1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các tác phẩm vh ngữ văn 9 take note

44 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồng chí
Tác giả Chính Hữu
Trường học Trường Đại học
Chuyên ngành Ngữ Văn 9
Thể loại Bài thơ
Năm xuất bản 1948
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 526,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng chí Tác giả - Chính Hữu 1926-2007: Tên thật là Trần Đình Đắc, bút danh Chính Hữu - Quê quán: huyện Can Lộc, tình Hà Tĩnh - Năm 1946, ông hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng

Trang 1

Đồng chí

Tác giả

- Chính Hữu (1926-2007): Tên thật là Trần Đình Đắc, bút danh Chính Hữu

- Quê quán: huyện Can Lộc, tình Hà Tĩnh

- Năm 1946, ông hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mĩ, là nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp

- Quá trình sáng tác:

+ Ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ năm 1947

+ Đề tài chủ yếu trong các sáng tác tác của Chính Hữu là đề tài chiến tranh và người lính + Tác phẩm chính làm nên tên tuồi của Chính Hữu là tập thơ Đầu súng trăng treo (1966)

- Phong cách sáng tác: mang đậm dấu ấn cá nhân với cảm xúc dồn nén, thiết tha, trầm hùng lại sâu lắng, hàm súc, ngôn ngữ, hình ảnh chọn lọc, đặc sắc

- Cơ sở hình thành tình đồng chí của người lính (6 câu đầu)

- Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí (11 câu tiếp)

- Biểu tượng của tình đồng chí (3 câu cuối)

3 Ý nghĩa nhan đề

Đồng là cùng, chí là chí hướng, đồng chí là những con người có cùng chí hướng trong một tập thể Chính Hữu đặt tên cho bài thơ của mình là “Đồng chí” không chỉ có ý nghĩa viết về những con người cùng chung lí tưởng, chí hướng, cùng làm một đơn vị, cơ quan; mà sâu sắc hơn, ông muốn viết về tình đồng đội, về những con người đồng cảnh, đồng cam cộng khổ, đồng sức chung lòng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc

Trang 2

4 Giá trị nội dung

Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu Tình đồng chí góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và phẩm chất của những người lính cách mạng Qua đó hiện lên hình tượng chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp

5 Giá trị nghệ thuật

o Thể thơ tự do linh hoạt

o Các chi tiết, hình ảnh được sử dụng mang tính tiêu biểu, chân thực

o Ngôn ngữ cô đọng, giản dị và giàu sức biểu cảm

o Chính Hữu là nhà thơ thực thụ ở phía tác giả lẫn tác phẩm Sắc xanh áo lính đã gắn

bó với Chính Hữu trong suốt con đường thơ của ông và nói đến thơ ông là nói đến những trang thơ về người lính

o Đồng chí là bài thơ ngắn ở câu chữ nhưng dài ở sự ngân vang

o Đó là cuộc tự đính chính của tác giả trong nhận thức trong hiện thực Cái đẹp chinh phu đã tháo lui cái đẹp vệ quốc Thi ảnh mĩ miều đã nhường cho cho thi ảnh mộc mà thực của "áo rách vai", "quần vài mảnh vá", "chân không giày" Câu thơ điệu ngâm (hát) óng chuốt lượt là đã nhường lời cho câu thơ điệu nói thô ráp mà tươi rói, vẫn hăng vị đời mà súc tích dư ba (Chu Văn Sơn)

o Đồng chí mang một vẻ đẹp của thời đại mới

o Trong mạch thơ kháng chiến chống Pháp có nhiều bài thơ hay xúc động viết về tình đồng đội, tình quân dân như: “Cá nước” của Tố Hữu, “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Lên Cấm Sơn” của Thôi Hữu… Đặc biệt bài thơ “Đồng Chí” của nhà thơ Chính Hữu đã ghi một dấu ấn sâu đậm- một trong những thi phẩm xuất sắc của thi ca Việt Nam

Trang 3

Liên hệ

1 Ngày về - Chính Hữu

Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng

Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm

Rách tả tơi rồi, đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”

2 Cá nước - Tố Hữu

Giọt lệ mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ

Anh vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế!

3 Đất nước - Nguyễn Đình Thi

Ôm đất nước những người áo vải

Đã đứng lên thành những anh hùng

4 Nhớ - Hồng Nguyên

Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ

Gặp nhau hồi chưa biết chữ

Quen nhau từ buổi "một hai"

Súng bắn chưa quen

Quân sư mươi bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến

Lột sắt đường tàu

Rèn thêm dao kiếm

Áo vải chân không

Đi lùng giặc đánh

5 Giá từng thước đất - Chính Hữu

Đồng đội ta là hớp nước uống chung

6 Chiều mưa đường số 5 - Thâm Tâm

Ôi núi thẳm rừng sâu

Trung đội cũ về đâu

Biết chăng chiều mưa mau

Nơi đây chăn giá ngắt

Nhớ cái rét ban đầu

Thắm mối tình Việt Bắc

7 Tây Tiến - Quang Dũng Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

8 Việt Bắc - Tố Hữu Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

9 Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng

Trang 4

Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Tác giả

- Phạm Tiến Duật (1941- 2007)

