1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu ấn văn hóa xứ nghệ trong thơ nguyễn bùi vợi

91 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dấu ấn văn hóa xứ nghệ trong thơ Nguyễn Bùi Vợi
Tác giả Nguyễn Thị Tâm
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Lịch sử vấn đề (5)
  • 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (9)
  • 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát (9)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • 6. Cấu trúc luận văn (10)
  • Chương 1. NGUYỄN BÙI VỢI - ĐỜI VÀ THƠ (11)
    • 1.1. Cuộc đời Nguyễn Bùi Vợi (11)
      • 1.1.1. Quê hương và gia đình (11)
      • 1.1.2. Những trải nghiệm cuộc đời (12)
      • 1.1.3. Những phẩm cách cá nhân (14)
    • 1.2. Đời thơ Nguyễn Bùi Vợi (17)
      • 1.2.1. Quá trình sáng tác (17)
      • 1.2.2. Những đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Bùi Vợi (21)
  • Chương 2. DẤU ẤN VĂN HOÁ XỨ NGHỆ TRONG CÁI TÔI TRỮ TÌNH NGUYỄN BÙI VỢI (30)
    • 2.1. Giới thuyết khái niệm cái tôi trữ tình (30)
    • 2.2. Cốt cách, tâm hồn xứ Nghệ trong cái tôi trữ tình Nguyễn Bùi Vợi (31)
      • 2.2.1. Sự bộc trực, thẳng thắn (31)
      • 2.2.2. Sự đằm thắm, mặn mà (33)
      • 2.2.3. Sự mộc mạc, giản dị (37)
      • 2.2.4. Nhân hậu, nghĩa tình (40)
    • 2.3. Tình yêu xứ nghệ một dòng cảm hứng trong thơ Nguyễn Bùi Vợi (45)
      • 2.3.1. Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên xứ nghệ (45)
      • 2.3.2. Tự hào về con người Nghệ (47)
      • 2.3.3. Tự hào về văn hoá xứ Nghệ (54)
      • 3.1.2. Âm hưởng dặm vè trong thơ Nguyễn Bùi Vợi (64)
      • 3.1.3. Thơ năm chữ - một hình thức thơ mang đậm dấu ấn dặm vè (68)
    • 3.2. Chất Nghệ trong ngôn ngữ thơ (71)
      • 3.2.1. Dung nạp nhiều từ địa phương xứ Nghệ (71)
      • 3.2.2. Sử dụng nhiều danh từ chỉ địa danh, văn hóa xứ Nghệ (75)
      • 3.2.3. Sử dụng lối nói Nghệ trong kiến trúc câu thơ (78)
  • KẾT LUẬN (85)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (87)

Nội dung

Nguyễn Khắc Xương trong bài Vợi và Tôi - Tôi và Vợi đã nhận xét về thơ Nguyễn Bùi Vợi: “Thơ Nguyễn Bùi Vợi là thơ giữa đời thường, là thơ của đời thường được cảm nhận và viết ra bởi mộ

Lịch sử vấn đề

Trong lịch sử thơ ca hiện đại Việt Nam, thơ Nguyễn Bùi Vợi nổi bật với những đặc trưng độc đáo và không thể nhầm lẫn Quang Huy nhận xét rằng thơ của ông phản ánh đa dạng cuộc sống, từ những nỗi niềm trắc ẩn đến những câu chuyện anh hùng Trần Lê Văn cũng khẳng định rằng ngòi bút của Nguyễn Bùi Vợi sắc bén, tìm nguồn cảm hứng từ tâm hồn đối với cuộc đời và con người Tuyển tập thơ của ông được đánh giá là chân thực, sâu sắc và đầy cảm xúc, thể hiện một phong cách thơ riêng biệt Nguyễn Bùi Vợi sống với nghị lực và chân tình, vượt qua những hiểu lầm của cuộc đời, điều này càng làm cho thơ của ông có chiều sâu và sự lạc quan, tin yêu vào cuộc sống.

Thơ Nguyễn Bùi Vợi được nhận xét là "thơ giữa đời thường", phản ánh tâm hồn đôn hậu và giản dị của tác giả Văn Chinh trong bài viết "Vĩnh biệt tác giả Qua Thậm Thình" đã mô tả thơ ông với "chất giọng tráng ca" và sự kết hợp giữa sự bồng bột, dại khờ với những khoảnh khắc đằm thắm Ngoài những phân tích về phong cách tổng thể, còn có những bài viết tập trung vào các tác phẩm đặc sắc, thể hiện dấu ấn riêng của Nguyễn Bùi Vợi, như bài thơ "Tiếng Nghệ".

Lê Xuân nhận định rằng bài thơ của Nguyễn Bùi Vợi thể hiện sâu sắc tình yêu quê hương và tiếng mẹ đẻ Ông cho rằng tình yêu quê hương của tác giả rất tha thiết, đặc biệt là tình yêu dành cho tiếng Nghệ và tiếng Việt Bài thơ "Tiếng Nghệ" chính là phần máu thịt của Nguyễn Bùi Vợi, thể hiện sự gắn bó chặt chẽ với quê hương.

[76] Cũng theo hướng đó, Minh Quang, khi bình bài thơ Ngày em xa của

Nguyễn Bùi Vợi đã để lại ấn tượng sâu sắc với bài thơ "Ngày em xa", mà theo tác giả Nguyễn Ngọc Phú, đã được ghi nhớ trong tâm trí từ hơn một thập niên qua Bài thơ không chỉ được giới thiệu rộng rãi trên nhiều báo và tuyển thơ, mà còn mang đến sức truyền cảm mạnh mẽ, khiến người đọc dễ dàng nhập tâm và khó quên Mỗi lần đọc, người thưởng thức đều cảm nhận được hương vị đậm đà và ngọt ngào mà tác phẩm mang lại.

Bài thơ "Qua Thậm Thình" của Nguyễn Bùi Vợi thể hiện sự giản dị nhưng sâu sắc, với nhịp điệu chày giã gạo tạo nên cảm xúc dạt dào về cội nguồn Tác phẩm gợi nhớ về quê hương, thể hiện nỗi nhớ nước non qua hàng nghìn năm Nguyễn Bùi Lam, người cùng quê hương, nhận xét rằng tình cảm của Nguyễn Bùi Vợi dành cho quê hương là một món nợ, thể hiện sự gắn bó sâu sắc với nơi mình lớn lên và với giáo dục.

Nguyễn Bùi Vợi, trong những khoảnh khắc nửa mê nửa tỉnh tại bệnh viện, vẫn sáng tác hai bài thơ về quê hương, thể hiện nỗi nhớ quê mãnh liệt của ông Tính cách của ông, theo Hoàng Cát, là sự nhiệt huyết và hồn nhiên, điều hiếm có trong cuộc sống Đỗ Quang Vinh nhận định rằng thơ của Nguyễn Bùi Vợi phản ánh cái tôi của ông, với sự tỉ mỉ và cẩn trọng của một người thầy Lê Huy Mậu cũng nhấn mạnh mối quan hệ sâu sắc giữa Nguyễn Bùi Vợi và quê hương xứ Nghệ, cho rằng ông dễ xúc động và thường rưng rưng khi nhớ về quê Ông tự hào về tính cách người Nghệ, thường kể những câu chuyện thú vị và thể hiện sự mạnh mẽ trong thơ ca Những ý kiến từ công chúng và các nhà thơ cho thấy tình quê và chất Nghệ là dấu ấn đặc trưng trong phong cách thơ của Nguyễn Bùi Vợi.

Trong những năm gần đây, thơ của Nguyễn Bùi Vợi đã thu hút sự chú ý của nhiều nghiên cứu sinh, trở thành đối tượng chính cho các khoá luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ Hầu hết các đề tài nghiên cứu tập trung vào ngôn ngữ học, đặc biệt là việc phân tích các đặc điểm ngôn từ trong thơ của ông Một trong những nghiên cứu tiêu biểu là của Phạm Thị Hoa với đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Bùi Vợi".

Bùi Vợi đã nghiên cứu và giải mã thơ của Nguyễn Bùi Vợi từ góc độ ngôn ngữ học, tuy nhiên, do giới hạn của khoá luận tốt nghiệp đại học, tác giả chỉ có thể nêu ra những nét sơ lược về ngôn ngữ thơ của Nguyễn Bùi Vợi mà chưa đi sâu vào dấu ấn văn hóa xứ Nghệ Luận văn của Lương Thị với đề tài "Tìm hiểu thơ Nguyễn Bùi Vợi từ góc nhìn tư duy nghệ thuật" (2013) cũng góp phần vào việc phân tích này.

