Câu 3 Câu 3 trang 13 SGK Ngữ văn 10 tập 1 Dùng hiểu biết của mình để làm sáng tỏ nhận định: Văn học Việt Nam đã thể hiện chân thực, sâu sắc đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việ
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I CÁC CHỦ ĐỀ BÀI TẬP 5
Tuần 1 5
Tổng quan văn học Việt Nam 5
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 6
Tuần 2 8
Khái quát văn học dân gian Việt Nam 8
Văn bản 11
Tuần 3 13
Chiến thắng Mtao Mxây 14
Tuần 4 16
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy 16
Lập dàn ý bài văn tự sự 18
Tuần 5 21
Uy-lít-xơ trở về 21
Tuần 6 23
Ra-ma buộc tội 23
Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự 25
Tuần 7 27
Tấm Cám 28
Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự 30
Tuần 8 33
Tam đại con gà 33
Nhưng nó phải bằng hai mày 34
Tuần 9 36
Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa 36
Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 39
Tuần 10 41
Ca dao hài hước 41
Luyện viết đoạn văn tự sự 43
Tuần 11 45
Ôn tập văn học dân gian 45
Tuần 12 51
Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX 51
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt 53
Tuần 13 54
Bài thơ: Tỏ lòng (Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão) 54
Bài thơ: Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) 57
Tóm tắt văn bản tự sự 59
Tuần 14 60
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (Tiếp theo) 60
Bài thơ: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) 63
Bài thơ: Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) 65
Tuần 15 67
Thực hành phép tu từ Ẩn dụ và Hoán dụ 67
Bài thơ: Tại Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng 71
Trang 2Tuần 16 72
Bài thơ: Cảm xúc mùa thu (Thu hứng) 72
Trình bày về một vấn đề 75
Tuần 17 77
Lập kế hoạch cá nhân 77
Thơ Hai-Kư của Ba Sô 80
Bài thơ: Lầu Hoàng Hạc (Thôi Hiệu) 80
Bài thơ: Nỗi oan của người phòng khuê (Vương Xương Linh) 81
Bài thơ: Khe chim kêu (Vương Duy) 82
Tuần 18 82
Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh 82
Lập dàn ý bài văn thuyết minh 83
Tuần 19 86
Bài thơ: Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu) 86
Bài thơ: Đại cáo Bình Ngô (Bình ngô đại cáo) 90
Tuần 20 97
Tính chuẩn xác hấp dẫn của văn bản thuyết minh 97
Tuần 21 99
Tựa "Trích diễm thi tập" (Hoàng Đức Lương) 99
Khái quát lịch sử tiếng Việt 100
Tuần 22 102
Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn 102
Tuần 23 103
Phương pháp thuyết minh 103
Tuần 24 107
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên 107
Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh 109
Tuần 25 110
Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt 110
Tóm tắt văn bản thuyết minh 113
Tuần 26 115
Hồi trống Cổ Thành (La Quán Trung) 115
Tuần 27 117
Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn) 117
Lập dàn ý bài văn nghị luận 121
Tuần 28 123
Truyện Kiều 123
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 124
Tuần 29 126
Đoạn trích: Trao duyên (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) 126
Đoạn trích: Nỗi thương mình (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) 129
Lập luận trong văn nghị luận 131
Tuần 30 133
Đoạn trích: Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) 133
Đoạn trích: Thề nguyền (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) 135
Tuần 31 136
Văn bản văn học 136
Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối 138
Trang 3Tuần 32 142
Nội dung và hình thức của văn bản văn học 142
Các thao tác nghị luận 145
Tuần 33 147
Ôn tập phần tiếng Việt 147
Luyện tập viết đoạn văn nghị luận 151
Viết quảng cáo 152
Tuần 34 153
Tổng kết phần văn học 153
Tuần 35 159
Ôn tập phần tập làm văn 159
PHẦN II KIỂM TRA ĐỊNH KÌ 166
CHUYÊN ĐỀ I KIỂM TRA ĐỊNH KÌ HỌC KÌ I 166
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 1) 166
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 2) 166
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 3) 166
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 4) 166
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 1) 167
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 2) 169
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 3) 170
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 4) 171
Đề kiểm tra tập làm văn số 1 lớp 10 Học kì 1 (Đề 1) 173
Đề kiểm tra tập làm văn số 1 lớp 10 Học kì 1 (Đề 2) 174
Đề kiểm tra tập làm văn số 1 lớp 10 Học kì 1 (Đề 3) 174
Đề kiểm tra tập làm văn số 2 lớp 10 Học kì 1 (Đề 1) 175
Đề kiểm tra tập làm văn số 2 lớp 10 Học kì 1 (Đề 2) 176
Đề kiểm tra tập làm văn số 2 lớp 10 Học kì 1 (Đề 3) 176
Đề kiểm tra tập làm văn số 2 lớp 10 Học kì 1 (Đề 4) 177
Đề kiểm tra tập làm văn số 3 lớp 10 Học kì 1 (Đề 1) 178
Đề kiểm tra tập làm văn số 3 lớp 10 Học kì 1 (Đề 2) 178
Đề kiểm tra tập làm văn số 3 lớp 10 Học kì 1 (Đề 3) 179
Đề kiểm tra tập làm văn số 3 lớp 10 Học kì 1 (Đề 4) 179
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 1) 180
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 2) 181
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 3) 183
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 1 (Đề 4) 184
CHUYÊN ĐỀ II KIỂM TRA ĐỊNH KÌ HỌC KÌ II 185
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 1) 185
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 2) 186
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 3) 186
Đề kiểm tra 15 phút Ngữ Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 4) 187
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 1) 188
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 2) 189
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 3) 190
Đề kiểm tra 1 tiết Văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 4) 192
Đề kiểm tra tập làm văn số 5 lớp 10 Học kì 2 (Đề 1) 193
Đề kiểm tra tập làm văn số 5 lớp 10 Học kì 2 (Đề 2) 194
Đề kiểm tra tập làm văn số 5 lớp 10 Học kì 2 (Đề 3) 194
Trang 4Đề kiểm tra tập làm văn số 6 lớp 10 Học kì 2 (Đề 1) 195
Đề kiểm tra tập làm văn số 6 lớp 10 Học kì 2 (Đề 2) 195
Đề kiểm tra tập làm văn số 6 lớp 10 Học kì 2 (Đề 3) 196
Đề kiểm tra tập làm văn số 6 lớp 10 Học kì 2 (Đề 4) 196
Đề kiểm tra tập làm văn số 7 lớp 10 Học kì 2 (Đề 1) 197
Đề kiểm tra tập làm văn số 7 lớp 10 Học kì 2 (Đề 2) 197
Đề kiểm tra tập làm văn số 7 lớp 10 Học kì 2 (Đề 3) 198
Đề kiểm tra tập làm văn số 7 lớp 10 Học kì 2 (Đề 4) 198
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 1) 198
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 2) 200
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 3) 201
Đề thi Ngữ văn lớp 10 Học kì 2 (Đề 4) 202
Trang 5PHẦN I CÁC CHỦ ĐỀ BÀI TẬP
Tuần 1
Tổng quan văn học Việt Nam Câu 1
Câu 1 (trang 13 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Hãy vẽ sơ đồ các bộ phận văn học Việt Nam
Lời giải chi tiết:
Lưu ý: Theo sơ đồ trên, HS có thể biểu diễn thêm các sơ đồ nội dung cụ thể hơn của từng bộ phận Ví dụ:
- Văn học trung đại: văn học được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, chữ Quốc ngữ
- Văn học hiện đại: văn học trước 1945, sau 1945
- Văn học dân gian có thể chia thành 12 thể loại như trong SGK
Câu 2
Câu 2 (trang 13 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Trình bày quá trình phát triển của văn học viết Việt Nam
Lời giải chi tiết:
* Gắn chặt với lịch sử chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước
* Đến nay, văn học viết Việt Nam đã trải qua ba thời kì phát triển lớn Thời kì đầu thuộc loại hình văn học trung đại Hai thời kì sau thuộc phạm trù văn học hiện đại
- Văn học trung đại: gồm hai thành phần là văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm
+ Văn học chữ Hán tồn tại đến cuối TK XIX đầu thế kỉ XX; chịu ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo; tiếp nhận một phần hệ thống thể loại và thi pháp văn học cổ - trung đại Trung Quốc Văn học chữ Hán có nhiều thành tựu rực rỡ
+ Văn học chữ Nôm: Bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ XV; đạt tới đỉnh cao ở cuối thế kỉ XIX Văn học chữ Nôm chịu ảnh hưởng của văn học dân gian khá sâu sắc Thơ chữ Nôm phát triển hơn văn xuôi chữ Nôm
- Văn học hiện đại:
+ Tiếp xúc với các nền văn học châu Âu Chủ yếu được viết bằng chữ quốc ngữ Số lượng tác giả, tác phẩm và người đọc tăng nhanh Nhiều nhà văn, nhà thơ có thể sống bằng nghề Đời sống văn học sôi động hơn nhờ có báo chí và kĩ thuật in ấn hiện đại Lối viết hiện thực lấn át lối viết ước lệ; cái tôi cá nhân dần được khẳng định; nhiều thể loại văn học mới ra đời thay thế hệ thống thể loại cũ
+ Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều nhà văn, nhà thơ đi theo cách mạng, cống hiến tài năng cho
sự nghiệp văn học cách mạng của dân tộc
Trang 6+ Sau năm 1975, văn học phán ánh sâu sắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miêu tả trung thực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và những tâm tư tình cảm của con người Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập
Câu 3
Câu 3 (trang 13 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Dùng hiểu biết của mình để làm sáng tỏ nhận định: Văn học Việt Nam đã thể hiện chân thực, sâu sắc đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng
Lời giải chi tiết:
- Phản ánh mối quan hệ với thiên nhiên
Ở khía cạnh này, các tác phẩm văn học Việt Nam đã khái quát lại quá trình ông cha ta nhận thức cải tạo
và chinh phục thế giới tự nhiên Thiên nhiên bên cạnh những khía cạnh dữ dội và hung bạo, nó còn là người bạn Vì vậy, nó hiện lên trong thơ văn thân thiết và gần gũi, tươi đẹp và đáng yêu Nó đa dạng và cũng thay đổi theo quan niệm thẩm mĩ của từng thời
- Phản ánh mối quan hệ quốc gia dân tộc
Đây là nội dung tiêu biểu và xuyên suốt lịch sử phát triển văn học Việt Nam, phản ánh một đặc điểm lớn của lịch sử dân tộc: luôn phải đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự chủ của mình Mối quan hệ quốc gia dân tộc được văn học đề cập đến ở nhiều khía cạnh mà nổi bật là tinh thần yêu nước (tình yêu làng xóm, yêu quê cha đất tổ, căm ghét các thế lực giày xéo quê hương, ý thức
về quốc gia dân tộc, ý chí đấu tranh, khát vọng tự do, độc lập…) Nhiều tác phẩm của dòng văn học này
đã trở thành những kiệt tác văn chương bất hủ của đất nước ta
- Phản ánh mối quan hệ xã hội
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, văn học Việt Nam cất lên tiếng nói tố cáo phê phán các thế lực chuyên quyền và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những người dân bị áp bức, bóc lột Các tác phẩm thuộc mảng sáng tác này đã thể hiện ước mơ da diết về một xã hội dân chủ, công bằng và tốt đẹp Nhìn thẳng vào thực tại để nhận thức, phê phán và cải tạo xã hội là một truyền thống cao đẹp, là biểu hiện rực
rỡ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học nước ta
- Phản ánh ý thức về bản thân
Ở phương diện này, văn học Việt Nam đã ghi lại quá trình lựa chọn, đấu tranh để khẳng định cái đạo lí làm người của dân tộc Việt Nam trong sự kết hợp hài hoà hai phương diện: tâm và thân, phần bản năng và phần văn hoá, tư tưởng vị kỉ và tư tưởng vị tha, ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng Trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, văn học có thể đề cao mặt này hay mặt khác Song nhìn chung xu hướng của sự phát triển văn học dân tộc là xây dựng một đạo lí làm người với nhiều phẩm chất tốt đẹp như: nhân ái, thuỷ chung, tình nghĩa, vị tha, giàu đức hi sinh
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
A KIẾN THỨC CẦN NHỚ
1 Xét ví dụ sau:
- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi? Họ vừa bắt xong
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc Tôi hỏi cho có chuyện:
- Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co dúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc
(Trích Lão Hạc của Nam Cao)
+ Hoạt động giao tiếp của văn bản trên diễn ra giữa hai nhân vật đó là ông giáo và Lão Hạc Hai người
có quan hệ gần gũi, thân thiết với nhau
Trang 7+ Trong hoạt động giao tiếp trên, lão Hạc là người nói, ông giáo là người nghe Xét về địa vị xã hội, ông giáo là vai trên, lão Hạc là vai dưới, xét về tuổi tác, lão Hạc vai trên, ông giáo vai dưới Trong hoạt động giao tiếp, ông giáo và lão Hạc đã lần lượt đổi vai cho nhau Đầu tiên, lão Hạc thông báo về việc bán chó, sau đó ông giáo hỏi lại, rồi lão Hạc lại tiếp tục kể chi tiết sự việc Khi kể chuyện bán chó, lão Hạc đã khóc và tỏ ra đau đớn, dằn vặt, ông giáo lắng nghe và tỏ ra ái ngại cho lão Hạc
+ Hoàn cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp (hoàn cảnh giao tiếp): Lão Hạc lâm vào cảnh cùng túng, nghèo khổ, phải bán đi cậu Vàng – người bạn duy nhất của lão và là kỉ vật con trai lão để lại Sau khi bán cậu Vàng, lão Hạc đau khổ, day dứt và đến chia sẻ cho ông giáo
+ Hoạt động giao tiếp trên hướng vào nội dung lão Hạc kể với ông giáo sự việc bán chó của mình Mục đích để ông giáo cùng chia sẻ nỗi buồn, sự đau xót, dằn vặt của lão Hạc khi phải bán đi người bạn tri kỉ, đồng thời cũng là cách để lão Hạc bày tỏ nỗi lòng của mình
2 Kết luận
a Khái niệm:
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động trao đổi thông tin của con người trong xã hội, được tiến hành chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ nhằm mục đích về nhận thức, về tình cảm, về hành động,
b Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ gồm có 2 quá trình
- Tạo lập văn bản (do người nói, người viết thực hiện)
- Lĩnh hội văn bản (do người nghe, người đọc thực hiện)
Hai quá trình này diễn ra trong quan hệ tương tác với nhau
c Các nhân tố giao tiếp:
Nhân vật giao tiếp: Ai nói, ai viết, với với ai, viết cho ai?
Hoàn cảnh giao tiếp: Nói, viết trong hoàn cảnh nào, ở đâu, khi nào?
Nội dung giao tiếp: Nói, viết cái gì, về cái gì?
Mục đích giao tiếp: Nói, viết để làm gì, nhằm mục đích gì?
Phương tiện và cách thức giao tiếp: Nói viết như thế nào, bằng phương tiện gì?
B LUYỆN TẬP CỦNG CỐ
1 Phân tích các nhân tố giao tiếp trong câu ca dao dưới đây theo câu hỏi
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:
- Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
a Nhân vật giao tiếp ở đây là những người như thế nào?
b Hoạt động giao tiếp diễn ra vào thời điểm nào? Thời điểm đó thường thích hợp với những cuộc trò chuyện như thế nào?
c Nhân vật “anh” nói về điều gì? Nhằm mục đích gì?
d Cách nói của “anh” có phù hợp với nội dung và mục đích giao tiếp không?