- Quê quán: huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ

- Năm 1970, ông đạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn Nghệ, ngay sau đó Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam

- Chiến tranh kết thúc, ông trở về làm tại ban Văn Nghệ, Hội nhà văn Việt Nam

- 2001, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật

- 2012, ông nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn Học Nghệ thuật

+ Các tác phẩm tiêu biểu: “Vầng trăng quầng lửa”, “Nhóm lửa”, “Tiếng bom và tiếng chuông chùa”…

- Phong cách sáng tác : thơ của Phạm Tiến Duật giọng điệu rất sôi nổi của tuổi trẻ vừa có

cả sự ngang tàn tinh nghịch nhưng lại vô cùng sâu sắc

- Tư thế thế ung dung hiên ngang của người lính lái xe không kính (khổ 1,2)

- Tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn gian khổ và tinh thần lạc quan, sôi nổi của người lính (khổ 3,4)

- Tinh thần đồng chí đồng đội thắm thiết của người lính lái xe (khổ 5,6)

- Lòng yêu nước và ý chí chiến đấu vì miền Nam (khổ 7)

3 Ý nghĩa nhan đề

Nhan đề mang đề tài của bài thơ: Tiểu đội xe không kính Tiểu đội là đơn vị cơ sở nhỏ nhất trong biên chế của quân đội ta, tiểu đội xe không kính trong bài thơ mang ý nghĩa khốc liệt của chiến tranh Một cái tên trần trụi, không mĩ miều, hàm súc như bao nhan đề bài thơ

Trang 5

khác, đối lập với quan niệm cái đẹp văn chương thuần túy Cái đẹp với Phạm Tiến Duật là từ trong những diễn biến sôi động của cuộc sống mà ùa vào thơ

4 Giá trị nội dung

Bài thơ khắc họa nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe không kính qua đó làm nổi bật hình ảnh những người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong thời kì kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt, họ ung dung hiên ngang, dũng cảm lạc quan có tinh thần đồng chí đồng đội và một ý chí chiến đấu giải phóng Miền Nam

o Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã “ghi lại những nét ngang tàng, dũng cảm và lạc quan của người chiến sĩ lái xe trong binh đoàn vận tải quân sự, qua đó ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng VN thời chống Mĩ”

o Hồn thơ Phạm Tiến Duật phóng khoáng, rộng mở, cái đẹp của cuộc sống chiến đấu

đi vào thơ ông tự nhiên và rất thật” Ông cho rằng, thơ Phạm Tiến Duật “là tiếng nói khoẻ khoắn, đôn hậu, bắt nguồn trực tiếp từ cuộc sống chiến đấu sôi nổi mà hào hùng của dân tộc (Nguyễn Ngọc Thiện)

o Thơ Phạm Tiến Duật đầy rẫy những chi tiết đời sống đánh Mỹ chính xác, cụ thể như hiện vật trong bảo tàng… (Vũ Quần Phương)

o Phạm Tiến Duật được ca tụng là “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, “cây săng lẻ của rừng già”, “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ” và “ngọn lửa đèn” của một thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ Thơ ông thời chống Mỹ từng được đánh giá là “có sức mạnh của cả một sư đoàn”

Trang 6

o Tác giả đã đưa vào bài thơ chất liệu hiện thực sinh động của cuộc sổng ở chiến trường, ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên

o Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật là một khúc tráng ca trong bản giao hưởng anh hùng về người lính trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước Liên hệ

1.Giải phóng quân - Phan Huỳnh Điểu

“Đoàn giải phóng quân một lần ra đi

Nào có sá chi đâu ngày trở về

Ra đi ra đi bảo tồn sông núi

Ra đi ra đi thà chết chớ lui.”

2 Chào xuân 67 - Tố Hữu

Nếu được làm hạt giống để mùa sau

Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa

Vui gì hơn làm người lính đi đầu

Trong đêm tối, tim ta làm ngọn lửa!

Anh là chiến sỹ Giải phóng quân

Tên Anh đã thành tên đất nước

Ôi anh Giải phóng quân!