Tư duy nghệ thuật của thơ Nguyễn Bùi Vợi được Thu Hà chỉ ra với những đặc điểm nổi bật, thể hiện sự sáng tạo của một nhà thơ đời thường Nguyễn Hoài Nguyên cũng đã nhấn mạnh những yếu tố này trong bài viết của mình.

Nguyễn Bùi Vợi đã dành cả đời mình cho thơ ca, không ngừng rèn luyện để tạo ra những tác phẩm chạm đến trái tim người đọc, thể hiện hồn quê và tình người xứ Nghệ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy về ngôn ngữ thơ của ông cho thấy tác phẩm của Nguyễn Bùi Vợi mang đến một tâm hồn yêu thương và trách nhiệm, với ngôn ngữ mộc mạc, chân thành, phản ánh cuộc sống xung quanh Đặc biệt, chất Nghệ trong thơ ông tạo nên vẻ đẹp độc đáo, không thể nhầm lẫn Mặc dù nhiều ý kiến đã chỉ ra dấu ấn văn hóa xứ Nghệ trong thơ ông, nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề này.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát và phân tích những dấu ấn văn hóa xứ Nghệ trong thơ của Nguyễn Bùi Vợi.

3.2 Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất, chỉ ra được những đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Bùi Vợi trong bối cảnh thơ Việt Nam Hiện Đại

Thứ hai, khảo sát, phân tích chỉ ra những dấu ấn nổi bật của văn hóa xứ Nghệ trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Bùi Vợi

Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, như:

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại, miêu tả

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu.

Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương: Chương 1 Nguyễn Bùi Vợi - Đời và thơ

Chương 2 Dấu ấn văn hóa xứ Nghệ trong cái tôi trữ tình Nguyễn Bùi Vợi Chương 3 Dấu ấn văn hóa xứ Nghệ qua hình thức thơ Nguyễn Bùi Vợi

Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo.

NGUYỄN BÙI VỢI - ĐỜI VÀ THƠ

Cuộc đời Nguyễn Bùi Vợi

1.1.1 Quê hương và gia đình

Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, sinh ngày 5/11/1943 tại xóm Tràng Lân, thôn Thổ Sơn, xã Cát Ngạn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, lớn lên trong một vùng đất nghèo khó nhưng giàu truyền thống học hỏi Dù phải trải qua nhiều khó khăn như đất cằn sỏi đá, nắng mưa khắc nghiệt và bão lũ triền miên, quê hương vẫn là nguồn cảm hứng và điểm tựa tinh thần vững chắc cho ông, mang đến những kỷ niệm vui buồn sâu sắc trong cuộc sống.

Ông Nguyễn Bùi Vợi, từ nhỏ đã học tại trường tiểu học tư thục Thổ Sơn, một điều may mắn không phải trẻ em nào ở vùng quê nghèo cũng có được Vào những năm 1939-1940, thôn ông có trường do thầy Mai Xuân Châu thành lập, giúp ông thoát khỏi cuộc sống nghèo khó Sau khi hoàn thành tiểu học, ông tiếp tục học tại trường trung học tư thục Anh Sơn và các trường khác Trong thời gian dạy văn và tham gia tuyên truyền giảm tô, ông gặp nhà thơ Xuân Diệu, người đã khuyến khích ông sáng tác thơ Sau đó, ông được cử đi học tại Trung cấp Khoa học xã hội ở Nam Ninh, Trung Quốc, nơi ông đã sáng tác nhiều bài thơ và gửi về nước, một số bài đã được in trên báo.

Gia đình Nguyễn Bùi Vợi có truyền thống cách mạng, với cha ông tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và là đảng viên từ sớm Trong thời kỳ Mặt trận Bình dân, ông được giao nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho dân, nhưng đã phải chịu nhiều oan khuất trong cải cách ruộng đất Nguyễn Bùi Vợi nhớ lại: “Gia đình tôi là một gia đình nông dân giác ngộ cách mạng sớm.” Ông tích cực tham gia tuyên truyền, viết khẩu hiệu và làm thơ phản ánh nỗi khổ của người nông dân Tính cách cương trực và ngay thẳng của cha đã ảnh hưởng lớn đến ông, khiến ông sống trung thực, tự tin và quyết liệt trong việc bảo vệ lẽ phải Ông luôn cưu mang bạn bè, đặc biệt trong lúc hoạn nạn, và ghét những thói đời giả dối Tình cảm chân thành đã giúp ông có những người bạn tốt, thủy chung và trong sáng.

1.1.2 Những trải nghiệm cuộc đời

Nguyễn Bùi Vợi, sinh ra và lớn lên trong thời kỳ biến động của quê hương, đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hoàn cảnh lịch sử Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954, ông được cử sang Trung Quốc để học tập ngành khoa học xã hội Trong hồi ký, ông chia sẻ niềm vui sướng và tự hào khi được Đảng và Chính phủ gửi đi học, thể hiện ước mơ và khát vọng của những người con nông dân ba đời.

Ông Nguyễn Bùi Vợi từng học sinh và giáo viên, trải qua nhiều cấp học từ trung cấp tự nhiên đến khoa học cao cấp Sau khi trở về từ Trung Quốc vào tháng 6 năm 1956, ông làm việc tại trường Sư phạm Sơ cấp Hà Nội, nơi đào tạo giáo viên cấp I cho Miền Bắc Tại đây, ông đã gặp "nàng thơ" của đời mình, và mặc dù tình yêu của họ phải vượt qua nhiều định kiến xã hội, họ vẫn kết hôn và sống hạnh phúc bên nhau Từ năm 1957 đến 1971, ông chuyển đến Vĩnh Phúc để dạy học, và vào tháng 6 năm 1971, ông được điều động về Ty văn hoá làm biên tập thơ Công việc này đã mở ra cho ông một con đường mới trong sự nghiệp văn chương, nơi ông vừa sáng tác vừa biên tập thơ.

Năm 1972, Nguyễn Bùi Vợi được bổ nhiệm làm uỷ viên thư ký Ban vận động thành lập Hội văn nghệ Vĩnh Phú, và đến năm 1974, Hội văn nghệ Vĩnh Phú chính thức ra đời Vào tháng 8 năm 1976, ông chuyển về Ban văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam, đảm nhận vai trò biên tập viên chương trình Tiếng thơ, và đã có hai mươi năm cống hiến tại đài từ 1976.

Từ năm 1996, Nguyễn Bùi Vợi có cơ hội sống trọn vẹn với đam mê thơ ca sau khi nghỉ hưu từ Đài tiếng nói Việt Nam Ông được mời làm biên tập viên cho trang Văn hoá văn nghệ của báo Giáo dục và thời đại Trong giai đoạn từ 1996 đến 2000, ông đã tổ chức thành công cuộc thi thơ lục bát vào các năm 1997 và 1998 cho báo này.

Từ năm 2001, ông đã sống và viết tại Quàng Bá, Tây Hồ, Hà Nội Ngày 8 tháng 5 năm 2008, ông qua đời ở tuổi 76 do căn bệnh hiểm nghèo, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho gia đình, bạn bè và những người yêu thơ.

Nguyễn Bùi Vợi là một người có cuộc đời phong phú với nhiều trải nghiệm và nghề nghiệp, sống xa quê hơn 50 năm Ông gắn bó với công việc dạy văn và biên tập thơ, nơi ông chứng kiến nhiều cung bậc cảm xúc và hiểu biết sâu sắc về con người, cuộc sống và văn chương Công việc tại các trường trung cấp sư phạm và các cơ quan truyền thông đã giúp ông duy trì niềm đam mê văn chương, đồng thời tích lũy tri thức và kỹ năng Ông tin rằng nghề văn không chấp nhận sự lười biếng hay dối trá, mà luôn đòi hỏi sự trung thực với bản thân và cuộc sống Điều này thể hiện rõ trong những bài thơ giản dị nhưng sâu sắc của ông, thu hút người đọc bởi sự chân thành và thành thực.