Trả lời:
a Nhân vật giao tiếp trong bài ca dao trên là một chàng trai và một cô gái Cả hai đểu còn trẻ tuổi
b Thời điểm diễn ra hoạt động giao tiếp: “Đêm trăng thanh” Đây là thời điểm thích hợp để chuyện trò, tâm tình của các đôi nam nữ
c Nhân vật “anh” nói về các nội dung:
- Dùng hình ảnh “Tre non đủ lá”, “đan sàng” để dẫn dắt để ngỏ lời với cô gái (Tre non đủ lá: ý muốn hỏi
cô gái đã trưởng thành, chín chắn chưa “Đan sàng” có thể kết duyên cùng chàng trai được không?” đó là nội dung mà chàng trai thể hiện trong cuộc giao tiếp, với mục đích ngỏ ý tế nhị
- Mục đích: ngỏ ý, tỏ tình với cô gái (lời nói mang nghĩa hàm ẩn: con người đã trưởng thành, đã đủ lớn khôn, có nên suy nghĩ đến chuyện kết duyên hay chưa?)
d Cách nói của chàng trai rất tế nhị, nhẹ nhàng, lịch sự, chàng trai đã đưa được các thông tin cần thiết, phù hợp với đối tượng là cô gái mà anh có tình ý Vì thế, cách nói của nhân vật “anh” rất phù hợp với nội dung và mục đích giao tiếp
2 Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
Trang 8Một canh…hai canh…lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh
- Nội dung giao tiếp: Nói về việc Bác không ngủ
- Mục đích giao tiếp: Thể hiện sự băn khoăn, trằn trọc, lo lắng cho vận mệnh đất nước của Bác
- Phương tiện, cách thức giao tiếp: Thông qua việc sáng tác thơ
3 Đọc đoạn hội thoại giữa Tấm và dì ghẻ trong truyện Tấm Cám:
Nghĩ ra được một mưu, mụ dì ghẻ bảo Tấm:
- Trước đây con quen trèo cau, con hãy trèo xé lấy một buồng để cúng bố
Tấm vâng lời trèo lên cây cau Lúc lên đến sát buồng thì ở dưới dì ghẻ cầm dao đẵn gốc Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi:
- Dì làm gì dưới gốc cây thế ?
- Gốc cau lắm kiến, dì đuổi kiến cho nó khỏi lên đốt con
Nhưng Tấm chưa kịp xé cau thì cây đã đổ, Tấm ngã lộn cổ xuống ao, chết
Câu 1 (trang 19 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Trình bày từng đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
Lời giải chi tiết:
Ba đặc trưng cơ bản của văn học dân gian là:
Trang 9- Tính truyền miệng còn biểu hiện trong diễn xướng dân gian (Ca hát chèo, tuồng, cải lương ) Tính truyền miệng làm nên sự phong phú, đa dạng nhiều vẻ của văn học dân gian Tính truyền miệng làm lên nhiều bản kể gọi là dị bản
b Tính tập thể
- Quá trình sáng tác lúc đầu do một cá nhân khởi xướng, nhưng được nhiều người tham gia sửa chữa, thêm bớt, cuối cùng đã trở thành sản phẩm chung, có tính tập thể
- Mọi người có quyền tham gia bổ sung sửa chữa sáng tác dân gian
=> Tính truyền miệng và tính tập thể là những đặc trưng cơ bản, chi phối, xuyên suốt quá trình sáng tạo
và lưu truyền tác phẩm văn học của dân gian, thể hiện sự gắn bó mật thiết của văn học dân gian với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng
Câu 2
Câu 2 (trang 19 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Văn học dân gian Việt Nam có những thể loại nào? Nêu tên gọi, định nghĩa ngắn gọn và ví dụ cho mỗi thể loại
Lời giải chi tiết:
1 Truyện thần thoại
- Thần thoại là hình thức tự sự dân gian, thường kể về các vị thần xuất hiện chủ yếu ở thời công xã nguyên thủy nhằm giải thích các hiện tượng tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên, quá trình sáng tạo văn hóa của người Việt cổ
- Do quan niệm của người Việt cổ, mỗi hiện tượng tự nhiên là một vị thần cai quản như thần sông, thần núi, thần biển nhân vật trong thần thoại là thần khác hẳn những vị thần trong thần tích, thần phả
VD: Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thần trụ trời
2 Sử thi dân gian
- Là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn lao diễn ra trong đời sống cộng đồng của nhân dân thời cổ đại
Ví dụ: sử thi "Đẻ đất đẻ nước" của người Mường dài 8530 câu thơ tả lại sự việc trần gian từ khi hình thành vũ trụ đến khi bản Mường được ổn định
- Nhân vật sử thi mang cốt cách của cộng đồng (tượng trưng cho sức khỏe, niềm tin của cộng đồng) Ví dụ: Đăm Săn chiến đấu với mọi thế lực để đem bình yên cho muôn làng Uylitxơ cùng đồng đội lênh đênh ngoài biển khơi gắn liền với thời đại người Hi Lạp cổ đại chinh phục biển cả
- Xu hướng lí tưởng hóa: Nhân dân gửi vào đó những ước mơ khát vọng của mình Khi có lũ lụt họ ước
có một vị thần trị thủy Khi có giặc họ mơ có một Thánh Gióng Trong hòa bình, họ mơ có một hoàng tử Lang Liêu làm ra nhiều thứ bánh ngày tết Đó là người anh hùng sáng tạo văn hóa
Ví dụ: truyền thuyết Hùng Vương; An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy; Bánh chưng bánh dày
Trang 105 Truyện cười
- Truyện cười thuộc dòng tự sự dân gian rất ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ Truyện xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn trong cuộc sống làm bật lên tiếng cười nhằm mục đích giải trí hoặc phê phán xã hội
- Các mâu thuẫn trong truyện cười
+ Cái bình thường với không bình thường
+ Mâu thuẫn giữa lời nói với việc làm
+ Mâu thuẫn trong nhận thức lí tưởng
=> Từ những mâu thuẫn ấy làm bật lên tiếng cười
Ví dụ: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày
6 Truyện ngụ ngôn
- Truyện viết theo phương thức tự sự dân gian rất ngắn gọn, kết cấu rất chặt chẽ, nhân vật là người, bộ phận của con người, là vật (phần lớn là các con vật) biết nói, có tính cách như người Từ đó rút ra những kinh nghiệm và triết lí sâu sắc
- Nhân vật truyện ngụ ngôn rất rộng rãi có thể là vật, các con vật hoặc người Truyện có thể xảy ra ở bất
- Ngoài chèo còn có những thể loại sân khấu khác cũng thuộc về dân gian như tuồng, cải lương, múa rối
Ví dụ: Chèo Quan Âm Thị Kính, Suý Vân giả dại
Câu 3
Câu 3 (trang 19 SGK Ngữ văn 10 tập 1)
Tóm tắt nội dung các giá trị của văn học dân gian
Lời giải chi tiết:
- Văn học dân gian là kho tàng tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc: những tri thức về tự nhiên và xã hội, vừa mang những giá trị nhân văn của các dân tộc - là kho tri thức phong phú về đời sông của dân tộc
- Văn học dân gian có tác dụng giáo dục tốt, là nhân tố quan trọng trong việc hình thành tâm hồn, nhân cách con người Việt Nam Giáo dục tinh thần nhân đạo, tôn vinh những giá trị con người, yêu thương con người và đấu tranh không mệt mỏi để giải phóng con người khỏi áp bức bất công
Trang 11- Văn học dân gian có giá trị về mặt nghệ thuật, là nơi lưu giữ và phát triển nghệ thuật truyền thống vô giá của dân tộc
+ VHDG là những bài học, kinh nghiệm quý giá được chắt lọc, mài giũa qua không gian và thời gian, trở thành những mẫu mực xứng đáng để học tập
+ Giúp thế hệ sau hiểu biết thêm về đời sống tinh thần phong phú của cha ông
Văn bản
A KIẾN THỨC CẦN NHỚ
1 Xét các ngữ liệu sau:
(1) “Giấy rách phải giữ lấy lề”
(2) Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tối có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con
(3) LỜI KÊU GỌI TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!
Kháng chiến thắng lợi muôn nǎm!
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
HỒ CHÍ MINH
a Cả 3 văn bản được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Văn bản (1): lời khuyên răn, gồm một câu
Văn bản (2): bày tỏ tâm tình, than thân trách phận, gồm nhiều câu, được viết bằng hình thức thơ lục bát Văn bản (3): bày tỏ tâm tình, khơi gợi tình cảm, gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau, được viết bằng văn xuôi
b Các vấn đề được đề cập trong văn bản
+ Văn bản (1): Dù trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, con người cũng phải giữ được cốt cách, phẩm chất của mình
+ Văn bản (2): thân phận của người nông dân trong xã hội cũ
+ Văn bản (3): Kêu gọi mọi người đứng lên kháng chiến chống Pháp
c Tính mạch lạc trong các văn bản nhiều câu
+ Văn bản (2): Mỗi cặp câu lục bát với sự so sánh, ví von, tạo thành một ý riêng, các ý được sắp xếp theo trình tự các sự việc được diễn ra, hai cặp câu thơ liên kết với nhau cả bằng hình thức và nội dung ý nghĩa
Trang 12+ Văn bản (3): Hình thức kết cấu 3 phần: Mở bài, thân bài và kết bài, các ý triển khai có trình tự mạch lạc, rõ ràng: Mở bài đưa ra vấn đề, thân bài triển khai vấn đề, kết bài khẳng định lại vấn đề
d Mục đích của việc tạo lập các văn bản:
+ Văn bản (1): Khuyên răn, dạy bảo con người về lẽ sống (dù sống trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn lấy cốt cách, phẩm chất của mình)
+ Văn bản (2): Đồng cảm, thương xót cho t hân phận của người nông dân trong xã hội phong kiến + Văn bản (3): Khích lệ lòng yêu nước, khơi dậy khí thế trong lòng nhân dân, kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến, chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp
e So sánh các văn bản (1), (2) với văn bản (3):
- Cách thức thể hiện nội dung:
+ Văn bản (1) và (2): thể hiện nội dung bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng
+ Văn bản (3): chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai nội dung, Nội dung bài bao gồm nhiều nội dung nhỏ được liên kết với nhau
f So sánh văn bản (2), (3) của mục I với các loại văn bản khác:
- Phạm vi sử dụng:
+ Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật
+ Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị
+ Các bài học môn Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… trong SGK dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học
+ Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính
- Mục đích giao tiếp cơ bản:
+ Văn bản (2): bộc lộ cảm xúc
+ Văn bản (3): kêu gọi toàn dân đứng lên kháng chiến chống Pháp
+ Các văn bản trong SGK: truyền tải các kiến thức khoa học ở các lĩnh vực toàn diện trong cuộc sống như Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, …
+ Văn bản đơn từ và giấy khai sinh nhằm trình bày, đề đạt hoặc ghi nhận những sự việc, hiện tượng liên quan giữa cá nhân với các tổ chức hành chính
- Lớp từ ngữ riêng:
- Văn bản (2) dùng các từ ngữ gần với ngôn ngữ sinh hoạt, giàu hình ảnh, cảm xúc và liên tưởng nghệ thuật
- Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị, quân sự
- Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học riêng biệt
- Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính trang trọng, đúng khuôn mẫu
2 Kết luận
a Khái niệm văn bản: Là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm một, nhiều câu hay nhiều đoạn
b Các đặc điểm của văn bản:
- Mỗi văn bản tập trung thể hiện một chủ đề
- Các câu trong văn bản có sự liên kết chặt chẽ, kết cấu mạch lạc
Trang 13- Mỗi văn bản có dấu hiệu biểu hiện tính hoàn chỉnh về nội dung
- Mỗi văn bản nhằm thực hiện một hoặc một số mục đích giao tiếp nhất định
c Các loại văn bản phân theo lĩnh vực và mục đích giao tiếp:
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (thơ, truyện, tiểu thuyết, kịch, )
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (thư, nhật kí, )
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học (sách giáo khoa, luận văn, luận án, )
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính (đơn, biên bản, nghị quyết, )
- Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận (tuyên ngôn, hịch, lời kêu gọi, )
- Văn bản thuộc pcnn ngữ báo chí (bản tin, phóng sự, tiểu phẩm, )
B LUYỆN TẬP CỦNG CỐ
1 Đọc đoạn văn sau và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới
Giữa cơ thể và môi trường có ảnh hưởng qua lại với nhau Môi trường có ảnh hưởng tới mọi đặc tính của
cơ thể Chỉ cần so sánh những lá mọc trong các môi trường khác nhau là thấy rõ điều đó Để thực hiện những nhiệm vụ thứ yếu hoặc do ảnh hưởng của môi trường, lá mọc trong không khí có thể biến thành tua cuốn như ở cây đậu Hà Lan, hay tua móc có gai bám vào trụ leo như ở cây mây Ở những miền khô ráo,
lá có thể biến thành gai giảm bớt sự thoát hơi nước như ở cây xương rồng hay dày lên và chứa nhiều nước như ở cây lá bỏng
(Dẫn theo Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997)
a Phân tích tính thống nhất về chủ đề của đoạn văn
b Phân tích sự phát triển của chủ đề trong đoạn văn
c Đặt nhan đề cho đoạn văn
Trả lời:
a) Tính thống nhất về chủ đề của đoạn văn:
+ Toàn bộ đoạn văn tập trung vào làm rõ một ý chính được nêu ở câu đầu đoạn: “Giữa cơ thể và môi trường có ảnh hưởng qua lại với nhau”
+ Các câu văn còn lại trong đoạn đều có tác dụng làm cụ thể thêm cho nội dung của câu chủ đề
b) Đoạn văn được phát triển chủ đề theo hướng từ khái quát đến cụ thể:
+ Câu 1 nêu nội dung khái quát của toàn bộ đoạn văn
+ Câu 2, 3: Liên kết ý khái quát với các dẫn chứng cụ thể ở phía sau
+ Câu 4, 5: Chứng minh rõ sự ảnh hưởng của môi trường đối với cơ thể
c) Có thể đặt nhan đề cho văn bản: Cơ thể và môi trường
2 Viết một số câu khác tiếp theo câu văn dưới đây để tạo một văn bản có nội dung thống nhất, sau đó đặt
nhan đề cho văn bản này
Trả lời:
- Môi trường sống của loài ngưòi hiện nay đang bị hủy họai nghiêm trọng:
+ Rừng đầu nguồn đang bị chặt, phá, khai thác bừa bãi là nguyên nhân gây ra lụt, lở, hạn hán kéo dài + Các sông suối, nguồn nứơc ngày càng bị cạn kiệt và bị ô nhiễm do các chất thải của các khu công nghiệp, của các nhà máy
+ Các chất thải nhất là bao nilon vứt bừa bãi trong khi ta chưa có quy hoạch xử lí hàng ngày
+ Phân bón, thuốc trừ sâu, trừ cỏ sdụng không theo quy hoạch
+ Tất cả đã đến mức báo động về môi trường sống của lòai người
- Đặt nhan đề: Hãy cứu lấy môi trường
Trang 14- Sử thi nảy sinh và tồn tại trong đời sống của các dân tộc ít người, không chỉ với tư cách một tác phẩm nghệ thuật mà còn là pho tượng lịch sử, cuốn sách bách khoa toàn thư của dân tộc đó
- Đặc trưng của sử thi:
+ Nội dung của sử thi có tính rộng lớn, kể về sự kiện trọng đại của quá khứ, biểu hiện toàn bộ đời sống văn hóa, lịch sử của cộng đồng, thể hiện quá trình vận động của tộc người đó qua các giai đoạn khác nhau
+ Nghệ thuật: sử thi là những câu chuyện kể văn xuôi xen lẫn văn vần, có sử dụng các yếu thành ngữ, tục ngữ, những từ ngữ cổ, hình thức nghệ thuật ngôn từ dân gian
- Phân loại sử thi:
+ Sử thi thần thoại như Đẻ đất đẻ nước, Ấm ệt luông, Cây nêu thần… kể về sự hình thành của thế
