần đắ lự v việ phản ánh trung thự nh ng vấn đề
ứ xú , nóng hổi nhất ủa đ i sống h ng ng y hả sát sự vận động ủa
á th văn họ tr ng hai thập niên qua, ngư i ta thấy nổi lên h ng đầu 2
Trang 30th tiêu i u: phóng sự xã hội ở th i đ ạn đầu v hồi văn họ ở th i đ ạn
sau Phóng sự vốn đượ xe như ột th l ại trung gian gi a văn họ v
á h h ng nă đầu th i ỳ đổi ới, á h l ột phương tiện th ng tin ó hả năng huy n tải nhanh nhất nh ng vấn đề nóng hổi ủa th i sự xã
hội Tr ng lú á th l ại há ần th i gian đ "tư duy" v nghiền ngẫ
th phóng sự x ng xá ti n v hiện thự ới t nh nhạy én, há h quan, ngay từ nh ng ướ đột phá đầu tiên, phóng sự đã g y đượ ti ng vang lớn… giai đ ạn n y an đả , thẳng thắn nh n v nh ng ặt trái ủa đ i
sống xã hội với a nhiêu huyện đ i ngang trái, é le "C i đêm hôm ấy
đêm gì" - Ph ng ia ộ , " gười đàn bà quì" - Trần hắ , "Câu huyện về
m t ông vu lốp" - Nhật inh, " gười l ng th ng hông ô đơn" - Minh
Chuyên, " ời h i bị n" - Trần uy Quang, "Suy nghĩ trên đường làng" -
g gọ ội đều l nh ng hồi hu ng thứ tỉnh nh n t , tạ ra nh ng phản ứng t h ự tr ng dư luận xã hội v đáp ứng ột á h ịp th i tinh
thần "đổi mới tư duy", "đổi mới h nhìn người, nhìn sự việ " ủa nh ng
nă đầu th i ỳ huy n hướng iọng điệu ủa phóng sự thư ng ang t nh
há h quan a gư i vi t phóng sự thư ng giấu nh đ h n số, hi
ti t, sự việ , nh n hứng lên ti ng ằng á h ấy, phóng sự đưa đ n h độ giả ột niề tin gần như tuyệt đối v sự trung thự ủa ng i út nh văn…
Từ nh ng hiện tượng ó thật ủa đ i sống, phóng sự tr ng nh ng nă đầu
ủa th i ỳ đổi ới l luồng gió ạnh ang the nhiệt t ủa nh ng ngư i ầ út, xua đi tất ả nh ng g u á , nặng nề, ả thủ, tr trệ, góp phần lập lại sự ng ằng d n hủ h đ i sống xã hội a hơn h t l phải
tr n trọng n ngư i, h ng dung tha nh ng th lự lộng h nh h đạp lên
uộ sống v nh n phẩ n ngư i Đó l nghĩa xã hội, giá trị nh n văn lớn nhất á y út phóng sự đã góp v th nh tựu hung ủa văn xu i giai đ ạn n y
ng với tư tưởng đổi ới nhất quán tr ng ọi lĩnh vự h ạt động
ủa đ i sống xã hội, nh ng nă vừa qua ũng l th i ỳ nh n nhận, định vị
Trang 31lại nhiều giá trị văn hương ũ h ng phải ngẫu nhiên nh ng nă uối
thập ỷ 90, trên văn đ n xuất hiện nhiều tá phẩ hồi , bút ký ủa á nh
văn, tạ nên ột ảng sinh động ủa đ i sống văn họ ó th nói ngay rằng trướ đó l hưa th ó hiều sự iện văn họ tr ng quá hứ, nhiều số
phận văn hương đượ tái dựng the ột á h nh n ới "Từ bến sông
Thương" - Anh Thơ, "C t bụi hân i", "Chiều hiều" - Tô Hoài, "Chân dung và đối thoại" - Trần Đăng h a, " ị gi o sư và ẩn sĩ đường", " lần đến nướ Mỹ" - inh Đứ , " hớ lại m t thời" - Tố u đều l nh ng
tá phẩ tạ đượ ấn tượng ạnh… g i nh ng th nh ng h ng phủ nhận đượ ủa á tá phẩ hồi , ột i họ thấ th a h ngư i ầ
út l phải h t sứ trung thự , tuyệt đối h ng đượ ịa đặt, thê thắt Đó l
ột định lệ nghệ thuật ắt uộ ngư i vi t phải tu n thủ, n u h ng tá phẩ sẽ ất đi rất nhiều giá trị… ng với sứ ạnh ủa á h , văn
