1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu

100 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa danh trong thơ Tố Hữu
Tác giả Thân Thị Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Trọng Thưởng
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dòng chảy văn học Việt Nam, suốt từ văn học dân gian đến văn học trung đại, văn học hiện đại, yếu tố địa danh đều được các tác giả sử dụng như một hình thức nghệ thuật đặc sắc.. Bê

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÂN THỊ HUYỀN

ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÂN THỊ HUYỀN

ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Trọng Thưởng

THÁI NGUYÊN - 2016

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ "Địa danh trong thơ Tố Hữu" là kết

quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Thân Thị Huyền

XÁC NHẬN CỦA KHOA CHUYÊN MÔN

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo - PGS.TS Phan Trọng Thưởng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban Giám hiệu Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa học và thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè và các bạn học viên lớp Văn học Việt Nam K22 đã luôn giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016

Tác giả luận văn

Thân Thị Huyền

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

2.1 Một số công trình nghiên cứu về địa danh 2

2.2 Một số công trình nghiên cứu về Tố Hữu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

3.1 Đối tượng nghiên cứu 7

3.2 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Phương pháp thống kê và hệ thống hóa 7

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp 8

5.3 Phương pháp liên ngành 8

5.4 Phương pháp so sánh 8

6 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊA DANH VÀ TÁC GIA TỐ HỮU 9

1.1 Địa danh 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Phân loại 11

1.2 Địa danh trong thơ ca Việt Nam 17

1.2.1 Địa danh trong thơ ca dân gian 17

1.2.2 Địa danh trong thơ ca trung đại 19

1.2.3 Địa danh trong thơ ca hiện đại 23

1.3 Tác gia Tố Hữu 29

1.3.1 Vài nét về tiểu sử 29

1.3.3 Quan điểm nghệ thuật 32 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 6

CHƯƠNG 2 : PHÂN LOẠI ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU 37

2.1 Địa danh gắn với những di tích lịch sử 38

2.1.1 Địa danh lịch sử trong nước 38

2.1.2 Địa danh lịch sử nước ngoài 50

2.2 Địa danh gắn với những địa chỉ văn hóa 53

2.2.1 Địa danh văn hóa trong nước 54

2.2.2 Địa danh văn hóa nước ngoài 59

Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG CỦA ĐỊA DANH TRONG THƠ TỐ HỮU 66 3.1 Chức năng về nội dung 66

3.1.1 Chức năng phản ánh thông tin 66

3.1.1.1 Thông tin về nhà thơ 66

3.1.1.2 Thông tin về sự kiện 67

3.1.2 Chức năng phản ánh tâm tư, tình cảm của chủ thể 70

3.2 Chức năng về nghệ thuật 75

3.2.1 Góp phần tạo giọng điệu 75

3.2.2 Góp phần xây dựng ngôn ngữ 77

3.2.3 Góp phần xây dựng biểu tượng 79

3.3 Chức năng tạo ấn tượng thẩm mỹ 82

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử trong thơ Tố Hữu 38 Bảng 2.2 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử trong nước trong thơ Tố Hữu 39 Bảng 2.3 Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Pháp qua một

số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 40 Bảng 2.4 Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Mỹ qua một

số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 44 Bảng 2.5 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử nước ngoài trong thơ Tố Hữu 50 Bảng 2.6 Bảng khảo sát địa danh lịch sử nước ngoài thể hiện tinh thần cách mạng qua một số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 51 Bảng 2.7 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa trong thơ Tố Hữu 53 Bảng 2.8 Bảng khảo sát số lượng các địa danh văn hóa trong nước trong thơ

Tố Hữu 54 Bảng 2.9 Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với hình ảnh quê hương qua một số bài thơ tiêu biểu trong thơ Tố Hữu 55 Bảng 2.10 Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với các đặc sản vùng miền, ngành nghề truyền thống, di tích lịch sử văn hóa qua một số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 57 Bảng 2.11 Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa nước ngoài trong thơ Tố Hữu 59 Bảng 2.12 Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với vẻ đẹp từng đất nước qua một số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu 60 luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thế giới phong phú, phức tạp với bao sự vật, hiện tượng của đời sống

Để khu biệt giữa các đối tượng, người ta đặt cho chúng một tên gọi riêng như: tên người, tên sông, tên núi, tên vùng miền…Tên gọi trở thành đối tượng nghiên cứu của nhà khoa học Trong lĩnh vực địa lý, tên của các vùng đất, địa phương được gọi là địa danh Tìm hiểu địa danh, giúp chúng ta có thêm vốn kiến thức về văn hóa, lịch sử, lối sống, phong tục, tập quán… của con người Địa danh không chỉ là cái tên dùng để gọi mà còn ẩn chứa tâm tư, tình cảm cũng như ước mơ mà cha ông đã gửi gắm qua bao thế hệ

Trong dòng chảy văn học Việt Nam, suốt từ văn học dân gian đến văn học trung đại, văn học hiện đại, yếu tố địa danh đều được các tác giả sử dụng như một hình thức nghệ thuật đặc sắc Tấm lòng yêu nước, gắn bó, nâng niu từng vẻ đẹp của quê hương cũng như bao tâm sự về nhân thế đều được các tác giả kín đáo gửi gắm qua từng địa danh Chính vì vậy, địa danh trong văn học như một chiếc chìa khóa giúp chúng ta bóc tách tầng lớp ngôn ngữ nghệ thuật cũng như chiều sâu tư tưởng, phong cách của từng tác giả Trên thi đàn Việt Nam đã có nhiều tác giả thành công trong việc sử dụng địa danh làm chất liệu thơ ca, trong đó không thể không nhắc tới Tố Hữu, một trong những tác giả tiêu biểu của thơ ca cách mạng

Tố Hữu là một nhà chính trị tài ba đồng thời cũng là một thi nhân Ông được coi là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam Không chỉ nhiệt huyết dâng hiến cả cuộc đời cho cách mạng, Tố Hữu còn cẩn trọng, nghiêm túc và đam mê trong hoạt động nghệ thuật Chính tấm lòng với dân với nước hòa quyện cùng tài năng thi ca đã làm nên nét hấp dẫn và tên tuổi của Tố Hữu Để

khẳng định điều này, nhà phê bình Lê Thanh Nghị đã nhận xét “không một nhà thơ Việt Nam nào được nhớ, được đọc và thuộc nhiều như Tố Hữu”

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 9

Tấm lòng nồng ấm, sôi nổi của Tố Hữu được gửi gắm trong 7 tập thơ Tuy không đồ sộ về số lượng so với các nhà thơ cùng thời nhưng những tác phẩm của Tố Hữu tạo được tiếng vang lớn, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm hồn người Việt Thơ Tố Hữu là những bài ca đi cùng năm tháng, chan chứa lẽ sống, ân tình sâu nặng với cách mạng đồng thời thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng trong công cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam Thơ Tố Hữu không chỉ gắn với sự nghiệp cách mạng, gắn với số phận của đất nước và nhân dân mà còn là tự từng trải, chiêm nghiệm, sự kinh lịch của ông trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng

Tố Hữu đã vào sinh ra tử trên khắp chiến trường Việt Nam, in dấu chân lên nhiều vùng đất của Tổ quốc Mỗi trận chiến, mỗi miền quê đều để lại cảm xúc dâng trào trong lòng thi nhân Có lẽ vì thế trong thơ Tố Hữu, địa danh xuất hiện với mật độ dày đặc, tạo thành một hệ thống xuyên suốt các tập thơ Đó chính là tình yêu của người con đối với đất nước, đồng thời đó cũng là yếu tố tạo nên phong cách riêng, độc đáo của Tố Hữu

Hơn nửa thế kỷ qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình, giới thiệu thơ Tố Hữu Hầu hết, các tác giả đã đánh giá, phân tích về mọi mặt, từ nội dung tư tưởng tới hình thức nghệ thuật đặc sắc trong thơ Tố Hữu Các nhà nghiên cứu dù đã miệt mài cố gắng nhưng chưa thể chỉ rõ tới tận cùng vẻ đẹp trong thơ

Tố Hữu Những vấn đề còn bỏ ngỏ sẽ được thế hệ trẻ kế thừa và phát triển Trong

đó, yếu tố “địa danh” xuất hiện dày đặc trong thơ Tố Hữu, là một hiện tượng

nghệ thuật thi ca thú vị Tuy nhiên, tới nay chưa có một tác giả nào khai thác về các loại địa danh và ý nghĩa của địa danh trong thơ Tố Hữu Chính vì thế, chúng

tôi đi vào nghiên cứu công trình Địa danh trong thơ Tố Hữu với mong muốn góp

phần lí giải các đặc trưng nghệ thuật và phong cách thơ Tố Hữu

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Một số công trình nghiên cứu về địa danh

Địa danh học một bộ môn của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu các

vấn đề liên quan đến địa danh như: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặt luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 10

tên và sự biến đổi của các địa danh Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về địa danh khắp thế giới và trong nước Luận văn xin điểm một vài công trình tiêu biểu

Ở châu Âu, ngành địa danh học ra đời và phát triển nhanh chóng vào

cuối thế kỉ XIX với nhiều công trình lớn như: Địa danh học của J.J Eghi (1872); Địa danh học của J.W Nagh (1903) Đặc biệt, tác giả A.V.Superanskaja với tác phẩm Địa danh là gì ? đã nghiên cứu một cách

toàn diện về địa danh Không chỉ đưa ra khái niệm địa danh, tác giả còn đề cập đến tính lịch sử, tính cá biệt và các loại địa danh cũng như tên gọi các đối tượng địa lí theo loại hình Kết quả nghiên cứu của Superanskaja là nền tảng quan trọng trong khoa học về địa danh