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng

Tân Sơn Nhứt

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân

4 Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm

Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh

6 Trái tim người chiến sĩ - Trần Viết Được

Một trái tim biết yêu tha thiết đất nước quê hương

Một trái tim biết căm thù quân xâm lược Một trái tim rực lửa anh hùng

7 Con mắt Bạch Đằng, con mắt Đống

Đa - Chế Lan Viên

“Những năm đất nước có chung tâm hồn, có cùng khuôn mặt

Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau”

8 Sao chiến thắng - Chế Lan Viên

Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt, Như mẹ cha ta, như vợ như chồng

Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết

Trang 7

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông

9 Chào xuân 67 – Tố Hữu

- Bốn nghìn năm ta lại là ta

- Ta sẵn sàng xé trái tim ta

- Ta hiểu vì ai ta chiến đấu

Ta hiểu vì ai ta hiến máu

Làng Tác giả

- Kim Lân (1920- 2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài

- Quê quán: Huyện Từ Sơn- tỉnh Bắc Ninh

- Sự nghiệp sáng tác

+ Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và bắt đầu viết từ năm 1941

+ Tác phẩm của ông được đăng trên các báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ nhật

+ Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

+ Những tác phẩm tiêu biểu: “Vợ nhặt”, “Làng”, “Nên vợ nên chồng”…

- Phong cách sáng tác: Ông chuyên viết truyện ngắn nên ngòi bút của ông luôn vững vàng, ông hay viêt về cuộc sống và con người ở nông thôn bằng tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng

- Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư (Từ đầu đến “không nhúc nhích”)

- Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc (Từ tiếp đến “ đôi phần”)

- Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính (còn lại)

Tóm tắt: Ông Hai là một người nông dân sống ở làng Chợ Dầu, do chiến tranh nên ông phải

đi tản cư Ở nơi tản cư, ông luôn tự hào về cái làng của mình và mang nó khoe với mọi người Khi tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông sững sờ, cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, xấu hổ tới mức cứ cúi gằm mặt xuống mà đi Suốt mấy ngày ở nhà, ông chẳng dám đi

Trang 8

đâu, mang nỗi ám ảnh nặng nề, đau đớn, tủi hổ, bế tắc, tuyệt vọng Tâm trạng ông bế tắc khi mụ chủ nhà nói sẽ đuổi hết người làng Chợ Dầu khỏi nơi sơ tán Rồi cái tin cải chính khiến ông sung sướng đi khoe về làng mình với tâm trạng như lúc ban đầu, ông hạnh phúc khi khoe Tây nó đốt nhà mình

3 Ý nghĩa nhan đề

Nhan đề của tác phẩm được Kim Lân đặt là “Làng” mà không phải là “Làng Dầu” vì nếu là

“Làng Chợ Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới không chỉ nằm trong phạm ở một làng cụ thể nào cả Dụng ý của tác giả muốn nói tới một vấn đề mang tính phổ biến ở khắp các làng quê, có trong mọi người nông dân Qua đó ta hiểu chủ đề của truyện nhằm ca ngợi tình yêu làng quê tha thiết và những chuyển biến mới trong tình cảm của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp Tóm lại, nhan đề “Làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng của những người dân quê đất Việt đối với đất nước

4 Giá trị nội dung

Tác phẩm đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai

5 Giá trị nghệ thuật

- Truyện xây dựng cốt truyện tâm lí, tình huống thử thách nội tâm nhân vật

- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc và tinh tế

- Ngôn ngữ của truyện rất đặc sắc, nhất là ngôn ngữ nhân vật ông Hai mang đậm chất khẩu ngữ và là lời ăn tiếng nói của người nông dân tuy mộc mạc lại mang đậm cá tính của nhân vật, rất sinh động

Nhận định

o Truyện ngắn này không phải viết về đời sống nơi tản cư mà viết về tình cảm của con người với làng xóm, quê hương Truyện viết về chính những người dân làng tôi Hồi ấy gia đình tôi cũng đi sơ tán, trên khu ở mới, có tin đồn làng tôi là làng Việt gian Mọi người đều nhìn những người dân làng với con mắt chế giễu, khinh thường Tôi yêu ngôi làng của tôi và không tin dân làng tôi có thể đi theo giặc Pháp Tôi viết truyện ngắn “Làng” như thể để khẳng định niềm tin của mình và minh oan cho làng tôi.(Tác giả nói về tác phẩm)

Trang 9

o Cái làng đối với người nông dân – đặc biệt là ở vùng Bắc Bộ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của họ Nó gắn bó thân thiết với họ hàng ngày và suốt cả cuộc đời, cả đến khi giã từ cuộc đời Vì thế, từ bao lâu nay, lòng yêu làng quê đã trở thành một tình cảm tự nhiên, sâu nặng, hơn nữa đã thấm sâu vào tâm thức, tâm linh của người dân quê Làng là nơi tổ tiên, ông bà từng sinh sống, là môi trường sinh hoạt, là cộng đồng gắn kết trong phong tục, tập quán, quy ước, truyền từ đời này sang đời khác (Nguyễn Văn Long, Cảm thụ và phân tích tác phẩm văn học lớp 9)

o Làng không chỉ thể hiện sinh động những nét chân chất quen thuộc vốn có mà còn phát hiện được những nét mới mẻ của người nông dân thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, qua lối kể chuyện tự nhiên và các yếu tố nghệ thuật đặc sắc

o Có thể nói linh hồn của truyện ngắn “Làng” là nhân vật ông Hai Kim Lân đã đưa vào văn học một bức chân dung sống động, đẹp một vẻ riêng về người nông dân Việt Nam những ngày đầu kháng chiến, những con người bình thường và những điều tốt đẹp của họ - lòng yêu làng, yêu nước – được khơi dậy và hoàn thiện để ngày càng đẹp đẽ (Trích Bích Ba, Bình giảng văn 9)

Liên hệ

1 Quê hương - Giang Nam

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm

đất

Có một phần xương thịt của em tôi!