họ ũng ng y ỗi hiện đại hơn Thi pháp th l ại ũng ó nhiều t tòi
g i hả năng t hợp tư duy l g h với tư duy h nh tượng, giọng điệu sắ
én, tỉnh tá ên giọng tr t nh, thuy t inh hiện đại đ i hỏi ột lối
vi t ạ h lạ , gọn v đặ iệt l nhiều h lượng th ng tin
g i á nh văn tên tuổi, rất đ ng đả ột lự lượng á y út trẻ đang trưởng th nh v ướ đầu hẳng định ph ng á h ủa nh như ăn hinh, Xu n a, guyễn iệt hi n, uỳnh ũng h n, Lý Lan
1.2.2 Ký Lý Lan
Lý Lan đã có bảy tập ký được xuất bản, gồm:
Chân dung người Hoa (1994) Sài Gòn, Chợ Lớn rong hơi (1998) Khi nhà v n hó (1999)
Dặm đường lang thang (1999) Miên man tùy bút (2007) Bày tỏ tình yêu (2009)
Ở ngưỡng cửa cu đời (2010)
Trang 32Trong ký, Lý Lan th hiện một sự trải nghiệm và vốn văn hóa s u rộng, khả năng nhạy cảm nắm bắt cái hồn của các hiện tượng đ i sống, giọng điệu tâm tình và nh ng suy tưởng bất ng Có th thấy nh ng điều đó qua nh ng
tác phẩ đặc sắ như: Ăn h o Tiều, Sài Gòn về sáng, Tiệm chạp phô, M t
góc phố Tàu, Kẹo ú bà H i, Dân ngã tư… vi t kí với cách vi t dung dị,
hướng đ n số đ ng độc giả bằng ki u k chuyện miên man cảm xúc, chân thật v gi u suy nghĩ về đ i sống h văn sử d ng cách quan sát hiện thực với cái nhìn như l của một ký giả, quan tâm sâu sắ đ n nh ng hình ảnh
bình dị trong cuộc sống đ i thư ng Đọc Sài Gòn, Chợ Lớn rong hơi,
Dặm đường lang thang và Miên man tùy bút, ngư i đọc bị dẫn the ước
chân lang thang của nh văn đi dọc theo chiều d i đất nướ sang đ n tận tr i
T y xa x i đ khám phá nh ng vẻ đẹp văn hóa, n ngư i và hiện thực cuộc sống sống động Cây bút n này với th mạnh riêng l a tư ng về ngư i Hoa nên nh ng kí sự về ngư i Hoa là nh ng trang văn đặc sắc, có th nói là
hi m hoi trong việc khắc họa về cộng đồng n y h văn họn đề t i ngư i Hoa xuất phát từ thực t cuộc sống của nh văn v từ nỗi niềm hoài cố
hương s u lắng Lý Lan vi t về “M t góc phố Tàu”, về ngư i Hoa ở Sài Gòn, Chợ Lớn giàu bản sắ văn hóa từ ón “ n h o Tiều”, nghệ thuật “múa lân” ngày t t, buổi đầu xuân vi t “bút tích ngày vui”, về á địa danh chùa Ông,
chùa Bà, về Chợ á v é Sán h đ n các sinh hoạt đ i thư ng của ngư i Hoa Chinatown với Lý Lan là chốn bình yên với nh ng ngư i Hoa
la động bình dân lặng lẽ, âm thầm sinh sống trong các con hẻm nhỏ như
“ ái phễu”, l nh ng ngư i Hoa họ hàng nhọc nhằn ki m sống ở tận chân
tr i ph a ên ia đại dương, l nh ng sinh hoạt đ i thư ng há đặc thù của
họ ở “tiệ nướ ”, “tiệm chạp ph ”, từ “ huyện l ăn”, u n án inh
d anh h đ n phong t c tập quán trên v ng đất mới mà họ chọn làm quê
hương thứ hai Chẳng hạn, trong tác phẩm Ăn h o Tiều, với m đ h
câu chuyện về ngư i thân, về món cháo truyền thống của ngư i Hoa nghèo gốc Triều Châu, Phúc Ki n, Lý Lan lại đưa ngư i đọ đ n với nh ng liên
Trang 33tưởng bất ng : “T i phải mất hơn a ươi nă ới thấm thía h t cái ngon
của một hén há ăn với củ cải muối vào buổi sáng tinh ơ…” (Ăn há