Nguyễn Bùi Vợi, ngay cả trong những ngày cuối cùng trên giường bệnh, vẫn tiếp tục làm thơ, cho thấy rằng việc dạy, bình và sáng tác thơ đã trở thành một phần không thể tách rời trong cuộc sống của ông Thành công của ông được xây dựng từ niềm đam mê và những trải nghiệm phong phú, giúp ông nhận ra rằng sự chân thực và thành tâm là những giá trị bền vững nhất Ông tin rằng thơ phải phản ánh thực tế cuộc sống, chỉ khi đó mới chạm đến trái tim người đọc và tồn tại lâu dài trong tâm hồn họ.

1.1.3 Những phẩm cách cá nhân

Nguyễn Bùi Vợi từ nhỏ đã nổi tiếng với niềm đam mê văn chương và thơ ca Ngay từ bài làm văn đầu tiên, thầy giáo đã nhận xét ông có ý thức viết câu văn hình ảnh, mặc dù còn khập khiễng Khi được cử đi học ngành khoa học xã hội ở Trung Quốc và trở thành thầy giáo dạy văn, ông đã mang đến cho học sinh niềm hứng thú mãnh liệt trong mỗi giờ học Một lần, khi dạy văn cho Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, ông chỉ được báo trước hai tiếng nhưng đã có một tiết dạy thành công, khiến nhiều học sinh xúc động Tuy nhiên, niềm vui đó cũng đi kèm với nỗi khổ vì sự ganh ghét, đố kị từ người khác Ông từng chia sẻ rằng đó là tiết dạy ngây ngất nhất nhưng cũng là bất hạnh nhất của mình Tình yêu văn chương đã giúp ông vượt qua những khó khăn, sống thật với bản thân và tiếp tục sáng tạo.

Nguyễn Bùi Vợi là người có cá tính mạnh mẽ, thể hiện rõ ràng tình cảm yêu ghét một cách cực đoan Ông bộc trực và ngay thẳng trong suy nghĩ, lời nói và hành xử hàng ngày Cuộc sống của ông tràn đầy nhiệt huyết, chân thực nhưng cũng thô ráp, vụng về Ông luôn thể hiện sự thẳng thắn, như câu nói: "Đã nói khi nào cũng nói to/ Đã nhìn ai là nhìn thẳng mặt" (Chồng Nghệ) Chính tính cách và lối sống này đã giúp ông nhận được tình cảm quý mến từ những người bạn thân thiết, đặc biệt là những người bạn cùng quê Nghệ An.

Võ Văn Trực, Hoàng Cát, Vương Trọng đã mang đến cho ông không ít phiền toái trong cuộc đời Trong hồi ký, ông kể về một lần tranh luận nảy lửa với Vụ trưởng Bộ Giáo dục sau tiết dạy văn tại trường trung cấp Sư phạm cách đây gần 40 năm Khi đó, Vụ trưởng đến dự giờ để kiểm tra cách dạy của giáo viên Nguyễn Bùi Vợi, tổ trưởng tổ Văn, đã điều hành cuộc họp, nhưng Vụ trưởng đã phê phán giờ giảng một cách nặng nề và không thương xót Khi cả phòng im lặng, không ai dám phản bác, Nguyễn Bùi Vợi với tính thẳng thắn của mình đã đứng lên để bảo vệ quan điểm.

Bùi Vợi tự tin trình bày ý kiến về bài giảng, bác bỏ những đánh giá thiếu khách quan của Vụ trưởng Ông có tính cách ương ngạnh, thường chỉ trích những người cấp trên và tỏ thái độ khinh ghét đồng nghiệp kém cỏi Sống trong một xã hội tiểu nông, ông đã phải chịu nhiều thiệt thòi, không được thăng tiến trong công việc suốt hàng chục năm Ông thường xuyên bị điều đi dạy ở nhiều nơi, thậm chí là những vùng hẻo lánh, nhưng vẫn kiên trì chịu đựng mà không phàn nàn.

Nguyễn Bùi Vợi cho rằng tính bộc trực và thẳng thắn của ông, đôi khi đến mức quyết liệt, phần nào chịu ảnh hưởng từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và đặc trưng tính cách người Nghệ Điều này đã ăn sâu vào tâm hồn và trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của ông.

Đời thơ Nguyễn Bùi Vợi

Nguyễn Bùi Vợi bắt đầu sáng tác thơ từ khi còn trẻ, nhưng phải đến sau này ông mới được công nhận Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của ông trải qua nhiều thăng trầm, không hề suôn sẻ Mặc dù ông đã có những nỗ lực sáng tác từ sớm, nhưng những tác phẩm đầu tay không để lại dấu ấn đáng kể trong hành trình sáng tạo của mình.

Năm 1955, bài thơ "Bên bờ Hiền Lương" của Nguyễn Bùi Vợi được xuất bản trên báo Cứu Quốc Từ đó, trong suốt hai mươi năm tiếp theo, tác giả đã tiếp tục phát triển và thể hiện những ý tưởng của mình qua thơ ca.

Ông đã sáng tác nhiều bài thơ trong giai đoạn này, chủ yếu sau khi trở về từ Trung Quốc để dạy học tại Hà Nội và Vĩnh Phú Tình yêu chân thành với người con gái sau này trở thành vợ ông đã khiến ông bị kiểm điểm bởi cán bộ tổ chức Thay vì viết kiểm điểm, ông đã sáng tác 12 bài thơ tình trong một tuần, thể hiện tiếng nói quyết liệt đòi quyền tự do yêu đương và phê phán những can thiệp vào cuộc sống riêng tư Mặc dù những bài thơ này không thành công, chúng phản ánh sự bộc trực và thẳng thắn của ông, chỉ có một bài trong số đó được đánh giá cao hơn.

Tìm em là tác phẩm chân thật, giản dị nhưng mãnh liệt, chứa đựng nhiều cảm xúc nồng nàn và cảm động Dù khởi đầu không suôn sẻ, chỉ trong hơn 10 năm, tác giả đã cho ra mắt 5 tập thơ và truyện thơ với hàng trăm bài, bao gồm các tác phẩm nổi bật như Hạnh Phúc (1956), Gửi người yêu (1956), Câu chuyện tình yêu (1957), Bông hoa mẫu giáo (1963), và Con gái cô Út Tịch (1968) Tuy nhiên, việc giảng dạy tại các trường học từ cấp 2 đến cấp 3 đã tiêu tốn nhiều thời gian và cảm hứng sáng tác của Nguyễn Bùi Vợi, khiến ông đôi lúc lo lắng về tương lai con đường thơ ca của mình.

Năm 1972, Nguyễn Bùi Vợi bắt đầu công tác tại Ty văn hóa Vĩnh Phú, đảm nhận vai trò cán bộ phòng văn nghệ và phụ trách mảng thơ, tạo điều kiện thuận lợi cho ông trở lại với con đường thơ ca Ông làm việc với sự xông xáo, tâm huyết và say mê, không chỉ đọc và góp ý cho các tác giả nghiệp dư mà còn trao đổi với những nhà thơ đã có tên tuổi Nhờ những nỗ lực của ông, thơ Vĩnh Phú đã được giới thiệu trên các báo Trung ương và tỉnh bạn như báo Văn nghệ, báo Người giáo viên nhân dân, và báo Đại đoàn kết.

Sau khi chuyển về Đài tiếng nói Việt Nam và đảm nhận vai trò biên tập thơ, ông đã có nhiều thời gian hơn để sáng tác, dẫn đến sự ra đời của hàng loạt tác phẩm trong giai đoạn này.

Từ năm 1977 đến 1996, bên cạnh việc biên tập thơ, Nguyễn Bùi Vợi còn viết nhiều bài bình thơ và nói chuyện thơ, những công việc này đã ảnh hưởng sâu sắc đến hồn thơ của ông Năm 1973, chùm thơ in trên tạp chí Tác phẩm mới đánh dấu sự chuyển biến trong tư duy và cách viết của ông Ở tuổi 40, thơ của Nguyễn Bùi Vợi không còn hời hợt mà trở nên sâu sắc và trăn trở hơn Hai tập thơ Quê xanh (1974) và Thơ giữa đời thường (1990) mang giọng điệu mộc mạc, chân chất, nhưng tập sau thể hiện chiều sâu chua chát và nhân tình Trong Quê xanh, người đọc cảm nhận âm sắc tươi sáng và vẻ đẹp thiên nhiên đậm đà hồn quê.

