Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng cũng như trong xây dựng Đảng, vấn đề cán bộ bao giờ cũng giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Khi Đảng có đường lối chính trị đúng thì công tác tổ chức nói chung, công tác cán bộ nói riêng là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của nhiệm vụ cách mạng. Để làm tốt công tác cán bộ, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải tiến hành một quy trình chặt chẽ, đồng bộ, trong đó, quản lý cán bộ là khâu then chốt. Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân là ĐNCB của Đảng trong quân đội; trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy bộ đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển, đảo, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc Việt Nam XHCN; lực lượng nòng cốt của thế trận chiến tranh nhân dân trên biển; góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trên quần đảo Trường Sa; bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội khu vực đóng quân. Để hoàn thành nhiệm vụ, đòi hỏi Đảng bộ Vùng D Hải quân phải luôn quan tâm xây dựng ĐNCB có đủ phẩm chất và năng lực.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng cũng như trong xây dựng Đảng,vấn đề cán bộ bao giờ cũng giữ vị trí đặc biệt quan trọng Khi Đảng có đườnglối chính trị đúng thì công tác tổ chức nói chung, công tác cán bộ nói riêng lànhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của nhiệm vụ cách mạng Để làm tốtcông tác cán bộ, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải tiến hành một quy trìnhchặt chẽ, đồng bộ, trong đó, quản lý cán bộ là khâu then chốt
Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân là ĐNCB của Đảng trong quân đội;trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy bộ đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, anninh trên biển, đảo, thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc Việt Nam XHCN; lựclượng nòng cốt của thế trận chiến tranh nhân dân trên biển; góp phần pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội trên quần đảo Trường Sa; bảo đảm an ninh,chính trị và trật tự, an toàn xã hội khu vực đóng quân Để hoàn thành nhiệm
vụ, đòi hỏi Đảng bộ Vùng D Hải quân phải luôn quan tâm xây dựng ĐNCB
có đủ phẩm chất và năng lực
Những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở Vùng D Hải quân đãquan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác quản lý cán bộ, góp phần quantrọng nâng cao chất lượng ĐNCB, xây dựng đơn vị, đáp ứng ngày càng tốthơn yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Vùng trong tình hình mới Tuy nhiên, donhững nguyên nhân khách quan và chủ quan, công tác quản lý ĐNCB ở Vùng
D Hải quân vẫn còn bộc lộ hạn chế, bất cập Một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán
bộ chủ trì các đơn vị chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng củacông tác quản lý cán bộ; nội dung, hình thức, biện pháp quản lý chưa phù hợpvới từng đối tượng, từng đơn vị, dẫn đến việc quản lý cán bộ thiếu chặt chẽ,
đã tác động, ảnh hưởng đến chất lượng ĐNCB và công tác xây dựng ĐNCB,xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng TSVM, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện
Trang 2Hiện nay, nhiệm vụ của Vùng D Hải quân có sự phát triển mới, đangđặt ra yêu cầu ngày càng cao, trong khi đó, ĐNCB ở Vùng D Hải quân luônđối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ và đòi hỏi cao cả về trí lực, thể lựctrong quá trình thực hiện nhiệm vụ trên biển, đảo; thường xuyên hoạt động xađơn vị, xa đất liền Bên cạnh đó, những tác động của mặt trái nền kinh tế thịtrường; các tiêu cực, tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, “tình trạngsuy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội chủ nghĩa cánhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, côngchức diễn ra nghiêm trọng” [19, tr 65]; trước âm mưu, thủ đoạn chống pháĐNCB trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa
đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mĩ và các thế lực thù địch Tình hình đó đòi hỏicấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở Vùng D Hải quân phải tăng cường quản lý chặtchẽ ĐNCB đủ sức hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao
Vì vậy, việc nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề
xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường quản lý đội ngũ cán
bộ ở Vùng D Hải quân góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ của Vùng vững
mạnh, là yêu cầu khách quan; đồng thời, là vấn đề có ý nghĩa cấp báchtrong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác quản lý cán bộ được Đảng ta quan tâm, đề cập nhiều trong các
Văn kiện, Nghị quyết Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên
cứu của một số tác giả với các góc độ khác nhau, đáng chú ý như:
Trần Danh Bích (2000), Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb QĐND, Hà Nội; Đinh Văn Thanh (2000), Nâng cao chất lượng quản lý học viên sau đại học ở Học
viện Chính trị - quân sự trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ xây dựng
Đảng, Học viện Chính trị - quân sự; Cao Văn Thiện (2001), Nâng cao chất
lượng quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên là học viên đào tạo sĩ quan chỉ
Trang 3huy cấp phân đội ở Học viện Phòng không - Không quân hiện nay, Luận văn
cao học xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - quân sự; Đỗ Văn Diễm (2005),
Quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên ở các đảng bộ lữ đoàn thuộc Binh chủng Pháo binh giai đoạn hiện nay, Luận văn cao học xây dựng Đảng,
Học viện Chính trị - quân sự
Nguyễn Phi Long (2005), “Quản lý các mối quan hệ xã hội, một nội
dung trong quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên”, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số
5/2005; Võ Văn Kiệt (2005), “Quản lý cán bộ phải sâu sát, chặt chẽ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 8/2005; Nguyễn Đức Thi (2004), “Cục Chính trị Hải
quân với việc xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình
hình mới”, Thông tin Hải quân, Số 2 (227) 2004; Đồng Kim Hòa Thành
(2004), “Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị ở Đoàn M61”, Thông tin Hải quân, Số 1 (226) 2004.
Các công trình trên đã có những đóng góp về lý luận và thực tiễn xâydựng, quản lý ĐNCB ở đơn vị cơ sở Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân dưới góc độ khoa học xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn, xác định phươnghướng, yêu cầu và đề xuất một số giải pháp cơ bản tăng cường quản lý ĐNCB ởVùng D Hải quân giai đoạn hiện nay
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về công tác quản lý đội ngũcán bộ ở Vùng D Hải quân
- Đánh giá đúng thực trạng, rút ra một số kinh nghiệm quản lý đội ngũcán bộ ở Vùng D Hải quân hiện nay
Trang 4- Xác định phương hướng, yêu cầu và đề xuất một số giải pháp cơ bảntăng cường quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân giai đoạn hiện nay.
* Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ cán bộ
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản lý đội ngũ cán bộ ởcác đơn vị trực thuộc Vùng D Hải quân Các số liệu, điều tra, phục vụ choluận văn được giới hạn chủ yếu từ năm 2001 đến năm 2006
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của luận văn
Đề tài nghiên cứu dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về xâydựng đội ngũ cán bộ của Đảng Cộng sản, của Quân đội cách mạng; tưtưởng Hồ Chí Minh; các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng Cộng sảnViệt Nam, của Đảng uỷ Quân sự Trung ương về công tác cán bộ, xây dựngđội ngũ cán bộ cách mạng, cán bộ quân đội; các văn bản hướng dẫn củaTổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; các Nghị quyết, Chỉ thịcủa Đảng uỷ, Bộ tư lệnh, Cục Chính trị Hải quân, của Vùng D Hải quân vềxây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ
* Cơ sở thực tiễn của luận văn
Là thực tiễn công tác xây dựng, quản lý ĐNCB ở Vùng D Hải quân;các công trình nghiên cứu, tổng kết về công tác cán bộ của Vùng D Hải quân
và của QCHQ trong những năm qua Kết quả nghiên cứu, khảo sát tại các đơn
vị trực thuộc Vùng D trong quá trình thâm nhập thực tế
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đề tài sử dụngtổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành và phương pháp
Trang 5nghiên cứu của chuyên ngành xây dựng Đảng; trong đó chú trọng kết hợpphương pháp phân tích - tổng hợp; lôgic - lịch sử; điều tra khảo sát thực tế;tổng kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia.