2 Đất nước - Nguyễn Đình Thi

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Ðêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về!

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

Từ những năm đau thương chiến đấu

Ðã ngời lên nét mặt quê hương

Bát cơm chan đầy nước mắt Bay còn giằng khỏi miệng ta Thằng giặc Tây, thằng chúa đất Ðứa đè cổ, đứa lột da

Xiềng xích chúng bay không khoá được Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được Lòng dân ta yêu nước thg nhà!

Trang 10

Ðã đứng lên thành n~ anh hùng

3 Việt Bắc - Tố Hữu

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng

4 Danh ngôn, câu nói

"Tôi chỉ tiếc rằng tôi chỉ có một cuộc đời để hy sinh cho Tổ quốc."(Nathan Hale)

"Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành." (Hồ Chí Minh)

"Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,

kẻ thù nào cũng đánh thắng." (Hồ Chí Minh)

Trang 11

Lặng lẽ Sapa Tác giả

- Nguyễn Thành Long (1925-1991) còn có một số bút danh khác như Lưu Quỳnh, Phan Minh Thảo

- Quê quán: sinh ra tại huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam,

- Sự nghiệp sáng tác:

+ Năm 1943 ông viết báo cho Thanh Nghị

+ Sau cách mạng tháng Tám ông tham gia hoạt động văn nghệ trong những năm kháng chiến chống Pháp và bắt đầu viết văn

+ Sau 1954, Nguyễn Thành Long chuyển về sáng tác và biên tập ở các báo chí, nhà xuất bản

+ Năm 2008, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Lao đông hạng Nhì

+ Các tác phẩm tiêu biểu: “Bát cơm Cụ Hồ”, “Giữa trong xanh”, “Gió bấc gió nồm”…

- Phong cách sáng tác: Ông là một cây bút chuyên viết về truyện ngắn và kí Đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo ra những hình tượng đẹp đẽ, ngôn ngữ rất giàu chất thơ trong trẻo và nhẹ nhàng

- Giới thiệu với độc giả về cuộc gặp gỡ tình cờ (Từ đầu đến “kìa anh ta kìa”)

- Diễn biến của cuộc gặp gỡ (Tiếp đến… “Không có vật gì như thế”)

- Cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa anh thanh niên và đoàn khách (Còn lại)

Tóm tắt: Trên chuyến xe khách từ Hà Nội lên Lào Cai, ông họa sĩ già, bác lái xe, cô kĩ sư trẻ tình cờ quen biết nhau Bác lái xe đã giới thiệu cho họ làm quen với anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn Trong cuộc gặp gỡ ba mươi phút ngắn ngủi, anh thanh niên đã tâm sự với mọi người về cuộc sống và công việc của anh Ông họa sĩ muốn được

vẽ chân dung anh Anh từ chối và giới thiệu với ông những người khác mà anh cho là xứng đáng hơn Những con người tình cờ gặp nhau bỗng trở nên thân thiết Họa sĩ đã kịp ghi lại

Trang 12

kí họa chân dung anh Anh đã làm cô kĩ sư và ông họa sĩ sống dậy những khát vọng cống hiến Họ đã chia tay trong tình cảm lưu luyến, xúc động

3 Ý nghĩa nhan đề

Khi nhắc đến Sapa người ta thường nghĩ ngay đến vẻ yên tĩnh của một nơi nghỉ ngơi lý tưởng Sa Pa lặng lẽ, đó chỉ là cái vẻ lặng lẽ bên ngoài, nhưng thực ra nó lại không lặng lẽ, bởi đằng sau cái vẻ lặng lẽ của Sa Pa là cuộc sống sôi nổi của những con người đầy trách nhiệm đối với công việc, đối với đất nước, với mọi người mà tiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng một mình trên đỉnh núi cao

Tạo ra sự đối lập nhan đề tác phẩm tác giả muốn làm nổi bật nội dung, ý nghĩa ma tác giả muốn gửi gắm

Qua nhan đề tác phẩm, tác giả muốn gửi đến mọi người thông điệp: “Trong cái không khí lặng im của Sa Pa Sa Pa mà ta nhắc tới người ta chỉ nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi lại có những con người ngày đêm lao động hăng say, miệt mài lặng lẽ, âm thầm, cống hiến cho đất nước nhưng không hề đòi hỏi quyền lợi cho bản thân mà tất cả vì ý thức trách nhiệm đối với tổ quốc.”