Cối gạo đầy cả nghĩa tình nước non

Hoặc: Đêm Vũ Di hương đồng bâng khuâng quá Con cá nào đớp lạc một vì sao

Mười sáu năm sau, ở tuổi gần 60, ông xuất bản tập "Thơ giữa đời thường" Tập thơ mỏng nhưng chứa đựng sự dày dạn kinh nghiệm của một người đàn ông đã sống qua giai đoạn chín chắn nhất của cuộc đời, từ 41 đến gần 60 tuổi Ngòi bút của Nguyễn Bùi Vợi thể hiện sự đằm thắm và nhiều ưu tư, với những dòng thơ viết về vợ con, bè bạn và những sự việc trong cuộc sống hàng ngày.

Nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, bài thơ "Vằng vặc sao khuê" đã thu hút sự chú ý của công chúng và các nhà nghiên cứu văn học Thơ của ông mang đậm triết lý và suy tư, thể hiện qua câu thơ: "Bài phú viết giữa hai lần giặc đuổi/ Ngọn bút lông chống trăm vạn binh cuồng" Điều này cũng được thể hiện rõ trong bài thơ "Làng cười", nơi ông trăn trở trong đêm để tìm kiếm bản thân và giữ gìn cái cốt lõi chân thực Trong sự dằng xé nội tâm, ông khám phá niềm vui để tồn tại và làm việc, cho thấy cách tự giải thoát hiệu quả nhất: "Đêm chết lặng nhưng con người phải thức/ Bao xót xa, oan trái cựa trong hồn".

Nén giọt lệ, ghìm ngang tiếng nấc Cười được rồi, lòng thấy thảnh thơi hơn

Sau khi nghỉ hưu, Nguyễn Bùi Vợi vẫn tích cực cộng tác với các tờ báo và cho ra mắt nhiều tác phẩm Ngay cả trong những ngày nằm trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục sáng tác thơ, thể hiện sự trăn trở với cuộc sống và nghề nghiệp Việc làm thơ và bình thơ đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời ông, mặc dù đầy thử thách và gian nan Ông đã cống hiến cả cuộc đời cho nghệ thuật mà không hề ân hận Từ một thầy giáo dạy văn, ông đã trở thành một nhà thơ nổi tiếng, khẳng định được phong cách riêng Sau hơn 50 năm sáng tác, ông để lại một di sản văn học phong phú, trong đó thơ ca là thành tựu nổi bật nhất, phản ánh niềm đam mê, sức sáng tạo và tài năng của ông Các tác phẩm của ông đã được in ấn và biên soạn.

- Hạnh phúc (thơ) Nxb Tre Xanh, 1956

- Gửi người yêu (thơ), in chung với Hà Nhật, Nxb Tre Xanh, 1956

- Câu chuyện tình yêu (thơ) Nxb Thép, 1957

- Bông hoa mẫu giáo (truyện thơ), Nxb Phụ nữ, 1963

- Con gái cô ủt Tịch (truyện thơ), Nxb Kim Đồng, 1968

- Quê Xanh (thơ), Hội nhà văn Vĩnh Phú, 1974

- Anh là chiến sĩ (truyện đài), Nxb Kim Đồng, 1977

- Bông hoa cỏ - Mặt gương soi (thơ), in chung với Ngô Quân Miện,

- Gió và lửa (thơ) in chung với Vân Long, Nxb Lao động, 1982

- Nắng đất rừng (truyện dài), NXb Kim Đồng, 1983

- Trổng trận đêm xuân (trường ca), Nxb Kim Đồng, 1984

- Gươm thề Lũng Nhai (trường ca), Nxb Kim Đồng, 1985

- Thơ giữa đời thường (thơ), Nxb Hả Nội, 1985

- Chuyện vui giữa các nhà văn Việt Nam hiện đợi, Nxb Thanh Niên,

- Tuyển tập thơ lục bát Việt Nam, Tuyển chọn cùng Quang Huy, Võ

Văn Trực, Nxb Văn hoá, H, 1994

- Chủ biên tập thơ Thầy giáo và nhà trường , Nxb Giáo dục, 1999

- Tuyển tập thơ tình Việt Nam thể kỷ XX , Tuyển chọn cùng với Quang

- Thơ với tuổi thơ , Nxb Kim Đồng, H, 2002

- Nguyễn Bùi Vợi, Tuyển tập thơ Nxb Văn học H 2002

Nhìn lại cuộc đời mình, Nguyên Bùi Vợi đã khái quát được mất, buồn vui trong đôi câu đối:

Sách báo chất đầy kho, vất vả gian truân Bùi có bùi đâu, quá nửa cuộc đời chua với chát

Văn chương nêm chặt đụn, long đong lận đận, Vợi không Vợi hết, muôn vàn cảnh ngộ đắng cùng cay

Bài viết thể hiện sự hài hước và dí dỏm qua những câu chữ mộc mạc, giản dị, mang tính tự trào Tuy nhiên, khi đọc kỹ, người đọc sẽ cảm nhận được nỗi chua xót và ngậm ngùi của một người đã sống trọn đời với thơ ca như một duyên nghiệp.

1.2.2 Những đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Bùi Vợi

Nguyễn Bùi Vợi là một nhà thơ với những tác phẩm sâu sắc, phản ánh nỗi niềm và số phận con người Theo Quang Huy, thơ của ông chứa đựng "những mặt người, những nỗi niềm trắc ẩn, những cuộc đời sóng gió" và "những mất mát đắng cay" Trần Lê Văn cũng nhận định rằng ngòi bút của ông sắc bén, tìm nguồn cảm hứng từ cuộc sống và con người Đặc biệt, trong những thời kỳ khó khăn của chiến tranh, Nguyễn Bùi Vợi không chỉ viết về đạn bom mà còn tập trung vào những câu chuyện đời thường, thể hiện tình cảm với vợ con, bạn bè và thầy giáo Giọng thơ của ông mang đậm ân tình và cảm hứng đời tư.

Anh cảm thấy bồn chồn như những ngày đầu yêu em, thật buồn cười nhưng cũng thật lạ Mười ngày em vắng mặt, không có thư từ hay điện thoại, anh chỉ biết lang thang một mình.

Khi xa nhau, tình yêu dành cho nhau càng trở nên sâu sắc Nguyễn Bùi Vợi cảm nhận rõ ràng sự thiếu vắng của vợ sau mười ngày xa cách, khiến thời gian như kéo dài vô tận Nỗi nhớ vợ luôn hiện hữu, đặc biệt là trong mỗi bữa ăn, khi mà bàn tay của cô không thể thay thế được.

Trưa về nhà cơm không đúng bữa Bát mì này em nấu thì ngon (Ngày xa em )

Hay những lúc ông xa nhà, hình ảnh thân thương của vợ là ngọn lửa ấm áp sưởi ấm tâm hồn ông

Anh ngồi viết Chắc em đang nhóm bếp Nên câu thơ thoảng vị khói quê nhà

(Viết cho em từ Mat-xcơ-va)

Ông luôn theo dõi từng bước đi của các con và cảm thấy vui mừng khi thấy con trưởng thành Ông chia sẻ: "Bố mẹ mừng thao thức suốt bao đêm" khi nói về niềm hạnh phúc của mình.

Tây ) Ông lo cho con mỗi khi con đi xa:

DẤU ẤN VĂN HOÁ XỨ NGHỆ TRONG CÁI TÔI TRỮ TÌNH NGUYỄN BÙI VỢI

Giới thuyết khái niệm cái tôi trữ tình

Hình tượng cái tôi là một nhân vật đặc trưng trong thơ trữ tình, phản ánh sự cần thiết bộc lộ bản thân của con người Theo Hêghen, "Thơ bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần sự bộc lộ mình", điều này nhấn mạnh tính đặc trưng của thể loại thơ này Cái tôi không chỉ là khái niệm về cấu trúc nhân cách phổ quát mà còn thể hiện sự giao thoa giữa yếu tố xã hội lịch sử và sự độc đáo, khẳng định tính tích cực của nhân cách cá nhân.

Cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình, thể hiện qua nguyên tắc tiếp nhận và tái hiện đời sống Cá tính của người trữ tình, với những phong thái và ấn tượng độc đáo, đóng vai trò chủ đạo, giúp người đọc lĩnh hội thế giới Cuộc sống được nhận thức, lí giải và cảm nhận qua nhân cách của người trữ tình, cho thấy sự sâu sắc trong cảm xúc và ước mơ của họ.