* Ở Việt Nam

Các nhà khoa học Việt Nam đã quan tâm tới vấn đề địa danh khá muộn và chủ yếu nghiên cứu địa danh trên phương diện địa lý Một số tác

giả như: Hoàng Thị Châu với bài Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông

Nam Á qua một vài tên sông (1964), Nguyễn Văn Âu với công trình Một

số vấn đề về địa danh học ở Việt Nam (2000), Lê Trung Hoa với công

trình Những đặc điểm chính của địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh (1990), Nguyễn Kiên Trường với công trình Những đặc điểm chính của

địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với một số vùng khác) (1996) đã có

công lớn trong việc nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 11

Trong đó, tác giả Lê Trung Hoa khi nghiên cứu địa danh ở thành phố

Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm, cách phân chia địa danh theo nguồn gốc

và theo tiêu chí ngữ nguyên Đó là cơ sở lí thuyết quan trọng cho quá trình nghiên cứu đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi của địa danh Tác giả Nguyễn Kiên Trường đã bổ sung thêm hai cách phân chia địa danh, đó là theo đồng đại - lịch đại, phân chia theo chức năng của địa danh

Trong công trình Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ

so sánh với một số vùng khác), Nguyễn Kiên Trường không chỉ khái quát

được những đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi của địa danh Hải Phòng mà còn so sánh với địa danh các vùng khác ở Việt Nam

Bên cạnh các công trình lớn kể trên còn có nhiều luận văn đề cập đến

địa danh của các địa phương như: Khảo sát địa danh ở thành phố Thái

Nguyên (2008) của Hoàng Thị Đường, Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai (2009) của Nguyễn Thái Liên Chi, Nghiên cứu địa danh ở tỉnh Bến Tre (2009) của Nguyễn Kim Phượng…

Ngoài hướng tiếp cận về ngôn ngữ, một số tác giả tiếp cận địa danh

theo hướng địa lí - lịch sử - văn hoá như: Thử tìm hiểu sự bảo lưu tên

Nôm làng xã dưới góc độ ngôn ngữ và văn hóa (1994) của Nguyễn Kiên

Trường, công trình Văn hóa qua địa danh Việt ở tỉnh Đồng Nai (2006)

của Võ Nữ Hạnh Trang…

Như vậy, có thể thấy, địa danh học là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam Các nhà khoa học đang tìm tòi, khám phá địa danh theo nhiều hướng khác nhau Trong đó, nghiên cứu địa danh trong văn học là một hướng đi chưa được khai thác và hứa hẹn gặt hái được nhiều thành tựu

2.2 Một số công trình nghiên cứu về Tố Hữu

Tố Hữu đến với thơ ca từ khá sớm, từ năm 18 tuổi Chàng thanh niên tràn đầy nhựa sống ấy đã lựa chọn thơ ca là hình thức để truyền tải lí tưởng cách mạng rực sáng trong tim Mỗi vần thơ của Tố Hữu như thúc giục, như tiếp luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 12

sức cho ý chí, nghị lực của con người Chính vì thế có những giai đoạn thơ ông

đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho dân tộc Giá trị đó được khẳng định qua các giải thưởng cao quý như: Giải nhất giải thưởng Văn học Hội văn nghệ Việt

Nam 1954 - 1955 cho tập thơ Việt Bắc; giải thưởng văn học ASEAN năm 1996 cho tập thơ Một Tiếng Đờn Tố Hữu là tác gia lớn của nền văn học Việt

Nam vì vậy sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu là nguồn đề tài không bao giờ vơi cạn của các nhà khoa học Đến hiện nay, có hàng trăm công trình nghiên cứu về Tố Hữu, tiêu biểu là công trình của các tác giả như: Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Đặng Thai Mai, Hoàng Trung Thông…Đặc biệt là các chuyên luận và bài nghiên cứu của tác giả như: Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Văn Long…Các tác giả đã nghiên cứu thơ Tố Hữu trên nhiều phương diện khác nhau từ nội dung đến nghệ thuật của từng tập thơ riêng lẻ, của toàn

bộ sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu

Nói đến những công trình nghiên cứu thơ Tố Hữu, không thể không nhắc

đến ba công trình biên khảo chuyên sâu về thơ ông đó là: Thơ Tố Hữu của Lê Đình Kỵ (1979); Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của Nguyễn Văn Hạnh (1985) và Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử

(1987)

Công trình nghiên cứu của Lê Đình Kỵ là một chuyên luận trình bày rất

cơ bản về sự nghiệp sáng tác, phong cách thơ Tố Hữu Với những đóng góp đáng ghi nhận trong hơn một trăm trang viết đã khảo sát, phân tích, đánh giá một cách toàn diện về mặt nội dung cũng như nghệ thuật trong thơ Tố Hữu

Hầu hết các tập thơ quan trọng trong suốt chặng đường sáng tác của Tố

Hữu đã được khảo cứu như: Từ ấy (1937 - 1946), Việt Bắc (1946 - 1954), Gió

lộng (1955 - 1961), Ra trận (1962 - 1971), Máu và hoa (1972 - 1977) Các chủ

để lớn của tập thơ như: chủ đề về nhân dân, đất nước, Đảng, lãnh tụ đều được tác giả khai thác một cách triệt để Phong cách nghệ thuật đậm chất lãng mạn cách mạng, mang âm hưởng dân tộc của Tố Hữu cũng được nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ làm sáng rõ Có thể nói đây là một chuyên luận được giới phê bình, luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 13

nghiên cứu Văn học đánh giá cao Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận thơ Tố Hữu về phương diện xã hội học, vấn đề địa danh chưa thấy được nghiên cứu tìm hiểu

Công trình Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí

của Nguyễn Văn Hạnh cũng góp phần không nhỏ trong việc làm rõ đặc sắc nội dung tư tưởng và phong vị đậm đà trong thơ Tố Hữu thông qua ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu, thể loại…Về mặt phương pháp, công trình nghiên cứu vẫn tuân thủ chặt chẽ, tiếp cận, tìm ra sự tương đồng giữa tác phẩm văn học và đời sống trong việc phản ánh, tái tạo hình tượng nghệ thuật, phô diễn cảm xúc của chủ thể trữ tình Tuy nhiên, trong chuyên luận dài hơn hai trăm trang này vấn đề địa danh trong thơ Tố Hữu cũng chưa được tác giả khai thác nghiên cứu

Khác với hai chuyên luận trên, chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu của

Trần Đình Sử lại có cách tiếp cận thơ Tố Hữu ở một góc độ mới mẻ là thi pháp

Theo ông thì đây là: “Thử nghiệm đầu tiên trong việc xác định nội hàm thơ trữ tình chính trị, khái niệm kiểu nhà thơ” Nhà nghiên cứu đã vận dụng các phạm

trù thi pháp học hiện đại vào khám phá thi ca Tố Hữu như: quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các hình thức biểu hiện để xem xét thế giới nghệ thuật của nhà thơ… Chuyên luận được xem

là chiếc chìa khóa mở cánh cửa cho việc tìm hiểu các sáng tác của nhà thơ Tố Hữu Tuy nhiên, trong chuyên luận này, vấn đề địa danh cũng chưa được ông nhắc đến

Trải qua gần tám mươi năm, những bài nghiên cứu phê bình đã làm sáng

tỏ giá trị nội dung, tư tưởng, nghệ thuật thơ Tố Hữu Dù nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, nhưng các tác giả đều đi tới khẳng định: Tố Hữu là lá cờ đầu của văn học cách mạng Việt Nam

Như vậy, có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về thơ Tố Hữu Tuy nhiên, yếu tố địa danh chưa được các tác giả chú ý Chính vì vậy, chúng tôi đi

vào nghiên cứu đề tài Địa danh trong thơ Tố Hữu với mong muốn góp phần

vào việc khẳng định giá trị thơ Tố Hữu

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh xuất hiện một cách dầy đặc trong thơ Tố Hữu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là toàn bộ sáng tác của Tố Hữu bao

gồm 7 tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng

đờn và Ta với ta

4 Mục đích nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện yếu tố địa danh trong thơ Tố Hữu Thông qua việc thống kê, khảo sát, phân tích, giải mã các loại địa danh, chúng tôi chỉ ra những giá trị nội dung sâu sắc trên nhiều phương diện như: lịch sử hào hùng, văn hóa độc đáo của vùng miền, vẻ đẹp quê hương… mà Tố Hữu đã gửi gắm qua từng cách gọi tên Tính dân tộc và nhiệt huyết cách mạng đã gắn kết yếu tố địa danh, tạo thành một nét hấp dẫn, lôi cuốn người đọc

Luận văn không chỉ chú ý đến biểu hiện của yếu tố địa danh trong thơ Tố Hữu trên phương diện nội dung, mà còn chú ý đến những giá trị trên phương diện hình thức nghệ thuật tác phẩm Thông qua việc tìm hiểu về địa danh, luận văn hướng tới làm sáng tỏ đặc điểm tư duy nghệ thuật thơ trữ tình chính trị của

Tố Hữu Qua đó, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc khẳng định phong cách thơ độc đáo, riêng biệt cũng như tài năng, vị trí và những đóng góp

to lớn của nhà thơ cách mạng Tố Hữu cho nền văn học Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê và hệ thống hóa

Phương pháp thống kê và hệ thống hóa là phương pháp giúp chúng ta hệ thống và đánh giá một cách khách quan, chính xác tần số xuất hiện của các địa danh và so sánh được tần xuất xuất hiện giữa các kiểu địa danh khác nhau luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 15

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Sử dụng phương pháp phân tích để đi sâu tìm hiểu các địa danh và ý nghĩa của nó trong từng bài thơ, tập thơ cụ thể Từ đó, luận văn làm sáng tỏ tính cụ thể, cảm tính, tính hình tượng, tính kí hiệu, tính thẩm mỹ của các địa danh này trong hệ thống địa danh thơ Tố Hữu Trên cơ sở phân tích, chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp để khái quát lại, rút ra đặc điểm chung về tư duy nghệ thuật thơ Tố Hữu thể hiện trong cách đặt địa danh

5.3 Phương pháp liên ngành

Vận dụng linh hoạt các kiến thức văn hóa học, lịch sử học, xã hội học, tín ngưỡng, tôn giáo… để tìm hiểu những giá trị yếu tố địa danh trong thơ Tố Hữu

5.4 Phương pháp so sánh

Luận văn so sánh các địa danh trong thơ Tố Hữu với địa danh trong sáng tác của các nhà thơ cùng thời Từ đó làm nổi bật phong cách, cá tính sáng tạo độc đáo của nhà thơ trữ tình chính trị Tố Hữu

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊA DANH

VÀ TÁC GIA TỐ HỮU 1.1 Địa danh

1.1.1 Khái niệm

Mỗi điểm địa lý khác nhau được con người gọi bằng một tên riêng Đó là

tên địa lý hay còn gọi là địa danh Theo nghĩa chiết tự “địa” nghĩa là đất,

“danh” có nghĩa là tên, “địa danh” có nghĩa là tên đất Là một thành tố ngôn

ngữ, khái niệm địa danh có sự mở rộng về nội hàm ý nghĩa Chính vì vậy, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về địa danh

Trước tiên, địa danh là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp

Toponima hay Toponoma được dịch là "tên gọi vị trí" Ngành khoa học nghiên

cứu về địa danh được gọi là: địa danh học Ngành địa danh học phát triển sớm

ở các nước phương Tây từ cuối thế kỉ XIX với nhiều công trình khoa học Trong đó ta phải kể đến nhà nghiên cứu A.V.Supêranskaia

Trong cuốn Địa danh là gì, A.V.Supêranskaia đã khái niệm: “Những địa

điểm, mục tiêu địa lí đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến những vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lí

có hai loại tên: Tên chung để xếp chúng vào hệ thống cả khái niệm nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [1, tr.13]… "Địa danh học - đó là một chuyên ngành của ngành ngôn ngữ học, nghiên cứu về lịch sử hình thành, thay đổi và chức năng của các tên gọi địa lí Thành tố lịch

sử trong địa danh học là bắt buộc" [1, tr.3] Khái niệm của A.V.Supêranskaia

hướng tới khẳng định địa danh là tên gọi của các yếu tố khác nhau bao gồm cả yếu tố tự nhiên và nhân tạo Trong đó, nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh là tên của các yếu tố địa lí tự nhiên Đồng thời, Supêranskaia cũng đã chỉ ra để gọi luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 17

tên của địa danh bao gồm cả tên chung (ví dụ như: sông là địa danh để phân biệt với biển, hồ, ao…) và tên riêng (như: sông Hồng để phân biệt với sông Cửu Long, sông Hoàng Hà…)

G.M Kert đã định nghĩa: “Địa danh là tên gọi được đặt cho các đối tượng địa lí ra đời trong một khu vực có con người sinh sống, được tạo ra bởi một cộng đồng dân cư, một tộc người Chúng là phần không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động chính trị, xã hội ở nơi đó” [3,

tr.16] Như vậy, tác giả chú ý đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa địa danh

Phê chủ biên, định nghĩa: "Địa danh là tên đất, tên địa phương" [62, tr.314]

Dựa trên hướng nghiên cứu về địa lý, tác giả Nguyễn Văn Âu định

nghĩa: “Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi, làng mạc…hay là tên các địa phương, các dân tộc” [6, tr.5]

Tác giả Nguyễn Kiên Trường và Phạm Xuân Đạm định nghĩa địa danh

dựa trên cơ sở ngôn ngữ học Nguyễn Kiên Trường khẳng định: "Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên

bề mặt trái đất" [78, tr.16] Còn Phạm Xuân Đạm đưa ra định nghĩa về địa danh và địa danh học như sau: "Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra

để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu hệ thống địa danh về các mặt: nguồn gốc, cấu trúc, ý nghĩa, sự chuyển hoá, biến đổi, các phương thức định danh [15, tr.12] Như vậy, cả hai tác giả đều thống nhất khẳng định

địa danh không chỉ là tên riêng của các yếu tố tự nhiên mà còn là tên của các yếu tố địa lý nhân tạo

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 18

Định nghĩa địa danh của Lê Trung Hoa có nét gần với các định nghĩa của

tác giả Supêranskaia: “Địa danh là những từ ngữ được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều Trước địa danh ta có thể thấy một danh từ chỉ tiểu loại của địa danh đó: sông Hương, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), vùng Ba Vì, thành phố Cần Thơ, đường Nguyễn Du…” [32, tr.18] Như

vậy, tác giả Lê Trung Hoa đã chú ý tới cấu tạo ngữ pháp của địa danh

Trong các cách định nghĩa về địa danh, chúng tôi đặc biệt chú ý tới định

nghĩa của Từ điển Bách khoa: “Địa danh là tên gọi các lãnh thổ, các điểm

quần cư (làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố), các điểm kinh tế (vùng nông thôn, khu công nghiệp), các quốc gia, các châu lục, các núi, các đèo, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng, châu thổ, sông, hồ, vũng, vịnh, biển, eo biển, đại dương

có tọa độ địa lý nhất định được ghi trên bản đồ Địa danh có thể phản ánh quá trình hình thành, đặc điểm của các yếu tố tự nhiên và lịch sử với những nét đặc sắc về kinh tế, xã hội của các lãnh thổ” [61, tr.780] Tác giả đã liệt kê khá chi

tiết các hình thức của địa danh Đồng thời chỉ ra địa danh là một hiện tượng ngôn ngữ, phản ánh đời sống kinh tế, văn hóa, lịch sử của con người

Như vậy, cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về địa danh, mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một cách định nghĩa riêng dựa hướng tiếp cận của

mình Chúng ta có thể hiểu: Địa danh là một thuật ngữ nhằm chỉ tên của các đối tượng tự nhiên và nhân tạo Địa danh không chỉ là yếu tố địa lý mà còn là yếu tố ngôn ngữ, được hình thành dựa trên quy tắc ngôn ngữ về các mặt: ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, được sử dụng trong ngôn ngữ nói, viết của cộng đồng Địa danh gắn liền với đời sống xã hội, với tâm lí cộng đồng, với lịch sử, văn hóa, văn học của vùng miền, đất nước, dân tộc

Trang 19

Tác giả M.V Gorbanerskij đã phân địa danh thành 4 loại: phương danh (tên các địa phương), sơn danh (tên núi, đồi, gò…), thủy danh (tên các dòng sông, ao, vũng…) và phố danh (tên các đối tượng trong thành phố) Ngoài 4 loại trên, A.V.Supêranskaia liệt kê thêm 3 loại nữa là: viên danh, lộ danh (tên các đường phố), đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên

nước, trên không…) Như vậy, nhà nghiên cứu Nga đã phân loại dựa trên các đối tượng chủ yếu của địa danh

Ở Việt Nam, hầu hết các tác giả nghiên cứu địa danh theo phương diện địa lý, văn hóa, ngôn ngữ… nên cũng phân loại địa danh dưa theo các tiêu chí

đó Tiêu biểu là cách phân chia của Lê Trung Hoa Trong cuốn Nguyên tắc và

phương pháp nghiên cứu địa danh [31, tr.24 - 27] và Địa danh học Việt Nam

[32, tr.15 - 16], tác giả đã phân chia địa danh dựa trên hai tiêu chí Theo nguồn

gốc đối tượng, địa danh được chia thành hai loại: địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (hay còn gọi là địa danh chỉ địa hình) và địa danh chỉ đối tượng nhân tạo

(địa danh về các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, địa danh hành chính và địa danh vùng không có ranh giới rõ ràng) Theo tiêu chí ngữ

nguyên, địa danh được chia thành bốn loại: địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Chăm, Khmer, Ba Na, Ê

Đê, Gia Rai, Tày, Thái, Mường…) và địa danh ngoại ngữ (chủ yếu là địa danh

nguồn gốc Pháp, ngoài ra còn có Inđônêxia, Malayxia)

Khá gần gũi với cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa là cách phân loại của tác giả Nguyễn Kiên Trường Đồng thời, Nguyễn Kiên Trường chú ý tới cả mặt chức năng, tính đồng đại - lịch đại của yếu tố địa danh Theo loại

hình, tác giả phân thành hai loại: nhóm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên và nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn (bao gồm hai loại nhỏ: nhóm địa

danh cư trú - hành chính và các địa danh gắn với hoạt động của con người, do con người tạo nên; nhóm địa danh đường phố và chỉ các công trình xây dựng)

Theo tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên, địa danh chia thành: nguồn gốc Hán Việt;

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 20

nguồn gốc thuần Việt; nguồn gốc từ tiếng Pháp; nguồn gốc là phương ngữ Quảng Đông; nguồn gốc khác như Tày, Thái, Việt, Mường…; nguồn gốc hỗn hợp; không rõ nguồn gốc Theo tiêu chí chức năng giao tiếp, địa danh chia thành: biệt xưng, tự xưng, giản xưng, tục xưng Theo hệ quy chiếu đồng đại - lịch đại, địa danh chia thành: địa danh cổ, cũ, địa danh hiện nay [78, tr.41-50]

Như vậy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều chú ý đến yếu tố địa lý, ngôn

ngữ của địa danh Trong công trình Địa danh trong thơ Tố Hữu, chúng tôi

nghiên cứu địa danh dưới góc độ văn học, văn hóa, lịch sử; đối tượng địa danh được lựa chọn nghiên cứu là những địa danh xuất hiện trong sáng tác thi ca của tác gia Tố Hữu Chính vì vậy, chúng tôi không phân loại địa danh theo tên địa

lí (tên vùng, tên sông, tên núi, là tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính…) và ngôn ngữ mà phân loại địa danh trên cơ sở nội dung phản ánh đời sống sản xuất, chính trị, văn hóa, tinh thần, phong tục, tập quán, lịch sử

Dựa vào những cơ sở trên, chúng tôi phân chia địa danh thành bốn loại:

Địa danh phản ánh đặc điểm địa hình; Địa danh phản ánh hoạt động sản xuất vật chất; Địa danh phản ánh văn hóa tinh thần; Địa danh phản ánh sự kiện, nhân vật lịch sử

1.1.2.1 Địa danh phản ánh đặc điểm địa hình

Dựa vào đặc điểm đặc trưng của địa hình, con người cấp cho chúng tên gọi riêng Chính vì vậy, chỉ cần nghe tên, chúng ta hình dung ra một phần cảnh quan địa lí của: sông, núi, biển, đảo…Ví dụ như một số địa danh bắt đầu bằng

chữ “tam”: Tam Đảo, Tam Thanh… đều gắn với con số ba Địa danh Tam Đảo

là dãy núi ở ranh giới ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên Dãy núi có ba ngọn (Thạch Bàn, Phù Nghĩa và Thiên Thị) nhô cao trên biển mây

giống như “ba hòn đảo” Địa danh Tam Thanh (Lạng Sơn) là động bên trong

có một ngôi chùa ba gian Khi ta gõ vào vách mỗi gian khác nhau thì tiếng

động phát ra cũng khác nhau nên gọi là Tam Thanh Địa danh sông Kỳ Cùng là con sông ở tận cùng lãnh thổ phía Bắc ở tỉnh Lạng Sơn Địa danh Đèo Ngang là

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 21

con đèo chắn ngang đường xuống phía Nam đất nước, ranh giới hai tỉnh Hà

Tĩnh và Quảng Bình Địa danh sông Hồng là con sông nước đục vì nhiều phù

sa…

Nguyễn Thị Kim Phượng trong luận văn Nghiên cứu địa danh tỉnh Bến

Tre đã chỉ ra đặc điểm địa hình của tỉnh Bến Tre có nhiều vùng đất nổi cao

được gọi là giồng Chính vì thế các địa danh ra đời gắn liền với các con giồng: giồng Lớn, giồng Châu Hưng, giồng ông Tố… [64, tr.104] Tác giả Nguyễn

Thái Liên Chi trong công trình Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai đã thống

kê được 481 địa danh phản ánh đặc điểm địa hình, thủy văn nơi đây [11]

Như vậy, địa danh phản ánh một cách bao quát từ phương vị, đặc điểm địa hình (hình dáng, kích thước, số lượng, màu sắc, âm thanh…), hoạt động, chức năng của địa hình Địa danh cũng phản ánh những đặc điểm của sự vật, của thiên nhiên và các hiện tượng thiên nhiên có liên quan đến địa hình Chính

vì vậy, địa danh gắn bó chặt chẽ với đặc điểm của các yếu tố địa lý tại nơi đó

1.1.2.2 Địa danh phản ánh hoạt động sản xuất vật chất

Hoạt động sản xuất là điều kiện quan trọng nhất để duy trì, phát triển địa phương, vùng miền, đất nước Do đó, con người lựa chọn địa danh theo hình thức sản xuất, sản phẩm sản xuất của con người Ta thấy hiện tượng này rất phổ biến ở các làng nghề Điển hình nhất là tên của các phố cổ Hà Nội Hà Nội băm sáu phố phường, mỗi tên con phố lại đưa chúng ta đến với một đặc khu sản

phẩm khác nhau như: phố Hàng Mã, phố Hàng Nón, phố Hàng Quạt, phố Hàng Khay, phố Thuốc Bắc, phố Hàng Mành, phố Hàng Thiếc…Các làng nghề

hiện nay vừa là nơi sản xuất mua bán hàng hóa truyền thống đồng thời là các địa chỉ văn hóa - du lịch

Tác giả Hoàng Thị Đường trong luận văn Nghiên cứu địa danh ở thành

phố Thái Nguyên đã chỉ ra đặc trưng kinh tế của Thái Nguyên là sản xuất lúa

nước, khắp nơi là những cánh đồng trồng lúa Chính vì vậy, ở Thái Nguyên

xuất hiện 40 địa danh gắn với thành tố chung là đồng như: đồng Giếng, đồng Đình, đồng Ri… [27]

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 22

Cách đặt địa danh gắn với hoạt động sản xuất vật chất của con người như

là một phương thức quảng cáo, khẳng định vị thế thương hiệu của sản phẩm Đồng thời thể hiện chính con người đã làm nên ý nghĩa, giá trị tồn tại của địa danh Một khi địa danh còn là con người còn kiên trì, còn bền bỉ với nghề

1.1.2.3 Địa danh phản ánh văn hóa tinh thần

* Địa danh phản ánh tâm tư, tình cảm của con người

Không chỉ phản ánh văn hóa vật chất, địa danh còn phản ánh văn hóa tinh thần của con người Những tâm tư, tình cảm, ước vọng được con người chắt chiu, gói gọn trong những địa danh

Xuất phát từ tình yêu cái đẹp, người Việt hay chọn từ “Mỹ” với ý nghĩa đẹp đẽ để đặt cho địa danh như: Mỹ Hào (một huyện ở tỉnh Hưng Yên), bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), tỉnh Mỹ Tho ở Miền Nam, cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền Giang, rồi các thôn ấp Mỹ Hòa, Mỹ Chánh (thành phố Hồ

Chí Minh)…

Gửi gắm ước mơ giàu có, thành đạt, con người đã lựa chọn các từ ngữ

thể hiện sự phát triển về tiền bạc như: Lộc, Lợi, Phát, Phú, Hưng…Chẳng hạn như: tỉnh Hưng Yên, thành Phú Xuân, Phú Bài (Huế), tỉnh Phú Yên, quận Phú

Nhuận, chợ Phú Lâm (thành phố Hồ Chí Minh), đảo Phú Quốc…

Nếu như rất nhiều địa danh ở miền Nam thể hiện mong ước về mặt vật chất thì ở miền Bắc có rất nhiều địa danh thể hiện mơ ước yên bình, an lành

trong cuộc sống: tỉnh Thái Bình, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Yên Bái…

Thông qua cách đặt tên phản ánh tâm tư tình cảm, mỗi cái tên như hóa tâm hồn người, chất chứa trái tim yêu thương, nghĩa tình của con người, nặng trĩu khát vọng của cha ông về một cuộc sống tươi đẹp hơn Qua cách đem lòng mình gửi gắm trong tên gọi của người Việt ta càng thấy rõ lối sống trọng tình

của cư dân trên mảnh đất hình chữ S này

* Địa danh phản ánh thế giới tâm linh và hoạt động tôn giáo

Thông qua địa danh, người ta có thể thấy được phần nào tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa tâm linh của cư dân một vùng miền, một dân tộc Từ Bắc chí Nam luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 23

trên đất nước ta có nhiều những địa danh như thế: núi Chí Linh (Thanh Hóa), chùa Thiên Mụ (Huế), chùa Trấn Quốc, đền Mẫu (Hà Nội) Ngay tên gọi Ba Đình vốn tên gọi một chiến khu chống Pháp ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh

Hóa Sau này Hồ Chủ Tịch đặt tên cho quảng trường trung tâm ở Hà Nội là

Ba Đình bởi nơi đây có ba ngôi đình…

Mỗi vùng, mỗi tộc người với niềm tin tôn giáo riêng tạo thành một hệ thống địa danh mang màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng Chẳng hạn ở tỉnh Bình Thuận, nơi cư dân chủ yếu là người Chăm, ta thấy có rất nhiều địa danh thể

hiện đời sống tâm linh và hoạt động tôn giáo của người Chăm như: chùa Cổ Thạch Tự, chùa Linh Sơn Tự, Lăng ông Nam Hải…Nổi tiếng là Hòn Bà - thị xã La Gi Địa danh Hòn Bà gắn với một truyền thuyết nổi tiếng gắn với

sự linh thiêng của nữ thần Y Any (Chúa Ngọc) Đặt tên Hòn Bà, người

Chăm thể hiện lòng tôn vinh nữ thần, đồng thời cầu mong nữ thần phù hộ cho việc làm ăn trên biển

1.1.2.4 Địa danh phản ánh sự kiện, nhân vật lịch sử

Địa danh là một tấm bia lịch sử cô đọng, giàu ý nghĩa Địa danh ghi lại quá trình hình thành, phát triển của một dân tộc, vùng miền, phản ánh những biến cố lịch sử, những sự kiện chính trị quan trọng

Việt Nam là một quốc gia luôn phải đối mặt với sự xâm lược của kẻ thù

từ hàng nghìn năm phong kiến phương Bắc, đến hàng trăm năm đô hộ của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt đã có biết bao người anh hùng vĩ đại, biết bao chiến công hiển hách Để lưu giữ khí thế chiến thắng đó, con người đã chọn tên những anh hùng, tên chiến thắng để đặt tên cho các con đường, các quảng trường, các đơn vị hành

chính, địa phương, thậm chí cả thành phố Tiêu biểu như: bến Bạch Đằng

(thành phố Hồ Chí Minh) gắn với chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền Đồng thời, tên Ngô Quyền cũng được đặt cho các địa

danh như: quận Ngô Quyền, đường Ngô Quyền, trường trung học cơ sở,

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 24

trung học phổ thông Ngô Quyền (Hải Phòng)…Các tuyến đường, dãy phố

Hà Nội thường được đặt bằng tên của các nhân vật lịch sử như: Nguyễn Công Trứ, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Võ Nguyên Giáp…Trải bước trên những con phố ấy, nhà thơ Bằng Việt đã phải thốt lên: “Tôi đi dọc những lối vào lịch sử”…

Cách đặt địa danh gắn với các sự kiện, nhân vật lịch sử như là một cách

để khắc ghi thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc, khắc ghi công ơn của cội nguồn Đồng thời cách đặt địa danh đó cũng là bài học văn hóa sâu sắc mà cha

ông muốn gửi gắm đến thế hệ sau

Qua sự phân tích ở trên, có thể thấy xét về mặt nội dung, địa danh có khả năng bao quát cuộc sống con người từ địa hình nơi sinh sống đến hoạt động sản xuất kinh tế, sinh hoạt văn hóa tinh thần, lịch sử phát triển của địa phương, dân tộc… Địa danh tồn tại cùng quá trình hình thành và phát triển của con người, như một chứng nhân cho những thành quả mà các thế hệ đã dày công vun đắp

1.2 Địa danh trong thơ ca Việt Nam

Địa danh là một thành tố ngôn ngữ có khả năng chứa đựng thông tin, tình cảm của con người, có khả năng tạo ra giá trị nghệ thuật Chính vì vậy, địa danh được các nhà thơ sử dụng một cách sáng tạo trong các sáng tác thi ca Mỗi địa danh được lựa chọn đều là một dụng ý nghệ thuật nhằm thể hiện thái độ, quan điểm, tâm trạng của nhà văn, nhà thơ như: tình yêu quê hương đất nước,

sự trân trọng, tự hào về lịch sử, tấm lòng cô đơn, lẻ loi… Dõi theo dòng chảy thi ca Việt Nam, có thể nhận thấy yếu tố địa danh được sử dụng rộng rãi trong

cả văn học dân gian, văn học trung đại đến văn học hiện đại

1.2.1 Địa danh trong thơ ca dân gian

Trong văn học dân gian, vấn đề địa danh được nhắc đến trong nhiều thể

loại Trước tiên phải kể đến thể loại “Truyện kể địa danh” nhằm giải thích

nguồn gốc, ý nghĩa của các địa danh tự nhiên như: tên núi, tên sông, tên đất tiêu luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 25

biểu là: truyện Thần núi Tản Viên, truyện Hòn Vọng Phu, Sự tích Hồ

Gươm… Ngoài ra, còn một số truyện kể nhằm giải thích địa danh nhân văn

như: tên làng, tên vùng

Đặc biệt việc sử dụng tên địa danh rất phổ biến trong ca dao, dân ca, tục

ngữ Theo Nguyễn Xuân Kính trong công trình Thi pháp ca dao có hai chủ đề

chính thường sử dụng tên riêng chỉ địa điểm:

Chủ đề thứ nhất là ca ngợi cảnh vật và truyền thống địa phương.Vẻ thanh

tao của Hà Nội được ghi lại trong những câu ca dao:

“Ai về Hà Nội ngược nước Hồng Hà Buồm giong ba ngọn vui đà thêm vui.”

“Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương.”

Những địa danh thơ mộng, trữ tình, đậm màu sắc văn hóa, lịch sử của xứ

Huế cũng được tác giả dân gian ngợi ca:

“Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch Non xanh, nước biếc, điện ngọc, đền rồng Tháp bảy tầng Thánh Miếu, chùa Ông Chuông kêu Diệu đế, trống ring Tam Tòa.”

Thậm chí, trong kho tàng cao dao còn có những câu thơ, bài thơ dầy đặc địa danh Tác giả dân gian đã khéo léo dựa vào âm, vần của địa danh để tạo thành câu cao dao vần vè, dễ đọc, dễ nhớ:

“Trên thì Đún, Mải, Hò, Khoai Dưới thì Lác, Tuộc, Dô, Giai, Sâm, Sàng

Đô Kì, Đồng Phó đổ sang Chiềng, Tè, Hới, Gạo, Vích, Vang, Ướng, Rồng…”

Không chỉ thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, ca dao dân ca còn gửi

gắm tình yêu và tình cảm vợ chồng qua địa danh:

“Ai về Đồng Tỉnh, Xuân Cầu

Để thương để nhớ, để sầu cho ai.”

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 26

“Anh về Đạp Đá, Gò Găng

Để em đạp vải sáng trăng một mình.”

Đồng Tỉnh, Xuân Cầu hay Đạp Đá, Gò Găng tượng trưng cho sự xa cách

về mặt không gian địa lý Đồng thời, thể hiện sự lo lắng, thương nhớ, cô đơn,

buồn tủi của những người ở lại

Những câu ca dao về địa danh không chỉ gọi tên địa điểm ở từng vùng, chúng còn phản ánh đặc sắc văn hóa của con người (lối sống, phong tục, tập quán, nghề nghiệp…) và các sản vật (cây trái, động vật…) Với điều kiện tự nhiên phong phú và sự tồn tại, phát triển của nhiều anh em dân tộc khác nhau nên đặt chân tới mỗi vùng miền của tổ quốc ta đều được thưởng thức hoa thơm quả ngọt, được đắm mình trong không gian sinh hoạt văn hóa đặc sắc:

“Đồng Nai gạo trắng nước trong

Ai đi tới đó thời không muốn về.”

“Yến sào Vĩnh Sơn Nam sâm Bố Trạch…”

Thơ ca dân gian là sản phẩm của nhân dân lao động, bắt nguồn từ cuộc sống sinh hoạt đời thường Chính vì vậy, những địa danh xuất hiện trong ca dao đều là những địa danh gắn với quê hương, tình yêu thiên nhiên, làng xóm Đồng thời, địa danh trong ca dao làm nhiệm vụ quan trọng nhất trong việc chuyên chở bao ước mơ, khát vọng, phản ánh lối sống trọng tình của con người

1.2.2 Địa danh trong thơ ca trung đại

Trong thơ ca trung đại, yếu tố địa danh xuất hiện khá nhiều đặc biệt trong các bài kí và loại thơ nói về những chuyến đi: đi sứ, đi công cán, đi ngao

du hồ hải…Địa danh trong các sáng tác trung đại phản ánh rõ nét lịch sử, văn hóa, tư tưởng xã hội…

Thời kì xã hội phong kiến nước ta luôn phải hứng chịu sự xâm lược của chế độ phong kiến phương Bắc Đồng thời, do ảnh hưởng của học thuyết Nho gia đặc biệt là tư tưởng trung quân ái quốc nên trong văn học xuất hiện cảm hứng chủ đạo là tình yêu nước, ca ngợi những chiến thắng oai hùng, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên…

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 27

Những chiến thắng vang dội trong công cuộc chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 (năm 1285) của quân dân nhà Trần được tướng quân Trần Quang

Khải tái hiện trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư:

“Đoạt sóc Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực Vạn cổ thử giang san.”

Chương Dương và Hàm Tử trong bài thơ không chỉ còn là hai địa điểm

mà đã trở thành nhân chứng cho lịch sử, cho chiến thắng oai hùng của nhân

dân, đồng thời là bài học răn đe kẻ thù Nhắc tới Chương Dương và Hàm Tử,

tác giả còn thể hiện lòng tự hào về khí thế Đông A của quân dân nhà Trần

Trái với vẻ khỏe khoắn, sục sôi nhiệt huyết cách mạng của Trần Quang Khải là những vần thơ nặng trĩu tâm sự của bà Huyện Thanh Quan Mỗi bài thơ

của nữ thi sĩ đều gắn với một địa danh thuộc kinh thành xưa cũ: Thăng Long

thành hoài cổ, Đền Trấn Bắc, Chùa Trấn Võ… Mỗi địa danh như gợi nhắc tại

một quá khứ vàng son nay đã lụi tàn khi mà kinh đô của đất nước bị chuyển

vào Huế Cảm hứng hoài cổ cũng là cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Qua Đèo

Ngang Địa danh Đèo Ngang thể hiện tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất

nước của thi sĩ Đồng thời, địa danh Đèo Ngang ngăn đôi miền Tổ quốc thể

hiện cho sự xa cách, nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà tới nao lòng của người lữ khách…

Thơ trung đại Việt Nam ảnh hưởng sâu đậm từ thi ca Trung Quốc Trước khi có chữ viết, chúng ta phải mượn tiếng Hán làm văn tự sử dụng trong hành chính cũng như văn học Chính vì vậy, văn học trung đại bao gồm hai bộ phận: thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm Không chỉ vay mượn văn tự, các thi nhân trung đại còn chịu ảnh hưởng về mặt thể loại, tư tưởng, phong cách sáng tác… Chính

vì vậy, trong những bài thơ chữ Hán, ngoài những địa danh Việt Nam còn có

nhiều địa danh ở Trung Quốc Ta dễ dàng bắt gặp địa danh: sông Dương Tử, bến Côn Lôn, Lầu Hoàng Hạc, thành Lạc Dương, tỉnh Hà Bắc, hồ Động

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 28

Đình… của đất nước Trung Hoa trong thi ca Việt Nam Nguyễn Du khi phóng

tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân cũng giữ lại những địa

danh cũ như: Tiền Đường, Vô Tích, Lâm Tri…

Nói đến vấn đề địa danh trong văn thơ cổ, người ta không thể không nhắc đến loại thơ của các sứ thần với những hành trình từ Kinh Đô Việt sang Tràng An hay Lạc Dương, những thủ đô thời trung đại của Trung Quốc, các nhà thơ phải đi qua nhiều địa điểm, thắng cảnh của hai nước Đến mỗi nơi họ lại ghi cảm xúc của mình Tập thơ như là cuốn nhật kí hành trình, qua đó người

đời sau, các nhà viết sử có thể vẽ lại hành trình của nhà thơ Tập thơ Bắc hành

tạp lục của Nguyễn Du là một trường hợp như vậy

Đầu năm 1813, Nguyễn Du khi ấy 48 tuổi và là Cần Chánh Đại học sĩ, được triều đình nhà Nguyễn cử đi sứ Trung Quốc Ông dẫn đầu đoàn sứ bộ Việt

Nam “Bắc hành” từ đầu tháng Hai đến giữa tháng Chạp năm Quý Dậu, tức là

chuyến công cán kéo dài gần suốt năm Trong chuyến đi rất dài này, Nguyễn

Du không chỉ hoàn thành chức trách của một sứ thần, mà còn hoàn thành chức

trách của một nhà thơ lớn Tập Bắc hành tạp lục là kết quả của chuyến đi này

với 132 bài thơ chữ Hán ghi lại những điều trông thấy, những cảm nghĩ dọc đường, của một nhà nho tinh thông sách sử, của một tâm hồn thơ lớn Dĩ nhiên, cái hay của thơ ca, cái lớn của tập thơ này nằm ở cảm xúc tinh tế, chiều sâu tâm trạng và những suy tư về nhân thế của Nguyễn Du, song các tri thức lịch sử, địa

lí, văn hóa, cũng làm cho tập thơ có sức nặng văn hóa Các địa danh gợi cho nhà thơ bộc lộ cảm thức về lịch sử và thời thế

Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh căn cứ vào địa danh các bài thơ trong Bắc

hành tạp lục đã cố gắng vẽ lại con đường đi sứ của Nguyễn Du từ khi khởi

hành đến lúc trở về đến Ải Nam quan Ông mô tả như sau: Nguyễn Du bắt đầu chuyến đi từ kinh đô Huế, qua Thăng Long, qua Nam Quan mà sang Trung Quốc Theo các con sông Minh Giang và Tả Minh Giang mà đến Ngô Châu, ngược sông Minh Giang mà đến Quế Lâm, nhờ kênh Hưng An mà sang sông

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 29

Tương, xuôi sông Tương đi suốt tỉnh Hồ Nam, qua Tương Đàm và Tương Âm, vào hồ Động Đình rồi tới Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc Từ đây theo đường bộ để vào Hà Nam, qua Tín Dương, Yến Thành, Hứa Xương mà đến Khai Phong, rồi qua sông Hoàng Hà, qua Hàm Đan kinh đô nước Triệu xưa, qua sông Dịch mà vào nước Yên xưa rồi từ đó đến Bắc Kinh… Con đường về của Nguyễn Du cũng được nhiều người “vẽ” căn cứ vào tên các địa danh mà Nguyễn Du nhắc

tới trong tập thơ Không chỉ có Nguyễn Du, các sứ thần xưa đa phần đều có làm thơ, cũng đều có những cuốn nhật kí hành trình bằng thơ tương tự

Địa danh trong thơ Nguyễn Du không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên

mà còn thể hiện trái tim nhân đạo sâu sắc Tiêu biểu là bài thơ Quỷ môn quan:

“Liên phong cao sáp nhập thanh vân Nam Bắc quan đầu tựu thử phân Như thử hữu danh sinh tử địa Khả liên vô số khứ lai nhân Tắc đồ tùng mãng tàng xà hổ

Bố dã yên lam tụ quỷ thần Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt

Kỳ công hà thủ Hán Tướng quân.”

Địa danh Qủy môn quan hay chính là cửa ải Chi Lăng Nơi đây đã diễn

ra bao trận chiến giữa quân dân Đại Việt và Trung Hoa Tác giả Nguyễn Du không chỉ thể hiện tấm lòng yêu nước, ngợi ca chiến công dân tộc mà còn bộc

lộ trái tim cảm thương sâu sắc tới những người lính Trung Quốc phải ngã xuống vì tham vọng của quân vương Với trái tim nhân ái cao cả, vượt qua ranh giới thù hận, Nguyễn Du xứng đáng là đại thi hào của dân tộc, là danh nhân văn hóa của thế giới

Nếu như địa danh trong thơ ca dân gian mang màu sắc dung dị, chan chứa tình cảm, sự gắn bó với từng miền quê hương của Việt Nam thì những địa danh trong thơ trung đại mang tính tư duy, thể hiện chiều sâu trí tuệ cùng tâm luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 30

sự kín đáo, sâu sắc Nhiều địa danh trong thơ trung đại mang tính ước lệ, gắn với điển tích, điển cố hoặc địa danh của Trung Hoa Chính vì vậy, địa danh là một thi liệu giàu giá trị về nội dung và nghệ thuật nên được nhiều thi nhân lựa chọn để đưa vào trong sáng tác của mình

1.2.3 Địa danh trong thơ ca hiện đại

Bước sang thời kì hiện đại, văn học Việt Nam có sự chuyển mình mạnh

mẽ, sâu sắc Tư tưởng cởi mở của phương Tây cùng phương pháp sáng tác mới, thể loại mới được du nhập vào Việt Nam Văn học Việt Nam có sự cách tân toàn diện đem lại dáng vẻ mới Về mặt thi ca xuất hiện hai xu hướng chủ yếu: thơ ca lãng mạn của các nhà thơ lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 và thơ ca cách mạng bám sát hiện thực của công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc

* Thơ lãng mạng

Thơ lãng mạn của tiếng nói cá nhân, sự giải phóng tối đa khả năng sáng tạo cũng như cá tính của tác giả Thơ mới tạo dấn ấn quan trọng, bước ngoặt của thi ca, chuyển từ phương thức sáng tác trung đại, chịu ảnh hưởng của thi pháp Trung Hoa sang phương thức sáng tác hiện đại của phương Tây Nhận xét

về sự phát triển của thơ Mới, Hoài Thanh đã viết: “Không lấy một người so sánh với một người, hãy lấy thời đại so sánh với thời đại Tôi quyết rằng chưa

có thời đại nào phong phú như thời đại này trong lịch sử thi ca Việt Nam Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ,

mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Để thể

hiện phong cách, cá tính của mình, các thi nhân lãng mạn sử dụng yếu tố địa danh như một dụng ý nghệ thuật Ta thấy được chất mộc mạc, dân giã của những thôn xóm trong thơ Nguyễn Bính:

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 31

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông, Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của trời, Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”

(Tương tư)

Hoặc như tấm lòng với xứ Huế thân thương cũng như tấm lòng thiết tha với

đời, yêu say cuộc sống của Hàn Mặc Tử được gửi gắm trong địa danh thôn Vĩ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

(Đây thôn Vĩ Dạ)

Tuy thơ mới là kết quả của quá trình giao lưu, tiếp xúc với văn hóa phương Tây nhưng trong thơ mới xuất hiện rất ít các địa danh nước ngoài Các tác giả khai thác ngay vẻ đẹp của thiên nhiên, của miền quê, đất nước con người Việt Qua đó, ta thấy được tấm lòng với non sông, thao thức, trăn trở của

các thi nhân về vận mệnh dân tộc

* Thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp

Mỗi nhà thơ cách mạng đều có sự gắn bó sâu sắc với một địa danh địa lí

- văn hóa, tạo ra phong cách độc đáo, không thể trộn lỗn Đằm thắm trong trái tim của Tố Hữu là quê hương xứ Huế, Hoàng Cầm nao lòng với quê nhà Kinh Bắc, Quang Dũng vấn vương với xứ Đoài Thơ của họ là tâm hồn, phong cảnh

Trang 32

“Em ở thành Sơn chạy giặc về tôi Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bong Ba Vì…

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về lại Sài Sơn ngắm lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng.”

Không chỉ xuyến xao với Xứ Đoài, Quang Dũng còn bén duyên sâu nặng với vùng đất cheo leo - Tây Bắc:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi.”

“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.”

“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.”

(Tây Tiến)

Sông Mã là con sông chảy qua Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá và cũng là địa danh nơi đoàn quân Tây Tiến đóng binh Hai chữ “sông Mã” tiếng trước

thanh bằng tiếng sau thanh trắc góp cho giọng thơ trầm hùng Dấu “~” trong

chữ “Mã” kết hợp với chữ “ơi” cuối câu “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!” làm cho âm giọng ngân vang… Chữ “Lát” trong địa danh Mường Lát đi liền với chữ “hoa” trong câu thơ “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, gợi cho người

đọc có cảm giác như cảnh nơi ấy lát hoa, rải hoa thật là sang trọng mơ mộng

và lãng mạn Cái âm “Pha” trong “Pha Luông” đi với cái âm “xa” trong “Nhà

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 33

ai Pha Luông mưa xa khơi” nghe như cứ pha vào mưa, luồn vào gió, con mưa

chạy dài rộng khắp mịt mù trong mưa rừng sương núi Còn trong hai chữ địa

danh Mai Châu, ta nghe như trong đó có cái gì tươi trẻ trong sáng Từ đó gợi

cho người đọc như thấy đoàn quân Tây Tiến, sau khi xuyên sơn, vượt lũng, băng rừng, lội suối đến một cái thôn Mai Châu Ở đó những cô gái trẻ trung chạy ra chào đón các anh bộ đội tặng những cơm nắm, xôi đùm ấm áp

nghĩa tình quân dân…

Như vậy, ta có thể nói rằng trong thơ Quang Dũng đầy ắp những địa danh Cái tài của Quang Dũng là ông đã vận dụng nó vào trong câu thơ hết sức nhuần nhuyễn và đem lại cho người đọc những cảm xúc chân thực

Cũng tương tự như chất Tây Bắc trong thơ Quang Dũng, ta bắt gặp cảnh vật và con người, miền quê Kinh Bắc trong thơ của Hoàng Cầm Vùng Kinh Bắc không chỉ trù phú, tốt tươi, giàu truyền thống văn hóa mà còn mang một vẻ đẹp cổ kính với những phong tục tập quán, những đền chùa, những lễ hội vào dịp đầu xuân:

“Ai về Bên kia sông Đuống Cho ta gửi tấm the đen Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên Những hội hè đình đám

Trên núi Thiên Thai Trong chùa Bút Tháp Giữa huyện Lang Tài Gửi về may áo cho ai?

Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu?”

(Bên kia sông Đuống)

Qua hồi ức các địa danh Thiên Thai, Bút Tháp, Lang Tài được gợi nhắc

thể hiện niềm kiêu hãnh và tự hào của nhà thơ về vẻ đẹp quê hương mình Các câu thơ chỉ địa danh kết hợp với những từ có ý nghĩa định vị về mặt không gian luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 34

"trên, trong, giữa" khiến không gian càng rộng lớn mênh mông, không gian

của sự thanh bình Những địa danh ấy chỉ có duy nhất ở Kinh Bắc, từ lâu đã đi vào trong ca dao, dân ca, vào lòng người dân Kinh Bắc Mỗi địa danh lại gắn liền với một lễ hội Chỉ bằng những vần thơ ngắn gọn nhà thơ đã làm sống dậy một quá khứ, một bức tranh đẹp đẽ, tươi vui sắc màu văn hóa của riêng đất

Kinh Bắc

* Thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ

Nếu như thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp mang âm hưởng giản dị, mộc mạc thì thơ ca kháng chiến chống Mỹ mang một hơi thở mới Đó là chất oai hùng của thế hệ thanh niên sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Họ sẵn sàng hi sinh xương máu cho nền độc lập Chính vì vậy, mỗi địa danh đều gắn với chiến công của binh đoàn, với sự anh dũng, quả cảm của người lính:

“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.”

(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)

Bên cạnh giọng thơ hào sảng, tràn đầy nhiệt huyết, thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ còn mang âm hưởng sâu lắng, triết lí, thể hiện sự cảm nhận sâu

sắc của tác giả về quê hương, đất nước Trường ca Mặt đường khát vọng của

tác giả Nguyễn Khoa Điềm là một điển hình:

“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo giúp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 35

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha

Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta ”

Không chỉ trong thi ca, yếu tố địa danh cũng được các tác giả sử dụng trong văn xuôi và âm nhạc Trong văn xuôi, ta cũng thấy hiện tượng nhiều tác

phẩm nổi tiếng có tên địa danh: Mường Giơn giải phóng của Tô Hoài, Sông

Đà của Nguyễn Tuân, Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, Cù Lao Chàm

của Nguyễn Mạnh Tuấn, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu…Hàng loạt

những bài hát có tính “địa danh ca”, “địa phương ca” xuất hiện, một hiện

tượng chưa từng có trước đó như: Quảng Bình quê ta ơi, Hà Tây quê lụa,

Chào sông Mã anh hùng, Dáng đứng Bến Tre, Quỳnh Lưu đất mẹ yêu thương, Thái Nguyên quê tôi (Huy Cao), Nhớ về Hà Giang (Minh Thùy)…

Địa danh được đưa vào văn học cách mạng nhiều như vậy là bởi suốt 30 năm kháng chiến và chiến tranh giải phóng đất nước từ Ải Nam quan đến Mũi

Cà Mau, các văn nghệ sĩ cũng là những người cán bộ cách mạng, người chiến

sĩ, họ phải đến nhiều nơi trên đất nước, trải nghiệm sống và chiến đấu Mỗi vùng đất đều gắn với những kỉ niệm sâu sắc về tình quân dân, tình yêu, tuổi trẻ

và được thể hiện ra bằng văn, thơ, nhạc, họa Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên

đã từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” Mặt

khác, về phương pháp sáng tác, văn học cách mạng lấy các vấn đề dân tộc đất nước làm chủ đề cảm hứng chính Thêm nữa với phương pháp hiện thực

xã hội chủ nghĩa, văn học thiên về phản ánh sự thật, ghi chép sự thật, vì thế càng có cơ sở để địa danh thành một biểu đạt phổ biến trong thơ Trong thế

hệ các nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc không thể không kể đến Tố Hữu Nhà thơ có khả năng rung cảm đặc biệt với những địa danh cách mạng và đưa chúng vào trong thơ một cách hay nhất,

nghệ thuật nhất

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 36

Tố Hữu được sinh ra trong một gia đình trí thức Cha ông là một trí thức, rất yêu thơ và thích sưu tầm ca da tục ngữ Mẹ ông thuộc rất nhiều ca dao dân

ca và có trái tim thiết tha yêu thương Truyền thống gia đình là nền móng quan trọng cho mối duyên với thi ca của Tố Hữu

Tố Hữu trưởng thành vào thời kì cách mạng Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ tiêu biểu phong trào dân tộc, dân chủ (1936 - 1939) Người thanh niên trẻ ấy nhanh chóng giác ngộ lí tưởng cách mạng và chính thức bước vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản năm 1938 Tuy nhiên, ngay những ngày đầu hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng Tố Hữu đã bị bắt, bị giam tại nhà lao Thừa Thiên rồi lần lượt bị giam ở các nhà tù ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Không chấp nhận cuộc sống tù đày, tháng 3 - 1942, Tố Hữu đã vượt ngục Đắc Lay (Kon Tum), vượt qua hàng trăm cây số đường rừng để quay trở

về tiếp tục hoạt động cách mạng Năm 1945, khi cách mạng Tháng Tám diễn

ra, ông được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở Huế, lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi vang dội Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Tố Hữu lên Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng, đặc trách về văn hóa Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc đến năm 1986, Tố Hữu luôn giữ vị trí quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Nhà nước

Cuộc đời của Tố Hữu gắn bó với vận mệnh dân tộc suốt hai cuộc kháng chiến, những ngày đầu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Chính vì vậy, ở luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 37

ông có sự hòa quyện giữa con đường chính trị và con đường thơ Mỗi chặng đường vào sinh ra tử trên chiến trường của Tố Hữu đều được tái hiện một cách sinh động trong các bài thơ Chặng đường thơ của Tố Hữu gắn liền với những thay đổi trong quá trình hoạt động cách mạng Tố Hữu đã tái hiện một cách sâu sắc và sinh động lịch sử của dân tộc, góp vai trò to lớn vào việc khích lệ tinh thần, ý chí chiến đấu của thế hệ trẻ Đồng thời, ông để dấu ấn quan trọng trong nền thi ca Việt Nam

1.3.2 Hành trình sáng tác thi ca

Tố Hữu là nhà thơ cách mạng nên thơ của ông gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cánh mạng dân tộc, các chặng đường thơ cũng song hành với các giai đoạn đấu tranh ấy, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ

Tập Từ ấy (1937 - 1946): Gồm ba phần Máu lửa, Xiềng xích, Giải

phóng, tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động cách mạng

của nhà thơ

Máu lửa là tiếng reo náo nức của một tâm hồn được giác ngộ lý tưởng

cách mạng Có lẽ vì thế, nhà thơ đã nhận ra được ách áp bức giai cấp, bất công của xã hội và thân phận của con người lao khổ Trong thơ ông luôn hướng sự cảm thông của mình với những em bé mồ côi, lão đầy tớ, cô gái giang hồ, em

bé đi ở và khơi dậy ở họ lòng căm thù, ý chí chiến đấu và niềm tin ở tương lai

Xiềng xích là sự quyết tâm của người chiến sĩ cách mạng tự nhắc nhở

mình quyết không khuất phục trước uy lực và sự tàn bạo của kẻ thù (Trăng

trối, Con cá chột nưa…) đồng thời thể hiện niềm lạc quan, yêu đời, khát khao

tự do và hành động

Giải phóng - Khi cách mạng tháng Tám thành công, Tố Hữu say sưa

nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi, ngợi ca nền độc lập, ngây ngất trong “niềm vui bất tận” với cảm hứng dâng trào trước cuộc đổi đời vĩ đại của nhân dân, dân

tộc

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 38

Tập Việt Bắc (1947 - 1945): Việt Bắc là “thủ đô kháng chiến”, nơi có

Đảng, Bác Hồ lãnh đạo toàn dân đánh giặc Việt Bắc là bản anh hùng ca, ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng và những con người bình dị mà anh hùng của cuộc kháng chiến (như các em thiếu nhi, các anh bộ đội, các chị phụ nữ, các bà mẹ… và trên tất cả, hình ảnh tập trung, tiêu biểu cho phẩm chất dân tộc là hình ảnh Bác Hồ) Tập thơ còn ca ngợi những tình cảm điển hình của con người kháng chiến như tình yêu nước, tình yêu đồng bào, tình quân dân, tình cảm miền ngược với miền xuôi, lòng yêu thiên nhiên, kính yêu Đảng, Bác Hồ… và niềm tin tưởng ở ngày mai tươi sáng Việt Bắc là thành tựu xuất sắc nhất của văn học kháng chiến chống Pháp

Tập Gió lộng (1955 - 1961) là tập thơ vừa thể hiện niềm vui, niềm tự hào

và tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, vừa bày tỏ tình cảm thiết tha với niềm Nam và ý chí thống nhất nước nhà, tình cảm quốc tế rộng lớn