5 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lýluận và thực tiễn công tác quản lý ĐNCB ở Vùng D Hải quân; cung cấp thêmnhững luận cứ khoa học để cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp ở cácđơn vị cơ sở thuộc Quân chủng Hải quân quản lý tốt đội ngũ cán bộ Đề tàicòn có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn côngtác đảng, công tác chính trị trong các nhà trường quân đội
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục
Trang 6Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở VÙNG D HẢI QUÂN 1.1 Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân và những vấn đề cơ bản về công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
1.1.1 Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
* Tình hình biên chế tổ chức và nhiệm vụ của Vùng D Hải quân
Vùng D Hải quân được thành lập ngày 26/10/1975, trải qua 31 nămchiến đấu, xây dựng và trưởng thành, được Đảng và Nhà nước tặng thưởngmột Huân chương Quân công hạng Ba, một Huân chương Chiến công hạng
Ba, vì đã có nhiều tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là thànhtích trong xây dựng, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa Có 6 tập thể và 3
cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Vùng D Hải quân có các đơn vị trực thuộc, gồm 3 khối cơ bản: khốiđảo, khối tàu và khối bờ; tổ chức, biên chế tuân thủ theo quy định của BộQuốc phòng Tuy nhiên, do yêu cầu, nhiệm vụ, tình hình, đặc điểm của khuvực biển, đảo, khu vực đóng quân, Vùng D Hải quân được biên chế phù hợpvới yêu cầu thực tiễn huấn luyện và SSCĐ của các đơn vị
- Khối đảo ở Vùng D Hải quân:
Khối đảo ở Vùng D Hải quân gồm hai nhóm cơ bản: Các đảo trên quầnđảo Trường Sa và các đảo nổi ven bờ Các đảo trên quần đảo Trường Sa, cóhai loại đảo: đảo nổi và đảo chìm
Đảo nổi trên quần đảo Trường Sa, được phân thành các đảo cấp 1, cấp 2
và cấp 3 (tương đương với cấp trung đoàn - tiểu đoàn - đại đội) Các đảo chìm(là các bãi san hô, lúc thủy triều xuống bãi san hô nổi lên khỏi mặt biển vớidiện tích hàng vài chục, có đảo hàng trăm km2 như: Đảo Thuyền Chài, ĐáLớn; lúc thủy triều xuống, toàn bộ đảo nằm dưới mực nước biển từ vài chục
cm đến vài mét) Mỗi đảo chìm, có thể có một hoặc vài điểm đóng quân
Trang 7Các đảo trên quần đảo Trường Sa cách xa đất liền hàng trăm hải lý.Khoảng cách giữa các đảo trong quần đảo cũng cách xa nhau hàng chục, hàngtrăm hải lý, ngoài tầm kiểm soát và chi viện cho nhau Các đảo nổi, đảo chìm
và trong từng nhóm đảo nổi, trong từng nhóm đảo chìm cũng có sự khácnhau về quy mô tổ chức, biên chế, số lượng, cơ cấu cán bộ
Các đảo ven bờ là các đảo nổi, cách đất liền hàng chục, hàng trăm hải
lý Biên chế, tổ chức, số lượng, cơ cấu ĐNCB cơ bản thống nhất
Về tổ chức đảng: Tổ chức đảng, là đảng bộ cơ sở 3 cấp: Đảng ủy
Đoàn - Đảng ủy bộ phận ở các đảo cấp 1, và cấp 2 - chi bộ ở các cụm đảo.Chi bộ ở các đảo cấp 3 và chi bộ ở các đảo chìm trực thuộc Đảng ủy ĐoànM46 Các đảo ven bờ là tổ chức đảng 2 cấp: Đảng ủy cơ sở ở tiểu đoàn -chi bộ ở các đảo
Tổ chức chỉ huy: gồm Ban Chỉ huy Đoàn - Ban chỉ huy ở các đảo - chỉ
huy ở các cụm đảo Tổ chức chỉ huy của các đảo ven bờ, gồm ban chỉ huy ởtiểu đoàn - ban chỉ huy ở các đảo
Tổ chức quần chúng: gồm Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội phụ nữ và công đoàn Hội phụ nữ và công đoàn được tổ chức ở các đơn
vị trong đất liền Đoàn thanh niên, là tổ chức đoàn cơ sở 3 cấp: Đoàn cơ sở Lữđoàn - liên chi đoàn ở các đảo cấp 1, đảo cấp 2 - chi đoàn ở các cụm đảo Cácđảo cấp 3 và các đảo chìm thành lập chi đoàn trực thuộc đoàn cơ sở của Lữđoàn Tổ chức đoàn thanh niên của các đảo ven bờ là tổ chức đoàn 2 cấp:Đoàn cơ sở ở các tiểu đoàn - chi đoàn ở các đảo; 100% các đảo thành lập Hộiđồng quân nhân
Nét đặc thù của khối đảo, so với mẫu biên chế của các đơn vị trên đấtliền thì quân số trên đảo rút gọn hơn; nhưng phương tiện vũ khí trang bịnhiều hơn, dày đặc hơn Tuy nhiên, chất lượng ĐNCB trên các đảo đượcđảm bảo ở mức cao Hiện nay, 100% chi bộ ở các đảo đều có chi ủy, tỉ lệlãnh đạo chiếm trên 30%
Trang 8- Khối tàu ở Vùng D Hải quân: Ở Vùng D Hải quân có hai khối tàu cơ
bản, khối tàu chiến đấu và khối tàu vận tải quân sự
Tổ chức đảng: Tổ chức đảng của khối tàu chiến đấu, là đảng bộ cơ sở 3
cấp: Đảng ủy Đoàn - Đảng ủy bộ phận ở hải đội tàu phục vụ - chi bộ ở các tàuphục vụ Chi bộ ở các tàu chiến đấu trực thuộc Đảng ủy Đoàn Khối tàu vận tảiquân sự là tổ chức cơ sở đảng 2 cấp: Đảng ủy cơ sở ở hải đội - chi bộ ở cáctàu vận tải quân sự
Tổ chức chỉ huy: Tổ chức chỉ huy của khối tàu chiến đấu, gồm Ban Chỉ
huy Đoàn - ban chỉ huy ở hải đội - ban chỉ huy ở các tàu phục vụ Ban chỉ huy
ở các tàu chiến đấu trực thuộc Ban chỉ huy Đoàn Tổ chức chỉ huy ở các hảiđội tàu vận tải quân sự: Ban chỉ huy ở hải đội - ban chỉ huy ở các tàu
Tổ chức quần chúng: Tổ chức quần chúng ở khối tàu chiến đấu, gồm
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ và công đoàn Hội phụ
nữ và công đoàn được tổ chức ở các đơn vị trên bờ Đoàn thanh niên là tổchức đoàn cơ sở 3 cấp: Đoàn cơ sở Đoàn - liên chi đoàn ở các hải đội tàuphục vụ - chi đoàn ở các tàu Các tàu chiến đấu thành lập chi đoàn trực thuộcđoàn cơ sở Đoàn Đoàn thanh niên của khối tàu vận tải quân sự, là tổ chứcđoàn 2 cấp: Đoàn cơ sở ở hải đội - chi đoàn ở các tàu; 100% các tàu chiến đấu
và vận tải quân sự đều thành lập Hội đồng quân nhân
Hiện nay, 100% chi bộ các tàu chiến đấu và tàu vận tải quân sự đều
có chi ủy
- Về khối bờ ở Vùng D Hải quân:
Khối bờ ở Vùng D Hải quân là các đơn vị bảo vệ căn cứ, được tổ chứcbiên chế như các đơn vị chiến đấu của QCHQ và của Bộ Quốc phòng
Tổ chức đảng: là đảng bộ cơ sở 3 cấp: Đảng ủy Đoàn - Đảng ủy bộ phận
ở các tiểu đoàn - chi bộ ở các đại đội Các tiểu đoàn trực thuộc Vùng D Hảiquân là tổ chức cơ sở đảng 2 cấp: Đảng ủy cơ sở ở các tiểu đoàn - chi bộ ởcác đại đội, các trạm, xưởng
Trang 9Tổ chức chỉ huy: gồm Ban Chỉ huy Đoàn - ban chỉ huy ở các tiểu đoàn
- ban chỉ huy ở các đại đội Ban chỉ huy ở các tiểu đoàn độc lập, trực thuộc
Bộ Chỉ huy Vùng D Hải quân
Tổ chức quần chúng: gồm Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội phụ nữ và công đoàn Đoàn thanh niên ở Đoàn C57 là tổ chức đoàn cơ sở
3 cấp: Đoàn cơ sở Đoàn - liên chi đoàn ở các tiểu đoàn - chi đoàn ở các đạiđội Các tiểu đoàn trực thuộc Vùng D Hải quân thành lập liên chi đoàn, cácđại đội thành lập chi đoàn; 100% các đại đội đều thành lập Hội đồng quânnhân
Vùng D Hải quân có nhiều đơn vị trực thuộc, với nhiệm vụ được giao