Trong thơ ca, khái niệm “tả cảnh ngụ tình” và “tình cảm giao hòa” thể hiện sự kết nối giữa cảm xúc và cảnh vật Cảnh và sự không chỉ đơn thuần là những yếu tố khách quan mà còn phản ánh tâm trạng và ý nghĩa sâu sắc của tác giả Mai Thánh Du, một nhà thơ thời Tống ở Trung Quốc, đã nhấn mạnh rằng nội dung thơ chính là những gì tác giả cảm nhận và thể hiện từ trái tim mình.

Cái tôi trữ tình có hai cách hiểu chính Theo nghĩa hẹp, nó là hình tượng cái tôi cá nhân cụ thể, phản ánh tác giả và tiểu sử với những nét riêng tư, tạo nên một nhân vật trữ tình đặc biệt khi tác giả thể hiện bản thân Tuy nhiên, nhiều công trình lý luận chưa đi sâu vào khái niệm này Ngược lại, theo nghĩa rộng, cái tôi trữ tình được hiểu là nội dung, đối tượng và phẩm chất của trữ tình, phân biệt nó với các thể loại khác.

Thơ trữ tình là tiếng nói trực tiếp thể hiện cảm xúc và suy tư của tác giả, với tính cá thể hóa và chủ quan hóa là những dấu hiệu cơ bản Thi sĩ bộc lộ tư tưởng và cảm xúc trong thế giới nội tâm của mình, nơi cái tôi nghệ sĩ trở thành hình tượng trọn vẹn Hình tượng cái tôi có mối quan hệ tương đồng với chủ thể trữ tình, thể hiện sức mạnh nhân cách và vẻ đẹp độc đáo Đây là sự hiện thực hóa cái tôi trữ tình trong nghệ thuật thơ, không hoàn toàn đồng nhất với tác giả mà là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật Trong quá trình sáng tác, nhà thơ tạo ra một thế giới nghệ thuật, trong đó hình tượng cái tôi đóng vai trò nhân vật trung tâm.

Khảo sát 132 bài thơ của Nguyễn Bùi Vợi cho thấy cái tôi trữ tình của ông mang những đặc điểm nổi bật như bộc trực, thẳng thắn, mộc mạc, giản dị, đằm thắm, mặn mà, nhân hậu và nghĩa tình Những đặc điểm này không chỉ thể hiện rõ văn hóa mà còn phản ánh cốt cách con người xứ Nghệ, tạo nên dấu ấn riêng biệt của Nguyễn Bùi Vợi trong thơ ca hiện đại Việt Nam.

Cốt cách, tâm hồn xứ Nghệ trong cái tôi trữ tình Nguyễn Bùi Vợi

2.2.1 Sự bộc trực, thẳng thắn

Bộc trực và thẳng thắn là đặc điểm nổi bật của con người xứ Nghệ, thể hiện qua lối ứng xử và cách bộc lộ tình cảm, tạo nên nét văn hóa riêng Tình yêu của chàng trai xứ Nghệ được diễn đạt một cách chân thành và mãnh liệt trong ca dao, không chấp nhận sự mập mờ Nguyễn Bùi Vợi, sinh ra và lớn lên ở xứ Nghệ, mang trong mình tâm hồn và cốt cách của nơi đây, sống chân thành và ngay thẳng, nhưng đôi khi cũng thể hiện sự kiêu căng do quá tự tin, điều này đã mang lại cho ông không ít phiền toái.

Sự vất vả trong suốt mấy chục năm làm nghề thầy giáo của Nguyễn Bùi Vợi phần nào xuất phát từ lối sống và tính cách thẳng thắn của ông Ông cho rằng người Nghệ rất trung thực, không ngại nói thẳng và hành động trực tiếp Trong bài thơ "Thơ viết tuổi năm mươi", ông đã trăn trở để tìm ra bản thân và giữ gìn cái cốt lõi chân thực của mình Ông nhận ra rằng niềm vui và cách tự giải thoát hiệu quả nhất chính là sự thức tỉnh trong những đêm tĩnh lặng, mặc cho nỗi xót xa và oan trái trong tâm hồn.

Nén giọt lệ, ghìm ngang tiếng nấc Cười được rồi, lòng thấy thảnh thơi

Nguyễn Bùi Vợi đã chỉ trích mạnh mẽ lối sống và làm việc của nhiều công chức nhà nước, cho rằng họ lãng phí thời gian, hiệu quả công việc thấp và thường xuyên dèm pha, thóc mách Ông không ngần ngại bày tỏ quan điểm của mình một cách thẳng thắn và gay gắt.

Một ngày tám tiếng làm xong Cơm chiều đã chén, đi rong một hồi Rong về lại giở bài chơi

Tan bài tán chuyện ba hoa

Nguyễn Bùi Vợi, với truyền thống gia đình và bản chất Nghệ, luôn kiên cường và không bao giờ chịu khuất phục Ông giữ vững lòng ngay thẳng trong mọi hoàn cảnh và biết ơn cuộc đời vì đã ban tặng cho ông niềm tin trong sáng.

Cuộc đời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người đã giữ cho tôi niềm tin trong sáng Nhờ đó, tôi có thể sống trọn vẹn và yêu thương hết mình, đồng thời nhận ra giá trị của những gì mình đang có.

Nguyễn Bùi Vợi thể hiện tính cách sống ngay thẳng, bộc trực qua những tác phẩm thơ của mình Thơ ông giản dị và chân thật, phản ánh con người ông Ông tránh lối nói vòng vo, mà luôn bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc một cách trực tiếp Điều này đã tạo nên một dấu ấn đặc biệt cho thơ ca hiện đại Việt Nam.

2.2.2 Sự đằm thắm, mặn mà

Một bài thơ hay luôn thể hiện chân thực những tình cảm và suy nghĩ của nhà thơ về cuộc sống Theo G N Pospelov, thơ trữ tình là "bản tự thuật của tâm trạng" Thơ không thể hay nếu tình cảm của nhà thơ không thực, cảm xúc chưa đạt đến độ dồn nén Thơ Nguyễn Bùi Vợi chạm đến lòng người nhờ sự chân thành và tình cảm đằm thắm, mặn mà Nó là tiếng nói từ một trái tim nhân hậu và lối sống có trách nhiệm với cuộc đời.

Nguyễn Bùi Vợi là một nhà thơ viết nhiều về gia đình và bè bạn, thể hiện tình cảm chân thành và giản dị Ông miêu tả cuộc sống vất vả nhưng đầy tình nghĩa, nơi có người vợ và những đứa con luôn sẻ chia cùng ông Đằng sau những lo âu mưu sinh là sự bền chặt và tấm lòng đồng cam cộng khổ của những con người sống vì tình yêu và nghĩa tình Trong cuộc đời ông, mối tình tuyệt đẹp đã mang lại cho ông những trải nghiệm quý giá, dù phải đánh đổi nhiều thứ Tình yêu ấy được thể hiện qua những vần thơ mộc mạc, như trong bài "Lúng liếng" với những câu thơ đầy cảm xúc: "Lúng liếng là lúng liếng ơi/ Tiệc tan em đến bên tôi ngập ngùng" Với ông, tình yêu là điều thiêng liêng và cao cả nhất mà cuộc đời ban tặng.

Nguyễn Bùi Vợi đã trải qua nhiều thử thách và khó khăn trong cuộc sống, nhưng ông vẫn sống và yêu một cách chân thành Thơ của ông không ồn ào hay khoa trương, mà thể hiện tình cảm một cách thành thực và đằm thắm.

Có chuyện vui chuyện buồn

Nửa này và nửa nọ Nửa bạn lại nửa yêu Nửa bên này chính xác Nửa phía này phiêu diêu

Nguyễn Bùi Vợi luôn cảm thấy may mắn vì có một người vợ thấu hiểu, nhân hậu và hiền từ Ông viết về vợ với lòng thành thực, thể hiện tình cảm qua những vần thơ tâm tình và thương mến Việc ca ngợi vợ không phải là điều hiếm trong thơ ca, nhưng cách mà Nguyễn Bùi Vợi thể hiện sự hồn nhiên và thẳng thắn của mình là điều không nhiều người làm được.