Tiều) Cháo là cháo trắng đượ “nấu vừa chín, hột gạo còn nguyên, chỉ hơi
mề hơn ơ ột hút” được ông c thân sinh của nh văn ăn đều đặn mỗi buổi sáng kèm với các loại thứ ăn ặn như “ ủ cải muối, đậu muối, hột vịt
muối…” và l i giải thích ngắn gọn “ăn nhẹ b ng, dễ tiêu”, lại hàm chứa bao
ẩn ý sâu sắc về giá trị cuộc sống và tri t lý của cả một đ i ngư i mà không phải ai ũng dễ dàng hi u được
Trong Miên man tùy bút, nh văn vi t với cảm xúc rất thật, gần như l
tự truyện, hướng độc giả say sưa lang thang the đ i h n trần của nh ng ngư i thân và của h nh an đi hắp các nẻ đư ng từ miền quê ngoại lên Sài Gòn ki m sống rồi sang tận nước Mỹ Bằng hình thứ “ iên an” tự
do cảm xúc, Lý Lan th hiện khả năng quan sát, ghi nhận đ i sống sâu sắc
cả về diện lẫn về đi h văn ó dịp trình bày nh ng mối quan tâm xã hội của mình từ giáo d , đ i sống h đ n đổi mới xã hội Đặc biệt với ngư i bình dân, Lý Lan quan sát họ ở gó độ vừa cận cảnh vừa viễn cảnh với mong muốn góp một ti ng nói, gióng một l i cảnh báo với xã hội về tương
lai đất nước Từ Thư mù xuân vi t cho trẻ em bất hạnh, mồ i, ơ nhỡ, từ
ái nh n “d n ngã tư” y iện cả cuộ đ i trên vỉa hè ch đ n việc quan sát
nh ng “gánh h ng r ng” ó ặt khắp nơi từ nông thôn ra thành thị, nh văn đều th hiện sự chia sẻ và thông cả h n th nh đối với đ i sống ngư i dân
la động nghè Đổi mới xã hội, theo Lý Lan cần thi t phải hă l đ i sống cho phần đ ng nh ng ngư i la động nghèo có cuộc sống bấp bênh
Riêng tập Khi nhà v n hó l h n dung văn học khá thành công của
Lý Lan khi miêu tả nh ng văn nghệ sĩ tr ng giới và nhìn nhận về nghề văn
nh đang the đuổi Ở đ y, nh văn vừa bộc lộ khả năng hắc họa chân dung các nhân vật thật sinh động vừa th hiện cách cảm nhận văn hương sâu sắc bằng ki n thức sâu rộng, bằng trực giác nhạy bén và giàu n tính của
nh h n dung á nh văn lã th nh như Phương Đ i, Sơn a , Trang
Trang 34Th y, giá sư ương Thiệu Tống, nghệ sĩ Ph ng á h đ n các bạn văn
“ ng lứa của th i đó” như Thanh guyên, ưu Thị ương, guyễn Thị Minh Ngọ , a ũ uy iên, ư Thị Hoàn, Lê Thị Kim và cả lớp nhà văn trẻ sau nh như guyễn Thị Châu Giang, qua ngòi bút Lý Lan trở nên thật rõ nét Mỗi ngư i một câu chuyện, một t nh á h, nh văn đã phát huy
sở trư ng quan sát tinh t , ghi nhận và lựa chọn nh ng chi ti t há đắt đ tạo
ra nh ng h n dung văn nghệ sĩ è ạn vừa gần gũi vừa sinh động Chẳng hạn, một Nguyễn Thị Minh Ngọc rất nghệ sỹ song sống h t mự nghĩa t nh
trong gười đóng nhiều vai Minh Ngọ , nh văn, đạo diễn sân khấu ngay
tr ng đ i thư ng đã vi t một kịch bản, l đạo diễn và tự bi u diễn thật
đáng yêu tr ng “b dạng rất ngầu, chống nạnh niễng m t vai” [44, 64], đi
đ i tiền dưa h ột em bé trên tàu lửa Nghệ sĩ Ph ng á l h n dung ột
đ ngư i Hoa, ca Quảng, có cuộ đ i sóng gió, nhọc nhằn the đuổi nghiệp cầm ca trọn vẹn mà cuối đ i vẫn đau đáu ột tấ l ng v ngư i khác
