KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG HỆ THỐNG CANH TÁC LÖA CẢI TIẾN SRI SYSTEM OF RICE INTENSIFICATION CHO VÙNG ĐẤT KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƯỚC TẠI BẮC KẠN Phạm Thị Thu 1 , Hoàng Văn Phụ 2* 1 S
Trang 1KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG HỆ THỐNG CANH TÁC LÖA CẢI TIẾN SRI (SYSTEM OF RICE INTENSIFICATION) CHO VÙNG ĐẤT KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƯỚC TẠI BẮC KẠN
Phạm Thị Thu 1 , Hoàng Văn Phụ 2*
1 Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn,
2 Khoa Quốc tế - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice intensification – SRI) đã được đánh giá và áp dụng
có hiệu quả trên những vùng đất chủ động nước tưới tại hơn 40 nước trên thế giới và 29 tỉnh của Việt Nam Tuy nhiên SRI chưa được nghiên cứu cho đất không chủ động nước Kết quả nghiên cứu khả năng áp dụng SRI trên đất không chủ động nước vụ mùa 2010 tại Bắc Kạn cho thấy các yếu tố kỹ thuật của SRI đã tạo môi trường thuận lợi cho các đặc điểm di truyền của lúa phát huy tác dụng ngay cả trên đất không chủ động nước Cấy mạ non, cấy thưa, làm cỏ sục bùn đã làm tăng sức đẻ nhánh, bộ rễ phát triển mạnh hơn so với đối chứng ở cả 3 thời kỳ làm đòng, trỗ, và chín SRI cũng làm bệnh khô vằn giảm, làm tăng khả năng tích luỹ chất khô/khóm, tăng hệ số kinh tế, năng suất lúa tăng 25-35%, góp phần tăng sản lượng lúa ở vùng đất khó khăn này và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Từ khoá: Hệ thống canh tác lúa cải tiến, SRI, đất lúa không chủ động nước, Bao thai, Khang dân
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI - System
of Rice Intensification) đã được đánh giá là
tiếp cận thâm canh lúa đầy triển vọng theo
hướng “nông nghiệp sinh thái” tại hơn 40
nước trên thế giới, bởi nó thỏa mãn được cả 2
yêu cầu là làm tăng năng suất, hiệu quả kinh
tế cao, và bảo vệ môi trường, thích ứng với
“biến đổi khí hậu” (Phụ, 2005, 2006, 2010,
2012; Uphoff, 2009) Đánh giá tác động của
SRI tại 8 quốc gia (Bănglađet, Campuchia,
Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nê-pan,
Srilanka và Việt Nam) cho thấy lợi ích của
SRI là “năng suất lúa tăng, thu nhập cao hơn,
ít tiêu tốn nước”, cụ thể là tiết kiệm nước
40%, giảm chi phí trên mỗi hecta là 23% và
tăng thu nhập là 68% (Uphoff, 2007;
WWF-ICRISAT, 2010) Báo cáo đánh giá của Bộ
Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (PTNT)
về SRI giai đoạn 2003-2007 đã kết luận SRI
đóng một vai trò rất quan trọng trong phát
triển bền vững về canh tác lúa nước tại Việt
Nam (Dũng, 2007) SRI cũng đã được Bộ
NN& PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật
mới năm 2007 Đến nay đã có trên 1,5 triệu
*
Email: Hoangphu1958@gmail.com