đa dạng, phong phú, phần lớn hoạt động độc lập xa đơn vị Kết quả hoànthành nhiệm vụ của Vùng D Hải quân góp phần ổn định chính trị, an ninh -quốc phòng khu vực đóng quân, vùng biển Đông, thềm lục địa phía Nam, nhất
là quần đảo Trường Sa - nơi các nước lớn và nhiều nước trong khu vực quantâm và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích quốc gia, dân tộc
* Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ là những người đượcNhà nước bổ nhiệm các chức vụ theo hệ thống chức danh có nhu cầu biênchế sĩ quan Đội ngũ cán bộ quân đội có thể chia ra nhiều loại khác nhau.Theo ngành hoạt động, có cán bộ quân sự, cán bộ chính trị, cán bộ hậu cần,cán bộ kỹ thuật, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ Theo hệ thống hành chínhquân sự có cán bộ sơ cấp, trung cấp, cao cấp Theo chức năng, có cán bộchỉ huy, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý Tùy theo các tiêu chí cụ thể màphân chia ra nhiều loại cán bộ
Vùng D Hải quân là đầu mối trực thuộc QCHQ, nên biên chế, tổ chức
và ĐNCB vừa theo biểu biên chế chung của quân đội, vừa có nét đặc thù củaQuân chủng Hải quân Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân bao gồm các sĩquan và quân nhân chuyên nghiệp được bổ nhiệm các chức vụ có nhu cầu
Trang 10biên chế sĩ quan Về cấp bậc, quân hàm, ĐNCB ở Vùng D Hải quân bao gồm
sĩ quan có quân hàm từ thiếu uý đến đại tá
Về chức vụ, từ trung đội trưởng và tương đương đến Chỉ huy trưởng,Chính uỷ Vùng Các chức vụ tương đương trung đội trưởng, có chỉ huy cácphân đội chiến đấu trên các đảo, các điểm đảo trên các đảo chìm; ngànhtrưởng các ngành trên tàu: hàng hải, súng pháo - tên lửa, vũ khí dưới nước,thông tin - quan sát, cơ điện, ra đa Các chức vụ cấp đại đội và tương đươnggồm: Đại đội trưởng, phó đại đội trưởng; chính trị viên, chính trị viên phó đạiđội; chỉ huy trưởng, phó chỉ huy trưởng, chính trị viên các đảo cấp 3; thuyềntrưởng, chính trị viên tàu, chính trị viên phó, phó thuyền trưởng tàu cấp 4 Cácchức vụ tương đương tiểu đoàn là tiểu đoàn trưởng, phó tiểu đoàn trưởng,chính trị viên tiểu đoàn, chính trị viên phó; cụm trưởng, chính trị viên, chínhtrị viên phó, phó cụm trưởng các cụm đảo cấp 2; hải đội trưởng, phó hải độitrưởng, chính trị viên hải đội, chính trị viên phó; thuyền trưởng, phó thuyềntrưởng, chính trị viên, chính trị viên phó các tàu cấp 3 Các chức vụ tươngđương trung đoàn là đảo trưởng, chính ủy, phó chính uỷ, phó đảo trưởng cácđảo cấp 1 Các chức vụ ở các lữ đoàn gồm, lữ đoàn trưởng, phó lữ đoàntrưởng, chính ủy, phó chính ủy lữ đoàn
Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân còn bao gồm cán bộ ở các cơ quanchức năng: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật và các trợ lý chuyên môncủa các lữ đoàn, hải đội, tiểu đoàn, các đảo cấp 1, đảo cấp 2 trên quần đảoTrường Sa và các đảo ven bờ khác Về loại cán bộ có: cán bộ quân sự, chínhtrị, hậu cần, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ; theo tính chất hoạt động có:cán bộ tàu, cán bộ đảo, cán bộ bờ
* Đặc điểm của đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
Một là, đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân đa dạng về cấp bậc, chức
vụ, ngành nghề và tính chất hoạt động
Trang 11Vùng D Hải quân có cả đơn vị tàu, đơn vị bờ, đơn vị đảo Đối với đơn
vị tàu cũng có tàu chiến đấu, tàu vận tải quân sự Đối với đơn vị đảo cũng cócác đảo trên quần đảo Trường Sa và các đảo ven bờ Các đảo ở quần đảoTrường Sa có đảo nổi và đảo chìm Các đảo ven bờ, có đảo diện tích lớn, cóđảo diện tích hẹp, có đảo có nhiều dân cư, có đảo ít dân cư sinh sống Cuộcsống, sinh hoạt, công tác ở mỗi đảo cũng khác nhau Các đơn vị bờ cũng rất
đa dạng, phong phú Có đơn vị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; có đơn vị làmnhiệm vụ bảo đảm, sửa chữa tàu thuyền; có đơn vị là kho, trạm, xưởng; cóđơn vị làm nhiệm vụ cảnh giới phòng không; có đơn vị làm nhiệm vụ cảnhgiới trên biển, dưới mặt biển; có đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Mỗi đơn
vị có một nhiệm vụ, tính chất hoạt động không giống nhau Trần quân hàm,chức danh cán bộ ở từng đơn vị cũng có sự chênh lệch
Vì vậy, ĐNCB ở Vùng D Hải quân có quân hàm, chức vụ, ngành nghề,tính chất hoạt động rất da dạng, bao gồm cả sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp; có đủ các loại cán bộ, cả trên tàu, trên đảo, trên bờ Theo đó, ĐNCB ởVùng D Hải quân đa dạng về nhu cầu vật chất và tinh thần, tâm tư, nguyệnvọng, trình độ học vấn, năng lực, sở trường công tác, chuyên môn, nghiệp vụ.Công tác quản lý ĐNCB có thuận lợi, là tiến hành đa dạng các hình thức, biệnpháp quản lý, nhất là quản lý thông qua tổ chức các hoạt động thực tiễn và lấykết quả hoàn thành nhiệm vụ để quản lý, đánh giá cán bộ Tuy nhiên, công tácquản lý cán bộ gặp nhiều khó khăn về quản lý con người, quản lý tư tưởng,tình cảm, tâm tư, nguyện vọng; với đội ngũ cán bộ, khó khăn trong quản lý cơcấu, số lượng, chất lượng và diện bố trí cán bộ
Hai là, đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân hầu hết được đào tạo cơ bản ở các học viện, trường sĩ quan, trường đại học trong nước và nước ngoài.
Trang 12Vùng D Hải quân có nhiều loại hình đơn vị, song chủ yếu là các đơn
vị kỹ thuật, tàu thuyền, vũ khí, đạn dược Các đơn vị được trang bị nhiềuloại vũ khí, khí tài hiện đại, được mua từ Liên Xô trước đây, nay là các nướcSNG, đặc biệt là các tàu chiến đấu Với yêu cầu nhiệm vụ và tính chất hoạtđộng, công tác của các đơn vị ở Vùng D Hải quân, ĐNCB được tuyển chọn
kỹ theo các tiêu chuẩn về chính trị, học vấn, chuyên môn, có sức khoẻ tốtđáp ứng yêu cầu hoạt động của hải quân trên biển, đảo; được thử thách, rènluyện trong huấn luyện, SSCĐ và công tác; được đào tạo tại các học viện,trường sĩ quan, trường đại học trong nước và nước ngoài, 88,5% được đàotạo cơ bản [49] Những năm qua do nhu cầu chuyển loại cán bộ chính trị,chuyển loại cán bộ thuyền, nhiều cán bộ đã được đào tạo qua hai bậc học.Các ngành nghề đào tạo rất da dạng theo các chuyên ngành, trong đó chủyếu chuyên ngành chính trị, chỉ huy tham mưu, kỹ thuật và hàng hải Trình
độ học vấn của ĐNCB ngày càng được nâng cao, 88,7% cán bộ có trình độcao đẳng và đại học [49] Vì vậy, công tác quản lý ĐNCB có nhiều thuận lợi,song cũng gặp không ít khó khăn do nhu cầu về lợi ích, nguyện vọng, hướngphát triển của từng cán bộ và cả đội ngũ cán bộ
Ba là, hoàn cảnh gia đình, hậu phương của đội ngũ cán bộ còn gặp nhiều khó khăn đã và đang tác động đến tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, động cơ phấn đấu, trực tiếp ảnh hưởng đến công tác quản lý đội ngũ cán bộ.