Em là niềm đau khổ và hạnh phúc của anh Dù có hai đứa con và nhiều sách vở, anh vẫn cảm thấy ngại ngùng khi ngồi bên chậu tã Những câu thơ của anh cũng phản ánh những cảm xúc đa dạng như nắng sớm và mưa chiều.

Ông dành những lời thơ chân tình từ sâu thẳm trái tim để tặng người vợ tần tảo, chịu thương chịu khó Hạnh phúc, theo ông, không ở đâu xa mà hiện hữu trong cuộc sống giản dị hàng ngày, thể hiện qua sự thấu hiểu và đồng cảm giữa những người yêu thương Ông tìm thấy niềm hạnh phúc ấy ngay trong ngôi nhà nhỏ bé, dù còn nhiều thiếu thốn và khó khăn.

Ngày bận bao nhiêu công việc Đêm em lại nghĩ về con

Cái nết của em là thế Chẳng có đêm nào ngủ ngon

Bức thư tình mùa bão của Nguyễn Bùi Vợi thể hiện sự mộc mạc và sâu sắc trong tình cảm, phản ánh cách nghĩ và cách nói của người bình dân Hình ảnh người vợ trong thơ ông gần gũi với hình ảnh người con gái trong ca dao xứ Nghệ, thể hiện tình yêu thương gắn bó, đồng cam cộng khổ và chia sẻ mọi khó khăn trong cuộc sống Tình yêu của họ là sự nắm tay nhau đi hết cuộc đời, thể hiện qua những câu thơ giản dị nhưng đầy ý nghĩa.

Sự đằm thắm và trữ tình trong thơ của Nguyễn Bùi Vợi được thể hiện rõ nét qua những tác phẩm viết cho con Trong một lần tham gia trại sáng tác cho thiếu nhi, ông đã viết một tiểu thuyết nhưng bị chê bai, khiến ông phải trở về Khi trở về nhà, ông thấy cảnh các con thơ nhem nhuốc, đặc biệt là hình ảnh của Phong Thu, con gái lớn của ông, giống như con gái chị Út Tịch trong tác phẩm "Người Mẹ Cầm Súng" của Nguyễn Thi Ông cảm thấy xấu hổ và chạnh lòng khi thấy các con khóc vì đói trong khi mình đang mải mê sáng tác và thưởng thức phở Chính những cảm xúc này đã trở thành động lực để ông viết nên truyện thơ "Cô con gái chị Út Tịch" với hình ảnh "Đêm ập xuống đồng quê."

Bé đã nấu cơm xong

Cho các em ăn cả Chỉ còn lại một mình Chưa ăn, chờ ba, má Sáu chị em chưa ngủ

(Con gái chị Út Tịch)

Niềm vui và hạnh phúc lớn nhất của ông là thấy các con khôn lớn Dù phải làm việc xa nhà và chỉ có hai ngày mỗi tuần bên các con, ông luôn cảm thấy thời gian quá ngắn Ông mong muốn các con có một cuộc sống ấm no, được học đại học và tránh xa cảnh chiến tranh, bom đạn.

Sáng nay con đến trường không phải đội mũ rơm

Mẹ con rưng nước mắt Những ngày này, bố muốn nói cùng con Phải không con?

(Nói với con sắc nắng hòa bình)

Tình yêu xứ nghệ một dòng cảm hứng trong thơ Nguyễn Bùi Vợi

2.3.1 Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên xứ nghệ Đất nước quê hương đã trở thành một phần máu thịt trong tâm hồn những người con yêu nước Dáng hình xứ sở với ngọn núi con sông in đậm trong tâm trí Bùi Vợi Núi Hồng, sông Lam đã trở thành biểu tượng đẹp của một miền quê, là niềm tự hào của con người xứ Nghệ, góp phần làm nên một vùng văn hóa đặc sắc Dòng sông Lam mềm mại, mượt mà, mát rượi uốn lượn dịu dàng dưới chân núi hùng vĩ, oai vệ, vững chãi của ngọn núi Hồng Lĩnh đã gợi lên bao tứ thơ cho biết bao thi sĩ Cảnh núi non sông nước hữu tình làm nền cho những mối tình thơ mộng nảy nở Nguyễnn Bùi Vợi yêu quê hương xứ Nghệ bằng một tình cảm chân chứa, nghĩa tình những cũng rất đỗi mộc mạc: "Anh chưa rảnh đưa em về xứ Nghệ/ Để uống nước sông Lam và nghe mệ chuyện trò"( Về xứ Nghệ ) Núi

Hồng, sông Lam, những câu ví giặm đi về nhiều trong thơ ông như một nỗi nhớ đầy vơi:

Xin gửi người xưa một câu hò

Ai người Xứ Nghệ nhớ đường vô Sông Lam hai phía còn mưa bụi Người đợi, người qua…bến đợi đò

Nhìn dòng sông Lam, Nguyễn Bùi Vợi càng nhớ quê hương và tuổi thơ của mình: "Giờ về tìm lại tuổi thơ/ Con sông Lam chảy lững lờ nước trôi" Hình ảnh dòng sông Lam trong thơ của ông không chỉ thể hiện vẻ đẹp tự nhiên mà còn mang đậm cảm hứng lịch sử, tình yêu thiên nhiên và quê hương, đất nước.

Sông Lam, hay còn gọi là sông Cả, chảy xuôi dòng qua dải đất màu mỡ, mang theo phù sa từ Lào, tạo nên sự sống và sinh sôi nảy nở cho vùng đất nơi đây.

Dọc đôi bờ là đất quê ta Hữu ngạn năm mốt làng Hai lăm làng tả ngạn

Từ dãy Trường Sơn đổ ra sông lớn

Sông Lam mang vẻ đẹp độc đáo với hình dáng uốn lượn như cánh cung và dấu hỏi lớn, ôm lấy núi và vắt qua những cánh đồng phù sa Để cảm nhận được linh hồn của sông, cần có tình yêu sâu sắc với quê hương, nơi vang vọng những câu hò ví dặm Từ đó, nghệ thuật được sinh ra, tạo nên những tác phẩm có giá trị lâu bền Đêm sông Lam, với nhịp mái chèo khuya và câu hát dặm, tạo nên không gian thơ mộng và sâu lắng.

Con sông thơ của Nguyễn Bùi Vợi bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa và tình cảm, chảy tràn cùng dân tộc qua những thăng trầm Ông nặng lòng yêu quê hương đất nước và để lại những ám ảnh thi ca huyền bí Sự tiếc thương dành cho ông là điều hiển nhiên, nhưng điều quan trọng hơn là đánh giá xứng đáng những đóng góp của ông cho nền thơ ca Việt Nam Nguyễn Bùi Vợi đã tái hiện khung cảnh hùng tráng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nơi núi rừng nuôi dưỡng đoàn quân khởi nghĩa để giải phóng quê hương.

Dãy Trường Sơn không chỉ là nơi che chở cho bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà còn là chứng nhân cho nỗi đau của đất nước khi phải hứng chịu bom đạn và chất độc hóa học Những cánh rừng bị tàn phá, cây cối trụi lá, nhưng Trường Sơn vẫn kiên cường bảo vệ con người "Cảm ơn dãy Trường Sơn đã chở che ta", thể hiện lòng biết ơn đối với thiên nhiên đã hy sinh vì sự sống còn của dân tộc Việt Nam.

Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bùi Vợi hiện lên giản dị nhưng sâu sắc, phản ánh cuộc đời con người với sự sinh ra, lớn lên và mất đi Sông Lam, sông Giăng, mây ráng Trường Sơn, gió Lào cùng những tên làng, tên người, tên núi của xứ Nghệ đều thấm đẫm hồn quê Việt, khẳng định giá trị vĩnh cửu của văn hóa nơi đây Với lịch sử và truyền thống kéo dài hơn 4000 năm, thơ ông không chỉ là sự phản ánh tinh thần và tình cảm cá nhân mà còn kết nối với tiềm thức dân tộc Tác phẩm của ông như một ngọn núi vĩ đại, bao quanh bởi rừng cây xanh tươi, thể hiện nền văn hóa lâu đời và sức lan tỏa mạnh mẽ trong lòng độc giả.

2.3.2 Tự hào về con người Nghệ

Nguyễn Bùi Vợi, dù thời gian sống ở quê hương không dài, nhưng đã mang trong mình dòng văn hóa Xứ Nghệ, thể hiện qua thơ ca và tâm hồn Từ cảnh sắc thiên nhiên đến đời sống văn hóa và phong tục, ông luôn hòa quyện với hồn người xứ Nghệ, phản ánh trong cách sống và làm người của mình.