giới, sự hình thành của muôn loài, sự hình thành các dân tộc…
+ Sử thi anh hùng như Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Đăm Noi… kể về cuộc đời và sự
nghiệp của các anh hùng
Chiến thắng Mtao Mxây
I Đôi nét về tác phẩm Chiến thắng Mtao Mxây
1 Bố cục (3 phần)
- Phần 1 (Từ đầu đến “cắt đầu Mtao Mxây đem bêu ngoài đường”): Trận đánh giữa hai tù trưởng
- Phần 2 (Tiếp đến “Họ đến bãi ngoài làng, rồi vào làng”): Đăm Săn cùng nô lệ ra về sau chiến thắng
- Phần 3 (Còn lại): Cảnh Đăm Săn ăn mừng chiến thắng
2 Tóm tắt
Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây thuộc phần giữa của tác phẩm: Sau khi về làm chồng hai chị em tù trưởng Hơ Nhị và Hơ Bhị, Đăm Săn trở nên một tù trưởng giàu có và uy danh lừng lẫy Các tù trưởng Kên Kên (Mtao Grứ) và tù trưởng Sắt (Mtao Mxây) lừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông lao động sản xuất đã kéo người tới cướp phá buôn làng của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ Cả hai lần ấy Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và chiến thắng, vừa cứu được vợ lại vừa sáp nhập được đất đai của cải của
kẻ địch khiến cho oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có và đông đúc hơn Sau đó Đăm Săn cùng các nô lệ trở về sau chiến thắng và tổ chức ăn mừng, tiệc tùng linh đình
3 Giá trị nội dung
Đoạn trích khẳng định sức mạnh và ngợi ca vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn - một người trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc, xứng đáng là người anh hùng mang tầm vóc sử thi của dân tộc Ê-đê thời cổ dại
4 Giá trị nghệ thuật
- Ngôn ngữ của người kể biến hóa linh hoạt, hướng tới nhiều đối tượng; ngôn ngữ đối thoại được khai thác ở nhiều góc độ Ngôn ngữ trang trọng, kết hợp ngôn ngữ kể, tả của người dẫn truyện và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ngôn ngữ giàu âm thanh và hình ảnh
- Nghệ thuật kể xem lẫn tả
- Các biện pháp nghệ thuật: So sánh, cường điệu, phóng đại, đối lập
II Dàn ý phân tích Chiến thắng Mtao Mxây
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về sử thi Đăm Săn và vị trí đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây: Sử thi Đăm Săn là
bộ sử thi nổi tiếng của dân tộc Ê-đê kể về cuộc đời và sự nghiệp của tù trưởng Đăm Săn Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây nằm ở phần giữa của tác phẩm, kể chuyện Đăm Săn đánh Mtao Mxây cứu vợ trở
về
- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây: Đoạn trích kể chuyện Đăm Săn đánh thắng tù trưởng Mtao Mxây, cứu được vợ, đem vinh quang về cho dân làng Đồng thời, đoạn trích thể hiện được những đặc điểm nghệ thuật của thể loại sử thi anh hùng
II Thân bài
1 Cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây
Trang 15a) Nguyên nhân của cuộc chiến
Đăm Săn khiêu chiến với Mtao Mxây vì Mtao Mxây đã cướp vợ của điều này chứng tỏ Đăm săn là người trọng danh dự cá nhân, cộng đồng; gắn bó với hạnh phúc gia đình; bộ tộc
b) Cuộc chiến giữa hai tù trưởng
- Thái độ của Đăm Săn và Mtao Mxây trước khi bắt đầu trận chiến:
+ Đăm Săn là người khiêu chiến: “Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy”, “ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi ta bổ đôi”, “lấy cầu thang…ta chẻ ra kéo lửa”, “ta hụn cái nhà của nhà ngươi”
→ Thông minh, tự tin, đường hoàng, bản lĩnh và có khí phách
+ Mtao Mxây: “tay ta đang còn bận ôm vợ hai chúng ta”, “ta sợ ngươi đâm ta khi ta đang đi lắm” → Dữ tợn nhưng sợ sệt, hèn nhát, do dự trước kẻ thù
- Cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây
+ Hiệp đấu thứ nhất:
• Mtao Mxây: Múa khiên như trò chơi, khiên kêu lạch xạch như quả mướp khô, chạy bước cao bước thấp, chạy hết từ bãi tây sang bãi đông, tự xem mình là tướng quen đánh trăm trận, quen xéo nát đất đai thiên hạ
→ Mtao Mxây kém cỏi nhưng huênh hoang, khoác lác
• Đăm Săn: thách Mtao Mxây múa khiên trước, lúc Mtao Mxây múa khiên Đăm Săn không hề nhúc nhích Lúc Đăm Săn múa “Một lầm xốc tới, chàng vượt qua đồi tranh Một lần xôc tới nữa chàng vượt qua đồi lồ ô Chạy vun vút qua phái đông, vun vút qua phía tây.”
→ Bình tĩnh, thản nhiên, tài năng và bản lĩnh
+ Hiệp đấu thứ hai: Đăm Săn đớp được miếng trầu mà Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn, sức chàng như tăng lên gấp bội, múa khiên càng mạnh, càng nhanh, càng đẹp, “chàng múa trên cao, gió như bão Chàng múa dưới thaaso, gió như lốc…” Đăm Săn đuổi theo Mtao Mxây trúng nhưng không thửng đầu Miếng trầu là phần thưởng cho Đăm Săn, là sức mạnh của cả cộng đồng, là tấm lòng thủy chung của
vợ
→ Đăm Săn là người có sức mạnh phi thường và tài năng
+ Hiệp đấu thứ ba: Nhờ Trời mách kế, Đăm Săn đuổi theo và đánh thắng được Mtao Mxây Ông Trời
là hình ảnh tượng trưng cho công lí, sức mạnh trí tuệ của đấng tối cao, sự thiên vị rõ ràng đối với Đăm Săn và là lời khẳng định chính nghãi thuộc về chàng Đồng thời, chi tiể ông Trời còn thể hiện mối quan
hệ gần gũi, gắn bó mật thiết giữa con người với thần linh
⇒ Với lối mô tả song hành, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh; bút pháp phóng đại,… đã giúp chúng ta thấy Đăm Săn hơn hẳn Mtao Mxây cả về tài năng, sức lực, phong độ, phẩm chất Sự chiến thắng của Đăm Săn làm nổi bật hình ảnh, tầm vóc của người anh hùng sử thi Đam Săn
2 Đăm Săn cùng nô lệ trở về sau chiến thắng
- Cuộc đối thoại giữa Đăm Săn và nô lệ: Đăm Săn và nô lệ đã đối đáp với nhau 3 lần và mỗi lần ấy đều có
sự khác nhau Qua đó, thể hiện lòng mến phục, sự hưởng ứng tuyệt đối và lòng trung thành của mọi người dành cho Đăm Săn
- Ý nghĩa cảnh Đăm Săn và nô lệ trở về:
+ Sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng của cá nhân anh hùng với quyền lợi, khát vọng của tập thể cộng đồng
+ Thể hiện lòng yêu mến, cảm phục của toàn thể cộng đồng đối với người anh hùng Đó chính là ý chí thống nhất của toàn thể cộng đồng Ê-đê
⇒ Sự ngưỡng mộ và tình cảm mến phục của nhân dân dành cho người anh hùng
3 Cảnh ăn mừng chiến thắng
- Lời ra lệnh mở tiệc: sự tự hào, tự tin vì sức mạnh và sự giàu có của thị tộc mình
- Ra lệnh đánh nhiều cồng chiêng: thể hiện niềm vui chiến thắng và sự giàu có, sung túc, trang trọng cùng
vẻ đẹp tinh thần, vật chất của tù trưởng và của cả thị tộc‟
Trang 16- Quang cảnh nhà Đăm Săn: mở tiệc to, khách đông nghịt, tôi tớ chật ních cả nhà Tác giả dân gian sử dụng nghệ thuật phóng đại, qua đó thể hiện sự tự hào về một bộ tộc giàu mạnh và sự đồng tâm, thống nhất của cả cộng đồng
- Hình ảnh Đăm Săn: Nằm trên võng, tóc thả trên, uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán, đôi mắt long lanh, bắp chân to bằng xà ngang…
→ Hình ảnh Đăm Săn trở thành trung tâm của bức tranh hoành tráng về cảnh chiến thắng Hình ảnh Đăm Săn hiện lên đẹp một cách mạnh mẽ, oai hùng, có sự lớn lao cả về hình thể, tầm vóc lẫn chiến công Qua đó cho thấy cái nhìn đầy ngưỡng mộ, mến phục, tự hào của nhân dân với người anh hùng của cộng đồng
4 Nghệ thuật thể hiện
- Ngôn ngữcủa người kể biến hóa linh hoạt, hướng tới nhiều đối tượng; ngôn ngữ đối thoại được khai thác
ở nhiều góc độ Ngôn ngữ trang trọng, kết hợp ngôn ngữ kể, tả của người dẫn truyện và ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ngôn ngữ giàu âm thanh và hình ảnh
Tuần 4
Thể loại Truyền thuyết
Thể loại Truyền thuyết là gì?
- Truyền thuyết là những câu chuyện kể dân gian, kể lại những câu chuyện trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha ông ta được khúc xạ qua lời kể của nhiều thế hệ để rồi kết tinh thành những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, nhuốm màu thần kì mà vẫn thấm đẫm cảm xúc đời thường
+ Cốt truyện đơn giản, ít tình tiết
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
I Đôi nét về tác phẩm Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
1 Xuất xứ
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quá – một sưu tập truyện dân gian ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XV
2 Bố cục (2 phần)
- Phần 1 (từ đầu đến bèn xin hòa): Quá trình An Dương Vương xây thành, chế nỏ, bảo vệ đất nước
- Phần 2 (còn lại): Bi kịch tình yêu của Mị Châu, Trọng Thủy ggawsnvoiws bi kịch nước mất, nhà tan
3 Tóm tắt văn bản
Sau khi giúp An Dương Vương xây dựng xong Loa Thành, trước khi ra về, thần Kim Quy còn tặng cho chiếc vuốt để làm lẫy nỏ thần Nhờ có nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà khi chúng sang xâm lược Triệu Đà cầu hôn Mị Châu cho Trọng Thuỷ, vua An Dương Vương đồng ý Trọng Thuỷ dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm đổi mất lẫy thần mang về phương Bắc Sau đó, Triệu Đà phát binh đánh Âu Lạc Không còn nỏ thần, An Dương Vương thua trận, cùng Mị Châu chạy về phương Nam Thần Kim Quy hiện lên kết tội Mị Châu, vua chém chết con rồi đi xuống biển Mị Châu chết, máu chảy xuống biển thành ngọc trai Trọng Thuỷ mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, xác liền biến thành ngọc thạch Vì
Trang 17quá tiếc thương Mị Châu, Trọng Thuỷ lao đầu xuống giếng mà chết Người đời sau mò được ngọc trai, rửa bằng nước giếng ấy thì ngọc trong sáng thêm
4 Giá trị nội dung
Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy giải thích nguyên nhân mất nước Âu Lạc và nêu lên bài học lịch sử về việc giữ nước, tinh thần cảnh giác với kẻ thù cùng cách xử lí đúng đắn trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái riêng với cái chung, giữa nhà và nước
5 Giá trị nghệ thuật
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa cốt lõi lịch sử với các chi tiết hư cấu
- Kết cấu chặt chẽ, xây dựng chi tiết hàm đọng, cô đúc, nhiều ý nghĩa cùng với những chi tiết tưởng tượng, hư cấu có giá trị nghệ thuật cao
II Dàn ý phân tích Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về thể loại truyền thuyết: Truyền thuyết là những câu chuyện kể dân gian, kể lại những câu chuyện trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha ông ta, có sự kết hợp giữa cốt lõi lịch sử với yếu tố tưởng tượng, kì ảo
- Giới thiệu xuất xứ, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện an Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy: Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái Truyện kể về quá trình xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của An Dương Vương và nguyên nhân mất nước Âu Lạc
II Thân bài
1 An Dương Vương xây thành, chế nỏ, bảo vệ đất nước
- Vua An Dương Vương xây thành ở đất Việt Thường nhưng gặp rất nhiều khó khăn, “hễ đắp tới đâu là lại lở tới đấy” Vì vậy, vua lập đàn tai giới, cầu đảo bách thần Sau đó, đón tiếp cụ già từ phương Đông tới
và ra tận của đông chờ đợi đón Rùa Vàng
→ An Dương Vương là người quyết tâm, kiên trì, không ngại khó khăn, dồn hết tâm huyết cho việc xây thành, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của đất nước và biết trọng người hiền tài
- An Dương Vương cho xây thành “rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc”
→ Tài năng và tầm nhìn xa trông rộng của An Dương Vương
- Khi Rùa Vàng từ biệt trở về, An Dương Vương lo lắng hỏi: “Nếu có giặc ngoài thì lấy gì mà chống?” → Ý thức, trách nhiệm của người đứng đầu và tinh thần cảnh giác cao độ
- Lấy vuốt rùa làm lẫy, nhờ Cao Lỗ chế nỏ đánh thắng mọi kẻ thù, giặc xâm lược
⇒ Thông qua các chi tiết hư cấu, tưởng tượng (cụ già, Rùa Vàng) truyện đã xây dựng thành công hình tượng vua An Dương Vương - một vị vua anh minh, sáng suốt, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của dân tộc,
vì lợi ích của nhân dân, biết trọng người tài, được sự đồng tâm, giúp đỡ của cả trời đất và nhân dân Vị vua ấy luôn nhận được sự tôn trọng, ngợi ca của toàn thể nhân dân
2 Những sai lầm của An Dương Vương, bi kịch tình yêu của Mị Châu, Trọng Thủy và bài học từ bi kịch mất nước
a) Những sai lầm của An Dương Vương
- Chủ quan, mất cảnh giác: Nhận lời cầu hòa của Triệu Đà, đồng ý gả con gái cho Trọng Thủy và đồng ý cho Trọng Thủy ở rể
- Ỷ lại vào vũ khí mà không đề phòng, lơ là cảnh giác, xem thường kẻ địch: lúc giặc đến chân thành vẫn mải đánh cờ, cười nhạo kẻ thù
- Chi tiết An Dương Vương tự tay giết chết con gái thể hiện hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và lợi ích chung của cả dân tộc, để cái chung lên trên tình riêng đó cũng là sự thức tỉnh muộn màng của An Dương Vương
- Chi tiết An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển đã huyền thoại hóa, bất tử hóa hình tượng vua An Dương Vương, qua đó, thể hiện sự traan trọng, cảm mến của nhân dân với nhà vua
Trang 18b) Bi kịch tình yêu của Mị Châu và Trọng Thủy
kế hoạch đen tối
+ Khi Mị Châu chết, y ôm xác vợ khóc lóc, thương nhớ rồi tự tử Đây chính là sự hối hận muộn màng của Trọng Thủy, đồng thời cho thấy Trọng Thủy cũng là một nạn nhân của cha mình
+ Hình ảnh ngọc trai – giếng nước ở cuối chuyện là cách kết thúc hợp lí nhất cho câu chuyện và cho số phận đôi trai gái Hình ảnh này chứng tỏ sự trong sáng của Mị Châu, sự hóa giải tình cảm của Mị Châu, Trọng Thủy ở thế giới bên kia và đó cũng chính là tấm lòng bao dung, thông cảm của nhân dân dành cho
Mị Châu và Trọng Thủy
c) Bài học từ bi kịch mất nước
- Đề cao tinh thần cảnh giác với kẻ thù, không chủ quan khinh thường trước bất cứ hoàn cảnh nào
- Luôn luôn đặt quan hệ riêng, chung cho đúng mực, phải đặt quyền lợi của dân tộc, đất nước lên trên quyền lợi cá nhân, gia đình
III Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản
- Mở rộng: Bài học dựng nước và giữ nước trong bối cảnh hiện nay
Lập dàn ý bài văn tự sự
A KIẾN THỨC CẦN NHỚ
1 Khái niệm lập dàn ý văn bản tự sự
Lập dàn ý bài văn tự sự là nêu rõ những nội dung chính cho câu chuyện mà mình sẽ viết, sẽ kể
Ví dụ: Lập dàn ý cho bài văn kể về một việc tốt mà em đã làm, người viết phải trình bày được những nội dung chính cho câu chuyện đó của mình như:
- Nêu hoàn cảnh, thời gian diễn ra sự việc
- Kể lại diến biến sự việc:
+ Việc tốt đó là gì? Xảy ra ở đâu?