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng đơn vị, nhất là quần đảo Trường Sa,ĐNCB được điều động từ nhiều đơn vị trong quân đội và QCHQ về Vùng DHải quân công tác Cán bộ làm nhiệm vụ trên quần đảo Trường Sa là nhữngcán bộ luân chuyển từ các đơn vị trong toàn quân, thay phiên nhau 2 năm mộtlần Hiện nay, phần đông cán bộ ở Vùng D Hải quân có quê quán ở miền Bắc
và miền Trung, hầu hết gia đình sinh sống ở quê, chỉ có một bộ phận cán bộ
có điều kiện đã hợp lý hoá gia đình ở gần căn cứ đóng quân Cuộc sống kinh
tế gia đình của đa số cán bộ còn khó khăn so với mặt bằng chung của xã hội.Cán bộ công tác trên đảo, trên tàu thường xuyên sống xa gia đình, nhiều cán
Trang 13bộ có nguyện vọng xin chuyển vùng, hoặc thiếu an tâm công tác Đây là đặcđiểm chi phối rất lớn đến ĐNCB, đang đặt ra nhiều vấn đề đối với công tácquản lý cán bộ ở Vùng D Hải quân Công tác quản lý có thuận lợi là quản lýkhá chặt chẽ về con người, nhưng khó khăn trong việc quản lý tư tưởng, tâm
tư, nguyện vọng, giải quyết chính sách, hậu phương gia đình cán bộ Cá biệt,
có một số ít cán bộ có biểu hiện vun vén cá nhân, giao nhiệm vụ khó khăn dotác động từ gia đình
Bốn là, đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân hoạt động trong điều kiện, môi trường khó khăn, gian khổ, nguy hiểm
Vùng D Hải quân thực hiện nhiệm vụ trên một địa bàn rộng, bao gồm
cả trên bờ, trên biển, trên đảo, trên tàu Phạm vi địa bàn đảm nhiệm của Vùng
D Hải quân rộng, hơn 20 ngàn km2; chiều dài suốt miền Trung Trung bộ;chiều rộng từ đất liền đến hết vùng đặc quyền kinh tế trên quần đảo TrườngSa; không gian cả trên đất liền, trên biển, trên không, dưới đáy biển; tính chấtnhiệm vụ nặng nề; thời tiết khí hậu khắc nghiệt, nhiều nguy hiểm đến tínhmạng của cán bộ, chiến sĩ và các loại phương tiện hoạt động
Đội ngũ cán bộ trên các đảo, các tàu hoạt động trong vùng biển Đông
và quần đảo Trường Sa, nơi có nhiều tiềm năng về dầu khí, các nguồn lợi thủysản, du lịch biển; song luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về sóng thần, bão tố; đồngthời, là khu vực nhạy cảm về chủ quyền, an ninh biên giới trên biển giữa nước
ta với Trung Quốc và các nước có chung biên giới trên biển Đông Với tưtưởng bành trướng, độc chiếm biển Đông, độc chiếm Trường Sa, ngày14/3/1988 Trung Quốc tiến hành đưa quân ra đóng chiếm một số đảo trênquần đảo Trường Sa (hiện nay Trung Quốc chiếm đóng ở 7 đảo chìm và bãi đángầm) Ngoài ra còn có một số nước đóng quân trái phép trên quần đảo Trường
Sa của Việt Nam như Phi-Lip-Pin, Đài Loan, trong thế đan xen, cài răng lược.Khu vực biển Đông và quần đảo Trường Sa còn là nơi có đường hàng hải quốc
tế, nhiều tàu thuyền và phương tiện nổi đi lại Các tàu đánh cá trái phép củanước ngoài thường xuyên hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của ta, trong
Trang 14đó có nhiều tàu giả dạng, lợi dụng để làm nhiệm vụ thăm dò, trinh sát các vị tríđóng quân và các đảo Do vậy, tình hình an ninh trên biển, đảo luôn phức tạp,chứa đựng nhiều nguy cơ dẫn đến xung đột quân sự, tranh chấp lãnh hải, vùngđặc quyền kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực biển Đông
Mặt khác, ĐNCB các tàu, các đảo thường xuyên hoạt động độc lập, dàingày trên biển trong điều kiện khí hậu, thời tiết, môi trường khắc nghiệt, nhất làtrên biển Đông và quần đảo Trường Sa (cán bộ trên quần đảo Trường Sa sau 1năm mới vào đất liền, các tàu trực chiến trên quần đảo Trường Sa liên tục từ 3đến 4 tháng mới được vào bờ) Các đảo đứng chân chơi vơi giữa biển khơi,sáu tháng hoặc một năm mới có tàu ra tiếp tế hoặc chở các đoàn đại biểu rathăm, làm việc; thiếu thốn vật chất, tinh thần, nhất là rau xanh, nước ngọt và
cả tình cảm gia đình Khu vực biển Đông và quần đảo Trường Sa, thường từtháng 8 năm trước đến tháng 2 năm sau, nhất là vào dịp tết âm lịch hầu hết cógiông, bão, sóng to, gió lớn Bên cạnh đó, đa số tàu thuyền của Vùng D Hảiquân chất lượng không cao, lạc hậu so với Hải quân các nước Mỗi một tìnhhuống xảy ra trên biển, đảo đòi hỏi ĐNCB phải có ý chí quyết tâm cao, dũngcảm vượt qua khó khăn mới hoàn thành nhiệm vụ
Các đơn vị trên đất liền, đóng quân ở khu vực có thời tiết, khí hậunắng nóng quanh năm, trong khi môi trường sống xung quanh đơn vị chỉ làcát trắng, cây xanh không nhiều Trong điều kiện môi trường hoạt động nhưvậy, dẫn đến sự căng thẳng về tinh thần và tâm lý, hao tổn về sức khỏe vàthể lực, đe dọa đến tính mạng của cán bộ Đặc điểm này dễ làm nảy sinhnhiều vấn đề phức tạp trong nhận thức và hành vi của cán bộ, đòi hỏi côngtác quản lý cán bộ phải giải quyết
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
* Quan niệm về công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
Quản lý ĐNCB là nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp Điều 41Chương IX, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua tại Đại hội X của
Trang 15Đảng xác định: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũcán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các
tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ” [18, tr 62] Mặt khác, cấp
ủy, tổ chức đảng cấp dưới phải chịu trách nhiệm trước cấp ủy, tổ chức đảng cấptrên, trước đơn vị về công tác quản lý đội ngũ cán bộ Theo phân cấp quản lýcán bộ, người cán bộ còn chịu sự quản lý của cấp uỷ đảng cấp trên theo quyđịnh của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng Đội ngũ cán bộ còn phảichịu sự giám sát của các tổ chức, các lực lượng theo chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn; tuy nhiên, sự quản lý của cấp uỷ, tổ chức đảng cơ sở nơi mà cán bộ
- đảng viên đó hoạt động, tham gia là quan trọng, quyết định nhất
Trong quân đội, ĐNCB trước hết đặt dưới sự quản lý của cấp uỷ, tổchức đảng cùng cấp và “đề cao trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thốngchính trị và người đứng đầu tổ chức” [19, tr 293] tham gia quản lý đội ngũcán bộ Điều lệ CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam xác địnhnhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp là: “Lãnh đạo xây dựng và quản lýđội ngũ cán bộ kết hợp chặt chẽ với xây dựng đội ngũ đảng viên có chấtlượng cao, số lượng và cơ cấu phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cả trướcmắt và cơ bản lâu dài” [27, tr 20]
Công tác quản lý ĐNCB ở Vùng D Hải quân là một trong những khâurất quan trọng của công tác cán bộ, một nội dung của hoạt động công tácđảng, công tác chính trị Công tác quản lý cán bộ đặt dưới sự lãnh đạo trựctiếp của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo của chính uỷ, chính trị viên; sựhướng dẫn về nghiệp vụ của cơ quan chính trị các cấp, với sự tham gia gắnvới trách nhiệm của chính ĐNCB, các tổ chức quần chúng, Hội đồng quânnhân và mọi cán bộ, chiến sĩ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nhằm gópphần xây dựng ĐNCB vững mạnh, có số lượng và cơ cấu hợp lý, “vừa hồng,vừa chuyên”, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao
Trang 16Vì vậy, có thể quan niệm: Công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân là tổng thể các hoạt động của cấp uỷ, tổ chức đảng, với việc đề cao trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng và cán bộ chủ trì trong đơn vị theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trên cơ sở những nội dung được xác định theo đúng các nguyên tắc, quy định, chế độ, nhằm thường xuyên nắm chắc toàn diện mọi mặt của từng cán bộ và cả đội ngũ, làm cơ
sở để tiến hành bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện, bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, giúp cho mỗi cán bộ và cả đội ngũ không ngừng tiến bộ, trưởng thành, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.