“ngư i ta sống ó ái nh , ngư i nghệ sĩ sống chỉ có sân khấu” [44, 140] Ngoài ra, Lý Lan còn có nh ng trang phê bình bi u cảm và thuy t ph c khi
đọ văn xu i ủa ăn S , nh guyên ộc, các cây bút n , các nhà văn na vi t về ph n … ề nghề văn, an ộc lộ nh ng trăn trở nghề
nghiệp rất thật nghe sa xót xa: “Tuổi già Sơn m hông hề nghỉ ngơi,
vì lòng còn tha thiết cầu học, vì muốn tìm hiểu đề tài vô cùng tận là đồng bằng Nam B , vì sức sáng tạo vẫn dồi dào, hay chỉ vì mưu sinh?” [44;16];
hoặ h nh nh, đ đe đuổi nghề văn, ó ột th i an đã “Chịu khó
dạy nhiều “ u ” để có thể dành dụm hút đỉnh để làm chuyện tào l o như làm v n hương” [44, 77] hư vậy, Lý Lan phần n đã giải bày tâm sự
của nh ng ngư i cầm bút ở xứ sở n y l đ the đuổi văn hương sống thuần được với nghề, mỗi nh văn ũng phải nhọc nhằn thân phận bi t bao
Chân dung người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh (1994) là tập đầy
đặn về nh ng ngư i Hoa làm cách mạng trong th i kỳ miền Nam chống Mỹ Chân dung các nhân vật g iên, Đặng Hoán Bổn, Phùng Ngọ Anh…
Trang 35được dựng lên như ột bứ tranh sinh động về nh ng ngư i a yêu nước, gắn bó máu thịt cuộ đ i mình với thành phố S i n, nơi họ đã t đ n
ưu sinh v họn l quê hương i t về họ, bằng phương pháp phỏng vấn trực ti p, thu thập cứ liệu lịch sử, Lý Lan còn vi t bằng lòng thi t tha và mong muốn “ ở một cánh cửa” đ các dân tộc gắn bó bền chặt hơn v sự nghiệp hung h văn đã l đượ điều đó há thuy t ph c trong việc dựng lại bối cảnh v ng đ thị S i n trước giải phóng, chân dung các nhân vật chân thật từ l i ăn ti ng nói đ n t l , h nh động Tập ký này là một
ướ đệ đ về sau nh văn x y dựng th nh ng h n dung ngư i Hoa
trong truyện ngắn Đất khách và ti u thuy t Lệ Mai
Tóm lại, giá trị của ký Lý Lan là ở nh ng suy nghĩ th trầm sâu sắc rút ra từ nh ng sự việ nh thư ng, tưởng như rất riêng tư Từ nh ng trang văn ă ắp hơi thở của đ i thư ng, nh văn ộc lộ nh ng cảm nhận của mình
về thân phận n ngư i, về văn hóa lịch sử của dân tộc và sự hướng thiện của mỗi cá nhân Chính điều này tạo cho ký của bà sức sống lâu bền trong
l ng ngư i đọ h n hung, văn xu i ủa an đ n hậu, dung dị, tự nhiên và dễ đọc
Có th nói, ký là phần quan trọng làm nên bộ mặt ph ng á h văn hương an Lý Lan vi t ký, vi t tạp văn như ột ngư i đ n đằm thắm, sắc sả đang rủ rỉ nói chuyện Có khi, trên nh ng trang vi t, ta thấy một đ i ắt ơ ng xa xă với nh ng hoài niệ thơ é về ngư i bà nhân hậu, ngư i cha tần tảo, về nh ng nă tháng họ tr thơ ộng Có khi ta nghe thấy ti ng thầm thì nhè nhẹ như ột l i tâm sự lúc nửa đê , ó th là với đứa con bé bỏng sắp ước vào lớp một, hay với cô học trò sắp đi qua ngưỡng cửa của tuổi mộng ơ… h d an ũng ó nh ng câu chuyện của đ i sống đang vang động ngoài kia với nh ng âm thanh khẩn trương gấp gáp hay k về Sài Gòn, Chợ Lớn phồn hoa nhộn nhịp kẻ án ngư i mua thì giọng điệu nhìn chung vẫn tự nhiên, nhỏ nhẹ Có lẽ bởi th mà ở ký của Lý Lan, tính tr tình trở thành một đặ trưng ngang ằng với tính chính luận,