4 Giá trị nội dung

Truyện ngắn khắc họa thành công hình ảnh những con người lao động thầm lặng công hiến cho đời mà tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh núi cao Qua đó ngợi ca vẻ đẹp của người lao động và ý nghĩa của những công việc thầm lặng nhưng quan trọng vô cùng

Trang 13

Nhận định

o "Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Thành Long tương tự như một mảng đời, một trang đời, một nét của cuộc sống chắt ra Ta thường gặp ở Nguyễn Thành Long những nhận xét nho nhỏ như nhắc khẽ người đọc." (Tô Hoài)

o “Đọng lại khi đọc Lặng lẽ Sa Pa là niềm vui đang cựa mình trỗi sống, là khát vọng được cống hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước, bằng sự nghiệp giản dị mà cao cả của mình Hạnh phúc nảy mầm mỗi khi con người ý thức được phận vị của mình và hoạt động tự giác, hăng say với tất cả những khả năng mà mình có được Qua một cảnh ngộ gặp gỡ, với mấy con người giản dị, trong truyện ngắn lãng mạn diệu kì, Nguyễn Thành Long đã khơi gợi trong lòng người đọc biết bao suy nghĩ Lặng lẽ và thâm trầm, hào hứng và sôi nổi, ngỡ ngàng và lắng đọng, truyện ngắn đã gieo vào lòng người đọc cảm nhận sâu sắc về hạnh phúc Và sự lan tỏa của hạnh phúc.” (Tạp chí Nhà Văn số 4/2013)

o "Văn Nguyễn Thành Long như một bài thơ buồn êm dịu, một bông cúc nhỏ xinh run rẩy nở trong sương sớm Ta ngơ ngẩn trước vẻ đẹp của bông hoa mà quên mất bông hoa ấy đã từng được bàn tay của người làm vườn chăm tưới Nhiều khi, hồn văn Nguyễn Thành Long làm dịu mát lòng ta như mạch nguồn trong trẻo, dịu dàng." (Châu Hồng Thủy – Matxcơva 18-08-1997)

o “Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn người đọc bằng giọng văn trong sáng, giàu chất thơ, nhẹ nhàng, thoải mái, cốt truyện tưởng như đơn giản mà giàu ý nghĩa khái quát…Tuy tính cách và nghề nghiệp của các nhân vật khác nhau nhưng tất cả đều có chung một thái độ sống, lao động, làm việc và cống hiến hết mình cho Tổ quốc một cách vô tư, âm thầm, lặng lẽ Đó là một truyện ngắn hay và tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng, kín đáo mà rất sâu sắc và thấm đẫm chất thơ.” (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường)

o “Tập trung nhiệt thành ca ngợi những con người lao động mới, dám nghĩ, dám làm, không sợ khó khăn gian khổ, say mê trong lao động sáng tạo, nhân hậu và tha thiết yêu cuộc sống…Truyện của Nguyễn Thành Long hấp dẫn người đọc bằng giọng văn trong sáng, giàu chất thơ, nhẹ nhàng, thoải mái, cốt truyện tưởng như đơn giản mà giàu ý nghĩa khái quát…Tuy tính cách và nghề nghiệp của các nhân vật khác nhau nhưng tất cả đều có chung một thái độ sống, lao động, làm việc và cống hiến hết mình cho Tổ quốc một cách vô tư, âm thầm, lặng lẽ Đó là một truyện ngắn hay và tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long: nhẹ nhàng, kín đáo mà rất sâu sắc và thấm đẫm chất thơ.” (Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường)

Trang 14

Liên hệ

1 Một khúc ca - Tố Hữu

“Đã làm con chim, chiếc lá

Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

Lẽ nào vay mà không trả

Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”

2 Sống là - Bùi Văn Tình (Hữu Tình)

Sống là chi, là cho và nhận lại,

Sống là mơ, là ước vọng tương lai

Là cống hiến sức mình cho cuộc đời

Để nhắm mắt lại, tâm hồn thảnh thơi

3 Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải

Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc

4 Thép tôi đã thế đấy - Nicolai Ostrovsky

“Cái quý nhất của con người ta là sự sống

Đời người chỉ sống có một lần Phải sống

sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm

tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ

thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta

đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người.” (Pavel Corsaghin)

5 Khát vọng tuổi trẻ - Bích Hậu Nhiệt huyết tràn trề sức trẻ Bao đam mê, khao khát theo về Chí cháy trời xanh, hướng phủ bốn bề Lòng trẻ rộng, đem đất trời hóa chật Như con chim non muốn vượt ngàn dặm đất

Như cây rừng muốn vươn mình chạm ánh dương xa

6 Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm

Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Trang 15

Bếp lửa Tác giả

- Bằng Việt, tên khai sinh Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941

- Quê: Thạch Thất, Hà Tây ( Hà Nội)

- Làm thơ từ đầu những năm 60 của TK XX và thuộc lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ

- Bằng Việt làm thơ từ năm 13 tuổi, bài thơ đầu tiên của ông được công bố là bài Qua Trường Sa viết năm 1961 Ông đã thể hiện nhiều loại thơ không vần, xuống thang rồi bắc thang, tất cả những hình thức đã có trong thơ Việt Nam và thơ thế giới

- Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, tràn đầy cảm xúc, đề tài thơ thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ

- Tác phẩm tiêu biểu: Hương cây bếp lửa (thơ in chung với Lưu Quang Vũ), Những gương mặt,những khoảng trời(1973),Cát sáng(1983)…

- Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà (khổ đầu)

- Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà (4 khổ thơ tiếp)

- Suy ngẫm của người cháu về bà, về hình ảnh bếp lửa (Khổ 6)

- Nỗi nhớ bà, nhớ quê hương khôn nguôi, da diết (khổ cuối)

3 Ý nghĩa nhan đề

Bếp lửa vốn là một hình ảnh quen thuộc trong mỗi gia đình người Việt Nam đã trở thành hình ảnh tượng trưng gợi kỉ niệm ấm áp của tình bà cháu Bếp lửa – không chỉ gợi lại những

kỉ niệm đầy xúc động về tình cảm bà cháu, về tuổi thơ, bếp lửa còn có tính chất biểu tượng, mang ý nghĩ về cội nguồn, về người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa – ngọn lửa của

Trang 16

nghĩa tình, của niềm tin cho các thế hệ nối tiếp và lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc của người cháu đối với bà và quê hương, đất nước

4 Giá trị nội dung

Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha

mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất

5 Giá trị nghệ thuật

- Kết hợp nhuần nhuyễn các phương thức biểu đạt

- Sáng tạo hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh người bà, làm điểm tựa khơi gợi mọi kỉ niệm, cảm xúc

o “Ở Bằng Việt sự suy nghĩ có tình có nghĩa được bộc lộ nhất quán có sự nhất quán trong thơ anh” (Hồng Thọ)

o “Lời thơ như những nét chấm phá tươi mát nhưng không thiếu chiều sâu suy tưởng”,

“ thơ Bằng Việt thường nghiêng về suy nghĩ, có dáng một lời tâm sự” (Nguyễn Xuân Nam)

o “Có một tâm hồn nhiều suy nghĩ và rung động tinh tế, một chủ nghĩa trữ tình xao động, bồi hồi, khi đậm đà duyên dáng, khi âm vang sâu thẳm…” (Lê Đình Kỵ)

o “Có thể là bài thơ còn thiếu cái này cái nọ, nhưng phải nhận rằng, “Bếp lửa” là một bài thơ có nguồn cội, chứ không chơi vơi nửa vời…”

Trang 17

2 Nói với con - Y Phương

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê

hương

Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường

Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con

3 Bà ơi - Phạm Trung Dũng Thương bà cháu nhớ ngày xưa Dãi dầu cuối chợ nắng mưa, sáng chiều Biển đời đơn độc mái chèo

Thuyền bà chống đỡ trăm chiều bão giông

4 Đôi dòng tiễn đưa bà nội - Bằng Việt Mười năm

Cháu dần lớn, nên người

Rất nhiều điều phải đi đến tận cùng, Chỉ có lòng bà thương

Đi bao giờ hết được?

Trang 18

Đoàn thuyền đánh cá Tác giả

- Huy Cận (1919-2005) tên đầy đủ là Cù Huy Cận

- Quê quán: Làng Ân Phú- huyện Dụ Quang- tỉnh Hà Tĩnh

- Sự nghiệp sáng tác:

+ Huy Cận đã nổi tiếng trong phong trào thơ mới với thơ “Lửa thiêng”

+ Ông tham gia cách mạng từ trước năm 1945 và sau cách mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời là một trong một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam

+ Huy Cận đã được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)

- Phong cách sáng tác:

+ Trước cách mạng, hồn thơ ông là một hồn thơ ảo não

+ Sau cách mạng, hồn thơ ông có sự biến chuyển tươi vui hơn

Tác phẩm

1 Hoàn cảnh sáng tác

Giữa năm 1958, Huy Cận có một chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh Từ chuyến đi thực tế ấy, hồn thơ Huy Cận thực sự nảy nở dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước Bài thơ được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”

2 Các luận điểm

- Cảnh đoàn đánh cá ra khơi (2 khổ đầu)

- Cảnh đoàn thuyền đánh trên biển (4 khổ tiếp)

- Hình ảnh đoàn thuyền trở về (khổ cuối)

3 Ý nghĩa nhan đề

Nhan đề thơ “Đoàn thuyền đánh cá” ngợi ca công việc xây dựng quê hương, là sự tự hào về mảnh đất chôn nhau cắt rốn Tên gọi ấy còn chỉ sự đồng lòng chung sức và tinh thần đoàn kết dân tộc của họ Nhan đề thơ còn phản ánh không khí sôi nổi của nhân dân miền Bắc trong công cuộc xây dựng cuộc sống Chỉ một nhan đề thơ vẻn vẹn bốn chữ thôi,

Trang 19

nhưng Huy Cận đã vẽ ra một bức tranh về cảnh sinh hoạt làng chài ven biển mà chất liệu chính là thiên nhiên, là cảnh vật, là con người nơi đây Với bút pháp lãng mạn kết hợp với hiện thức đời sống, Huy Cận đã vẽ ra một bức tranh bằng ngôn ngữ thi ca, một bức tranh

về thiên nhiên và con người với một tâm thế tự hào và tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của đất nước

4 Giá trị nội dung

Đoàn thuyền đánh cá đã tái hiện thành công vẻ đẹp trù phú của biển cả quê hương và cuộc sống lao động đầy hăng say của nhân dân trong thời kỳ mới Bài thơ còn là khúc tráng ca ca ngợi cuộc sống lao động tập thể của người dân chài trong công cuộc xây dựng và tái thiết đất nước, đồng thời bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên đất nước giàu đẹp

5 Giá trị nghệ thuật

- Xây dựng hình ảnh thơ bằng liên tưởng

- Trí tưởng tượng phong phú

- Âm hưởng thơ khỏe khoắn hào hùng và sáng tạo

Nhận định

o “Ông thân mật, ông ái ân, nhưng bao giờ cũng có cái vụng về, cái thầm kín của ông, cái ngậm ngùi vô cớ Huy Cận! Một tâm hồn đặc biệt quá, nồng cháy bên trong, e lệ bên ngoài, hay nói nhỏ và hay làm thinh, để cho men lòng càng rạo rực hơn nữa; một tâm hồn hãy lặng yên để nước mắt chảy, không biết khóc vì cái gì; vừa mạnh, vừa yếu, rất mới và rất xưa, rất Âu Tây và rất Á Đông: nghĩa là cả con người, con người phức tạp của muôn thuở” (Xuân Diệu)

o “Tác giả Lửa thiêng (Đời Nay – Hà Nội, 1940) thật đã không giống Xuân Diệu và cũng đã khác hẳn Lưu Trọng Lư Ở Huy Cận, ta không thấy những tiếng kêu ầm ỹ, nóng nẩy như ở tác giả Thơ thơ và ta cũng không thấy cái buồn vơ vẩn và nhẹ nhàng như ở tác giả Tiếng thu Huy Cận than thân thì ít mà góp tiếng khóc với đời thì nhiều Cái giọng nhớ hờ, thương hão của ông đôi khi có hơi giống Tản Đà, nhưng ông lại khác Tản Đà ở chỗ có lòng tin tưởng ở đấng tối cao (…) Huy Cận hơn Lưu Trọng Lư

và Xuân Diệu ở sự chọn chữ, lựa câu, ở sự hiểu cái ma lực của mỗi chữ (…) nhưng lại thua Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu về thành thực” (Vũ Ngọc Phan)

o “Đoàn Thuyền Đánh Cá (Huy Cận) – Bài thơ ca ngợi cuộc sống của người lao động”

o “Nhà thơ đã gọi dậy cái hồn buồn của Ðông Á, đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”

Trang 20

o “Triền miên trong buồn thương nhưng Huy Cận không mất hút vào cõi siêu hình hay chán chường, tuyệt vọng- như không ít nhà thơ Mới Nhà thơ vẫn tha thiết, chân thành hướng về phần thiên lương cao đẹp của cuộc đời; cảm nghe được hồn thiêng đất nước, hương vị nồng đượm của quê hương và nhựa sống tiềm tàng trong nhành cây ngọn cỏ”

o “Dường như ở đây nhà thơ đã toát ra một mảng hương sắc sâu xa, cao đẹp nhất của tâm hồn mình.”

o “Tôi coi đây là một khúc tráng ca, ca ngợi con người lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui.”

o “Ðời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu, càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận ”

Liên hệ

1 Quê hương - Tế Hanh

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã

Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường

giang

Cánh buồm trương, to như mảnh hồn

làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ

2 Ta viết bài thơ gọi biển về - Huy Cận

Ta, Biển sinh đôi tự thuở nào?

Sóng ngầm bao đợt nhói lòng đau

Cái vui đầu sóng, buồn chân sóng

Cùng lặn chiều hôm nét đỏ au

3 Cành phong lan bể - Chế Lan Viên

Thuyền đánh cá! Thuyền thơ! Hay cánh

bướm?

Ai gọi đi mà im lìm không tiếng gọi? Lắng nghe! - Thôi, chính tiếng chân trời Nếu quả thật chân trời! - Cho lòng ta đi với chút!

Cá vào hội xòe hoa mang áo đẹp

Cá nục, cá chuồn, cá chim, không phải chim đâu, cá hồng hồng sắc vẩy Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về Nơi nghìn thứ cá nức lòng sinh sôi vì thợ

mỏ

4 Đời ngư dân - Dương Tuấn Biển bình mình rì rào gió lộng Từng đoàn thuyền lướt sóng ra khơi Lòng thầm khấn nguyện đất trời Mong ngày biển lặng cá về đầy khoang

5 Bình minh trên biển - Hiệp Kim Áo Tím Mặt trời như cái mâm con

Nhô lên trên biển hòn son đỏ lừ

Trang 21

Ánh trăng

Tác giả

- Nguyễn Duy (1948) tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ

- Quê quán: Xã Đông Vệ huyện Đông Sơn(nay là phường Đông Vệ-Thanh Hóa)

- Sự nghiệp sáng tác:

+ Nguyễn Duy làm thơ từ rất sớm, từ khi học cấp ba

+ Năm 1973, ông đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo văn nghệ với chùm thơ vô cùng xuất sắc

+ Ngoài việc sáng tác thơ ông còn viết tiểu thuyết và bút kí

+ Năm 2007, Nguyễn Duy đã được Giải thưởng Nhà nước danh giá về Văn học Nghệ thuật + Những tác phẩm tiểu biểu: “Đãi cát tìm vàng”, “ Bụi”, “Mẹ và em”…

- Phong cách sáng tác: Thơ Nuyễn Duy giàu chất triết lí, thiên về chiều sâu nội tâm với những trăn trở, day dứt và suy tư

Tác phẩm

1 Hoàn cảnh sáng tác

- "Ánh Trăng" sáng tác năm 1978 ( sau 3 năm đất nước thống nhất)

- Tập thơ "Ánh trăng" của ông đã được tặng giải A của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1984

2 Các luận điểm

- Kí ức về vầng trăng trong quá khứ của tác giả và vầng trăng trong hiện tại (3 khổ thơ đầu)

- Tình huống bất ngờ khiến kí ức ùa về (Khổ 4)

- Sự hối hận của tác giả vì đã lãng quên vầng trăng (2 khổ cuối)

3 Ý nghĩa nhan đề

Ánh trăng chỉ một thứ ánh sáng dịu hiền, ánh sáng ấy có thể len lỏi vào những nơi khuất lấp trong tâm hồn con người để thức tỉnh họ nhận ra những điều sai trái, hướng con người ta đến với những giá trị đích thực của cuộc sống Ánh trăng như ánh sáng của hàng nghìn ngọn nến đã thắp sáng lên một góc tối của con người, thức tỉnh sự ngủ quên của con

Trang 22

người về nghĩa tình thủy chung với quá khứ, với những năm tháng gian lao nhưng rất hào hùng của cuộc đời người lính

4 Giá trị nội dung

Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái

độ sống “ Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương

5 Giá trị nghệ thuật

- Thể thơ năm chữ bố cục rõ ràng, mạch lạc

- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự

- Hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa sinh động vừa giàu tính biểu cảm

- Giọng điệu tâm tình tự nhiên như lời tâm sự của nhân vật trữ tình

Nhận định

o Bài thơ giống như một câu chuyện giàu chất thơ, đầy hiện thực đời sống Tuy thế, bài thơ không một chút đao to búa lớn, cũng làm gì có roi vọt mà sao khi đọc ta thấy như có ai đang quất vào người mình đau đớn Ánh trăng giản đơn, nhẹ nhàng

về câu chữ, tự nhiên thuần thục về kết cấu; bình dị, dễ hiểu về ý thơ mà vẫn đọng lại trong lòng người đọc bao suy ngẫm xót xa điều nhà thơ muốn nói còn nằm ngoài ngôn ngữ trong thơ, sức gợi bao la, vô kể (Lương Kim Phương, Thơ, bốn phương cùng bình)

o Trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, hình tượng vầng trăng quen thuộc đã gợi cho nhà thơ những cảm xúc mới mẻ và những suy ngẫm sâu sắc

o Bài thơ viết về ánh trăng mà nói chuyện đời, chuyện tình nghĩa Tác giả chọn một lối viết giản dị, dễ hiểu Qua bài thơ, tác giả đối thoại với chính mình và thủ thỉ tâm

sự với bạn đọc Cái lối của bài thơ là sự chân thành, sự rung động trong một khoảnh khắc tâm tình rất thật (Bùi Vợi, Báo văn nghệ số 16, ngày 19/4/1986)

o Bằng hình ảnh ánh trăng hiện ra đột ngột giữa khung cảnh thành phố, bài thơ “Ánh trăng” như một lời tự nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hoà

Ngày đăng: 03/08/2023, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w