+ Gặp công việc đó, em đã suy nghĩ như thế nào?
+ Hành động cụ thể của em khi đó là gì?
- Việc làm của em đã mang lại ích lợi như thế nào cho người khác?
- Sau khi làm được một việc tốt, em cảm giác ra sao?
2 Hình thành ý tưởng
Trang 19Để chuẩn bị viết một văn bản tự sự, cần hình thành ý tư¬ởng, dự kiến cốt truyện, suy nghĩ, tư¬ởng tư¬ợng về các nhân vật cùng các sự việc, chi tiết tiêu biểu đặc sắc làm nên cốt truyện Những dự kiến này giúp cho quá trình lập dàn ý đ¬ược rõ ràng hơn và dàn ý cũng cụ thể, chi tiết hơn
Ví dụ: Cho đoạn văn
“Tôi sẽ viết chuyện về cuộc khởi nghĩa của anh Đề, cuộc đời, số phận anh Đề Tôi có ngay cảm giác phải tìm một tên khác cho anh Đề Tên Đề nó Kinh quá, người Kinh quá Tnú, tôi gọi anh bằng tên ấy Nó
“không khí” hơn nhiều
Tôi chưa hình dung câu chuyện, cốt truyện sẽ diễn biến cụ thể ra sao, nhưng tôi đã thấy rõ, cái truyện ngắn này sẽ bắt đầu bằng một khu rừng xà nu - mà tôi sẽ ra sức tả một cách hết sức tạo hình, và truyện sẽ kết thúc cũng bằng một cảnh rừng xà nu, như một vĩ thanh cứ xa mờ dần và bất tận, nghĩa là “bố cục” cơ bản đã thấy được rồi Sau đấy mọi sự bỗng trở nên rõ ràng, dễ dàng đến kì lạ Chị Dít “đến” - như là tất yếu vậy Nhưng tôi muốn Dít sẽ là mối tình sau của Tnú, một mối tình sẽ lờ mờ mà chắc chắn hiện lên ở cuối truyện Vậy thì có phải Mai, chị của Dít Mai đối với tôi chẳng khó khăn gì Tôi đã “có” hàng trăm
cô gái Tây Nguyên để hình dung và dựng lên một cô Mai [ ] Và cái gì để dẫn đến cuộc bùng dậy ghê gớm như vậy của Tnú? Tức phải có một nỗi đau riêng bức bách dữ dội, bật ra từ nỗi đau chung của làng xóm, dân tộc: đứa con bị đánh chết tàn bạo, Mai gục xuống, ngay trước mắt Tnú Chi tiết ấy đến một cách tất yếu Và ông cụ Mết của tôi cũng tất yếu phải đến Ông là cội nguồn Là Tây Nguyên của thời Đất nước đứng lên trường tồn đến hôm nay [ ]
Tất cả trở nên dễ dàng đến ngạc nhiên đối với tôi Tôi hình dung ra, thấy hiển hiện ra tất cả Các chi tiết
tự nó đến: các bà cụ già lụm cụm bò từ trên thang nhà sàn xuống, các cô gái lấy nước ở vòi nước đầu làng , cả đến tiếng nước lanh tanh trong đêm khuya, cả mười ngọn lửa xà nu cháy giần giật trên mười đầu ngón tay đau đớn của Tnú Tất cả, tôi không phải “bịa” thêm gì cả, tôi thấy rõ hết Mặc dầu tất cả đây hoàn toàn là một câu chuyện bịa Mà như thật Với tôi, nó hoàn toàn có thật.”
(Nguyên Ngọc, „Về truyện ngắn Rừng xà nu', Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức biên soạn, Nxb Giáo dục, 2000))
→ Trong văn bản, nhà văn Nguyên Ngọc kể lại câu chuyện về quá trình suy nghĩ, chuẩn bị để sáng tác truyện ngắn Rừng xà nu Từ những con người có thật mà nhà văn đã gặp, từ câu chuyện được nghe, Nguyên Ngọc dự kiến, truyện sẽ mở ra và kết thúc bằng hình ảnh rừng xà nu; phần giữa kể câu chuyện đánh Mĩ qua cuộc đời, số phận của Tnú, ở đó ông sẽ miêu tả quan hệ của Tnú với các nhân vật khác
3 Dàn ý chung
- Mở bài: Giới thiệu câu chuyện (hoàn cảnh, không gian, thời gian, nhân vật, )
- Thân bài: những sự việc, chi tiết chính theo diễn biến câu chuyện
- Kết bài: kết thúc câu chuyện (có thể nêu cảm nghĩ của nhân vật hoặc một chi tiết thật đặc sắc, ý nghĩa)
B LUYỆN TẬP CỦNG CỐ
1 Lập dàn ý cho bài văn viết về câu chuyện: “một học sinh tốt phạm phải một số sai lầm trong “những
phút yếu mềm” nhưng đã kịp thời tỉnh ngộ, “chiến thắng bản thân ”, vươn lên trong cuộc sống, trong học tập
Trả lời:
a Mở bài: giới thiệu câu chuyện (một học sinh học tập chăm ngoan nhưng do bị bạn bè lôi kéo đi chơi điện tử nhiều nên bê trễ việc học nhưng đã kịp thởi tỉnh ngộ do đọc được một cuốn sách của Nguyễn Ngọc Kí về nghị lực sống vượt qua nghịch cảnh)
b Thân bài:
- Linh là học sinh chăm ngoan, học giỏi môn Tiếng anh, vị trí luôn đứng đầu lớp
- Giữa học kì Linh ngày càng thân thiết với một nhóm bạn xấu hay rủ rê bạn bè đi chơi, và đánh điện tử
- Ban đầu, Linh đi cùng chỉ đứng xem, sau đó thấy thích đã lao vào chơi Càng chơi lại càng ham, Linh quên ăn, quên ngủ, quên luôn cả việc học chỉ vì chơi điện tử Thành tích học không được duy trì, ngày càng thụt lùi
- Bị mẹ bắt được trong quán nét sau 2 ngày không về nhà, Linh xấu hổ không dám đến trường
Trang 20- Cô giáo chủ nhiệm đến hỏi thăm, động viên, khuyên bảo
- Sáng hôm sau, em đến lớp với sự hứng khởi và xin cô thêm bài tập để làm ở nhà
- Linh nỗ lực bắt đầu lại từ đầu và lại dành vị trí số 1 của lớp
c Kết bài: Bài học về sự sa ngã trong những phút yếu lòng của Linh là lời cảnh tỉnh cho tất cả các bạn học sinh
2 Lập dàn ý cho bài văn về một kỉ niệm mà em nhớ mãi
Trả lời:
a Mở bài: Thấy các em nhỏ chuẩn bị sách vở, quần áo đón năm học mới, tôi lại nôn nao nhớ đến ngày đầu tiên đi học của mình
b Thân bài:
* Trước ngày khai giảng:
- Trước ngày đi học, tôi được mẹ mua quần áo mới, tập sách mới Lòng nôn nao không ngủ được
- Trằn trọc, rồi lại ngồi dậy mân mê chiếc cặp mới và những quyển tập còn thơm mùi giấy
Sáng, tôi dậy thật sớm, thay bộ đồng phục mới tinh mẹ mua từ mấy hôm trước Trong lòng bồi hồi khó tả
* Trên đường đến trường:
- Chỉnh tề trong bộ đồng phục áo trắng quần xanh, đội nón lúp xúp đi bên cạnh mẹ
- Bầu trời buổi sớm mai trong xanh, cao vòi vọi, vài tia nắng xuyên qua cành cây, tán lá Vài chú chim chuyền cành hót líu lo
- Xe cộ đông đúc, bóp còi inh ỏi
- Hàng quán hai bên đường đã dọn ra, buôn bán nhộn nhịp
- Có nhiều anh chị học sinh với khăn quàng đỏ trên vai, tươi cười đi đến trường
- Hôm ấy là ngày tổng khai giảng năm học mới nên phụ huynh đưa con đến trường thật đông
- Tôi trông thấy vài anh chị trong xóm, các bạn học mẫu giáo chung cũng được ba mẹ đưa đến trường
- Cảnh vật quen thuộc mọi ngày sao hôm nay thấy khác lạ
- Lòng tôi hồi hộp pha lẫn cảm giác e ngại rụt rè khi gần đến cổng trường tiểu học
* Vào sân trường:
- Ngôi trường bề thế, khang trang hơn trường mẫu giáo nhiều
- Trước cổng trường được treo một tấm băng rôn màu đỏ có dòng chữ mà tôi lẩm nhẩm đánh vần được:
“Chào mừng năm học mới”
- Sân trường thật nhộn nhịp với cờ hoa, học sinh, phụ huynh, giáo viên,…trông ai cũng tươi vui rạng rỡ,
áo quần tươm tất
- Các anh chị lớp lớn vui mừng tíu tít trò chuyện với nhau sau ba tháng hè mới gặp lại
- Tôi quan sát thấy nhiều bạn có lẽ cũng là học sinh mới vào lớp một như tôi bởi cái vẻ rụt rè, nhiều bạn còn bíu chặt lấy tay mẹ và khóc nức nở làm mắt tôi cũng rơm rớm theo
- Một hồi trống vang lên, theo hướng dẫn của một thầy giáo các anh chị nhanh chóng xếp hàng vào lớp Chỉ có lũ học trò lớp một bọn tôi là bối rối không biết phải làm gì
- Chúng tôi được các cô giáo chủ nhiệm đọc tên điểm danh, có nhiều bạn được gọi tên nhưng lại sợ sệt im lặng không đáp lời cô đến nỗi phụ huynh phải lên tiếng đáp thay Khi nghe gọi đến tên tôi, tôi giật mình Tim đập nhanh Trán rịn mồ hôi Dù đã đi học mẫu giáo rồi nhưng trong lòng tôi vẫn cảm thấy hồi hộp, lo
sợ thế nào ấy Khi buông tay mẹ để bước vào hàng tôi có cảm giác bơ vơ lạc lõng Vậy là tôi đã bước vào một thế giới khác: Rộng lớn và đầy màu sắc hơn Nhiều bạn òa lên khóc nức nở bám lấy mẹ không chịu xếp hàng, cô giáo phải dỗ dành Các bạn khác cũng khóc theo
- Thầy hiệu trưởng bước lên bục đọc lời khai giảng năm học mới
- Sau đó giáo viên chủ nhiệm dẫn chúng tôi vào lớp Tôi ngoái lại tìm mẹ, chân ngập ngừng không muốn bước Mẹ phải dỗ dành an ủi
* Vào lớp học:
- Ngồi vào chỗ, đón nhận giờ học đầu tiên (Ấn tượng sâu đậm về tâm trạng vừa bỡ ngỡ vừa sợ sệt, hồi hộp, gần gũi và tự tin, )
Trang 21- Mùi vôi mới, bàn ghế sạch sẽ …
- Quan sát khung cảnh lớp học: Các bạn ai cũng ngồi ngay ngắn, háo hức đón giờ học đầu tiên
c Kết bài: Nhớ mãi kỉ niệm trong sáng êm đềm của tuổi thơ
Tuần 5
Uy-lít-xơ trở về
I Đôi nét về tác giả Hô-me-rơ
- Hô-me-rơ tên thật là Mê-lê-xi-gien, là nghệ sĩ hát rong, là thi sĩ mù Ông sinh ra bên nờ sông Mê-lét vào khoảng thế kỉ IX-VII TCN, quê hương của nhà thơ chưa được xác định cụ thể
- Hô-me-rơ là nhà thơ lớn mở đầu cho lịch sử văn học cổ đại Hi Lạp, "cha đẻ của thơ ca Hi Lạp"
- Sự nghiệp sáng tác: I-li-át và Ô-đi-xê, hai sử thi nổi tiếng của đất nước Hi Lạp, thường được coi là sáng tạo của Hô-me-rơ
II Đôi nét về tác phẩm Uy-lít-xơ trở về
1 Hoàn cảnh ra đời
a) Tác phẩm Ô-đi-xê
- Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm: Tác phẩm ra đời trong giai đoạn chiến tranh vừa kết thúc, người Hi Lạp bắt đầu bước vào công cuộc xây dựng hòa bình, khát khao mở rộng địa bàn cư trú ra biển Đồng thời, đây cũng là giai đoạn Hi Lạp chuyển từ chế độ công xã thị tộc sang chiếm hữu nô lệ, gia đình hình thành
- Ô-đi-xê gồm 12 110 câu, chia thành 24 khúc ca Ô-đi-xê kể về cuộc hành trình trở về quê hương của Uy-lít-xơ sau chiến thắng thành tờ-roa Ô-đi-xê là bài ca về cuộc sống hòa bình Tác phẩm ca ngợi sức mạnh trí tuệ của con người
- Chủ đê của tác phẩm: Bài ca lao động, hòa bình, thể hiện cuộc sống và mơ ước của người Hi Lạp cổ đại trong cuộc đấu tranh chinh phục tự nhiên, mở rộng gia lưu, xây dựng cuộc sống gia đình,…
- Phần 2 (còn lại): Pê-nê-lốp thử thách Uy-lít-xơ về bí mật của chiếc giường, Pê-nê-lốp nhận ra chồng
3 Tóm tắt văn bản
Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ "hồi quân" trở về quê hương Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho Ca-líp-xô phải để chàng đi
Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác Về đến nhà, chàng giả dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội Qua màn thử thách về bí mật của chiếc giường, Pê-nê-lốp nhận ra chộng mình và hai vợ chồng Uy-lít-xơ đoàn tụ cùng nhau
4 Giá trị nội dung
Đoạn trích đề cao và ca ngợi vẻ đẹp sức mạnh trí tuệ và tinh thần của con người Đồng thời, làm rõ giá trị hạnh phúc gia đình khi người Hi Lạp cổ đại chuyển từ chế độ thị tộc sang chế độ chiếm hữu nô lệ
5 Giá trị nghệ thuật
- Miêu tả tâm lí nhân vật chi tiết, cụ thể
Trang 22- Lối so sánh sinh động, đặc sắc, mang đậm đặc trưng của sử thi
- Ngôn ngữ trong sáng, hào hùng, giọng kể chuyện chậm rãi, tha thiết
- Khắc họa thành công những mâu thuẫn, xung đột tạo nên sức hấp dẫn cho đoạn trích
III Dàn ý phân tích Uy-lít-xơ trở về
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về tác giả Hô-me-rơ và sử thi Ô-đi-xê
- Khái quát vị trí, giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của đoạn trích Uy-lít-xơ trở về: Đoạn trích thuộc khúc ca thứ 23 của sử thi Ô-đi-xê, kể lại những thử thách và giây phút đoàn tụ hạnh phúc của vợ chồng Uy-lít-xơ
II Thân bài