Quan niệm trên được thể hiện ở những vấn đề chủ yếu sau:
- Mục đích quản lý: Bảo đảm cho cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp ở Vùng
D Hải quân thường xuyên nắm chắc toàn diện mọi mặt của từng cán bộ và cảđội ngũ cán bộ, làm cơ sở để tiến hành bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện, bố trí,
sử dụng đúng người, đúng việc, giúp cho mỗi cán bộ và cả đội ngũ khôngngừng tiến bộ, trưởng thành, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao
- Chủ thể quản lý, là cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp từ chi bộ đến Đảng uỷ
Vùng D Hải quân Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp ở Vùng D Hải quân là chủ thểquản lý toàn diện mọi mặt ĐNCB thuộc quyền trong đơn vị; trực tiếp lãnh đạo,quản lý, chỉ đạo các các tổ chức, lực lượng tham gia vào quá trình quản lýĐNCB theo phạm vi chức năng, quyền hạn, nội dung quy định cho từng cấp;đồng thời, cấp uỷ cấp trên, theo phân cấp có trách nhiệm quản lý đến cán bộchủ trì dưới 2 cấp [25] Đảng uỷ QCHQ quản lý đến cán bộ chủ trì cấp lữ đoàn
và tương đương Đảng uỷ Vùng D Hải quân quản lý cán bộ chủ trì đến cấp tiểuđoàn và tương đương Đảng uỷ các lữ đoàn quản lý cán bộ chủ trì đến cấp đạiđội và tương đương Đảng uỷ cấp tiểu đoàn, các hải đội và các cụm đảo quản lýđến cấp trung đội, các ngành trên tàu, các điểm đảo và tương đương Tuynhiên, sự quản lý trực tiếp của cấp uỷ, tổ chức đảng cùng cấp là quan trọngnhất, có ý nghĩa quyết định, là căn cứ quan trọng, là cơ sở giúp cho cấp ủy, tổ
Trang 17chức đảng cấp trên quản lý ĐNCB theo phân cấp được đầy đủ, kịp thời vàchính xác
Lực lượng tham gia quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân bao gồm:
Đội ngũ cán bộ chủ trì:
Đội ngũ cán bộ chủ trì ở Vùng D Hải quân bao gồm chính uỷ, chính trịviên và người chỉ huy các cấp “có trách nhiệm và quyền hạn cao nhất trongđơn vị…về toàn bộ hoạt động của đơn vị theo phạm vi chức trách, nhiệm vụ”[28, tr 1], trong đó có công tác quản lý đội ngũ cán bộ
Đội ngũ chính uỷ, chính trị viên là lực lượng có vai trò quan trọng hàngđầu trong quản lý đội ngũ cán bộ, “là người chủ trì về chính trị, chịu tráchnhiệm trước cấp trên, cấp ủy (chi bộ) cấp mình về toàn bộ hoạt động công tácđảng, công tác chính trị trong đơn vị và chịu trách nhiệm chính khi có đảng
bộ, chi bộ, đảng viên yếu kém, đơn vị có nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷluật” [28, tr 2] và không tuân thủ sự quản lý của tổ chức
Đối với người chỉ huy, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập thể lãnh đạo,phân công cá nhân phụ trách trong công tác quản lý cán bộ; “chủ trì và chịutrách nhiệm trước cấp trên, cấp ủy, (chi bộ) cấp mình về toàn bộ hoạt độngquân sự (chỉ huy tham mưu, hậu cần, kỹ thuật, tài chính) của đơn vị” [28,tr.1] Cùng với chính ủy, chính trị viên xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiệncác mặt công tác của đơn vị, “trọng tâm là xây dựng tổ chức đảng trong sạchvững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện” [28, tr 2] và quản lý chặt chẽ độingũ cán bộ thuộc quyền
Phòng chính trị Vùng D Hải quân trực tiếp là Ban cán bộ Vùng:
Ban cán bộ thuộc Phòng chính trị Vùng D Hải quân là cơ quan làmtham mưu cho chủ nhiệm chính trị về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ Ban cán bộ nghiên cứu các văn bản, chỉ thị của cấp trên, đề xuất nội dung,hình thức, biện pháp quản lý ĐNCB trong toàn Vùng và từng đơn vị, thammưu cho chủ nhiệm chính trị để đề xuất những phương án quản lý ĐNCB cho
Trang 18Đảng ủy Vùng D Hải quân; đồng thời, chịu trách nhiệm trực tiếp trong việcquản lý hồ sơ cán bộ theo phân cấp, đảm bảo bí mật, an toàn, không để mấtmát hay hư hỏng Do vậy, cần tránh việc hiểu nhầm, cho rằng, công tác quản
lý ĐNCB là của cơ quan chính trị, cơ quan cán bộ, trợ lý cán bộ, dẫn đếnbuông lỏng vai trò quản lý của cấp ủy, tổ chức đảng
Hệ thống cơ quan chức năng các cấp:
Hệ thống cơ quan chức năng các cấp gồm: Cơ quan tham mưu, hậucần, kỹ thuật cấp Vùng, lữ đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng ủy Vùng và cấp
ủy cùng cấp; nhận sự hướng dẫn, kiểm tra của Phòng chính trị Vùng và phòngchính trị các lữ đoàn về công tác quản lý cán bộ; đồng thời, trực tiếp quản lýĐNCB cơ quan mình và cơ quan cấp dưới chủ yếu về chuyên môn, nghiệp vụcủa đội ngũ cán bộ Cán bộ thuộc ngành nào phải được quản lý chặt chẽ theongành đó theo quy định về chức trách, nhiệm vụ, phân cấp quản lý
Hệ thống tổ chức quần chúng ở Vùng D Hải quân gồm:
Đoàn thanh niên, công đoàn, Hội phụ nữ, có vai trò rất quan trọngtrong tham gia quản lý cán bộ Các tổ chức quần chúng có trách nhiệm “thamgia, giám sát cán bộ và công tác cán bộ” [19, tr 295], trực tiếp quản lý ĐNCBsinh hoạt trong tổ chức mình; đồng thời, phát huy vai trò giám sát, nhận xét,phê bình về phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống của cán bộ, giúp cho cấp
ủy, tổ chức đảng các cấp quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ của đơn vị
Hội đồng quân nhân ở các đơn vị, có vai trò quan trọng trong thực hiện
quyền dân chủ của mọi quân nhân trên các lĩnh vực chuyên môn, quân sự;chính trị, kinh tế, đời sống; đồng thời, tham gia quản lý ĐNCB trong đơn vịthông qua việc dân chủ đóng góp ý kiến xây dựng, phê bình cán bộ, giúp cán
bộ thấy được những điểm mạnh để phát huy, những hạn chế để khắc phục,ngăn ngừa sự thoái hóa, biến chất
Cùng với các tổ chức, các lực lượng trên, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp
ở Vùng D Hải quân cần phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ
Trang 19trong đơn vị và cấp ủy, chính quyền địa phương theo đúng phạm vi, quyềnhạn cùng tham gia vào quản lý ĐNCB của đơn vị.