Trong niềm vui lớn với cuộc sống hiện tại, Tố Hữu không quên nghĩ về quá khứ để bày tỏ tình cảm biết ơn ông cha và những người đi trước mở đường Và từ

đó thấm thía ân tình cách mạng (Ba mươi năm đời ta có Đảng, Mẹ Tơm…)

Trong giai đoạn cách mạng này, Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất thống nhất nước nhà Rộn ràng thay cảnh quê hương, nửa công trường tấp nập, nửa chiến trường hừng hực khí thế chiến đấu Đồng thời, thơ ca thời kì này tiếp tục phát triển cảm hứng sử thi và khuynh hướng khái quát với một cái tôi trữ tình đa dạng hơn và một nghệ thuật biểu hiện già dặn và nhuần nhị hơn

Hai tập Ra trận (1962 - 1971), Máu và hoa (1972 - 1977) là những

chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm chống Mỹ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho tới ngày toàn thắng Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là

mệnh lệnh tiến công, là lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng cả dân tộc “khắp thành thị

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 39

nông thôn” vùng lên quyết “đập tan đầu Mỹ Ngụy” Ra trận cũng dành hẳn

một trường ca theo chân Bác để tái hiện hình ảnh Bác trên những chặng đường lịch sử trong hơn nửa thế kỉ

Máu và hoa là những suy ngẫm của nhà thơ về những hi sinh to lớn của

dân tộc (máu) để tạo nên những chiến công (hoa) chói lọi của lịch sử: “Phải bao máu thấm trong lòng đất Mới ánh hồng lên sắc tự hào”

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ Tố Hữu mang đậm tính chính luận, sử thi nhiều chỗ người đọc còn cảm nhận được âm hưởng

anh hùng ca Từ năm 1978 lại đây, thơ Tố Hữu được tập hợp trong hai tập Một

tiếng đờn (1992) và Ta với ta (1999) Trải qua những thăng trầm, những trải

nghiệm trước cuộc đời, nhà thơ muốn bày tỏ những suy tư về cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những quy luật phổ quát và tìm kiếm những giá trị bền vững Giọng thơ vì thế cũng trầm lắng, thấm đượm chất suy tưởng

Thơ Tố Hữu là một bằng chứng sống cho sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và nghệ thuật Con đường thơ của ông là con đường tìm tòi sự kết hợp hài hòa hai yếu tố, hai cội nguồn là dân tộc và cách mạng trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca Với ngôn ngữ, thể thơ giàu tính đại chúng, dân tộc, cách mạng, thơ Tố Hữu đã truyền được cho hàng triệu độc giả niềm say mê

lý tưởng cách mạng

1.3.3 Quan điểm nghệ thuật

Tố Hữu đã định hình cho mình một phong cách riêng bên cạnh sự nghiệp

thơ phong phú, đồ sộ: "Sống là hành động, thơ cũng hành động Với Tố Hữu thơ là hình thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng, của sự sống" (Đặng Thai

Mai) Đó là nguồn gốc giá trị sâu sắc của thơ Tố Hữu và đó cùng là cơ sở tạo nên phong cách đặc sắc trong thơ Tố Hữu

Tố Hữu ít nói đến đời tư, đời thường Cảm hứng của Tố Hữu là cảm hứng lịch sử dân tộc chứ không phải là cảm hứng đời tư Nổi bật lên trong thơ

Tố Hữu là vấn đề vận mệnh dân tộc, cộng đồng chứ không phải vấn đề số phận luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Trang 40

cá nhân Nói đúng hơn số phận cá nhân hòa vào số phận dân tộc, cộng đồng Những vấn đề đời sống được nhà thơ đề cập đến chủ yếu trên phương diện chính trị Ông ca ngợi lý tưởng, ca ngợi những con người mang lý tưởng cộng sản, biểu dương những tình cảm cách mạng, ca ngợi nhân dân ca ngợi đất nước Những vấn đề chính trị ấy trở thành nguồn cảm hứng, nguồn cảm xúc chân thật, sâu xa và thành lẽ sống, niềm tin… Bởi vậy, với Tố Hữu chính trị trở thành cái riêng tư và được nhà thơ diễn đạt bằng ngôn ngữ tâm tình, ngôn ngữ của tình yêu, tình mẹ con, tình bạn bè một cách tự nhiên không gượng ép

Bao trùm trong thơ Tố Hữu là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Lẽ sống

cách mạng, lẽ sống cộng sản Vì thế mà trong thơ dù có: "Tả tình hay tả cảnh,

kể chuyện mình hay là chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay về một sự việc nhỏ (…) là để nói cho được cái lý tưởng cộng sản ấy thôi” ( Chế Lan Viên )

Trước Cách mạng tháng Tám, nhà thơ khẳng định lẽ sống của con người

là con đường cách mạng Đó là con đường duy nhất có thể giải thoát cho mọi

số phận cá nhân, khỏi cảnh áp bức, đọa đầy đau khổ như: Những người không

chết, Trăng trối, Con cá chột nưa, Từ ấy Từ Việt Bắc trở đi, Tố Hữu thường

chủ yếu đặt vấn đề lẽ sống của dân tộc, và tiếp đó là mối quan hệ giữa dân tộc

và thời đại

Không chỉ phản ánh lẽ sống, thơ Tố Hữu ngập tràn tình cảm, niềm vui của con người cách mạng đó là: niềm say mê lý tưởng, tình đồng chí, lòng yêu mến nhân dân, đất nước, ân nghĩa của cách mạng, của Đảng lãnh tụ, tình cảm

quốc tế Điều đó được thể hiện qua các tác phẩm như: Việt Bắc, 30 năm, Mẹ

Tơm, Nước Non, Sáng tháng Năm, Bác ơi, Miền Nam, Một nhành xuân…Thơ

Tố Hữu ở những bài hay nhất thường là có sự kết hợp cả ba chủ đề lẽ sống lớn,

niềm vui lớn và ân tình cách mạng (Việt Bắc, Mẹ Tơm, Bác ơi, 30 năm…)

Thơ Tố Hữu ở giai đoạn sau cách mạng mang khuynh hướng sử thi, chủ yếu đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Cái

"tôi" trữ tình trong thơ Tố Hữu từ buổi đầu là cái "tôi" chiến sĩ, rồi đến cái "tôi"

luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si

Ngày đăng: 24/07/2023, 09:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. V. Superanskaja (2002), Địa danh là gì? (Bản dịch của Đinh Lan Hương), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh là gì
Tác giả: A. V. Superanskaja
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
2. Đào Duy Anh (2009), Từ điển Hán Việt, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2009
3. Nguyễn Tuấn Anh (2008), Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long (sơ bộ có so sánh với địa danh ở vùng khác), Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm chính của địa danh ở Vĩnh Long (sơ bộ có so sánh với địa danh ở vùng khác)
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn
Năm: 2008
4. Lại Nguyên Ân (Chủ biên) (2004), Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ Việt Bắc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ Việt Bắc
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
5. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2004
6. Nguyễn Văn Âu (2000), Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Âu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
7. Hoàng Hữu Bội (1960), “Từ ấy với tuổi trẻ”, Báo Văn học, Số 74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ấy với tuổi trẻ
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: Báo Văn học
Năm: 1960
8. Nhị Ca (1977), Cuộc sống kêu gọi qua tập thơ “Ra Trận”, Dọc đường văn học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống kêu gọi qua tập thơ “Ra Trận”
Tác giả: Nhị Ca
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1977
9. Hoàng Minh Châu (12/1959), “Về giá trị tập thơ Từ Ấy và phương pháp sáng tác của Tố Hữu”, Báo Văn học, Số 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giá trị tập thơ Từ Ấy và phương pháp sáng tác của Tố Hữu
Tác giả: Hoàng Minh Châu
Nhà XB: Báo Văn học
Năm: 1959
10. Hoàng Thị Châu (1964), Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông, Thông báo khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Thông báo khoa học
Năm: 1964
11. Nguyễn Thái Liên Chi (2009), Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa danh tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Thái Liên Chi
Nhà XB: đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
12. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội.luan van tot nghiep download luanvanfull moi nhat z z @gmail.com Luan van thac si Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - Lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử trong nước - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.2. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử trong nước (Trang 46)
Bảng 2.3. Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Pháp - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.3. Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Pháp (Trang 47)
Bảng 2.4. Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Mỹ qua - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.4. Bảng khảo sát địa danh lịch sử trong nước thời chống Mỹ qua (Trang 51)
Bảng 2.5. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử nước ngoài - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.5. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh lịch sử nước ngoài (Trang 57)
Bảng 2.6. Bảng khảo sát địa danh lịch sử nước ngoài thể hiện tinh thần - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.6. Bảng khảo sát địa danh lịch sử nước ngoài thể hiện tinh thần (Trang 58)
Bảng 2.7. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa trong thơ - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.7. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa trong thơ (Trang 60)
Bảng 2.9. Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với hình ảnh quê hương - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.9. Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với hình ảnh quê hương (Trang 62)
Bảng 2.10. Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với các đặc sản vùng  miền, ngành nghề truyền thống, di tích lịch sử văn hóa qua một số bài thơ - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.10. Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với các đặc sản vùng miền, ngành nghề truyền thống, di tích lịch sử văn hóa qua một số bài thơ (Trang 64)
Bảng 2.11. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa nước - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.11. Bảng khảo sát tần số xuất hiện của địa danh văn hóa nước (Trang 66)
Bảng 2.12. Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với vẻ đẹp từng đất nước - (Luận văn) địa danh trong thơ tố hữu
Bảng 2.12. Bảng khảo sát địa danh văn hóa gắn với vẻ đẹp từng đất nước (Trang 67)
w