Trang 36thậm chí là lấn át Nh ng vấn đề đượ an đặt ra trong ký của mình ít khi là nh ng vấn đề xã hội mang tính khẩn thi t, bức bách Nói chung, Lý
an h ng hướng ngòi bút của mình vào nh ng vấn đề nóng hổi của dư luận
xã hội (khác với Nguyễn Việt Hà, Thảo Hảo, Nguyễn Khải… hay với một cây bút n Nam Bộ khác là Nguyễn Ngọ Tư h ng vấn đề của đ i sống rất thư ng t nh đã ước vào ký Lý Lan một cách bình dị, tự nhiên, tạ được
sự chú ý của độc giả an đã i t cách làm cho thú vị ngay cả nh ng vấn
đề gần gũi, tưởng như ai ũng i t Từ nh ng gánh hang rong quen thuộc
trên nh ng nẻ đư ng phố xá đ thị (G nh hàng rong,Qu ng g nh đường
xa) đ n gu quần áo, đầu tóc của các bà các cô th i hiện đại; từ nh ng suy
ngẫm về văn hóa xe máy đ n văn hóa nón chào h ng… Đó đ y, trong nh ng tạp văn vi t về nghề giáo, Lý Lan ũng đưa ra một số vấn đề hệ trọng của giáo d c, giọng văn đầy ưu tư và trăn trở
Bên cạnh sự nhìn nhận, khám phá nh ng mảng sáng tối của cuộc sống hiện tại, ký Lý Lan còn có hồi ức miên man về một th giới xa v i của quá khứ Nh ng hoài niệm về ngư i bà cô độc, nhân hậu, về ngư i cha vất vả, tảo tần, về tuổi thơ mất mát và thi u thốn, tuổi học trò ơ mộng hay quãng
th i gian mới ước chân vào đ i, vào nghề với nh ng lý tưởng, hoài bão, buồn vui…, tất cả đều lung linh cảm động Có khi quá khứ hiện lên trong sự đối lập với hiện tại như nh ng giá trị đẹp đẽ đã mai một và bi n mất theo
th i gian (Có m t con suối, Du khách về làng); có khi quá khứ trỏ thành nỗi
ám ảnh khôn nguôi bởi nó gắn với nh ng gì thân thương, tha thi t và thiêng
liêng nhất (kí ức về bà ngoại, về cô giáo Thuận, về ngư i cha trong Miên
man tùy bút) Quá khứ thư ng được gợi nhắc từ một sự kiện của hiện tại (kí
ức về ngôi trư ng nghèo ở Cần Giuộc đã hiện về khi một ngư i bạn nh tác
giả vi t nột bài về trư ng Minh Khai trong Miên man tùy bút) hay đồng
hành cùng hiện tại (kí ức về ngư i cha trong bài vi t về nh ng ngư i bán rong, kí ức về nh ng nă tháng thơ ấu mất mát khó hăn trong bài vi t về
đê Trung thu Đốt đèn đi hơi … Không đơn thuần là quá khứ được chứng
Trang 37ki n và trải qua, kí ức trong ký Lý Lan còn là kí ức được k lại Kí ức của ngư i cha - di dân hay kí ức chung của một bộ phận tộc ngư i Hoa di dân sang Việt Nam được Lý Lan làm sống dậy trong nh ng câu chuyện, trong
đó ngư i đọc cảm nhận được nỗi ám ảnh về một “th n phận ép” của chính tác giả: “Th n phận của nh ng con ngư i tuy được sinh ra và lớn lên ở Việt Nam nhưng trong nhà vẫn gi phong t c tập quán ngư i Hoa, nói ti ng Hoa, học trư ng ch Hoa, sau đó học thêm ch Việt, cùng chìm nổi theo vận mệnh đất nước Việt”, nh ng con ngư i tuy “ thức ông cha mình là “từng nấng” nhưng quê hương mình là Việt a ” [46, 200] Nh ng mảnh vỡ của quá khứ với nỗi hoài niệm man mác buồn đã góp phần làm nên chất tr tình đặc biệt trong tản văn, tạp văn, tùy bút – và nói chung là ký Lý Lan