- Đối tượng của công tác quản lý cán bộ ở Vùng D Hải quân
Quyết định số 64/QĐ-ĐUQSTW, ngày 15/7/1993, Quyết định của Đảng ủy quân sự Trung ương về việc quản lý đội ngũ cán bộ chỉ rõ: “Quản lý
đội ngũ cán bộ bao gồm: Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viênchức quốc phòng giữ chức vụ quy định là sĩ quan” [25, tr 9] Đội ngũ cán bộ
ở Vùng D Hải quân là đối tượng của công tác quản lý cán bộ của cấp uỷ, tổchức đảng các cấp ở Vùng D Hải quân, trực tiếp là chi bộ đảng; đồng thời, làđối tượng chịu sự giám sát, quản lý của các tổ chức, các lực lượng theo đúngchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Tuy nhiên, ĐNCB trong mối quan hệ vớichủ thể là đối tượng quản lý, nhưng xét theo phân cấp quản lý thì cán bộ cấptrên lại là lực lượng có trách nhiệm quản lý ĐNCB thuộc quyền; đồng thời,chính ĐNCB có vai trò rất quan trọng trong quá trình tự quản lý và quản lýlẫn nhau Vì vậy, công tác quản lý ĐNCB ở Vùng D Hải quân cần nhận thức
và giải quyết tốt các mối quan hệ đó
- Nội dung quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân:
Đối với từng cán bộ, nắm chắc tình hình các mặt cơ bản sau đây:
Về phẩm chất chính trị tư tưởng: Nắm vững lập trường tư tưởng, quan
điểm, lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, niềm tin, bản lĩnhchính trị; ý thức, thái độ đối với nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ khó khăn,gian khổ như: đi biển trong điều kiện thời tiết xấu, công tác ở đảo xa
Về đạo đức, lối sống: Nắm chắc thái độ, trách nhiệm trong công tác;
đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; “xử lý hài hòa các lợi ích, đặtlợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết” [19, tr 300]; liên hệ mật thiết vớicán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của quầnchúng; có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật; không quanliêu, tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, thamnhũng, lãng phí và các tiêu cực khác
Trang 20Về năng lực: Nắm vững trình độ kiến thức về chính trị, quân sự, văn
hoá, khoa học kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ; “có hiểu biết cơ bản về chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng,chính sách và luật pháp của Nhà nước” [19, tr 300]; năng lực lãnh đạo, nănglực quản lý, chỉ huy, tổ chức thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; khảnăng đoàn kết, tập hợp quần chúng; năng khiếu, sở trường
Về chất lượng chính trị: Cấp ủy, tổ chức đảng nắm vững thành phầngiai cấp (xuất thân và bản thân), lịch sử chính trị gia đình và bản thân, quan
hệ xã hội, quá trình công tác; tình hình sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình, tâm tư,tình cảm, nguyện vọng của từng cán bộ
Đối với đội ngũ cán bộ: Nắm chắc cả số lượng, chất lượng và cơ cấu
Về số lượng cán bộ: Nắm chắc số cán bộ hiện có, sự biến động, tăng
giảm theo định kỳ, hàng tháng, hàng quý, hàng năm theo nhiệm vụ huấnluyện, chiến đấu; nhu cầu biên chế, khả năng phát triển Số lượng cán bộtrong từng đơn vị, từng bộ phận; tính kế thừa qua các thời kỳ trong các đốitượng cán bộ (sơ cấp, trung cấp, cao cấp); sự phân bố ở các cơ quan, đơn vị;
có số lượng dự trữ cán bộ theo quy định, đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụSSCĐ và mở rộng, phát triển lực lượng khi tác chiến xảy ra
Về chất lượng cán bộ: Nắm chắc mặt mạnh, mặt hạn chế chung của
ĐNCB về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, đoàn kết, kỷ luật; trình độhiểu biết về kiến thức văn hoá, đào tạo qua trường lớp, học hàm, học vị, bằngcấp; trình độ hiểu biết và khả năng vận dụng, tổ chức thực hiện đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng vào nhiệm vụ chính trị của đơn vị, phù hợp vớichức trách, nhiệm vụ được phân công; trình độ năng lực lãnh đạo, tổ chức chỉhuy và quản lý bộ đội; kinh nghiệm và thử thách trong huấn luyện, chiến đấu,công tác; chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị; xu hướngphát triển và khả năng đảm nhiệm các nhiệm vụ
Trang 21Trong tình hình hiện nay, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở Vùng D Hảiquân cần đặc biệt chú ý quản lý cán bộ về phẩm chất chính trị, đạo đức, lốisống và các mối quan hệ xã hội, để tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện,
ngăn ngừa sự thoái hóa, không để “mất” cán bộ
Về cơ cấu đội ngũ cán bộ: Quản lý về cơ cấu cấp bậc quân hàm, chức
vụ cán bộ, loại cán bộ; cơ cấu ngành nghề, chuyên môn, trình độ học vấn,đào tạo qua trường, tuổi quân, tuổi đời, cơ cấu thành phần giai cấp, cơ cấuvùng, miền ĐNCB của đơn vị, từ đó để có biện pháp đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng cán bộ đúng, điều chỉnh phân bổ cán bộ đều khắp trong đơn vị, tránh
ùn tắc hay hụt hẫng
- Hình thức và biện pháp quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân: Thứ nhất, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng, trước hết là chi bộ đảng để quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
Cán bộ (không có ngoại lệ) phải chịu sự quản lý, giáo dục của chi bộ.Chi bộ đảng có nhiệm vụ quản lý cán bộ, giáo dục và rèn luyện cán bộ, phâncông công tác cho cán bộ, giám sát và kiểm tra quá trình phấn đấu của từngcán bộ theo chức năng và quyền hạn của mình thông qua hoạt động lãnh đạo
và công tác xây dựng chi bộ để quản lý đội ngũ cán bộ Chi ủy, chi bộ định kỳmột năm, hoặc 6 tháng một lần tiến hành kiểm tra, phân tích, đánh giá chấtlượng và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ Đồng thời, quản lý cán
bộ bằng cách đưa cán bộ vào hoạt động thực tiễn, vào phong trào hành độngcách mạng của đơn vị; phân công, giao nhiệm vụ cho cán bộ; giám sát, kiểmtra kết quả thực hiện
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, cán bộ chủ trì đơn vị quản lý cán bộ bằng
cách giao nhiệm vụ hàng ngày; đồng thời, quản lý cán bộ thông qua triển khai,
tổ chức thực hiện Điều lệnh, Điều lệ, kỷ luật của quân đội; không để bất kỳ mộtcán bộ nào đứng ngoài tổ chức, đứng trên tổ chức; mặt khác, thông qua kiểmtra kết quả thực hiện nhiệm vụ để tiến hành quản lý cán bộ Cán bộ chủ trì các
Trang 22cấp cần có kiến thức về văn hoá quản lý, nghệ thuật quản lý cán bộ và thực sựgương mẫu trong tự quản lý để làm gương cho ĐNCB trong đơn vị noi theo
Các tổ chức quần chúng và Hội đồng quân nhân với chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn, quản lý, giáo dục đối với cán bộ sinh hoạt, hoạt động trong tổchức mình thông qua các nguyên tắc, chế độ, quy định của tổ chức Cán bộcòn tuổi đoàn nhất thiết phải tham gia sinh hoạt đoàn Mọi cán bộ, chiến sĩphải tham gia sinh hoạt trong Hội đồng quân nhân Bên cạnh sự quản lý, giáodục của chi bộ, người cán bộ đó còn phải chịu sự quản lý, giáo dục của tổchức quần chúng và Hội đồng quân nhân Tổ chức quần chúng và Hội đồngquân nhân có trách nhiệm giám sát, đóng góp ý kiến xây dựng, phê bình, báocáo cấp ủy, tổ chức đảng để có biện pháp quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ
Các tổ chức, các lực lượng tham gia công tác quản lý ĐNCB ở Vùng DHải quân phải tuân thủ đúng nguyên tắc, đúng chức năng, nhiệm vụ, tránhchồng chéo, nể nang, tùy tiện, hay đùn đẩy trách nhiệm cho nhau
Thứ hai, quản lý thông qua hoạt động thực tiễn và sinh hoạt của cán bộ.