Nói giọng thì nặng như bổ củi

Mô, tê, răng, rứa nghe nhức đầu Đã nói khi nào cũng nói to Đã nhìn ai thì nhìn thẳng mặt Đánh chết cũng không chừa thói thật!

(Lấy chồng xứ Nghệ) Đinh Gia Khánh từng nhận xét về văn hóa con người xứ Nghệ “… Nghệ

An và Hà Tĩnh là một tiểu vùng văn hóa thống nhất, nơi mà những nét tính cách đặc trưng của người xứ Nghệ được hình thành từ cơ sở tự nhiên và xã hội Đặng Thai Mai đã nhận xét về người Nghệ với những phẩm chất như can đảm, cần cù, kiên quyết và tằn tiện Họ thể hiện ý chí vượt khó và khắc phục hoàn cảnh, luôn vươn lên với tinh thần không biết mệt mỏi Đinh Gia Khánh cũng nhấn mạnh rằng người Nghệ quen chịu đựng gian khổ, làm việc cần cù và sống tiết kiệm Những đặc điểm này đã được phản ánh một cách tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bùi Vợi, không cần màu mè hay trang sức.

Con lớn lên cùng với nỗi buồn Đất sỏi đá nuôi người cùng khổ Luộc giải khoai giun ăn cả vỏ Cái bếp nghèo củi ướt cháy leo heo

Hạt cơm mẹ nuôi, tôi ăn thấy ngọt Tuổi thơ biết gì đến những đắng cay

Cả cánh đồng anh chị tôi cấy gặt, Năm tháng nuôi tôi đất cũng khô gầy

Người Nghệ, với hình ảnh ông đồ Nghệ dạy học cùng con cá gỗ, thể hiện sự chắt chiu tằn tiện do khó khăn trong cuộc sống Họ phải tiết kiệm và dự trữ thực phẩm như nhút, tương, muối để đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt Tính cách giản dị, thật thà và kiên cường của người Nghệ giúp họ vượt qua thử thách, không bị khuất phục bởi nắng hạn hay bão lụt Dù nghèo khó, họ luôn mơ ước vươn cao, nhiều con em xứ Nghệ đã lập nghiệp ở các thành phố lớn và thành danh ở nơi xa Sự ham học hỏi và ý chí tiến thủ của người Nghệ là động lực mạnh mẽ, giúp họ tạo ra sức bật cho khát vọng vươn xa.

Nghệ An ngày xưa nghèo đói Chao quyết học cho thành tài Đồ nghệ ở mô cũng giỏi Văn chương thơ phú kém ai

Người Nghệ từ lâu đã nổi tiếng với truyền thống hiếu học và thành đạt, để lại dấu ấn trong lịch sử và văn hóa Dù trong hoàn cảnh nào, các gia đình xứ Nghệ luôn coi trọng giá trị của học vấn, xem đó là con đường dẫn đến thành công Tinh thần ham học đã ăn sâu vào nếp sống của người dân nơi đây, với mong muốn con em được học hành đỗ đạt Họ sẵn sàng tạo mọi điều kiện cho con cái, dù cuộc sống còn khó khăn Học tập không chỉ là phương tiện thoát nghèo mà còn khẳng định trí tuệ và sức mạnh con người, thể hiện quan niệm Nho giáo rằng “Học nhi ưu tắc sĩ” Sự đam mê và chuyên cần trong học hỏi không chỉ giúp mở mang kiến thức mà còn là cách để “đổi đời”.

Hiếu học là phẩm chất nổi bật trong văn hóa và tính cách người Nghệ, được thể hiện qua niềm tự hào của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi về quê hương và những anh hùng lịch sử Các biểu tượng nghệ thuật trong thơ ông tôn vinh những "nhân kiệt" làm rạng danh xứ Nghệ từ thuở hồng hoang đến hiện đại Những bài thơ trong tập Thanh Chương Tráng Khúc không chỉ thể hiện tình yêu quê hương mà còn khắc họa huyền thoại thời lập quốc và linh hiển tổ tiên, tạo nên một tuyệt phẩm về vùng Nghệ Tĩnh Trong suốt lịch sử, người dân xứ Nghệ luôn đoàn kết, trở thành căn cứ địa cho kháng chiến, thể hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt chảy trong huyết quản của họ.

Nguyễn Bùi Vợi thể hiện nỗi đau sâu sắc của người dân Nghệ An, khi họ đã phải chịu đựng nhiều khổ cực Vùng đất này không chỉ nghèo nàn mà còn phải đối mặt với sự đàn áp tàn bạo, đặc biệt là trong gần 100 năm dưới ách thực dân Đất nước chìm trong bóng tối của chế độ nô lệ, trong khi dân Thanh Chương phải gánh chịu nhiều áp lực Thực dân bóc lột sức lao động của người dân, trong khi những kẻ cầm quyền chỉ chăm chăm vào lợi ích cá nhân.

Tinh thần kiên cường của người dân xứ Nghệ luôn nổi bật, không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù Từ các cuộc khởi nghĩa như Mai Hắc Đế, Lam Sơn, đến Hương Khê, tinh thần yêu nước vẫn sống mãi trong lòng người con xứ Nghệ Những anh hùng Cần Vương, đặc biệt là Phan Đình Phùng, đã tiếp nối truyền thống này, khơi dậy lòng yêu nước trong nhân dân Nông dân xứ Nghệ, chịu nhiều áp bức, đã tìm thấy niềm đồng cảm từ Nguyễn Bùi Vợi Sự xuất hiện của các trí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Đặng Thai Mai, và đặc biệt là Nguyễn Ái Quốc, đã mang lại hy vọng cho những người mất nước Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, với sự hình thành các chi bộ Đảng đầu tiên tại Nghệ An.

Chi bộ Đảng ra đời ở Hạnh Lâm, La Mạc Ít lâu sau phát triển ở Xuân Tường Quốc tế ca hát thầm đình Võ Liệt

Mà bừng bừng khí thế công nông

Mong muốn tự do và độc lập dân tộc là khát vọng sâu sắc của người dân xứ Nghệ, nơi có phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh biểu trưng cho tinh thần bất khuất Trong suốt 30 năm kháng chiến, người dân xứ Nghệ đã đồng lòng theo Đảng, cống hiến sức người và của cải để đánh bại quân thù, với 5000 liệt sĩ và 148 bà mẹ Việt Nam anh hùng từ huyện Thanh Chương Dù phải chịu nhiều mất mát, người dân nơi đây vẫn lạc quan, hướng tới tương lai tươi sáng với những thế hệ trẻ đầy ước mơ Tính cách của người xứ Nghệ được hình thành từ thiên nhiên khắc nghiệt và truyền thống văn hóa lâu đời, tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của vùng đất này.

Chất Nghệ trong ngôn ngữ thơ

3.2.1 Dung nạp nhiều từ địa phương xứ Nghệ

Thơ là sự kết hợp tuyệt vời giữa chữ và nghĩa, hình ảnh và âm thanh, tạo nên một trò chơi đầy sáng tạo Việc đạt được sự hài hòa giữa từ ngữ, âm thanh và ý nghĩa luôn là mối bận tâm của các nhà thơ Mỗi người có cách tiếp cận và khám phá riêng, và với Nguyễn Bùi Vợi, ông trở về với ngôn ngữ quê hương của mình.

Nguyễn Bùi Vợi đã khéo léo chắt lọc ngôn ngữ của người dân xứ Nghệ, tạo nên sự đậm đặc trong thơ ca của mình Từ vài ba từ đến hàng chục từ, ông đã mang đến cái "chất nghệ" và "dấu ấn Nghệ" độc đáo, làm nổi bật bản sắc văn hóa địa phương.

Khảo sát thơ Nguyễn Bùi Vợi cho thấy có ít nhất 55 từ địa phương Nghệ Tĩnh, đặc trưng và ít gặp trong ngôn ngữ phổ thông, như ghế gủng, móm, nhút, mô, tê, răng, rứa Lối nói nặng và âm vực trầm, cùng với sự thay đổi thanh điệu từ 6 thanh xuống còn 3 thanh, khiến tiếng Nghệ trở nên khó nói và khó nghe với người từ vùng miền khác Do đó, khi đọc thơ Nguyễn Bùi Vợi, nhiều người phải nhờ người Nghệ phiên dịch Bài thơ Tiếng Nghệ là một ví dụ điển hình cho sự đặc trưng này.