nông dân áp dụng SRI trên 500.000 ha ở 28 tỉnh trong cả nước SRI làm giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất, tăng lợi nhuận cho nông dân từ 1,8-3,5 triệu đồng/ha/vụ, và tiết kiệm 1/3 lượng nước tưới (Cục BVTV, 2010) Tuy nhiên, SRI mới chỉ được nghiên cứu và
áp dụng trên những chân ruộng chủ động nước tưới, trong khi đó ở Bắc Kạn diện tích ruộng không chủ động nước là 5.131 ha, chiếm 36,6% tổng diện tích đất lúa nước (Sở NN&PTNT Bắc Kạn, 2009) Vì vậy trong vụ
mùa 2010 chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu khả
năng áp dụng Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI (System of Rice Intensification) cho vùng đất không chủ động nước tại tỉnh Bắc Kạn”
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Xác định ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật SRI tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Khang dân 18 (KD18) và giống lúa Bao thai ở vụ mùa 2010 trên đất không chủ động nước Qua đó đưa ra khuyến cáo cải tiến quy trình thâm canh lúa trên đất không chủ động nước ở Bắc Kạn
VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu gồm 2 thí nghiệm cho 2 giống lúa: Khang dân 18 và Bao thai Thí nghiệm
Trang 2được tiến hành trong vụ mùa 2010 trên đất
không chủ động nước tại khu đồng thôn Pó
Bả, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, tỉnh
Bắc Kạn
Công thức thí nghiệm là sự phối hợp của 3
yếu tố cơ bản của SRI là: tuổi mạ, mật độ cấy
và số lần làm cỏ (sử dụng cào cỏ) Mỗi thí
nghiệm gồm 7 công thức với 4 lần nhắc lại
được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
(RCBD) Trong đó, thí nghiệm 1 với giống
KD18 được ký hiệu là A và thí nghiệm 2 với
giống Bao thai được ký hiệu là B Công thức
đối chứng là kỹ thuật người dân địa phương
đang áp dụng với 2 giống trên (A1 và B1
tương ứng)
Điều kiện thí nghiệm: Lượng phân bón cho 1
ha là 10 tấn phân chuồng + 70kg N + 85kg
P205 + 50kg K20 Chế độ nước phụ thuộc
hoàn toàn vào nước trời Các biện pháp chăm
sóc khác (trừ số lần làm cỏ) thực hiện theo
quy trình hiện hành của Sở NN&PTNT tỉnh
Bắc Kạn
Các chỉ tiêu theo dõi gồm: Thời gian sinh
trưởng, đẻ nhánh, bông/khóm, bông/m2
, sinh trưởng của bộ rễ, khả năng tích luỹ chất khô
của cây, hệ số kinh tế, tỉ lệ và chỉ số bệnh khô
vằn, các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất lúa
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Về sinh trưởng của lúa
SRI làm tăng sức đẻ nhánh của lúa Các công thức SRI chỉ cấy 1 dảnh/khóm còn công thức đối chứng (đ/c) cấy 4 dảnh/khóm nhưng do lúa đẻ nhánh sớm và đẻ khoẻ nên các công thức SRI có số nhánh/khóm tương đương với đ/c và tỷ lệ dảnh hữu hiệu cao hơn hẳn so với đ/c Đối với giống KD18, tỷ lệ dảnh hữu hiệu đạt cao nhất (70,8%) ở công thức A6 (tuổi mạ 2,5 lá, khoảng cách cấy 25 x 25cm, làm cỏ 2 lần), trong khi đó đ/c chỉ đạt tỉ lệ dảnh hữu
hiệu là 47,7% (Bảng 1) Giống Bao thai, tỷ lệ
dảnh hữu hiệu đạt cao nhất là ở công thức B7 (tuổi mạ 2,5 lá, khoảng cách cấy 25x25cm và
làm cỏ 3 lần) đạt 72,8 % (đ/c là 40%) (Bảng
2) Số dảnh hữu hiệu/khóm đạt cao là do cấy
mạ non, mật độ thưa đã tạo điều kiện thuận lợi cho lúa sinh trưởng mạnh ngay sau cấy
So sánh trong cùng điều kiện SRI, cấy tuổi
mạ 2,5 lá và khoảng cách cấy càng thưa cho
số dảnh/khóm nhiều hơn các công thức khác ở mức chắc chắn 95%, kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phụ, 2004 và 2005 Cùng tuổi mạ và cùng mật độ, nhưng số lần làm cỏ khác nhau đã ảnh hưởng tích cực đến khả năng đẻ của lúa Nguyên nhân là khoảng cách cấy thưa cộng với tăng số lần làm cỏ sục bùn đã làm cho môi trường dinh dưỡng đất tốt hơn do đó làm tăng số dảnh đẻ/khóm
Công thức Tuổi mạ (số lá) Mật độ cấy (khóm/m2) Số lần làm cỏ
Trang 3Bảng 1: Ảnh hưởng của SRI đến sinh trưởng, khả năng chống chịu bệnh khô vằn và năng suất của lúa KD18 vụ mùa 2010
Công
thức đa/khóm Dảnh tối HH (%) Tỷ lệ
Đường kính rễ khi
trỗ (mm)
Tỷ lệ bệnh khô vằn
Chỉ số bệnh khô vằn
Bông/
khóm
Bông /m 2
Tổng
số hạt chắc Hạt
Tỷ lệ chắc (%)
P 1,000 hạt (g)
NSLT (tạ/ha)
NSTT (tạ/ha) Hệ số KT
Bảng 2: Ảnh hưởng của SRI đến sinh trưởng, khả năng chống chịu bệnh khô vằn và năng suất của lúa Bao thai vụ mùa 2010
Công
thức đa/khóm Dảnh tối
Tỷ lệ
HH
(%)
Đường kính rễ khi
trỗ (mm)
Tỷ lệ bệnh khô vằn
Chỉ số bệnh khô vằn
Bông/
khóm
Bông /m 2
Tổng
số hạt chắc Hạt
Tỷ lệ chắc (%)
P 1,000 hạt (g)
NSLT (tạ/ha)
NSTT (tạ/ha) Hệ số KT
Trang 4Bảng 3: Ảnh hưởng SRI đến khả năng tích luỹ chất khô của bộ rễ và toàn khóm lúa KD18 vụ mùa 2010 (gam/khóm)
CT Tầng đất 0-5cm Tầng đất 6-10cm Tầng đất 11-20cm Cả bộ rễ/khóm Tích lũy chất khô/khóm
Đòng Trỗ Chín Đòng Trỗ Chín Đòng Trỗ Chín Đòng Trỗ Chín Đòng Trỗ Chín
A1(đ/c) 1,56 1,73 1,45 0,83 0,98 0,80 0,75 0,79 0,74 3,13 3,51 2,98 41,06 47,25 57,14 A2 1,74 1,97 1,56 0,88 1,21 0,84 0,80 0,92 0,77 3,42 4,11 3,18 48,18 53,00 73,88 A3 1,95 2,15 1,76 0,92 1,26 0,87 0,81 1,03 0,79 3,68 4,45 3,42 46,16 52,46 76,91 A4 2,02 2,38 1,92 1,04 1,35 0,96 0,85 1,11 0,83 3,91 4,84 3,71 50,97 57,06 82,09 A5 2,18 2,27 1,93 0,96 1,35 0,89 0,87 1,19 0,82 4,01 4,81 3,64 49,31 54,21 85,91 A6 2,34 2,40 2,27 1,08 1,42 1,01 0,85 1,25 0,84 4,27 5,08 4,12 51,60 57,39 89,65 A7 2,45 2,65 2,40 1,26 1,48 1,17 0,92 1,25 0,88 4,62 5,38 4,45 53,20 58,86 52,35
LSD.05 0,040 0,073 0,047 0,015 0,026 0,011 0,010 0,038 0,019 0,043 0,097 0,055 0,725 0,359 2,830
Bảng 4: Ảnh hưởng SRI đến khả năng tích luỹ chất khô của bộ rễ và toàn khóm lúa Bao thai vụ mùa 2010 (gam/khóm)
CT Tầng đất 0-5cm Tầng đất 6-10cm Tầng đất 11-20cm Cả bộ rễ/khóm Tích lũy chất khô/khóm
B1(đ/c) 1,68 1,80 1,52 0,78 0,88 0,72 0,67 0,73 0,62 3,14 3,40 2,86 33,85 38,99 58,30 B2 1,77 1,83 1,55 0,85 0,97 0,85 0,79 0,85 0,75 3,41 3,65 3,14 38,63 42,94 71,03 B3 1,82 1,98 1,60 0,97 1,25 0,89 0,82 1,06 0,77 3,62 4,28 3,26 40,03 45,58 75,58 B4 1,89 2,06 1,67 1,13 1,36 0,93 0,90 1,15 0,84 3,92 4,57 3,44 43,14 48,67 80,26 B5 1,87 2,14 1,61 1,19 1,34 0,92 0,87 1,12 0,82 3,92 4,60 3,35 42,20 48,54 83,31 B6 1,94 2,24 1,74 1,24 1,47 0,96 0,87 1,15 0,85 4,05 4,86 3,56 43,92 50,00 84,64 B7 2,08 2,30 1,83 1,28 1,54 1,05 0,93 1,17 0,87 4,28 5,00 3,75 44,44 50,83 90,55
LSD 05 0,017 0,013 0,013 0,022 0,018 0,015 0,010 0,013 0,012 0,027 0,027 0,025 0,364 0,251 2,260
Trang 5Về khả năng chống chịu bệnh khô vằn
SRI đã tạo sự thông thoáng trong quần thể lúa
do đó đã làm giảm nhiễm bệnh khô vằn rõ rệt
với độ tin cậy 95% Công thức bị hại ít nhất là
công thức A7, có chỉ số bệnh 2,1% và tỷ lệ
bệnh 13% (Bảng 1) và công thức B4, có chỉ
số bệnh 1,6% và tỷ lệ bệnh 10% (Bảng 2) Ở
cùng tuổi mạ và cùng mật độ, tăng số lần làm
cỏ đã làm giảm tỷ lệ bệnh khô vằn trung bình
3-5% ở độ tin cậy 95% Ở cùng tuổi mạ, cùng
số lần làm cỏ, mật độ cấy thưa cũng làm giảm
tỷ lệ bệnh khô vằn (Phụ, 2005, 2006, 2010,
2012) Như vậy, sự phối hợp của mật độ cấy và
số lần làm cỏ đã ảnh hưởng có ý nghĩa (P<0,05)
đến tỷ lệ và chỉ số bệnh khô vằn của lúa
Về sinh trưởng của bộ rễ, khả năng tích luỹ
chất khô và hệ số kinh tế
SRI đã thúc đẩy bộ rễ lúa sinh trưởng và phát
triển tốt Các công thức SRI đều có khối
lượng rễ lớn hơn so với đ/c (P<0,01) Từ kết
quả vượt trội của đẻ nhánh và sinh trưởng
mạnh của bộ rễ lúa ở các công thức có mật độ
thưa và số lần làm cỏ nhiều hơn đã tạo cơ sở
cho tích luỹ chất khô cao hơn ở các công thức
này Cấy mạ non, cấy thưa nên bộ rễ có
khoảng không để phát triển, các công thức
SRI có bộ rễ lan rộng và ăn sâu (ngay cả
trong điều kiện khô hạn) nên khả năng tích
luỹ chất khô của bộ rễ/khóm ở các tầng đất
0-5cm, 5-10cm, 10-20cm của các công thức
SRI đều cao hơn hẳn so với đối chứng với độ
tin cậy 95% (Bảng 3 và 4) Ở cùng tuổi mạ,
khả năng tích luỹ chất khô của bộ rễ tỷ lệ
thuận với khoảng cách cấy và số lần làm cỏ
Điều này cho thấy cấy thưa, làm cỏ sục bùn,
đã tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển
tốt Khả năng tích luỹ chất khô/khóm ở các
công thức SRI cao hơn đ/c ở cả 3 giai đoạn
làm đòng, trỗ và chín (p<0,05) Ở cả giống
KD18 và Bao thai, công thức có khả năng tích
luỹ chất khô ở bộ rễ/khóm cao nhất là công
thức cấy mạ 2,5 lá, cấy 25x25cm, làm cỏ 3
lần (công thức A7 và công thức B7) (Bảng 3
và 4) Khả năng tích luỹ chất khô/khóm ở rễ,
lá, thân và nhất là ở bông qua các thời kỳ ở
các công thức SRI đều cao hơn so với đ/c với
độ tin cậy 95%, trong khi đó nếu tính trên m2
thì các chỉ tiêu này ở các công thức SRI thấp
hơn Kết quả này đã giải thích tại sao hệ số kinh tế của các công thức SRI lớn hơn so với đối chứng
Về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa
SRI tỏ rõ ưu thế ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa Mật độ cấy trong các công thức SRI (16 và 25 khóm/m2) chỉ bằng 38 - 59% với giống KD18) và 41 - 64% với giống Bao thai tương ứng so với mật độ cấy của nông dân (KD18 là
42 khóm/m2, Bao thai là 39 khóm/m2), do đó
số bông/m2
của các công thức SRI đều thấp hơn đ/c (trừ công thức B3 và B4) ở mức tin
cậy 95% (Bảng 1 và 2) Nhưng cấy mạ non,
tăng số lần làm cỏ đã làm tăng tổng số hạt/bông và số hạt chắc/bông, điều này đã quyết định năng suất của lúa khi áp dụng SRI Trên cả 2 giống, các công thức SRI cấy ở mật
độ 25 khóm/m2, làm cỏ 2-3 lần đạt năng suất cao hơn đối chứng ở mức độ tin cậy 95%
(Bảng 1 và 2) Có được kết quả này là do cấy
mạ non cây lúa đẻ khoẻ, mật độ thưa làm giảm cạnh tranh, tạo thông thoáng, giảm hô hấp trong quần thể lúa và giảm tỉ lệ bị bệnh khô vằn từ 56% (đ/c A1) xuống còn 26% (công thức A2) và 13% (công thức A7); và từ 29% (đ/c B1) xuống còn 10% (công thức B4), kết quả là đã làm tăng tỉ lệ đẻ nhánh hữu hiệu, tổng số hạt chắc/bông, kết quả là đã làm năng suất của các công thức SRI cao hơn đ/c KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Các yếu tố kỹ thuật của SRI đã tạo môi trường thuận lợi cho các đặc điểm di truyền của lúa phát huy tác dụng làm tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của lúa ngay cả trên đất không chủ động nước Cấy mạ non, cấy thưa, cây lúa không bị cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với nhau nên số lượng rễ, chiều dài
rễ và đường kính rễ đều tăng hơn so với đ/c ở
cả 3 thời kỳ làm đòng, trỗ, và chín Đây là ưu thế của SRI giúp cho rễ lúa ăn sâu hơn, tăng khả năng hút nước và dinh dưỡng ở tầng đất sâu, giúp cho lúa có khả năng chịu hạn tốt hơnvà chống đổ tốt hơn Đặc điểm này rất có
ý nghĩa trong sản xuất lúa trên vùng đất không chủ động nước, tăng khả năng thích ứng với nguy cơ lượng mưa thay đổi ngày
Trang 6càng tăng do biến đổi khí hậu Các công thức
áp dụng SRI mặc dù có số bông/m2
thấp hơn
so với đ/c nhưng lại có ưu thế vượt trội về
bông to, số hạt chắc/bông do đó đạt năng suất
tăng cao
Khuyến cáo canh tác lúa trên đất không chủ
động nước có thể áp dụng tuổi mạ 2,5 lá, mật độ
cấy 25 khóm/m2, làm cỏ sớm bằng cào 2 lần/vụ
cho cả giống Bao thai và Khang dân 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Africare, Oxfam Mỹ, WWF-ICRISAT, (2010)
Nhiều lúa gạo hơn cho con người, nhiều nước hơn
cho Hành tinh WWF-ICRISAT, Hyderabad, Ấn
Độ, tr 6-10+33
2 Cục Bảo vệ Thực vật/ Bộ Nông nghiệp (2010),
SRI Việt Nam:cập nhật tình hình báo cáo cho
Oxfam Mỹ, được cập nhật năm 2010
3 Ngô Tiến Dũng (2007) Chương trình IPM
Quốc gia – Áp dụng SRI trong sản xuất lúa ở khu
vực sinh thái phía Bắc của Việt Nam, được cập
nhật năm 2006 Báo cáo được trình Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Hà Nội
4 Hoàng Văn Phụ và Nguyễn Hoài Nam, (2005)
“Nghiên cứu hệ thống các biện pháp nâng cao
năng suất lúa (System of Rice Intensification -
2004) vụ xuân, 2004 ở Thái Nguyên” Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Số 53