1 Uy-lít-xơ trở về trong bộ dạng kẻ hành khất và thái độ của mọi người
a) Tác động của nhũ mẫu Ơ-ri-cle tới Pê-nê-lốp
- Nhũ mẫu Ơ-ri-cle:
+ Báo tin Uy-lít-xơ trở về
+ Thuyết phục Pê-nê-lốp: vết sẹo ở chân
+ Đánh cược bằng tính mạng của mình
→ Niềm vui sướng, hạnh phúc đến tột cùng trước sự trở về của Uy-lít-xơ
- Pê-nê-lốp:
+ Không tin, nghi ngờ đó không phải là Uy-lít-xơ, đưa ra phán đoán đó là một vị thần
→ Là người thận trọng, chung thủy với chồng, luôn luôn tỉnh táo và đề cao cảnh giác
+ Phân vân, xúc động, không bác bỏ câu chuyện, xuống lầu không biết ứng xử như thế nào, lặng im, sửng sốt, nhìn đăm đăm, âu yếm
⇒ Pê-nê-lốp là người thận trọng, tỉnh táo và biết kìm nén tình cảm của bản thân
b) Lời trách móc của Tê-lê-mác và thái độ của Pê-nê-lốp
- Tê-nê-mác:
+ Ngay lập tức nhận cha
+ Trách móc mẹ gay gắt: trách mẹ tàn nhẫn với cha, độc ác, sắt đá
→ Thương yêu cha, nôn nóng muốn gia đình đoàn tụ
- Pê-nê-lốp:
+ Thận trọng giải thích, khẳng định sự phân vân trong lòng mình
+ Tin rằng nếu đây đúng là Uy-lít-xơ thì cả hai sẽ sớm nhận ra nhau vì cả hai sẽ có những dấu hiệu nhận biết riêng
⇒ Pê-nê-lốp là người trí tuệ, thông minh, tỉnh táo Đồng thời, nàng còn là con người rất thận trọng, tỉnh táo mà tế nhị, kiên quyết mà thận trọng
- Uy-lít-xơ:
+ Mặc cảm về ngoại hình hiện tại: Hiện giờ cha còn bẩn thỉu, rách rưới nên mẹ con khinh ta
+ Có niềm tin chắc chắn hai vợ chồng sẽ nhận ra nhau
→ Uy-lít-xơ cao quý, nhẫn nại
2 Thử thách của Pê-nê-lốp dành cho Uy-lít-xơ và giây phút gia đình đoàn tụ
a) Cuộc đấu trí giữ Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ
- Lời thử thách:
+ Mượn lời con nói với Uy-lít-xơ ngầm tỏ ý muốn thử thách Uy-lít-xơ
+ Uy-lít-xơ mỉm cười chấp nhận thử thách
- Quá trình thử thách:
+ Pê-nê-lốp sai người khiêng giường ra
+ Uy-lít-xơ yêu cầu kê giường, trầm tĩnh miêu tả cặn kẽ, tỉ mỉ từng chi tiết của chiếc giường
→ Uy-lít-xơ giải mã được bí mật
⇒ Pê-nê-lốp và Uy-lít-xơ là những người trí tuệ, thông minh, khôn khéo và nhạy bén
Trang 23b) Khung cảnh đoàn tụ
- Pê-nê-lốp:
+ Khi Uy-lít-xơ miêu tả chi tiết của chiếc giường cụ thể, tỉ mỉ: “bủn rủn chân tay”, “nước mắt chan hòa chạy lại ôm lấy cổ chàng”, bày tỏ lí do
+ Vui sướng đến tột cùng khi được gặp lại chồng: hình ảnh so sánh “dịu hiền… mong đợi”
→ Pê-nê-lốp là người phụ nữ thủy chung, son sắt với chồng, thông minh, thận trọng, khôn khéo trong cách ứng xử và là người đầy bản lĩnh
- Uy-lít-xơ: ôm lấy vợ, khóc dầm dề, đoàn tụ sau 20 năm xa cách
→ Uy-lít-xơ là người anh hùng với tình cảm gia đình sâu nặng
⇒ Cảnh đoàn tụ đã thể hiện tình cảm gia đình sâu nặng, thủy chung và đầy tình nghĩa
3 Nghệ thuật
- Miêu tả tâm lí nhân vật chi tiết, cụ thể
- Lối so sánh sinh động, đặc sắc, mang đậm đặc trưng của sử thi
- Ngôn ngữ trong sáng, hào hùng, giọng kể chuyện chậm rãi, tha thiết
- Khắc họa thành công những mâu thuẫn, xung đột tạo nên sức hấp dẫn cho đoạn trích
III Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
- Thông qua đoạn trích, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa Hi Lạp thời cổ đại
Tuần 6
Ra-ma buộc tội
I Đôi nét về tác phẩm Ra-ma buộc tội
4 Giá trị nội dung
Trang 24Đoạn trích cho chúng ta thấy được quan niệm của người ấn Độ cổ đại về người anh hùng, về đường quân vương mẫu mực và về người phụ nữ lí tưởng trong xã hội
5 Giá trị nghệ thuật
- Ngôn ngữ: trang trọng, phong phú, biểu cảm
- Xây dựng nhân vật lí tưởng với tâm lí, tính cách, hành động, cử chỉ, ngôn ngữ
- Xây dựng tình huống đầy mâu thuẫn, kịch tính
- Giàu yếu tố sử thi
II Dàn ý phân tích Ra-ma buộc tội
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về sử thi Ra-ma-ya-na: Sử thi Ra-ma-ya-na là một trong hai bộ sử thi nổi tiếng của
Ấn Độ Sử thi Ra-ma-ya-na gồm 24.000 câu thơ đôi, chia thành 24 khúc ca lớn kể về những kì tích của Ra-ma, hoàng tử trưởng của nhà vua Đa-xa-ra-tha
- Giới thiệu về vị trí đoạn trích và khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích: Đoạn trích thuộc chương 79, khúc ca thứ 6 của sử thi Ra-ma-ya-na Đoạn trích tập trung miêu tả diễn biến tâm trạng của Ra-ma và Xi-ta sau khi Ra-ma giải cứu Xi-ta
II Thân bài
1 Hoàn cảnh tái hợp của Ra-ma và Xi-ta
- Nơi gặp gỡ: không gian cộng đồng, trước sự chứng kiến của rất nhiều người
- Ra-ma trong tư cách kép với những ràng buộc kép: Ra-ma vừa là một vị vua, một anh hùng trọng danh
dự đồng thời là một người chồng hết mực yêu thương và xót xa cho vợ của mình
- Vị trí của Xi-ta: vừa là một người vợ xót xa, đau khổ, xấu hổ vừa là một con người đau đớn vì mất đi danh dự của mình
⇒ Hoàn cảnh tái hợp rất đặc biệt, đặt các nhân vật vào tình huống đầy thử thách để thể hiện vai trò của mình trước mọi người
2 Lời buộc tội của Ra-ma
- Trước khi Xi-ta bước lên dàn hỏa thiêu:
+ Rama đã gọi Xita là"phu nhân cao quý", đây ko phải là cách gọi hạ thấp nhưng lại bộc lộ xa lạ, lạnh lùng, quan cách và đầy trịnh trọng, dường như không một chút thân mật
+ Thái độ ghen tuông, nghi ngờ Xi-ta (ngôn từ lạnh lùng, giọng điệu đay nghiến, ghen tuông, xua đuổi Xi-ta, buông những lời xúc phạm tầm thường )
- Khi Xi-ta lên dàn hỏa thiêu: Không nói lời nào, mắt dán xuống đất và đau khổ vô biên khi Xita ta bước lên giàn hỏa thiêu, nhưng kiên quyết hi sinh tình yêu để bảo vệ danh dự của một anh hùng, một đức vua gương mẫu
⇒ Đứng trên tư cách kép (con người xã hội và con người cá nhân), đứng giữa tình yêu và danh dự, Ra-ma đã lựa chọn danh dự để làm tròn nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm của một đức vua Qua đó, ca ngợi phẩm chất anh hùng lí tưởng của Ra-ma
3 Lời đáp và hành động của Xi-ta
- Trước những lời buộc tội của Ra-ma:
+ Nàng ngạc nhiên đến sững sờ: “mở tròn đôi mắt đẫm lệ”
+ Nỗi đau tăng dần: “đau đớn đến nghẹt thở như một dây leo bị vòi voi quật nát”, “nàng muốn chôn vùi hình hài, thân xác của mình…”, “mỗi lời nói của Ra-ma như xuyên vào tái tim nàng một mũi tên”, “nước mắt nàng đổ xuống như suối”, “giọng nói nghẹn ngào, nức nở”…
- Lời đối đáp của Xi-ta:
+ Nàng đổ lỗi cho số phận, bênh vực mình
+ Xi-ta khẳng định: “Nhưng cái gì nằm trong sự kiểm soát của thiếp tức trái tim thiếp đây là thuộc về chàng”
→ Nàng khẳng định trái tim và tình yêu của nàng vẫn một mực thủy chung, dành trọn cho Ra-ma + Nàng trách móc Ra-ma:
Trang 25• “Chàng chẳng cần mạo hiểm để có thể nguy hại đến thân mình và những người bạn hữu của chàng
đã không phải chịu những phiền muộn, đau khổ”
• “Như một người thấp hèn bị cơn dày vò, người đang nghĩ về thiếp như một phụ nữ tầm thường”
• “Vì không thể suy xét cho đúng đắn, chàng đã không hiểu được bản chất của thiếp Chàng không nghĩ đến vì sao hồi còn thanh niên chàng đã cướp thiếp.”
→ Nàng không chỉ trách móc mà còn phê phán Ra-ma Qua đó cho thấy, Xi-ta không phải là người
dễ dàng chấp nhận những phũ phàng, ngang trái Xi-ta là người phụ nữ mạnh mẽ, cương quyết và chung thủy trong tình yêu
- Hành động nhảy vào chảo lửa của Xi-ta:
+ Xi-ta nói với Lắc-ma-na chuẩn bị một dàn hỏa thiêu
+ Xi-ta đi quanh Ra-ma, cúi lậy chư thần, đấng Bra-ma, cầu xin sự chứng giám của thần Lửa A-nhi + Xi-ta lượn quanh dàn thiêu rồi dũng cảm bước vào chảo lửa
+ Thái độ của mọi người: ai nấy, già cũng như trẻ , đau lòng đứt ruột
+ Xi-ta không chết vì nàng nhận được sự che chở của thần lửa và đó cũng chính là sự chứng minh cho đức hạnh và tấm lòng thủy chung của Xi-ta
⇒ Xi-ta là hình tượng người phụ nữ Ấn Độ cổ đại hoàn thiện, đáng được ngưỡng mộ - trong sáng, thủy chung, chân thực
4 Nghệ thuật
- Ngôn ngữ: trang trọng, phong phú, biểu cảm
- Xây dựng nhân vật lí tưởng với tâm lí, tính cách, hành động, cử chỉ, ngôn ngữ
- Xây dựng tình huống đầy mâu thuẫn, kịch tính
- Giàu yếu tố sử thi
III Kết bài
Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích: Qua hai nhân vật ra-ma và Xi-ta giúp chúng
ta hiểu được quan niệm của người Ấn Độ cổ đại về mẫu người anh hùng, đức vua mẫu mực và người phụ
nữ lí tưởng và nghệ thuật khắc họa nhân vật độc đáo của sử thi Ra-ma-ya-na
Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong văn tự sự
A KIẾN THỨC CẦN NHỚ
1 Xét ngữ liệu
Văn bản “An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy”
a Tác giả dân gian đã kể về công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của cha ông ta
b Các sự kiện tiêu biểu trong truyện
+ Dời đô về đồng bằng
+ Xây thành chế nỏ thành công
+ Đánh thắng giặc ngoại xâm
+ Mất cảnh giác dẫn đến mất nước
+ An Dương Vương chém Mị Châu và đi xuống biển
c Các chi tiết tiêu biểu trong truyện
+ Thần Kim Quy đến giúp đỡ xây thành và cho mượn lẫy rùa để chế nỏ
+ An Dương Vương chấp nhận lời cầu hòa và cầu hôn của giặc
+ Trọng Thủy ăn cắp nỏ thần và bỏ về nước
+ Khi giặc đến An Dương Vương vẫn điềm nhiên đánh cờ
+ Trọng Thủy – Mị Châu chia tay nhau, Mị Châu rắc lông ngỗng để chỉ đường
+ Chi tiết ngọc trai – giếng nước
d Trong truyện có sự việc Trọng Thủy và Mị Châu chia tay nhau, Trọng Thủy hỏi Mị Châu: …Ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?” Mị Châu đáp: Thiếp có áo gấm lông ngỗng…để làm dấu Đây có thể coi là những
sự việc, chi tiết tiêu biểu trong “Truyện An Dương Vương và Mị Châu-Trọng Thủy” Vì sự việc Trọng
Trang 26Thủy và Mị Châu chia tay nhau vừa có vai trò dẫn dắt câu chuyện, vừa diễn tả được mối quan hệ riêng của hai nhân vật này:
e Chi tiết rắc lông ngỗng vừa có vai trò duy trì tính logic của cốt truyện, vừa khắc họa tính cách nhân vật
Mị Châu (ngây thơ, cả tin) Nó có tác dụng dẫn dắt câu chuyện, là cái cớ để câu chuyện tiếp tục phát triển theo hướng của một tấn bi kịch (lí giải nguyên nhân vì sao An Dương Vương bị đẩy đến bước đường cùng)
f Sau sự việc Mị Châu - Trọng Thủy chia tay vẫn còn những sự việc tiếp diễn như: Trọng Thủy cùng quân lính đuổi theo 2 cha con An Dương Vương; Sự cùng đường của 2 cha con
2 Kết luận
a Khái niệm
- Sự việc tiêu biểu là sự việc quan trọng góp phần hình thành cốt truyện và gắn với nhân vật chính trong tác phẩm tự sự
- Chi tiết tiêu biểu là chi tiết có giá trị nghệ thuật cao, khiến các sự việc thêm sinh động
- Lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu là khâu quan trọng trong quá trình viết hoặc kể lại một câu chuyện
b Cách chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu
Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu cần:
- Xác định đề tài, chủ đề của bài văn
- Dự kiến cốt truyện (gồm nhiều sự việc nối tiếp nhau)
- Triển khai các sự việc bằng một số chi tiết
B LUYỆN TẬP CỦNG CỐ
1 Hãy xác định 1 số sự việc, chi tiết có trong văn bản “Chiến thắng Mtao-Mxây”?
Trả lời:
- Sự việc:
+ Giao đấu giữa Đăm Săn- MtaoMxây (hiệp 1, hiệp 2)
+ Lễ ăn mừng chiến thắng( lời kêu gọi dân làng, cảnh ăn mừng, hình ảnh Đăm Săn )
- Một số chi tiết:
+ Đăm săn khiêu chiến với Mtao-Mxay
+ Hơ - nhị đáp miếng trầu cho MtaoMxay và Đăm săn đã đớp được
+ Đăm Săn mém chiếc chày mòn vào tai MaoMay và tiêu diệt được hắn
+ Đăm Săn kêu gọi dân làng đi theo mình
2 Em hãy tưởng tượng phần sau truyện “Lão Hạc” (Nam Cao) và kể lại một số sự việc, chi tiết tiêu biểu Trả lời:
- Trở về, thấy cha không còn nữa, anh con trai vô cùng đau đớn, xót xa
- Anh con trai lão Hạc tìm gặp ông giáo… đi viếng mộ cha
- Anh kể với cha về những ngày cơ cực làm ở đồn điền cao su
- Hứa với cha sẽ sống tốt, xứng với những điều cha đã dành cho
- Cảm tạ ông giáo khi đã quan tâm giúp đỡ cha mình
- Anh gửi lại nhà cửa, di vật của cha rồi đi theo cách mạng…
3 Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi
HÕN ĐÁ XÙ XÌ
“Tôi thường tiếc cho hòn đá xù xì trước cửa nhà mình: Nó đen sì sì nằm sấp ở đó như con trâu, chẳng ai biết nó có từ bao giờ, chẳng ai để ý đến nó Mỗi mùa gặt hái, phơi rơm rạ trước cổng, bà nội lại bảo: “Hòn
đá vướng quá, bao giờ mới vần nó đi được”
Bác tôi làm nhà muốn lấy đá xây tường, nhưng khổ một nỗi nó chẳng ra hình thù gì cả, không bằng phẳng, không góc cạnh, dùng búa đục thì tốn sức quá, chẳng bằng ra bãi sông gần đó thả sức chọn vác về còn tốt hơn chán vạn Nhà xây xong, làm bậc hè, bác tôi cũng không chọn đến nó Năm ấy, có bác thợ đá
về làng, đục đẽo cho gia đình tôi chiếc cối đá Bà nội bảo: “Lấy quách hòn đá này, khỏi phải vần từ xa” Bác thợ đá ngắm nghía mãi, rồi lắc đầu, chê chất đá mịn quá không dùng được
Trang 27Nó nằm lặng lẽ ở đó, bóng râm của hòe bên sân không che được nó, hoa cũng chẳng bao giờ mọc trên mình nó Cỏ dại mọc, dây leo lan dần phủ lên nó một lớp rêu xanh màu đen lốm đốm Bọn trẻ chúng tôi cũng ghét hòn đá, đã từng rủ nhau vần đi, song không vần nổi Tuy luôn luôn mắng chê nó, song chẳng biết làm thế nào, đành kệ nó nằm chết gí ở đó
Cuối cùng một hôm, có một nhà thiên văn về làng Ông đi qua ngõ nhà tôi, chợt phát hiện ra hòn đá này, ánh mắt cứ cuốn hút vào nó Ông đã ở lại không đi nữa, và sau đó lại có vài người kéo đến, bảo đó là hòn
đá rơi từ vũ trụ xuống đã hai ba trăm năm, là một hòn đá rất ghê ghớm Sau đó không lâu, một chiếc ô tô đến đã cẩn thận chở hòn đá đi
Chuyện này khiến bọn tôi đứa nào cũng hết sức ngạc nhiên Hòn đá vừa xù xì, xấu xí, vừa tai quái này, thì
ra là từ trên trời rơi xuống Nó đã vá trời, đã từng tỏa nhiệt, tỏa ánh sáng trên trời Tổ tiên chúng ta có lẽ
đã nhìn thấy nó, nó đã đem lại cho tổ tiên ánh sáng, lòng ngưỡng mộ và sự ước ao, song nó đã rơi xuống trong bùn đất, trong cỏ hoang, nằm ở đấy mấy trăm năm ư?
Bà nội đỏ mặt Tôi cũng đỏ mặt
Tôi cảm thấy xấu hổ cho mình, đồng thời cảm thấy cái vĩ đại của hòn đá, thậm chí tôi còn oán giận hòn đá tại sao đã im lặng chịu đựng tất cả bao nhiêu năm nay Song tôi lại lập tức cảm nhận sâu sắc sự vĩ đại của hòn đá đã sống âm thầm và không sợ hiểu lầm”
a Khi kể lại chuyện này, có người định bỏ sự việc hòn đá xấu xí được xác định là rơi từ vũ trụ xuống Theo em, làm như thế có được không? Vì sao?
b Từ đó, em rút ra bài học gì về cách lựa chọn sự việc và chi tiết tiêu biểu khi viết bài văn tự sự?
Trả lời:
a Không thể lược bỏ sự việc “hòn đá xấu xí được xác định là rơi từ trên vũ trụ xuống” vì:
+ Chi tiết này trở thành cơ sở cho sự việc phần kết thúc
+ Chi tiết này lý giải cho sự việc người làng và đám trẻ kia nhận ra vẻ đẹp của hòn đá
+ Chính chi tiết đó tạo nông dung tư tưởng của văn bản: hòn đá xù xì, vô dụng mà trở nên vĩ đại
b Từ những sự việc trên rút ra bài học:
+ Cần lựa chọn những sự việc, chi tiết tiêu biểu để kể
+ Các chi tiết phải góp phần làm nổi bật cốt truyện, đó phải là những chi tiết tiêu biểu, hấp dẫn
- Đặc trưng của truyện cổ tích:
+ Truyện cổ tích xây dựng một thế giới hư cấu, kì ảo
+ Truyện cổ tích là những truyện kể đã hoàn tất, có cốt truyện hoàn chỉnh
+ Truyện cổ tích có tính giáo huấn cao, mỗi câu chuyện là một bài học về đạo đức, ứng xử, về lẽ công bằng, thưởng phạt công minh
Trang 28- Phân loại truyện cổ tích: truyện cổ tích được chia thành ba loại sau
+ Cổ tích về loài vật
+ Cổ tích thần kì
+ Cổ tích sinh hoạt
- Truyện cổ tích thần kì:
+ Là loại truyện cổ tích có nội dung phong phú và số lượng nhiều nhất
+ Đặc trưng quan trọng của cổ tích thần kì là sự tham gia của các yếu tố thần kì vào tiến trình phát triển của câu chuyện
+ Thể hiện ước mơ cháy bỏng của nhân dân lao động về hạnh phúc gia đình, về lẽ công bằng trong xã hội, về phẩm chất và năng lực tuyệt vời của con người
bà hàng nước dọn dẹp nhà cửa và nấu cơm nước Bà cụ xé vỏ thị, Tấm trở lại làm người sống cùng bà lão Nhà vua đi qua ,nghỉ chân tại hàng nước, nhận ra miếng trầu têm cánh phượng của Tấm Tấm được đón trở lại cung làm hoàng hậu Cám bị Tấm trừng trị, dì ghẻ cũng lăn ra chết theo con Tấm sống cuộc sống hạnh phúc suốt đời
4 Giá trị nội dung
Sự biến hóa của Tấm thể hiện sức sống, sức trỗi dậy mãnh liệt của con người trước sự vùi dập của kẻ
ác Đây là sức mạnh của cái thiện chiến thắng cái ác qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng đến cùng Chiến thắng ấy thể hiện niềm tin của nhân dân về sự chiến thắng của cái thiện với cái ác, tinh thần lạc quan và ước mơ về một xã hội công bằng
5 Giá trị nghệ thuật
- Cốt truyện li kì, hấp dẫn với những mâu thuẫn, xung đột ngày càng quyết liệt
- Xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập
- Sử dụng các yếu tố, chi tiết tưởng tượng kì ảo
II Dàn ý phân tích Tấm Cám
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cổ tích và đặc trưng của cổ tích thần kì
Trang 29- Giới thiệu khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích Tấm Cám: Tấm Cám thuộc truyện cổ tích thần kì Truyện kể về thân phận, con đường đi đến, đấu tranh và giữ gìn hạnh phúc của tấm, qua đó thể hiện niềm tin của nhân dân về chiến thắng của cái thiện với cái ác và ước mơ về công lí xã hội
II Thân bài
1 Thân phận và con đường đi đến hạnh phúc của Tấm
a) Thân phận của Tấm
- Số phận của Tấm:
+ Mẹ chết khi còn nhỏ tuổi
+ Cha chết, Tấm ở với dì ghẻ - là mẹ đẻ của Cám
+ Tấm vất vả làm việc suốt ngày đêm
→ Hoàn cảnh đáng thương, côi cút, cô đơn Đồng thời, cô cũng là cô gái hiền dịu và khát khao được vui chơi, hạnh phúc
- Bản chất của mẫu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám
+ Mâu thuẫn gia đình: mâu thuẫn giữa Tấm và Cám, mâu thuẫn giữa Tấm và dì ghẻ
→ Trong hai mâu thuẫn trên, mâu thuẫn giữa Tấm và Cám là mâu thuẫn xuyên suốt toàn truyện, liên tục và ngày càng quyết liệt Còn mâu thuẫn giữa Tấm và dì ghẻ đóng vai trò phụ trợ, bổ sung
+ Mâu thuẫn xã hội: Tấm là hiện thân của cái thiện, hiền lành, lương thiện Còn mẹ con Cám là hiện thân của cái ác, cái xấu Do đó, mâu thuẫn giữa Tấm với mẹ con Cám xét đến cùng là mâu thuẫn giữa cái thiện với cái ác
b) Con đường đến với hạnh phúc của Tấm
- Đi bắt tép: Tấm chăm chỉ xúc đầy giỏ, Cám lừa Tấm trút hết giỏ cá và nhận phần thưởng Tấm khóc, Bụt hiện lên và cho Tấm cá bống
- Mẹ con Cám gạt Tấm đi chăn trâu ở đồng xa, giết cá bống để ăn thịt Tấm khóc Bụt hiện lên bảo Tấm cho xương cá đựng vào bốn chiếc lọ chôn ở bốn chân giường
- Đi trẩy hội, Dì ghẻ trộn thóc lẫn gạo, bắt Tấm nhặt không cho đi trẩy hội Tấm khóc Bụt hiện lên, sai một đàn chhim sẻ xuống nhặt giúp
- Tấm không có quần áo đẹp mặc đi hội Tấm tủi thân khóc Bụt hiện lên cho Tấm quần áo, khăn, giày, xe ngựa Tấm đến gặp vua, đánh rơi chiếc hài và may mắn trở thành hoàng hậu
→ Mâu thuẫn chủ yếu xoay quanh hơn thua về vật chất và tinh thần Tấm bị mẹ con Cám cướp đoạt trắng trợn công sức lao động, phần thưởng, niềm vui tinh thần Tấm luôn thụ động, không tự giải quyết được mâu thuẫn mà phải nhờ vào Bụt
⇒ Tấm nhờ chăm chỉ, lương thiện mà được Bụt giúp đỡ, từ cô gái mồ côi nghèo trở thành hoàng hậu Con đường tìm đến hạnh phúc của Tấm dù có nhiều khó khăn, trắc trở nhưng cuối cùng, Tấm đã tìm được hạnh phúc cho bản thân mình Đó cũng là con đường đến với hạnh phúc của các nhân vật lương thiện trong truyện cổ tích Việt Nam nói chung, truyện cổ tích thế giới nói riêng
2 Con đường đấu tranh giành lấy hạnh phúc của Tấm
- Ngày giỗ bố, Tấm về nhà trèo lên cây cau, gì ghẻ chặt gốc cây, Tấm chết hóa thành chim vàng anh Cám được đưa vào cung thay Tấm
- Chim vàng anh bay vào cung, báo hiệu sự có mặt của mình bằng lời cảnh cáo đanh thép: “Giặt áo chồng tao/ thì giặt cho sạch/ phơi áo chồng tao/ phơi lao phơi sào/ chớ phơi bờ rào/ rách áo chồng tao”, hai mẹ con Cám bắt chim vàng anh, ăn thịt
- Tấm tiếp tục hóa thân vào cây xoan đào và tuyên chiến trực tiếp với hai mẹ con Cám: “Kẽo cà kẽo kẹt/ lấy tranh chồng chị/ chị khoét mắt ra” Hai mẹ con Cám đốt khung cửi
- Từ đống tro tàn, Tấm tiếp tục hóa thân vào quả thị, Tấm trở lại với cuộc đời
- Tấm hóa thành quả thị, ngày ngày chui ra quét dọn, nấu cơm cho bà hàng nước, sau đó gặp lại nhà vua
và trở về làm hoàng hậu Mẹ con Cám ngỡ ngàng và chết một cách thảm khốc
Trang 30→ Mâu thuẫn xung đột ngày càng quyết liệt, dữ dội Tấm luôn trong thế chủ động, đấu tranh mạnh
mẽ, quyết liệt Tấm không còn khóc, không còn Bụt giúp đỡ, những lần hóa thân của Tấm cho thấy sự chiến đấu không khoan nhượng, sức sống mãnh liệt không thể tiêu diệt của cái thiện
⇒ Tấm từ một cô gái nhu mì, thụ động ngày càng trở nên chủ động đấu tranh để giữ hạnh phúc của mình Sự chiến thắng của Tấm là sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác
3 Hành động trả thù của Tấm
- Tấm trở về cung, trở lại làm hoàng hậu, ngày càng trở nên xinh đẹp
- Cám muốn xinh đẹp như chị, Tấm chỉ cách cho Cám, bảo Cám xuống hố sâu rồi dội nước sôi vào hố
Mụ gì ghẻ thấy vậy cũng lăn đùng ra chết
⇒ Hành động trả thù của Tấm là đích đáng, phù hợp với quá trình đấu tranh của Tấm, vì mẹ con cám
đã nhiều lần hại Tấm hòng tiêu diệt Tấm đến cùng, không cho Tấm con đường sống.Tấm phải trả thù thì mới có thể tồn tại Mặt khác, hành động trả thù của Tấm phù hợp với quan niệm của nhân dân về sự chiến thắng cuối cùng của cái thiaanjv ới cái ác bởi mâu thuẫn của Tấm và mẹ con Cám không còn là mâu thuẫn gia đình mà là mâu thuẫn xã hội, là mâu thuẫn giữa thiện và ác, giữ người bóc lột và người bị bóc lột Tấm trả thù là để đòi lại quyền sống , quyền làm người
4 Nghệ thuật
- Cốt truyện li kì, hấp dẫn với những mâu thuẫn, xung đột ngày càng quyết liệt
- Xây dựng nhân vật theo hai tuyến đối lập
- Sử dụng các yếu tố, chi tiết tưởng tượng kì ảo
III Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích Tấm Cám
- Mở rộng vấn đề: Tấm Cám nằm trang kiểu chuyện dân gian quen thuộc, phổ biến ở nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới, song Tấm Cám là câu chuyện đậm chất Việt Nam
Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự
cứ thế nức nở Mẹ tôi cũng sụt sùi theo:
- Con nín đi! Mợ đã về với các con rồi mà
Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi nói Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong, và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người miệng, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trên trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng
(Trong lòng mẹ - Nguyên Hồng)
Đoạn trích trên kể lại giây phút Hồng được gặp lại mẹ Sự việc này được thể hiện thông qua các yếu tố miêu tả và biểu cảm:
- Yếu tố miêu tả đã làm rõ hình ảnh người mẹ trong con mắt của Hồng sau bao năm không gặp
+ Xe chạy chầm chậm Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, và khi trèo lên xe tôi ríu cả chân lại
+ Mẹ tôi không còm cõi xơ xác như cô tôi nói
+ Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò
má
Trang 31+ Hơi quần áo của mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn… thơm tho lạ thường
- Yếu tố biểu cảm thể hiện niềm sung sướng, xúc động của hai mẹ con khi gặp lại nhau, đặc biệt là chú bé Hồng khi được nằm trong lòng mẹ
+ Tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở
+ Hay tại sự sung sướng bỗng chốc được trông thấy cái hình hài… sung túc
+ Tôi thấy những cảm giác ấm áp… khắp da thịt
+ Phải bé lại và lăn vào lòng… êm dịu vô cùng
Yếu tố miêu tả và biểu cảm giúp cho cuộc gặp gỡ giữa Hồng và mẹ trở nên sinh động, cụ thể, hấp dẫn và cảm động hơn.