Phẩm chất và năng lực của cán bộ bao giờ cũng được biểu hiện ra trongquá trình hoạt động thực tiễn và sinh hoạt cá nhân Thông qua quá trình hoạtđộng thực tiễn và sinh hoạt cá nhân của cán bộ, các tổ chức đảng nắm được mặtmạnh, mặt hạn chế của từng cán bộ và cả đội ngũ Thông qua việc hoàn thànhchức trách, nhiệm vụ của cán bộ mà cấp ủy, tổ chức đảng xem xét, đánh giá,phân tích, kết luận về phẩm chất, năng lực, tác phong công tác của từng cán bộ,
từ đó quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ Thông qua duy trì thực hiện các chế độsinh hoạt, các tổ chức có thể nắm được ý thức và trình độ hiểu biết của cán bộ.Bằng việc phân công công tác cho cán bộ, bằng việc tiến hành sơ kết, tổng kết,rút kinh nghiệm, bằng chế độ học tập, chế độ tự phê bình và phê bình và quakiểm tra công tác hàng ngày, các cấp ủy, tổ chức đảng có thể nắm chắc, hiểu rõcán bộ; từ đó đề ra những biện pháp quản lý phù hợp Cần tránh cách quản lýhình thức, không xuất phát từ hoạt động thực tiễn và sinh hoạt của cán bộ
Thứ ba, phát huy vai trò của cán bộ trong tự quản lý.
Trang 23Công tác quản lý cán bộ bao giờ cũng đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽgiữa sự quản lý của tổ chức và tự quản lý của mỗi cán bộ Trên cơ sở tăngcường sự quản lý của tổ chức, mỗi cán bộ cần đề cao tính tiên phong, gươngmẫu trong tự quản lý; đặc biệt, trong những ngày nghỉ, giờ nghỉ, những lúc đicông tác, đi phép xa đơn vị; trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, sóng
to, gió lớn; trong những lúc hoạt động độc lập dài ngày trên biển, đảo; nhữngđợt huấn luyện, hành quân dã ngoại; khi tàu sửa chữa ở các trạm, xưởng, haykhi tàu neo đậu ở những bến cảng không thuộc phạm vi quản lý của đơn vị;nhất là hiện nay, những tiêu cực và tệ nạn xã hội đang diễn biến rất phức tạp
và có chiều hướng gia tăng; những cám dỗ của vật chất, tiền tài, địa vị, lợi ích,
đã, đang tác động rất mạnh đến đội ngũ cán bộ
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tăng cường quản lý ĐNCB bằng cáchthường xuyên giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ về vị trí, vaitrò, tầm quan trọng của tự quản lý; đồng thời, tạo điều kiện và môi trườngthuận lợi để cán bộ tự quản lý Mỗi cán bộ đề cao ý thức tự quản lý bằng việc
tự giác chấp hành các quy định của tổ chức; bằng việc xây dựng kế hoạch tựquản lý khoa học và phấn đấu kiên trì bền bỉ, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm
Thứ tư, quản lý thông qua hệ thống hồ sơ cán bộ:
Hồ sơ cán bộ phản ánh khá đầy đủ các thông tin về mọi mặt của cán bộ.Quản lý cán bộ thông qua hệ thống hồ sơ là biện pháp rất cơ bản không thểthiếu trong công tác quản lý ĐNCB, giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộchủ trì ở Vùng D Hải quân hiểu được đầy đủ, kịp thời, chính xác về từng cán
bộ và cả đội ngũ cán bộ
Quản lý hồ sơ cán bộ ở Vùng D Hải quân là bảo đảm cho mọi cán bộ
có đủ hồ sơ lí lịch Hồ sơ, lí lịch phải đủ nội dung theo quy định; được ghichép, bổ sung chính xác, kịp thời và giữ gìn cẩn thận không để mất, lộ bí mật.Gặp trường hợp chưa rõ về lai lịch chính trị, thành phần giai cấp, quá trìnhcông tác, hay cán bộ khiếu nại vấn đề gì thuộc lịch sử cần phải nghiên cứu,xác minh đầy đủ, rõ ràng; nắm vững và chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ thị
Trang 24của cấp trên về nguyên tắc, thủ tục giới thiệu cán bộ và quản lý hồ sơ cán bộtheo phân cấp Khi có cán bộ thuyên chuyển đi đơn vị khác, đi học, đi viện,
cơ quan cán bộ làm đủ các giấy tờ giới thiệu cho cán bộ Khi có cán bộ đơn vịkhác đến bổ sung, phải kiểm tra kỹ giấy tờ về cán bộ rồi mới tiếp nhận
Thứ năm, quản lý bằng cách tạo điều kiện cho mọi cán bộ, chiến sĩ kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ.
Trong công tác, trong cuộc sống thường ngày và trong giải quyết cácmối quan hệ theo Điều lệnh, Điều lệ, người cán bộ sẽ thể hiện rõ phẩm chấtchính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, trình
độ văn hoá ứng xử đối với cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền trong đơn vị Cấp ủy,
tổ chức đảng các cấp, theo định kỳ hoặc bất thường tổ chức cho cán bộ, chiến
sĩ nhận xét, đánh giá tình hình cán bộ và đội ngũ cán bộ; bên cạnh đó duy trì
và “thực hiện công khai, minh bạch trong công tác cán bộ” [19, tr 294]; pháthuy tinh thần làm chủ của mọi quân nhân trong giám sát, góp ý, phê bình hoạtđộng của cán bộ, là một trong những hình thức, biện pháp hữu hiệu góp phầnquản lý chặt chẽ ĐNCB ở Vùng D Hải quân
Cùng với các hình thức, biện pháp trên, quản lý cán bộ còn được thựchiện bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý cán bộ với quản lý đảng viên; tổchức cho các đơn vị, các tập thể nhận xét, đánh giá tình hình cán bộ và cả độingũ cán bộ; bằng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyềnđịa phương trên địa bàn đóng quân và nơi cư trú của cán bộ
* Vai trò của công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
- Công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân giúp cấp ủy, tổ chức đảng nắm chắc đội ngũ cán bộ về mọi mặt, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, giáo dục, rèn luyện cán bộ có hiệu quả
Quản lý cán bộ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cấp ủy, tổchức đảng; đồng thời, là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ ở Vùng DHải quân Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân có cơ cấu đa dạng, diện bố trírộng, hoạt động trong nhiều lĩnh vực, trên nhiều địa bàn; yêu cầu về số lượng,
Trang 25chất lượng ở từng đơn vị không đồng nhất Trong thực hiện chức trách, nhiệm
vụ, trong sinh hoạt cá nhân, cán bộ thường bộc lộ ra những điểm mạnh, điểmhạn chế về phẩm chất, năng lực, lập trường, quan điểm, niềm tin, bản lĩnhchính trị, ý thức, thái độ với nhiệm vụ, đạo đức, lối sống và cả sức khoẻ Mặtkhác, trước sự tác động của tích cực cũng như những tiêu cực, tệ nạn xã hội,tâm tư, tình cảm của cán bộ luôn biến động; bên cạnh đó, các mối quan hệ củacán bộ ngày càng đa dạng, phong phú Cùng với việc thực hiện các khâu, cácbước của công tác cán bộ, tiến hành tốt công tác quản lý ĐNCB ở Vùng DHải quân giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp hiểu rõ, nắm chắc tình hìnhmọi mặt của từng người và cả ĐNCB, nhất là phẩm chất, năng lực, đạo đức,lối sống, làm cơ sở cho quy hoạch, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng,
sử dụng chính xác, đúng người, đúng việc, đúng với từng đơn vị, từng tàu,từng đảo; đồng thời, là cơ sở để sắp xếp, điều động, đề bạt, bổ nhiệm, nânglương, thăng quân hàm, luân chuyển cán bộ phù hợp với cơ cấu, đảm bảo sốlượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị được giao
- Quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng trưởng thành, phát triển