Cái gầu thì bảo cái đài

Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi Chộ tức là thấy mình ơi

Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em Thích chi thì bảo là sèm

Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào

Cá quả lại gọi cá tràu

Vo troốc là bảo gội đầu đấy em…

Nghe em giọng Bắc êm êm

Bà con hàng xóm đến xem chật nhà Răng chưa sang nhởi nhà choa

Bà o đã nhốt con ga trong truồng

Em cười bối rối mà thương Thương em một lại trăm đường thương quê Gió Lào thổi rạc bờ tre

Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn Chắt từ đã sỏi đất cằn

Nên yêu thương mới sâu đằm đó em

Bài thơ chứa đựng nhiều từ địa phương thuần chủng Nghệ, với 7 từ địa phương trong chỉ 14 từ của hai câu lục bát: "Khi mô sang nhởi nhà choa/ Bà o đã nhốt con ga trong truồng" Những từ như mô, nhởi, choa, o, nhốt, ga, truồng chỉ có thể tìm thấy ở xứ Nghệ Đọc bài thơ, người ngoài xứ Nghệ có thể cảm thấy bực bội vì lối nói trục trặc, nhưng khi suy ngẫm kỹ, sẽ nhận ra sự dí dỏm và thú vị của nó Sự độc đáo của bài thơ nằm ở các cặp từ đồng nghĩa giữa ngôn ngữ toàn dân và "Tiếng Nghệ", cùng với cách ngắt nhịp, gieo vần biến hóa Nhiều người đã coi bài thơ như một "từ điển mini" về tiếng Nghệ.

Lớp từ địa phương trong thơ Nguyễn Bùi Vợi không chỉ bao gồm các từ ngữ riêng lẻ mà còn là tổ hợp từ đồng nghĩa và biến âm như: Nom, nhòm, ngó, chộ, ni, ri, giừ, chừ Việc sử dụng những từ này trong thơ của ông không phải là ngẫu hứng hay bông đùa, mà thể hiện một ý thức nghệ thuật rõ ràng và tinh tế.

Nói thì giọng nặng như bổ củi

Mô, tê, răng, rứa nghe nhức đầu

Nguyễn Bùi Vợi đã khéo léo đưa vào thơ nhiều từ ngữ có dạng biến thể ngữ âm tương đồng với tiếng Việt toàn dân, thể hiện sự phong phú trong vốn từ của ông Các từ này bao gồm những cặp âm đầu như tê - kia, chi - gì, và các cặp phần vần như cơn - cây, ni - này Ngoài ra, ông cũng sử dụng các từ tương ứng về thanh điệu như ga - gà, ni - này, cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa phương ngữ và vốn từ phổ thông.

Phương ngữ Nghệ Tĩnh trong thơ Nguyễn Bùi Vợi chứa đựng nhiều từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ, đã tồn tại và trở thành "thổ sản" của xứ Nghệ hàng trăm năm Những từ này có âm khác nhau nhưng tương đồng về ngữ nghĩa, ví dụ như: hao (gầy), ra răng (làm sao), mồm (miệng), cựa mình (trở mình), vốc (nắm), đài (gầu), cươi (sân), chồ (thấy), đội (bát), cá tràu (cả quả), vo trốc (gội đầu), mô (đâu), choa (chúng tôi), bà o (bà cô), cơ man (nhiều), rủ (núi), nỏ (không), con nít (trè con), bầy tui (bọn tui), răng (sao), và rửa (thể).

Bên cạnh đó, những từ láy như ghể gủng, bụi bậm, khật khừ, lầm lụi, lụi hụi, ngơm ngởp, ọc ạch, lao phao đều mang vẻ đẹp riêng biệt trong thơ của ông, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai khác.

Thơ bồng bôt dại khờ mê đắm Thơ quật quăng gió giật mưa sa

(Đêm bè bạn thành Vinh)

Hai từ láy "bồng bột" và "quật quăng" không chỉ mang giá trị miêu tả mà còn kết hợp với biện pháp điệp cấu trúc, tạo nên âm hưởng mạnh mẽ và chắc khỏe cho câu thơ.

Thương quê mẹ gió lào thổi mãi Túp lều tranh mẹ lúi húi ra vảo

Trong ngôn ngữ từ láy, sự hòa phối ngữ âm giữa các âm tạo nên tính nhạc cho thơ, với những từ như "quật quăng" và "lụi hụi" mang đến âm điệu riêng biệt Từ láy mang âm sắc Nghệ đã góp phần tạo nên tính nhạc độc đáo trong thơ Nguyễn Bùi Vợi "Lụi hụi" là biến âm từ "lúi húi", nghĩa là mải mê làm việc, nhưng trong ngữ cảnh của Nguyễn Bùi Vợi, từ này còn gợi lên sự cô đơn, lẻ loi, thể hiện hiệu quả âm sắc địa phương xứ Nghệ.

Tiếng Nghệ trong thơ Nguyễn Bùi Vợi còn hiện diện ở những đại từ nhân xưng, như: tui, choa, mi, hắn, thằng, mụ

Lẩy chồng xử Nghệ vui lắm nhé Bữa cơm ăn no là đứng lên Mặc cho khách ngồi nhai nhỏ nhẹ Cười hì: cái tính bầy tui quen

Khi mô sang nhởi nhà choa

Mụ o đã nhốt con ga trong truồng

Sự xuất hiện của đại từ nhân xưng trong thơ xứ Nghệ đã tạo nên dấu ấn đặc trưng, thể hiện sự chân chất, mộc mạc và hồn nhiên của con người nơi đây.

3.2.2 Sử dụng nhiều danh từ chỉ địa danh, văn hóa xứ Nghệ

Xứ Nghệ là một vùng quê đẹp với thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, nơi dòng sông Lam uốn lượn quanh núi Hồng Lĩnh Cảnh sắc nơi đây đã truyền cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ và nhà văn, khiến họ sáng tác về vẻ đẹp của xứ Nghệ Thiên nhiên không chỉ là bức tranh sống động mà còn là nhân chứng lịch sử, ghi lại những trận chiến oanh liệt của con người nơi đây, đối mặt với kẻ thù và thiên nhiên khắc nghiệt.

Trong thơ của Nguyễn Bùi Vợi, hình ảnh thiên nhiên, văn hóa và con người xứ Nghệ được khắc họa rõ nét Những địa danh đặc trưng như Sông Lam, Núi Hồng, Thành Vinh, Thanh Chương và Chợ Rộ không chỉ tạo nên bức tranh sinh động về quê hương mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc của tác giả đối với vùng đất này.

Sơn, Sông Cả Những địa danh thân thương ấy hiện lên một cách sống động, tự nhiên trong thơ ông:

Không phải nói gì Thơ nói cả Chưa nắm tay đã biết tay chai Đêm bạn bè Thành Vinh mất điện Thức cho nhau mới biết ngày dài

( Đêm Thành Vinh ) Đó còn là nhút, câu ví giặm, những con đò chở theo câu ví ân tình:

Xin gửi người xưa một câu hò

Ai người Xứ Nghệ nhớ đường vô Sông Lam hai phía còn mưa bụi Người đợi, người qua…bến đợi đò

Nhịp mái chèo khuya Câu hát dặm lững lờ xuôi chợ Rộ

Núi Hồng và sông Lam là những hình ảnh quen thuộc trong thơ của ông, thể hiện nỗi nhớ quê hương sâu sắc Những câu ví giặm gợi lên không khí thân thuộc, khiến người đọc cảm nhận được tình yêu và nỗi nhớ về xứ Nghệ.

Xin gửi người xưa một câu hò

Ai người Xứ Nghệ nhớ đường vô Sông Lam hai phía còn mưa bụi Người đợi, người qua…bến đợi đò

Trong thơ Nguyễn Bùi Vợi, con Sông Lam hiện lên như một biểu tượng của ký ức tuổi thơ và quê hương Hình ảnh con sông đi về, ngược xuôi muôn nẻo gợi nhớ về những kỷ niệm sâu sắc Khi xa quê, ông lại tìm thấy hình ảnh con sông nơi xứ người, từ đó nhớ về Sông Lam và những ân tình gắn bó.

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm