Hướng dẫn sử dụng GPS trên ô tô
Trang 1TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Ngày nay, nhu cầu chuyên chở hàng hóa và đi lại bằng phương tiện giao thông đường bộ của con người ngày càng cao Việc di chuyển từ nơi này đến nới khác, từ thành phố này đến thành phố kia là một việc thường xuyên Để xác định được vị trí đến phù hợp trong một thành phố lạ, chưa quen thuộc đường, hay tìm đường đi ngắn nhất trong một thành phố cũng như việc tránh kẹt xe,… Là một việc rất cần thiết đối với tài xế lái xe Để đáp ứng cho nhu cầu thiết thực đó, thì hệ thống định vị qua vệ tinh GPS sẽ là người bạn đồng hành giúp tài xế dễ dàng xác định được đường đi phù hợp
Tuy hệ thống định vị qua vệ tinh GPS đã được phát triển từ lâu và sử dụng phổ biến tại các nước phát triển, nhưng đối với Việt Nam thì hệ thống này còn khá mới mẻ với người dân Thông qua đề tài này, phần nào giúp mọi người có thể hiểu được lịch
sử ra đời và phát triển của hệ thống định vị GPS Nguyên lý hoạt động và cấu trúc hệ thống ra sao, tình hình sử dụng trên thế giới và đặc biệt là hiện nay tại Việt Nam, đã áp dụng và khai thác hệ thống này như thế nào? Bên cạnh đó là những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi sử dụng hệ thống này tại nước ta
Trang 2Chương I Đặt Vấn đề
I Mục tiêu đề tài: Đề tài tập trung tìm hiểu lịch sử phát triển của hệ thống định
vị GPS do Mỹ phát triển, cấu trúc hệ thống, nguyên lý vận hành của hệ thống GPS Tìm hiểu tình hình sử dụng hệ thống GPS trên thế giới và phân tích đánh giá tình hình
sử dụng hệ thống GPS ở Việt Nam hiện nay
II Đối tượng nghiên cứu: Là hệ thống định vị toàn cầu GPS do Mỹ phát triển III Phạm vi nghiên cứu và giới hạn đề tài:
Đề tài chỉ tìm hiểu hệ thống ở góc độ lịch sử phát triển, cấu trúc hệ thống, nguyên lý vận hành, việc sử dụng hệ thống này trên thế giới và trong nước hiện nay
Đề tài không phân tích sâu vào các thuật toán dùng để tính toán của vệ tinh với
vị trí của xe, không phân tích cấu trúc thiết bị, không phân tích phương pháp nạp phần mềm vào thiết bị và cách xây dựng các phần mềm cho thiết bị
IV Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp chủ yếu sử dụng trong đề tài là biên dịch tài liệu nước ngoài về hệ thống GPS của Mỹ, cập nhật các thông tin trên các website về việc khai thác và sử dụng hệ thống GPS trên thế giới và trong nước, từ đó rút ra những đánh giá về việc sử dụng hệ thống hiện nay
Trang 3Chương II HỆ THỐNG ĐỊNH VỊ TOÀN CẦU
(GPS NAVIGATION)
I Khái quát
Ngày nay nếu chúng ta ngồi trên chiếc xe ô tô sang trọng, trên xe ô tô có trang
bị thiết bị dẫn đường GPS (GPS Navigation), chúng ta có thể nhìn thấy vị trí hay tọa
độ của xe mình hiện trên màn hình có bản đồ điện tử trong hệ thống đường xá phức tạp Thiết bị dẫn đường GPS dựa trên nguyên lý hoạt động của hệ thống định vị
toàn cầu (Global Positioning System, viết tắt là GPS) hoặc tên gọi mới hơn là hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GNSS (Global Navigation Satellite Systems) được
đưa vào sử dụng vào năm 2008 Đây là hệ thống xác định vị trí dựa trên vị trí của các vệ tinh nhân tạo Trong cùng một thời điểm, ở một vị trí trên mặt đất nếu xác định được khoảng cách đến ba vệ tinh (tối thiểu) thì sẽ tính được toạ độ của vị trí đó
Vì hoạt động trên quỹ đạo, các vệ tinh có thể cho chúng ta biết vị trí ở bất kỳ nơi nào ở trên bề mặt trái đất với sai số khoảng 6-9 mét, trong mọi điều kiện thời tiết và liên tục 24 giờ trong ngày
Ban đầu hệ thống này phát triển nhằm mục đích quân sự và sau đó phát triển cho các mục đích dân sự, chính quyền như : theo dõi các phương tiện giao thông trên
bộ và tàu biển, điều hành xa lộ, điều khiển hướng bay của các con tàu vũ trụ, điều tra khảo sát và vẽ bản đồ, quản lý tài sản và tài nguyên thiên nhiên Điều ngạc nhiên là mọi người đều có thể sử dụng GPS miễn phí
Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu GNSS này bao gồm ba hệ thống vệ tinh dẫn đường như sau:
1 Hệ thống GPS do Mỹ chế tạo và hoạt động từ năm 1994 là hệ dẫn đường dựa trên một mạng lưới 24 quả vệ tinh phân phối thành 6 nhóm bay theo 6 quỹ đạo
Trang 4hình tròn quanh trái đất được Bộ Quốc phòng Mỹ đặt trên quỹ đạo không gian ở độ cao khoảng 26.560 km
Hình 1: Các vệ tinh nhân tạo quay quanh trái đất của hệ thống GPS
2 Hệ thống GLONASS (GLobal Orbiting Navigation Satellite System) do
Nga chế tạo và hoạt động từ năm 1995 gồm 24 vệ tinh phân phối thành 3 nhóm bay theo 3 quỹ đạo hình tròn quanh trái đất và ở độ cao khoảng 25.510 km Hệ thống GLONASS hoạt động hết công suất vào năm 2007
Hình 2: Các vệ tinh nhân tạo quay quanh trái đất của hệ thống GLONASS
3 Hệ thống GALILEO (được đặt theo tên của nhà thiên văn học người Ý
Galileo Galilei nhằm tưởng nhớ những đóng góp của ông): Việc nghiên cứu dự án
này được bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 1999 do 4 quốc gia Châu Âu là Pháp, Đức, Italia và Anh Theo dự kiến dự án sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm
2010 (chậm hơn so với thời gian dự định ban đầu 2 năm) Hệ thống Galileo được thiết kế gồm có 30 vệ tinh phân phối thành 3 nhóm bay theo 3 quỹ đạo hình tròn quanh trái đất và ở độ cao khoảng 29.980 km Chỉ có 27 vệ tinh của Galileo là hoạt
Trang 5động thực sự, 3 vệ tinh còn lại là vệ tinh dự phòng để thay thế cho vệ tinh nào hỏng, nhằm làm tăng độ tin cậy của hệ định vị Hệ thống này được điều hành và quản lý bởi các tổ chức dân dụng, phi quân sự bao gồm hai trung tâm điểu khiển vệ tinh được đặt tại châu Âu và hàng chục trạm phát và thu tín hiệu được đặt rải rác trên toàn cầu.
Hình 3: Các vệ tinh nhân tạo quay quanh trái đất của hệ thống GALILEO
So sánh một số thông số kỹ thuật của ba hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu
E5: 1202.025 MHz E6: 1278.75 MHz
Trang 6Sai số chủ định SA (đã bỏ 2000) Không có Không có
Thông điệp dẫn đường (Navigation messages)
Ephemeris Yếu tố quỹ đạo Vị trí, tốc độ và gia tốc ba chiều
-Almanac Yếu tố quỹ đạo Yếu tố quỹ đạo
-Tốc độ truyền dữ liệu
L1: BPSK: 50 bps L2: BPSK: 25 bps
Định dạng dữ liệu 30 bit / từ 100 bit / string
-Dữ liệu hiệu chỉnh
-Nguyên lý hoạt động chung của ba hệ thống GPS, GLONASS và GALILEO
cơ bản giống nhau Trong nội dung báo cáo này, chỉ nghiên cứu về hệ thống GPS của Mỹ
từ và sextant
Đầu thế kỉ 20, con người đã phát minh ra hệ thống dẫn đường vô tuyến điện
Trang 7(Radio- based navigation systems) và đã được sử dụng rộng rãi trong thế chiến tranh thứ 2 Tuy nhiên hệ thống này có một số hạn chế nhất định như khả năng bao phủ và độ chính xác của sóng vô tuyến Chính vì vậy những nhà khoa học đã nghĩ rằng cách duy nhất bao phủ sóng chính xác trên toàn thế giới là đặc những trạm phát sóng vô tuyến điện cao tần đặt trong không gian và phát sóng xuống trái đất Một trạm phát sóng vô tuyến điện nằm ở phía trên không gian của trái đất có thể phát sóng vô tuyến điện cao tần bằng tín hiệu được mã hóa đặc biệt có thể bao phủ được khu vực rộng lớn và vẫn tới được trái đất cách xa ở phía dưới với một mức năng lượng hữu ích cho phép tái tạo lại thông tin thì sẽ có thể xác định được vị trí Đây là ý tưởng ban đầu của hệ thống định vị toàn cầu (GPS).
Tiếp đó, sự ra đời của những phương tiện vận chuyển như máy bay và những con tàu vũ trụ đòi hỏi phải việc điều khiển rất phức tạp trong không gian ba chiều
Hệ thống dẫn đường vô tuyến điện (xác định được vị trí theo 2 chiều không gian) dùng cho việc dẫn dắt các tàu thủy đã trở thành lỗi thời và không phù hợp với việc điều khiển các thiết bị chuyển động trong không gian ba chiều (6 bậc tự do) Trước những đòi hỏi về kỹ thuật đó nhiều nhà khoa học đã được chính phủ Mỹ tài trợ để thực hiện nghiên cứu hệ thống dẫn đường dựa trên vũ trụ Bộ Quốc phòng Mỹ là cơ quan thiết kế và điều khiển hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System, viết tắt là GPS) Trong nhóm những người tham gia điều hành dự án GPS của Bộ Quốc phòng Mỹ có sự đóng góp to lớn của TS Ivan Getting, người sáng lập The Aerospace Corporation và TS Bradford Parkinson, chủ tịch hội đồng quản trị của The Aerospace Corporation
Trước khi xuất hiện GPS, con người đã từng sử dụng hệ thống LORAN
(Long Range Navigation) – hoạt động ở giải tần 90-100 kHz chủ yếu dùng cho hàng
hải, hệ thống dẫn đường này áp dụng phương pháp đo độ lệch thời gian của tín hiệu sóng vô tuyến do Phòng thí nghiệm Bức xạ Đại học MIT (MIT Radiation Laboratory) Đây là hệ thống định vị trong mọi điều kiện thời tiết thực sự đầu tiên,
nhưng hai chiều (vĩ độ và kinh độ) Hệ thống TACAN – (TACtical Air Navigation) –
cũng từng được dùng cho quân đội Mỹ
Ngày 17/12/1973, một khái niệm mới được trình tới DSARC (Hội đồng Thu nhận và Thẩm định Hệ thống Quốc phòng) và được thông qua để thực hiện và cấp
Trang 8kinh phí là hệ thống NAVSTAR GPS, đánh dấu khởi đầu công nhận ý tưởng (Giai đoạn I của chương trình GPS) Cấu hình hệ thống được thông qua bao gồm 24 vệ tinh chuyển động trong những quỹ đạo nghiêng chu kỳ 12 giờ đồng hồ.
Ngày 14/07/1974: Vệ tinh NAVSTAR đầu tiên được phóng lên vũ trụ Vệ tinh này được chỉ định là Vệ tinh Công nghệ Dẫn đường (NTS) số 1
Ngày 22/2/1978: Vệ tinh Block I đầu tiên được phóng Sau đó toàn bộ 11 vệ tinh Block I được phóng trong khoảng thời gian 1978 và 1985 trên Atlas-Centaur Những vệ tinh Block I được coi là những vệ tinh mẫu phát triển được dùng để kiểm tra hệ thống
Ngày 26/4/1980: Phóng vệ tinh GPS đầu tiên thực hiện những bộ cảm ứng
Hệ thống phát hiện tiếng nổ hạt nhân hoạt động tổng hợp (Integrated Operational Nucluear Detonation Detection System (IONDS) sensors)
Năm 1982: Bộ Quốc phòng Mỹ thông qua quyết định giảm số vệ tinh của chòm vệ tinh GPS từ 24 xuống 18
Ngày 14/7/1983: Phóng vệ tinh GPS đầu tiên thực hiện hệ thống dò tìm tiếng
nổ hạt nhân (NDS) mới hơn
Ngày 16/9/1983: Tổng thống Mỹ Reagan hứa cho GPS được sử dụng cho các máy bay dân dụng hoàn toàn miễn phí khi hệ thống đưa vào sử dụng Sự kiện này đánh dấu sự bắt đầu lan tỏa công nghệ GPS từ quân sự sang dân sự
Năm 1987: Bộ Quốc phòng chính thức yêu cầu Bộ giao thông có trách nhiệm thiết lập và cung cấp một văn phòng đáp ứng nhu cầu người sử dụng dân sự về thông tin GPS, dữ liệu và hỗ trợ kỹ thuật
Tháng 03/1988: Air Force thông báo về việc mở rộng chòm GPS tới 21 vệ tinh cộng thêm 3 vệ tinh dự phòng
Ngày 14/2/1989: Vệ tinh đầu tiên của các vệ tinh Block II đã được phóng
từ Cape Canaveral AFT ở Florida, trên dàn phóng Delta II
1990-1991: GPS được các lực lượng liên minh dùng lần đầu tiên trong điều kiện chiến tranh trong Chiến tranh Vịnh Ba Tư
Ngày 1/7/1991: Mỹ đã cho phép cộng đồng thế giới sử dụng dịch vụ định vị tiêu chuẩn (SPS) GPS bắt đầu từ năm 1993 trên cơ sở liên tục và miễn phí trong vòng ít nhất 10 năm
Trang 9Ngày 5/9/1991: Mỹ cho phép thế giới sử dụng SPS trong tương lai, việc này phụ thuộc vào việc có đủ vốn, cung cấp dịch vụ này tối thiểu 6 năm có thông báo trước về việc chấm dứt hoạt động GPS hoặc xóa bỏ SPS.
Ngày 8/12/1992: Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng chính thức thông báo khả năng hoạt động đầu tiên của GPS, có nghĩa là 24 vệ tinh trên quỹ đạo hệ thống GPS không còn là hệ thống đang triển khai nữa mà GPS đã có khả năng duy trì độ chính xác ở mức độ sai số 100 mét và có sẵn trên toàn cầu liên tục cho người sử dụng SPS.Ngày 16/3/1995: Tổng thống Mỹ Bill Clinton tái khẳng định rằng Mỹ cung cấp tín hiệu GPS cho cộng đồng người sử dụng dân dụng thế giới
Từ sau năm 1995 hệ thống GPS vẫn tiếp tục được duy trì và bảo dưỡng cũng như thay thế những vệ tinh lâu năm Năm 2000, số vệ tinh trong chòm GPS
đã tăng lên 28 vệ tinh Những vệ tinh thế hệ GPS-IIR đã và đang được phóng lên để thay thế những vệ tinh lâu năm Vệ tinh mới nhất được phóng lên ngày 16/9/2005 mang tên GPS-IIR-M1, là vệ tinh đầu tiên thuộc thế hệ 8 chiếc vệ tinh hiện đại nhất GPS-IIR-M Vệ tinh tiếp theo đã được phóng lên không gian vào tháng 01/2006
III Cấu trúc hệ thống GPS
Các vệ tinh làm nên vùng không gian GPS trên quỹ đạo cách bề mặt trái đất 12 nghìn dặm Chúng chuyển động ổn định, hai vòng quỹ đạo trong khoảng thời gian gần 24 giờ Các vệ tinh này chuyển động với vận tốc khủng khiếp 7 nghìn dặm một giờ Các vệ tinh được nuôi bằng n ăng l ư ợ n g m ặt tr ờ i Chúng có các nguồn pin
dự phòng để duy trì hoạt động khi chạy khuất vào vùng không có ánh sáng mặt trời Các tên l ử a nhỏ gắn ở mỗi quả vệ tinh giữ chúng bay đúng quỹ đạo đã định
Hệ thống định vị toàn cầu GPS bao gồm 3 phần:
- Phần vũ trụ (Satellites Segment): gồm 24 vệ tinh quay xung quanh trái đất
hai lần trong ngày với quỹ đạo rất chính xác Độ cao vệ tinh so với mặt đất là
20183 km, chu kỳ quay quanh trái đất là 11giờ 57 phút 58 giây Phần này sẽ đảm bảo cho bất kỳ vị trí nào trên quả đất đều có thể quan sát được 4 vệ tinh ở góc trên
15 độ, nếu ở góc ngưỡng 10 độ thì có thể quan sát được 10 vệ tinh và ở góc ngưỡng
5 độ có thể quan sát được 12 vệ tinh Các vệ tinh làm nhiệm vụ ghi nhận và lưu trữ các thông tin được truyền đi từ phần điều khiển, xử lý dữ liệu có chọn lọc trên vệ
Trang 10tinh, duy trì độ chính xác cao của thời gian bằng các đồng đồ nguyên tử, chuyển tiếp thông tin đến người sử dụng, thay đổi quỹ đạo bay của vệ tinh theo sự điều khiển từ mặt đất.
- Phần điều khiển (Different Station Segment): Phần điều khiển là để duy
trì hoạt động của toàn bộ hệ thống GPS cũng như hiệu chỉnh tín hiệu thông tin của
vệ tinh hệ thống GPS gồm một trạm điều khiển chính, 5 trạm thu số liệu và 3 trạm truyền số liệu
Trạm điều khiển chính (Master Control Station) đặt tại Colorade Springs
(Mỹ) có nhiệm vụ thu thập các dữ liệu theo dõi vệ tinh từ các trạm thu số liệu để xử
lý 5 trạm thu số liệu được đặt tại Hawai, Colorade Springs, Ascension (Nam Đại
Tây Dương), Diago Garia (Ấn Độ Dương), Kwayalein (Nam Thái Bình Dương)
Có nhiệm vụ theo dõi các tín hiệu vệ tinh để kiểm soát và dự tính quỹ đạo của chúng Mỗi trạm được trang bị những máy thu P-Code để thu các tín hiệu của vệ
tinh sau đó truyền về trạm điều khiển chính 3 trạm truyền số liệu được đặt tại
Ascension, Diago Garia, Kwayalein có khả năng chuyển số liệu lên vệ tinh gồm lịch thiên văn mới, hiệu chỉnh đồng hồ, các thông điệp cần phát, các lệnh điều khiển từ xa
Phần này đảm nhiệm các chức năng sau :
Giám sát và điều khiển hệ thống vệ tinh liên tục
Quy định thời gian hệ thống GPS
Dự đoán dữ liệu lịch thiên văn và hoạt động của đồng hồ trên vệ tinh
Cập nhật định kỳ thông tin dẫn đường cho từng vệ tinh cụ thể
- Phần người sử dụng (User Segment): gồm những máy thu tín hiệu GPS có
anten riêng (máy định vị), các thiết bị tự ghi (bộ ghi số liệu) và máy tính (phần mềm
xử lý số liệu)
Máy thu GPS tính toán đơn vị với tần suất mỗi giây một vị trí và cho độ chính
xác từ 1-5 mét Khi ta di chuyển hay dừng tại chỗ, máy thu GPS nhận tín hiệu từ vệ tinh rồi tính toán định vị Kết quả tính được là tọa độ hiển thị trên màng hình bộ ghi
số liệu Các máy thu này có thể được lắp đặt trên các con tầu, các máy bay và các xe ô
tô
Trang 11Bộ ghi số liệu là máy cầm tay có phần mềm thu thập số liệu Bộ ghi số liệu có
thể ghi vị trí hoặc gắn thông tin thuộc tín với vị trí
Máy tính, phần mềm xử lý số liệu: Hệ thống GPS có kèm theo phần mềm thu
thập số liệu Sau thu thu thập số liệu ở thực địa, phần mềm chuyển số liệu vị trí và thông tin thuộc tính sang máy tính Sau đó phần mềm sẽ nâng cao độ chính xác bằng
kỹ thuật phân sai Phần mềm xử lý số liệu GPS còn có chức năng biên tập hoặc vẽ Phần mềm này cũng hổ trợ thu thập các yếu tố địa lý và thông tin thuộc tính cho GPS hoặc các cơ sở dữ liệu khác
Hình 4: Sơ đồ liên quan giữa ba phần của hệ thống định vị toàn cầu
IV Nguyên lý hoạt động của GPS
Các vệ tinh GPS bay vòng quanh trái đất hai lần trong một ngày theo một quỹ đạo rất chính xác và phát tín hiệu có thông tin xuống trái đất Các máy thu GPS nhận thông tin này và bằng phép tính lượng giác tính được chính xác vị trí của người dùng
Về bản chất máy thu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệ tinh với thời gian nhận được chúng Sai lệch về thời gian cho biết máy thu GPS ở cách vệ tinh bao xa Rồi với nhiều quãng cách đo được tới nhiều vệ tinh máy thu có thể tính được
vị trí của người dùng và hiển thị lên bản đồ điện tử của máy Máy thu GPS phải khoá
được với tín hiệu của ít nhất ba vệ tinh để tính ra vị trí hai chiều (2D, kinh độ và vĩ
độ) và để theo dõi được chuyển động Với bốn hay nhiều hơn số quả vệ tinh trong
tầm nhìn thì máy thu có thể tính được vị trí ba chiều (3D, kinh độ, vĩ độ và độ cao)
Một khi vị trí người dùng đã tính được thì máy thu GPS có thể tính các thông tin khác, như tốc độ, hướng chuyển động, bám sát di chuyển, khoảng hành trình, quãng cách tới điểm đến…
Với GPS, các tín hiệu từ các vệ tinh sẽ đi tới các vị trí chính xác của người
Trang 12dùng và được đo theo phép tam giác đạc Để thực hiện phép tam giác đạc, GPS đo khoảng cách thông qua thời gian hành trình của bản tin vô tuyến từ vệ tinh tới một máy thu mặt đất Để đo thời gian hành trình, GPS sử dụng các đồng hồ rất chính xác trên các vệ tinh Một khi khoảng cách tới vệ tinh đã được đo thì việc biết trước
về vị trí vệ tinh trong không gian sẽ được sử dụng để hoàn thành tính toán Các máy thu GPS trên mặt đất có một “cuốn niên giám” được lưu trữ trong bộ nhớ máy tính của chúng để chỉ thị mỗi vệ tinh sẽ có mặt nơi nào trên bầu trời vào bất kỳ thời điểm nào Các máy thu GPS sẽ tính toán các thời gian trễ qua tầng đối lưu và khí quyển để tiếp tục làm chính xác hơn phép đo vị trí
Để bảo đảm chắc chắn vệ tinh và máy thu đồng bộ với nhau, mỗi vệ tinh có bốn đồng hồ nguyên tử chỉ thời gian chính xác tới 3 ns, tức ba phần tỷ giây Nhằm tiết kiệm chi phí, các đồng hồ trong các máy thu dưới đất được làm ít chính xác hơn đôi chút Bù lại, một phép đo tầm hoạt động vệ tinh được trang bị thêm Phép đo lượng giác chỉ ra rằng, nếu ba số đo chính xác định vị được vị trí một điểm trong không gian ba chiều thì một phép đo thứ tư có thể loại bỏ mọi độ chênh lệch thời gian nào đó Phép đo thứ tư này chỉnh lại sự đồng bộ hoá không hoàn hảo của máy thu
Khối mặt đất thu nhận tín hiệu vệ tinh đi tới với tốc độ bằng tốc độ ánh sáng Ngay như tại tốc độ như vậy tín hiệu cũng phải mất một lượng thời gian đáng kể mới tới được máy thu Sự chênh lệch giữa thời điểm tín hiệu được gửi đi và thời điểm tín hiệu được thu nhận với tốc độ ánh sáng cho phép máy thu tính được khoảng cách tới
vệ tinh Để đo lường chính xác độ cao, kinh độ và vĩ độ, máy thu đo thời gian các tín hiệu từ một số vệ tinh truyền tới máy thu
GPS sử dụng một hệ tọa độ gọi là Hệ thống Trắc địa học Toàn cầu 1984 (WGS-84 - Worldwide Geodetic System 1984) Hệ thống này tương tự như các đường kẻ kinh tuyến và vĩ tuyến quen thuộc thường thấy trên các bản đồ treo tường cỡ lớn Hệ thống WGS - 84 cung cấp một khung tham chiếu gắn sẵn tiêu chuẩn hoá, cho phép các máy thu của bất kỳ hãng sản xuất nào cũng cung cấp đúng cùng một thông tin định vị
Hoạt động của GPS có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
Khi các vệ tinh ở quá gần nhau, chúng sẽ khiến cho việc xác định một vị trí