(3+4/2005)
5 Hoàng Văn Phụ, (2005), “Kết quả nghiên cứu
kỹ thuật thâm canh lúa SRI (System of Rice Intensification) vụ xuân 2005 tại Thái Nguyên và
Bắc Giang‟‟, Tạp chí Khoa học và Công nghệ ĐH Thái Nguyên, Số 3 (35), 2005
6 Hoàng Văn Phụ và Vũ Trí Đồng (2006), “Triển vọng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI (System of Rice Intensification) trong canh tác lúa ở Vùng
Trung du Bắc bộ”, Tạp chí khoa học và công nghệ
ĐH Thái Nguyên, Số Đặc san, tháng 3, 2006
7 Hoàng Văn Phụ, (2010) “Nghiên cứu khả năng
áp dụng Hê thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) cho vùng đất không chủ động nước tại Thái Nguyên”
Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại học Thái Nguyên 143-146, Tập 75, Số 13, 2010
8 Hoàng Văn Phụ, (2012) “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) trên đất không chủ động nước tại
huyện Võ Nhai, Thái Nguyên” Tạp chí khoa học
& kỹ thuật, Bộ NN&PTNN 20-26, Số 10, 2012
9 Uphoff (2007), Tăng lượng tiết kiệm nước đồng thời tăng sản lượng với Hệ thống Thâm canh lúa
cải tiến, trong Khoa học, Công nghệ và Thương mại cho Hoà bình và Sự thịnh vượng : Hội thảo Lúa gạo Quốc tế lần thứ 26, 9- 12 tháng 10 năm 2006, New Dehil, P.K Aggrawal et al., trang 353-365
10 Uphoff, Ianas, O P Rupela, A K thakur and T
M Thiyagarajan, (2009), Learning about positive plant – microbial interactions from the system of rice intensification (SRI)
SUMMARY
STUDY ON APPLICATION OF THE SYSTEM
OF RICE INTENSIFICATION (SRI)
ON RAINFED LAND IN BAC KAN PROVINCE
Pham Thi Thu 1 , Hoang Van Phu 2*
1
Deparment of Agriculture and Rural Development of Bac Kan province,
2 International School - TNU
The System of Rice Intensification (SRI) has been evaluated and effectively applied on irrigated land of more than 40 countries and 22 provinces in Vietnam However, SRI has not been applied
in rainfed land yet Findings from the study on application of SRI on the rainted land in Bac kan province in summer rice crop 2010 indicated that SRI techniques creating favor conditions for rice With these conditions, genetic features of the rice were motivated to growth and develop on this land Transplanting with young seedlings and lower density combining with weed control by hand weeder encourage rice tillering and root growth and development In SRI condition, reducing infection
of sheath blight, strengthening accumulation of dry mater, and as result increasing rice yield This helps
to improve rice productivity in this difficult area and adaptation to climate change
Key words: System of Rice Intensification, SRI, rainfed land, density of transplanting of rice, Bao
thai, Khang dan
Ngày nhận bài:3/3/2014; Ngày phản biện:23/3/2014; Ngày duyệt đăng: 5/5/2014
Phản biện khoa học: TS Nguyễn Khắc Sơn – Đại học Thái Nguyên
*