b Kết luận
- Miêu tả là sử dụng ngôn ngữ làm cho người nghe (người đọc, người xem) có thể thấy sự vật, hiện tượng, con người như đang hiện ra trước mắt
- Biểu cảm bộc lộ những tình cảm, cảm xúc của bản thân trước sự vật, hiện tượng trong đời sống
- Miêu tả trong văn tự sự là phương tiện để làm cho sự vật, con người, sự việc trở nên rõ ràng sinh động Miêu tả trong văn miêu tả là phương thức chính để biểu hiện sự vật, hiện tượng, con người…
- Biểu cảm trong văn tự sự cũng là phương tiện để bộc lộ cảm xúc trước nhân vật, hiện tượng, sự vật Biểu cảm trong văn biểu cảm với mục đích chính thể hiện tình cảm, cảm xúc trước sự vật, hiện tượng
2 Quan sát, liên tưởng tưởng tượng đối với việc miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự
a Xét ngữ liệu
Nếu có lần nằm ngoài trời suốt mấy đêm, hẳn bạn thừa biết giữa lúc chúng ta ngủ thì cả một thế giới huyền bí bừng dậy trong cảnh cô quạnh và u tịch Lúc ấy suối reo rõ hơn, đầm ao nhen lên những đốm lửa nhỏ, /…/ và văng vẳng trong không gian những tiếng sột soạt, những tiếng rung khe khẽ, tưởng đâu cành cây đang vươn dài và cỏ non đang mọc Ban ngày là cuộc sống của chúng sinh còn ban đêm là cuộc sống của cây cỏ Không quen thì dễ sợ… Cho nên tiểu thư của chúng ta cứ mỗi làn nghe thấy một tiếng động nhỏ là đã run lên và nép sát vào người tôi Một lần, từ phía mặt đầm lấp lánh dưới kia nổi lên một tiếng kêu dài, não ruột, ngân vang rền rền tới chỗ chúng tôi ngồi Cũng vừa lúc một vì sao rực rỡ đổi ngôi, lướt trên đầu chúng tôi về cùng một hướng đó, dường như tiếng than vãn mà chúng tôi vừa nghe thấy kia đã mang theo một luồng ánh sáng
- Cái gì thế? – Xtê-pha-nét khe khẽ hỏi
- Có một linh hồn lên thiên đàng, cô chủ ạ – Nói rồi tôi làm dấu thánh
Nàng cũng làm theo và cứ ngồi ngửa cổ như thế một lát, vẻ rất trầm ngâm /…/
Nàng vẫn ngước mắt lên cao, tay đỡ lấy đầu, vai khoác tấm da cừu, nom nàng như chú mục đồng của nhà trời
- Nhiều sao quá! Đẹp quá kìa! Chưa bao giờ tôi thấy nhiều sao như thế này Mục đồng có biết tên các ngôi sao không?
- Dạ có, thưa cô chủ /…/
Và trong khi tôi cố giảng cho nàng thế nào là đám cưới sao thì tôi cảm thấy như có một cái gì mát rượi và mịn màng tựa nhè nhẹ xuống vai tôi Thì ra đầu nàng nặng trĩu vì buồn ngủ đã ngả vào tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng-ten và làn tóc mây gợn sóng Nàng cứ ngồi yên như thế, không nhúc nhích cho đến khi ngàn sao trên trời mời dần, nhoà đi trong buổi ban mai đang rạng Còn tôi, tôi nhìn nàng ngủ, đáy lòng hơi xao xuyến nhưng vẫn giữ được mình vì đêm sao sáng kia bao giờ cũng đem lại cho tôi những ý nghĩ cao đẹp Quanh hai chúng tôi, ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc hành trình trầm lặng ngoan ngoãn như một đàn cừu lớn; và đôi lúc, tôi tưởng đâu một trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất, ngời sáng nhất lạc mất đường đi đã đậu xuống vai tôi mà thiêm thiếp ngủ…
⇒Trong văn bản trên, để miêu tả đêm sao sáng và cô gái, tác giả đã quan sát bằng mắt (thị giác), bằng tai (thính giác), bằng da thịt (xúc giác) ; liên tưởng cô chủ nhỏ như chú mục đồng (cậu bé chăn cừu) của nhà trời; tưởng tượng ra cuộc hành trình thầm lặng của các vì sao như một đàn cừu lớn
Trang 32⇒ Cảm xúc, suy nghĩ của chàng chăn cừu (nhân vật tôi) được rút ra từ: Các hình ảnh quan sát được từ trời sao và cô bé, những liên tưởng của nhân vật tôi, hững sự vật, sự việc gây cảm xúc mạnh: Cô chủ nhỏ ngả đầu lên vai
+ Để câu chuyện không gây cảm giác khô khan, người kể phải: Tìm xúc cảm, rung động từ sự quan sát, liên tưởng, tưởng tượng, hồi ức; từ những sự vật, sự việc đã và đang lay động trái tim người kể
B LUYỆN TẬP CỦNG CỐ
1 Tìm yếu tố miêu tả và biểu cảm trong đoạn trích Phân tích giá trị của các yếu tố đó
Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
- Cụ bán rồi?
- Bán rồi? Họ vừa bắt xong
Lão cố làm ra vẻ vui vẻ Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc Tôi hỏi cho có chuyện:
- Thế nó cho bắt à?
Mặt lão đột nhiên co dúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc
Khốn nạn Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi về thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng Tôi cho
nó ăn cơm Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt
cả bốn chân nó lại Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó
cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?” Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!
(Lão Hạc – Nam Cao)
Trả lời:
- Các yếu tố miêu tả và biểu cảm:
+ Miêu tả: Trông lão cười như mếu, đôi mắt ầng ậng nước Mặt lão đột nhiên co rúm lại, những vết nhăn xô lại với nhau ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc
+ Biểu cảm: Lão cố làm ra vui vẻ, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà khóc òa lên Tôi ái ngại cho lão
- Giá trị biểu hiện: Khắc họa nỗi đau xót, tiếc thương của lão Hạc khi phải bán đi cậu vàng Thể hiện niềm đồng cảm, chia sẻ của ông giáo với lão Hạc
2 Viết một bài văn tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm kể về một lần thăm lại trường cũ
Gợi ý:
a Mở bài: Giới thiệu về ngôi trường cũ của mình
b Thân bài:
- Hoàn cảnh về thăm trường cũ:
+ Nhân ngày kỉ niệm 20/11 tôi về thăm trường, ôn lịa kỉ niệm xưa, thăm thầy cô thăm bạn bè
+ Tôi cảm thấy rât háo hức và mong chờ
+ Chúng tôi cùng về chung một lớp, những ai bận có thể về sau
Trang 33+ Tôi đi trên con đường lúc nhỏ tôi vẫn đi mà sao nay khác hẳn, từng hàng rào, lối đi, đến con đường cũng có cảm giác lạ
- Không khí ngày về thăm trường: Vô cùng nhộn nhịp tấp nập
- Miêu tả cảnh trường: Cổng trường, sân trường, lớp học, bàn ghế hàng cây,
- Miêu tả về thầy cô, bạn bè: Thầy cô, bạn bè đều khác lạ, chỉ có những thầy cô trẻ còn những người thầy dạy tôi năm xưa đã về hưu, hay chỉ còn lại vài người
- Cảm xúc của bản thân: Sung sướng, tự hào khi trường ngày một khang trang, đẹp đẽ Bồi hồi, xúc động khi gặp lại thầy cô, bạn bè, bâng khuâng nhớ đến những kỉ niệm cũ c Kết bài: Suy nghĩ và cảm xúc của bản thân sau lần về thăm trường cũ
Tuần 8
Thể loại Truyện cười
Thể loại Truyện cười là gì?
- Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán
- Đặc trưng của truyện cười:
+ Truyện cười luôn có yếu tố gây cười
+ Truyện cười xây dựng các tình huống đối thoại ngắn gọn
- Phân loại truyện cười:
+ Truyện khôi hài: chủ yếu nhằm mục đích giải trí song vẫn có ý nghĩa giáo dục
+ Truyện trào phúng: chủ yếu nhằm mục đích phê phán, đối tượng phê phán phần lớn là các nhân vật thuộc tầng lớp trên trong xã hội Việt Nam xưa và các thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân
Tam đại con gà
I Đôi nét về tác phẩm Tam đại con gà
1 Xuất xứ
Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát
2 Bố cục (3 phần)
- Phần 1 (từ đầu đến “mời đón về dạy trẻ”): Giới thiệu mâu thuẫn trái tự nhiên
- Phần 2 (còn lại): Các tình huống mâu thuẫn gây cười
3 Tóm tắt
Xưa có anh học trò học hành dốt nát nhưng lại hay khoe chữ Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ Một hôm, dạy đến chữ “kê”, học trò hỏi mà không biết, đánh nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì” Thầy sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, dặn học trò đọc khẽ và đến bàn thờ thổ công xin ba đài
âm dương Xin ba đài được cả ba, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau bảo trẻ đọc to lên Người bố nghe được, phát hiện ra, thầy liền chống chế bằng cách lí sự cùn: dạy thế là để biết đến tam đại con gà
4 Giá trị nội dung
- Từ tình huống mẫu thuẫn trái tự nhiên, truyện bật lên tiếng cười phê phán thói dấu dốt – một thói xấu trong nội bộ nhân dân
- Qua đó, khuyên mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi
5 Giá trị nghệ thuật
- Xây dựng các mâu thuẫn và đẩy các mâu thuẫn đó lên đến đỉnh điểm trong những tình huống kịch tính, giải quyết bất ngờ, hợp lí
- Ngôn ngữ giản dị, có cả vần và nhịp
- Sử dụng nhiều yếu tố gây cười khác nhau: hành động, cử chỉ, câu nói…có tác dụng gây cười
II Dàn ý phân tích Tam đại con gà
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán
Trang 34- Giới thiệu khái quát về truyện Tam đại con gà: Tam đại con gà là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán thầy đồ dốt nát
II Thân bài:
1 Cách giới thiệu nhân vật và mâu thuẫn trái tự nhiên:
- Giới thiệu nhân vật chính – anh học trò dốt nát nhưng thích khoe chữ, “đi đâu cũng lên mặt văn hay chữ tốt”
- Có người mời anh ta về dạy trẻ
→ Mâu thuẫn trái tự nhiên: dốt nhưng dấu dốt, thích khoe chữ
2 Tình huống mâu thuẫn gây cười
- Tình huống 1:
+ Gặp chữ “kê”, thấy mặt chữ nhiều, không biết chữ gì, học trò hỏi gấp, thầy nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”
+ Sợ sai, bảo học trò đọc khẽ
+ Thầy khấn thầm xin ba đài âm ở bàn thờ thổ công
+ Thổ công cho ba đài âm, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau ngồi bệ vệ trên giường, bảo trẻ đọc cho to → Thầy đồ vừa dốt vừa mê tín, lừa bịp trẻ con Tiếng cười bật ra từ chính sự ngu dốt, sĩ diện, thích khoe khoang của thầy đồ Đồng thời, qua đó phên phán sự dốt nát của thầy đồ
- Tình huống 2:
+ Khi bị bố học trò phát hiện, chất vấn, suy nghĩ của thầy đồ: “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”
→ Lời tự nhủ hài hước, biết mình dốt nhưng không chịu thừa nhận
+ Lời ngụy biện của thầy: Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà, “Dù dì là chị con công, con công
là ông con gà” để gỡ bí, lí sự cùn
→ Tiếng cười bật lên từ sự vô lí, láu cá của thầy đồ
⇒ Thầy đồ bộc lộ rõ bản chất là một kẻ dốt nát nhưng thích giấu dốt, thích khoe khoang, láu cá, sĩ diện
3 Ý nghĩa tiếng cười
- Phê phán những kẻ dốt nát nhưng lại dấu dốt, thích khoe khoang
- Phê phán thực trạng xã hội: dốt nát lại làm thầy
- Khuyên nhủ mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi
- Khát quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật
- Bài học rút ra cho bản thân: Truyện vừa đem lại tiếng cười giải trí cho con người, đồng thời mang lại bài học sâu sắc, mỗi người phải không ngừng học hỏi để nâng cao hiểu biết của mình, không được dấu dốt, sĩ diện
Nhưng nó phải bằng hai mày
I Đôi nét về tác phẩm Nhưng nó phải bằng hai mày
Trang 35là phải Thầy lí cũng xoè năm ngón tay trái úp lên năm ngón tay mặt, nói: “…Nhưng… nó lại phải… bằng hai mày!”