Cũng có th gọi Lý Lan là nhà văn của đ thị Sài Gòn, Nam Bộ Ký Lý Lan cho ta thấy được tấm lòng và sự gắn bó sâu sắc của nhà văn với Sài Gòn nói riêng, Nam Bộ nói chung, và điều quan trọng hơn, cho ta thấy được
nh ng nhận thức, phản ánh và đánh giá của bà về văn hóa nơi đ y
Trang 38Chương 2 VĂN HO SÀI GÒN, NAM BỘ TRONG NHẬN THỨC PHẢN NH CỦA AN
2.1 Cơ ở hiện thực của ăn h á S i G n - Nam Bộ trong ký Lý Lan
2.1.1 a
Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ
từ khi Việt a gi nh được độc lập v nă 1945 Nam Bộ là một trong ba vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ)
ơn 300 nă về trướ , nă 1698, guyễn H u Cảnh vâng theo chỉ d của
Chúa Nguyễn v a inh lược “Lấy đất Nông Nại làm phủ ia Định, lập
xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn
làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn”, chính thức thành lập chính quyền cai trị và xác lập chủ quyền trên mảnh đất n y ũng từ đó lưu
d n đ n đ y hai hẩn ng y ng đ ng đú , á phố thị , dinh thự, kho tàng, mọc ngày càng nhiều, Sài Gòn trở th nh trung t h nh hánh, ư
ng , thương ại khá quan trọng ngay từ buổi đầu lập quyền cai trị chính qui
Sang đ n các th kỷ XIX, XX, Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh)
đựơ xe l “ n gọc Viễn Đ ng” với dáng dấp của đ thị hiện đại, sầm
uất, năng động, kinh t phát tri n nhanh và mạnh, l đi đ n của nhiều du khách trên th giới ăn h á S i n - thành phố Hồ Chí Minh là k t tinh thành quả sáng tạo không mệt mỏi, không ti áu xương ủa bao th hệ lưu d n hẩn hoang k từ hi đặt chân mở cõi trên mảnh đất này từ hơn 300
nă qua, i n th nh v ng đất hoang ngày nào nay thành giàu có, trù phú và
là một trung tâm kinh t - văn h á - giáo d c của cả nước Mảnh đất lành
n y l nơi ó sự gặp gỡ trọn vẹn và diễn ra sự gia th a văn h á ủa 4 cộng đồng dân tộc Việt, a, hă , hơ-me tiêu bi u cho cả Nam bộ, tr ng đó ngư i Việt là chủ th chính
Trang 39ng văn h á a ộ a gồ địa n 19 tỉnh th nh: Đồng ai,
nh ương, nh Phướ , T y inh, Rịa - ũng T u, th nh phố ồ h inh, ng An, Tiền iang, n Tre, ĩnh ng, Tr inh, Đồng Tháp,
TP ần Thơ, ậu iang, Só Trăng, An iang, iên iang, ạ iêu, Mau Theo Lý Ti u ng, ó th hia th nh a ti u v ng văn h á: Ti u
v ng Đ ng a ộ, ti u v ng T y a ộ, v ti u v ng S i n nh thành trên một v ng đồng ằng s ng nướ v trên ột v ng đất đa tộ ngư i, văn h á a ộ ó hai đặ trưng hủ đạo là đặ trưng đồng bằng
s ng nước và sự ti p bi n các y u tố văn h á ủa ngư i hă , ngư i Khmer, ngư i a v văn h á iệt trong vùng Chỉ ở Nam Bộ y u tố s ng nước mới nổi lên thành một đặ trưng hủ đạo, chi phối toàn diện cuộc sống ũng như á th nh tố văn h á ủa các cộng đồng ư d n
2.1.2 M t số ét đặ t ư p ổ quát của a a
điều kiện địa l đặc thù, nên cách thức hoạt động sản xuất của ư
d n trên v ng đất phì nhiêu rộng lớn này ang đặ trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng th i ũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền
há … h nên, h ng ở đ u ó nhiều từ ng đ chỉ các loại hình và hoạt động s ng nướ như ở vùng này: sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, ngọn, rọc, tắt, ương, rãnh, a , hồ, đ a, h , láng, lung, ưng, iền, đầ , đ a, trấp, vũng, trũng, g nh, xáng, vịnh, u ; nước lớn, nướ r ng, nướ đứng, nước nhửng, nướ r ng, nước rặ , nướ lên, nước xuống, nước nhảy, nước ch p, nướ rút, nước nổi, nước l t, nước lềnh, nước cạn, nước xi t, nước xoáy, nướ ngượ , nướ xu i S ng nướ đã trở thành một y u tố cấu th nh đặc trưng ủa văn h á nơi đ y ũng h nh v th , ở Nam Bộ có rất nhiều chợ nổi: Chợ nổi Long Xuyên (An Giang), Chợ nổi ái Răng (Cần Thơ , hợ nổi Ph ng Hiệp (Hậu Giang) Chợ nổi đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá rất đặc thù của miền T y s ng nướ …
Nam Bộ ũng l v ng đất phong phú về t n ngưỡng t n giá ăn họ , nghệ thuật ũng vậy Kho tàng văn họ , văn nghệ dân gian thật phong phú
Trang 40với các truyện dân gian, ca dao, dân ca, á điệu h , điệu lý, các bài hát huê
t nh, hát ru e , hát đồng dao, hát sắc bùa, hát thài, hát rối, hát vọng cổ, hát
tài tử, á điệu nói vè, nói tuồng, nói thơ, v.v… a ộ ũng l nơi ó
nh ng thi đ n, thi xã như Ta đ n hiêu Anh á , nh ương Thi xã,
Bạ h ai Thi xã, " ia Định tam gia" (Trịnh i Đứ , ê Quang Định,
g h n Tĩnh ăn hóa ẩm thực, y ph , đi lại của ngư i Việt Nam Bộ ũng h t sứ độ đá
h ng gian văn h á a ộ là phần mở rộng của h ng gian văn hoá Việt Nam trên một v ng đất mới Chung tay khai phá với ngư i bản địa còn có các tộ ngư i di d n, ngư i h er, ngư i Hoa
2.2 Văn h á đ thị S i G n – Nam Bộ trong ký Lý Lan
2.2.1 a đô t ị được nhìn từ mặt sáng, tích cực
Gắn bó với Sài Gòn – Chợ Lớn ngay từ nhỏ, từng ơ ước về nó
(trong Có m t con suối, ở Đốt đèn đi hơi), Lý Lan vi t về Sài Gòn – Chợ
Lớn bằng nh ng gì gần gũi, dung dị v th n thương nhất Đấy là S i n với nh ng hợ, nh ng trung t , nh ng n hẻ , n đư ng, nh ng ngã a, ngã tư ; S i n với nh ng ón ăn, “thú r ng hơi”; S i n ủa h qua,
v h nay (hiện tại ; S i n với văn h á sinh h ạt, ứng xử ủa n ngư i Nam Bộ, ngư i a v ngư i nhập ư từ nhiều nơi Đấy Sài Gòn với nh ng gánh hàng rong, nh ng chuy n xe xích lô trên từng nẻ đư ng phố thị cho
đ n thói quen ăn ặc, mua sắ , đi lại của dân Sài Gòn an đã đưa ra trước mắt ngư i đọc một bức tranh thành thị Sài Gòn với đủ các gam màu sáng, tối, tích cực, tiêu cực, vừa đậm tính hiện thực, vừa tr tình, lãng mạn
Sài Gòn hiện lên trong ký Lý Lan với nh ng ng i h a độ đá ,
nh ng con phố chằng chịt đầy âm thanh, nh ng con hẻm nhỏ, nh ng quán bán hành tỏi, rau cải, nh ng cái chợ, nh ng hàng hủ ti u, quán cháo Tiều không phải ai ũng i t Ăn há Tiều là một nét văn hóa ăn uống rất đặc trưng ủa ngư i Tiều: “ há trắng, nấu vừa chín, hột gạo còn nguyên, chỉ hơi ề hơn hột ơ ột hút, nước xâm xấp Kèm theo món cháo kinh