3 Giá trị nội dung
Truyện phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong xã hội Việt Nam Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng
4 Giá trị nghệ thuật
- Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ
- Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý
- Sử dụng cách chơi chữ
- Lối kể chuyện tự nhiên, dễ hiểu
II Dàn ý phân tích Nhưng nó phải bằng hai mày
I Mở bài
- Giới thiệu khái quát về thể loại truyện cười: Truyện cười là tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái với tự nhiên trong cuộc sống nhằm giải trí, phê phán
- Giới thiệu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Nhưng nó phải bằng hai mày: Nhưng nó phải bằng hai mày là truyện cười thuộc loại trào phúng, phê phán bọn quan lại tham nhũng
II Thân bài
1 Trước khi xử kiện
- Viên lí trưởng nổi tiếng là người xử kiện giỏi
- Cải và Ngô đánh nhau, mang nhau đi kiện, Cải lót trước cho thầy lí năm đồng, Ngô biện chè lá những mười đồng
→ Mâu thuẫn xuất hiện từ trong chính cách giới thiệu nhân vật – viên quan ăn của đút lót lại nổi tiếng là người xử kiện giỏi Tiếng cười hài hước, thâm thúy bật ra từ mâu thuẫn ấy Đồng thời, từ mâu thuẫn này cũng gợi nên trong người đọc sự hứng thú, tò mò, lôi cuốn người đọc vào vụ xử kiện của lí trưởng
- Cải: xòe bàn tay phải năm ngón
→ Ý nói con đã đút cho thầy năm đồng, thầy phải xử con thắng kiện mới đúng
→ Phê phán hành động đút lót của Cải Đồng thời, tiếng cười cũng bật lên đầy chua chát khi Cải vừa mất tiền lại vừa phải chịu phạt
- Lí trưởng:
+ Hành động: Xòe năm ngón tay trái, úp lên năm ngón tay phải trước mặt
+ Lời nói: “Tao biết mày phải…nhưng nó lại phải…bằng hai mày”
→ Câu nói và hành động của viên lí trưởng ngầm ý nó đút bằng hai mày nên xử nó thắng là điều tất nhiên Tiếng cười bật lên từ chính hành động và lời nói của viên lí trưởng Câu nói đã sử dụng hình thức chơi chữ với chữ “phải”
⇒ Phê phán bản chất tham nhũng, xử kiện vì tiền của quan lại địa phương trong xã hội Việt Nam Đồng thời, phê phán hành vi tiêu cực của một bộ phận nhân dân lao động xưa khi mắc vào vòng vây kiện tụng
3 Nghệ thuật
- Cách tạo tình huống gây cười khéo léo, bất ngờ
- Miêu tả ngôn ngữ và hành động của nhân vật vừa gây cười vừa ẩn ý
Trang 36- Đặc điểm nghệ thuật:
+ Lời thơ thường ngắn gọn
+ Sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể
+ Ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày, giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ
+ Lối diễn đạt bằng một số hình thức mang đậm sắc thái dân gian
Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
I Đôi nét về tác phẩm Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
1 Giá trị nội dung
- Chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa đã thể hiện nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương, chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ Đồng thời, qua đó tô đậm thêm vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong các câu ca
- Lên án, tố cáo, phê phán những thế lực phong kiến đã chà đạp quyền sống, quyền hạnh phúc, yêu thương và hạnh phúc lứa đôi của con người
2 Giá trị nghệ thuật
- Sự lặp lại cách mở đầu bài ca: Thân em như…
- Những hình ảnh thành biểu tượng trong ca dao: cái cầu, tấm khăn, ngọn đèn, gừng cay – muối mặn,…
- Hình ảnh so sánh, ẩn dụ (lấy từ trong cuộc sống đời thường: tấm lụa đào, củ ấu gai,…; lấy từ thiên nhiên, vũ trụ: mặt trời, trăng, sao)
- Thể thơ lục bát; thể văn bốn, song thất lục bát (biến thể); thể hỗn hợp
- Ngôn ngữ giản dị, tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân
II Dàn ý phân tích Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
I Mở bài
- Giới thiệu về thể loại ca dao: Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường có sự kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước,…
- Giới thiệu khát quát về chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa: Ca dao than thân yêu thương, tình nghĩa là chùm ca dao chiếm số lượng lớn trong kho tàng ca dao Việt Nam, đó là tiếng hát than thân, là những lời ca yêu thương, tình nghĩa cất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa, cay đắng nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt Nam sau lũy tre xanh, bên giếng nước, gốc đa, sân đình…
II Thân bài
1 Ca dao than thân
a) Bài 1
- “Thân em”: cách mở đầu quen thuộc trong lời than thân của người phụ nữ Nó gợi nên âm điệu xót xa, ngậm ngùi “Thân em” ở đây không phải để nói về một người phụ nữ cụ thể nào mà là lời chung của của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Trang 37- Nghệ thuật so sánh, ẩn dụ - hình ảnh tấm lụa đào: Hình ảnh tấm lụa đào gợi nên vẻ đẹp dịu dàng, thướt tha, đầy nữ tính
→ Người phụ nữ tự ý thức được sắc đẹp, tuổi xuân và giá trị cảu bản thân mình
- Nghệ thuật so sánh, ẩn dụ - hình ảnh “củ ấu gai”:
+ Miêu tả chân thực, chi tiết về củ ấu gai: ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen
+ Qua hình ảnh cụ ấu gai, tác giả gợi liên tưởng tới hình ảnh người phụ nữ, vẻ bên ngoài họ vất vả, lam
lũ, khó nhọc, nhem nhuốc nhưng bên trong họ tràn đầy vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất
→ Người phụ nữ tự ý thức được vẻ đẹp phẩm chất, trong trắng của mình,
- Hai câu cuối là lời mời mọc da diết của cô gái Ẩn sau lời mời chàng trai nếm thử củ ấu gai của cô gái chính là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình ⇒ Bài ca là lời ngậm ngùi xót xa của người phụ nữ Đồng thời, bài ca còn là lời ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội xưa
c) Bài 3
- Mô-típ mở đầu “trèo lên” quen thuộc trong ca dao Song với cách nói “trèo lên cây khế nửa ngày” là một cách nói đặc biệt, bất bình thường Qua đó, thể hiện hiện tâm trạng thất thần, vẩn vơ, không thể tập trung vào bất cứ việc gì của chàng trai mắc bệnh “tương tư”
- Sử dụng câu hỏi tư từ “Ai làm chua xót lòng này khế ơi”: Câu hỏi tư từ cũng chính là lời bộc bạch của chàng trai Đại từ “ai” là đại từ phiếm chỉ, ngầm ý nhắc tới những thứ dã chia cát tình duyên của chàng Câu hỏi tu từ thể hiện nỗi lòng ngậm ngùi, chua xót của chàng trai khi bị chia cắt tình duyên
- Sử dụng các cặp hình ảnh đối lập: sao Hôm – sao Mai, mặt trăng – mặt trời
→ Sự xa xôi, cách trở trong tình yêu
→ Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai).Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian
- Hai câu cuối như lời giãi bày trực tiếp của chàng trai:
+ “Ta” và “Mình” thể hiện sự thân thiết gắn bó giữa hai người, thể hiện sự gần gũi thân thiết
+ Hình ảnh so sánh, ẩn dụ “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”: Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc Vì thế câu thơ cuối "Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời" như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc
⇒ Bài ca dao thể hiện sự đồng cảm đối với những cảm xúc, nỗi niềm tâ, sự của chàng trai Đồng thời, thể hiện sự trân trọng, ca ngợi những phẩm chất đáng quý ở chàng trai: thủy chung, son sắt
2 Ca dao yêu thương, tình nghĩa
Trang 38a) Bài 4
- 10 câu đầu: Cách thể hiện gián tiếp những cung bậc cảm xúc khác nhau
+ Nghệ thuật điệp cấu trúc nghi vấn “khăn thương nhớ ai”
→ Nhấn mạnh, tô đậm nỗi nhớ triền miên, không ngừng không nghỉ và là lời tự vấn của nhân vật trữ tình
• Hình ảnh “khăn chùi nước mắt”: cảnh khóc thầm, đau khổ đáng thương của biết bao cô gái
⇒ Mượn hình ảnh chiếc khăn, tác giả dân gian đã thể hiện nỗi nhớ triền miên, bâng khuâng, da diết, mang đậm màu sắc nứ tính của cô gái
+ Hình ảnh “đèn”
• Nỗi nhớ được đo theo nhịp thời gian, nhớ từ ngày đến đêm, nỗi nhớ kéo dài triền miên
• Hình ảnh “đèn không tắt”: con người trằn trọc thâu đêm với nỗi nhớ đằng đẵng với thời gian + Hình ảnh “mắt”
• Cô gái tự hỏi chính mình với nỗi ưu tư vẫn còn nặng trĩu: “Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên”
• “Mắt ngủ không yên”: Khắc họa hình ảnh con người thao thức, trằn trọc, lo lắng, bất an trong đêm → Mười câu thơ đầu với nghệ thuật điệp và cách sử dung các hình ảnh so sánh, nhân hóa, ẩn dụ đã khắc họa thành công những cung bậc nhớ thương của cô gái khi yêu
- Hai câu cuối: Cách thể hiện trực tiếp những cảm xúc
+ Đại từ nhân xưng “em” cho thấy chủ thể trữ tình đang trực tiếp bày tỏ cảm xúc của mình
+ “Không yên một bề”: nỗi bất an, lo lắng trong lòng cô gái
→ Hai câu cuối trào ra một nỗi lo lắng, bất an cho hạnh phúc lứa đôi Hạnh phúc ấy thường bấp bênh bởi lẽ trong xã hội phong kiến, tình yêu tha thiết không chắc rằng sẽ đến được hôn nhân
⇒ Bài ca là tiếng hát đầy yêu thương thể hiện qua nỗi nhớ chan chứa tình người, qua đó thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của các cô gái Việt Nam Đồng thời, qua đó lên án, phê phán, tố cáo xã hội phong kiến khoong đem lại hạnh phúc cho con người với quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy
b) Bài 5
- Hình ảnh “sông: gợi không gian xa cách, là khoảng không ngăn cách tình yêu, hạnh phúc đôi lứa
- “Sông rộng một gang”: Cách nói phóng đại, tưởng chừng như vô lí nhưng lại có lí trong tình yêu
→ Ước muốn táo bạo, thể hiện tình yêu mãnh liệt trong lòng cô gái
- Hình ảnh “cầu dải yếm”:
+ “Cầu” là khoảng không gian gần gũi, quen thuộc là nơi gặp gỡ, hẹn hò của các chàng trai, cô gái + “Cầu dải yếm” là cầu do chính cô gái bắc cho người mình yêu, mềm mại, uyển chuyển
→ Sự chủ động, táo bạo nhưng cũng không kém phần tế nhị, duyên dáng, kín đáo của cô gái
⇒ Bài ca dao thể hiện sự đồng tình, ủng hộ với những khát vọng tình yêu mãnh liệt, táo bạo của người phụ nữa Đồng thời, qua đó ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữa, chủ động, táo bạo trong tình yêu nhưng vẫn không kém phần duyên dáng, tế nhị
Trang 39+ Từ ngữ chỉ khoảng thời gian dài, mang tính ước lệ: ba năm, chín tháng
→ Hai câu đầu, mượn hình anh của gừng và muối, tác giả dân gian muốn thể hiện sự thủy chung, gắn bó trong tình nghĩa vợ chồng Đồng thời, những hình ảnh đó còn thể hiện những khó khăn, vất vả, thiếu thốn mà vợ chồng đã cùng nhau trải qua
- Hai câu kết:
+ Đại từ xưng hô: “đôi ta” dùng để chỉ đôi lứa yêu nhau hoặc vợ chồng
+ Thành ngữ “nghĩa nặng tình dày”: sự thủy chung son sắt, nghĩa tình sâu nặng của vợ chồng
+ “Ba vạn sáu ngàn ngày” ý chỉ cả một đời người Nhấn mạnh tình yêu, sự thủy chung của hai người, chỉ có cái chết mới có thể khiến họ chia lìa, rời xa nhau
⇒ Bài ca dao đã thể hiện tình nghĩa thủy chung, gắn bó bền vững của tình cảm vợ chồng khi đã cùng nhau trải qua những cay đắng, khó khăn, vất vả của cuộc đời
Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
A KIẾN THỨC CẦN NHỚ
1 Khái niệm
- Ngôn ngữ nói: Là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hàng ngày
- Ngôn ngữ viết: Là ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản và được tiếp nhận bằng thị giác
2 Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Xét 4 mặt:
- Tình huống giao tiếp
- Phương tiện ngôn ngữ
- Phương tiện hỗ trợ
- Hệ thống các yếu tố ngôn ngữ: Từ ngữ, câu, văn bản
- Người nói ít có điều kiện lựa chọn, gọt giũa các phương tiện ngôn ngữ
- Người nghe ít có điều kiện suy ngẫm, phân tích
- Không tiếp xúc trực tiếp
- Nhân vật giao tiếp trong phạm vi rộng lớn, thời gian lâu dài, không đổi vai
- Người giao tiếp phải biết các ký hiệu chữ viết, qui tắc chính tả, qui cách tổ chức VB.- Có điều kiện suy ngẫm, lựa chọn, gọt giũa các phương tiện ngôn ngữ
Trang 40phương, tiếng lóng, biệt ngữ + Trợ từ, thán từ, từ ngữ đưa đẩy, chêm xen
- Câu: Kết cấu linh hoạt (câu tỉnh lược, câu có yếu tố dư thừa…)
- Văn bản: không chặt chẽ, mạch lạc
+ Sử dụng từ ngữ phổ thông
- Câu: Câu chặt chẽ, mạch lạc: câu dài nhiều thành phần
- Văn bản: có kết cấu chặt chẽ, mạch lạc ở mức độ cao
B LUYỆN TẬP CỦNG CỐ
1 Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ viết thể hiện trong đoạn trích sau:
“Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ, từ những kiều bào ở nước ngoài đến những đồng bào ở vùng tạm bị chiếm, từ nhân dân miền ngược đến miền xuôi, ai cũng một lòng nồng nàn yêu nước, ghét giặc Từ những chiến sĩ ngoài mặt trận chịu đói mấy ngày để bám sát lấy giặc đặng tiêu diệt giặc đến những công chức ở hậu phương nhịn
ăn để ủng hộ bộ đội, từ những phụ nữ khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc tải đạn cho đến các bà mẹ chiến sĩ săn sóc yêu thương bộ đội như con đẻ của mình Từ những nam nữ công nhân và nông dân thi đua tăng gia sản xuất , không quản khó nhọc để giúp một phần vào kháng chiến cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ Những cử chỉ cao quý đó tuy khác nhau nơi việc làm nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước”
(Tinh thần yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh)
Trả lời:
a Từ ngữ: Dùng những từ ngữ bình dị, gần gũi, dễ hiểu với đại chúng
b Dùng từ ngữ liên kết: từ , từ những
c Sử dụng các biện pháp nghệ thuật liệt kê, điệp từ ngữ, điệp cấu trúc câu
2 Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ viết trong đoạn trích sau đây:
Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thê
đã Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này
(Phan Châu Trinh, về luân lí xã hội ở nước ta)
Trả lời:
Cần phân tích đặc điểm về diễn đạt ở hai phương tiện chủ yếu:
- Về từ ngữ: Dùng nhiều thuật ngữ chính trị: nước, đoàn thể, tự do độc lập, truyền bá, xã hội chủ nghĩa, dân,
- Về câu văn: Dùng nhiều câu ghép mạch lạc, có quan hệ từ chỉ mục đích, chỉ điều kiện và hệ quả: muốn thì Hơn nữa, hai câu văn liên kết với nhau theo quan hệ móc xíc
3 Phân tích những đặc điểm của ngôn ngữ nói được ghi lại trong đoạn trích sau:
Chủ tâm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đẩy vai cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ:
- Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy!
Thị cong cớn:
- Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy?
Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên trán cười:
- Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!
Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng
- Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ – Thị liếc mắt, cười tít
(Vợ nhặt – Kim Lân)
Trả lời:
Người nói, người nghe trực tiếp, luân phiên
- Dùng thán từ hô gọi: Nhà tôi ơi, này, kia