Quản lý là chức năng của tổ chức Công tác quản lý ĐNCB ở Vùng DHải quân trên cơ sở chấp hành nghiêm đường lối, quan điểm của Đảng vềcông tác cán bộ và quản lý ĐNCB; Pháp luật của Nhà nước; Điều lệnh, Điều
lệ, kỷ luật của quân đội; các nguyên tắc, quy định, chế độ sinh hoạt, hoạt độngcủa tổ chức, đó là hành lang pháp lý quan trọng, là điều kiện và môi trườngthuận lợi để ĐNCB ở Vùng D Hải quân thực hiện nhiệm vụ ở bất cứ nơi đâu,trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, tránh được vi phạm kỷ luật không đáng
có Trên cơ sở chấp hành và chịu sự quản lý của tổ chức, cán bộ sẽ tự ghépmình vào khuôn khổ kỷ luật, pháp luật, luôn phấn đấu, rèn luyện vì sự tiến bộcủa bản thân và của cả đơn vị Thực tế ở Vùng D Hải quân đã chứng minhrằng, ở đâu, lúc nào, đơn vị nào quản lý ĐNCB chặt chẽ, thì đơn vị đó có
Trang 26ĐNCB luôn phấn đấu tốt, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; ngượclại, ở đâu, đơn vị nào quản lý không chặt chẽ, thì cán bộ dễ vi phạm kỷ luật,không hoàn thành nhiệm vụ
- Thực hiện tốt công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân trực tiếp góp phần xây dựng các tổ chức vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc,công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Thực hiện tốtcông tác quản lý cán bộ, góp phần xây dựng ĐNCB ở Vùng D Hải quân có
số lượng đủ, cơ cấu hợp lí, chất lượng cao, có khả năng phát triển đồng bộ,nhịp nhàng, không ùn tắc, hụt hẫng Đồng thời, quản lý chặt chẽ ĐNCB,nhất là cán bộ chủ trì trên đảo, trên tàu sẽ tạo môi trường thuận lợi để cán bộphát huy vai trò, đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, xâydựng đơn vị, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ Nếu không quản lý chặt chẽ,cán bộ sẽ vi phạm kỷ luật, tất yếu không thể xây dựng được đơn vị vữngmạnh, thậm chí không hoàn thành nhiệm vụ Mặt khác, quản lý chặt chẽĐNCB trực tiếp quản lý tốt cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính, quản lý kỷluật, góp phần xây dựng đơn vị VMTD, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh
- Quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân trực tiếp góp phần bảo vệ cán bộ, tránh thoái hóa biến chất và sự chống phá của kẻ thù
Công tác quản lý ĐNCB ở Vùng D Hải quân nhằm nắm chắc từng cán
bộ và cả đội ngũ không chỉ về cơ cấu, số lượng, chất lượng, mà còn nắm chắc
cả tình hình tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, mối quan hệ xã hội, ưu điểm,khuyết điểm của từng cán bộ để có biện pháp bảo vệ, giáo dục, rèn luyện hiệuquả, ngăn chặn, khắc phục sự thoái hóa, biến chất Ngày nay, mối quan hệ củaĐNCB nói chung, ở Vùng D Hải quân nói riêng đa dạng hơn, phức tạp hơn;các nhu cầu về cuộc sống, sinh hoạt cao hơn, trong khi chế độ, chính sách củaĐảng và Nhà nước chưa theo kịp Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân quản lýmột khối lượng lớn tài sản của Nhà nước, của quân đội, của đơn vị, nhất làcác đơn vị hậu cần, kỹ thuật, tài chính Nếu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp
Trang 27không quản lý chặt chẽ cán bộ, dễ dẫn đến cán bộ vi phạm kỷ luật, tham ô,tham nhũng Mặt khác, quản lý chặt chẽ ĐNCB ở Vùng D Hải quân tạo nên
“bức tường” ngăn chặn, sàng lọc những ảnh hưởng tiêu cực, tệ nạn xã hộithâm nhập vào ĐNCB, không để cán bộ thoái hóa phẩm chất, đạo đức, lốisống
Một trong những trọng tâm của chiến lược “diễn biến hoà bình” làchống phá đội ngũ cán bộ Hàng ngày hàng giờ, kẻ thù luôn tìm mọi cách lôikéo, mua chuộc ĐNCB bằng nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, nhất là ĐNCBchủ trì, cán bộ tàu, cán bộ đi công tác lẻ, cán bộ có hoàn cảnh gia đình khókhăn Bên cạnh đó, Vùng D Hải quân đóng quân ở khu vực có địa chính trị,địa kinh tế quan trọng, cũng là nơi có nhiều ngụy quân, ngụy quyền của chế
độ cũ sinh sống Cùng với các nhiệm vụ khác, quản lý chặt chẽ ĐNCB gópphần bảo vệ tốt ĐNCB, tránh sự lôi kéo, mua chuộc của các thế lực thù địchdẫn đến thoái hóa, biến chất cán bộ
* Đặc điểm công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
Một là, đối tượng của công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân đa dạng
Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân có quân hàm từ thiếu úy đến đại tá;
về chức vụ từ trung đội trưởng, ngành trưởng (trên tàu) đến Chỉ huy trưởng,Chính ủy Vùng Tuổi quân, tuổi đời của ĐNCB có sự chênh lệch lớn Theo sốliệu thống kê tháng 5/2006, có 99,7% cán bộ ở Vùng D Hải quân tuổi quân từ
5 đến 30 năm; trong đó 59,9% cán bộ có tuổi quân từ 6 đến 20 năm; 0,7% cán
bộ có tuổi quân 31 năm trở lên [49] Về tuổi đời, có 44,3% cán bộ từ 31 đến40; 30,4% cán bộ có tuổi đời từ 41 đến 50 và 0,6% cán bộ tuổi đời từ 51 đến
60 [49]; qua đó cho thấy ĐNCB đa dạng cả về tuổi quân, tuổi đời, quân hàm,chức vụ, công tác trên nhiều lĩnh vực, tính chất hoạt động phong phú
Đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân có quê quán chủ yếu ở miền Bắc vàmiền Trung, xa gia đình Về diện bố trí, có cán bộ tàu, đảo, bờ; về loại cán bộ,
có cán bộ quân sự, cán bộ chính trị, cán bộ hậu cần, cán bộ kỹ thuật, cán bộ
Trang 28chuyên môn nghiệp vụ Đội ngũ cán bộ trên tàu, nhất là cán bộ kỹ thuật, dotính chất nhiệm vụ, cả sự nghiệp gắn bó với con tàu, khó luân chuyển, khóphát triển lên chức vụ cao hơn, nên có nhiều tâm tư, tình cảm, nguyện vọng.Đội ngũ cán bộ ở Đoàn M46 phần đông là cán bộ trong toàn quân thay phiên
2 năm một lần, nên việc quản lý có hệ thống về phẩm chất, năng lực công tác,lai lịch chính trị gia đình, bản thân của mỗi cán bộ gặp nhiều khó khăn Mặtkhác, ĐNCB ở Vùng D Hải quân được đào tạo từ nhiều học viện, trường sĩquan trong nước và nước ngoài, nên trình độ nhận thức, trình độ chuyên mônnghiệp vụ trên từng cương vị công tác cũng không giống nhau
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần có nội dung, hình thức, biện phápquản lý phù hợp ngang tầm với trình độ nhận thức, phù hợp với đặc điểm, tưtưởng, tình cảm của từng cán bộ mới có thể đạt hiệu quả cao
Hai là, công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân chịu tác động mạnh mẽ của môi trường hoạt động, địa bàn đóng quân
Môi trường hoạt động của ĐNCB ở Vùng D Hải quân là môi trườngbiển, đảo, tàu, bờ; phạm vi, nhiệm vụ rộng, đa dạng, địa hình phức tạp Cácđơn vị đảo, đóng quân xa đất liền, xa đơn vị Đảng ủy Vùng D Hải quân vàĐảng ủy Đoàn M46 và Đảng ủy các tiểu đoàn trực thuộc triển khai nghị quyếtlãnh đạo và nắm tình hình ĐNCB chủ yếu qua hệ thống thông tin liên lạc vàcác tàu, các đoàn đại biểu ra thăm, làm việc trên đảo Các đảo chìm có nhiềuđiểm đóng quân, sinh hoạt triển khai nghị quyết lãnh đạo hàng tháng, thườngđược kết hợp vào những lúc biển lặng, thủy triều xuống, cán bộ - đảng viêntập trung vào một điểm đóng quân Những lúc thời tiết không thuận lợi, việctriển khai nghị quyết của chi bộ và nắm tình hình cán bộ - đảng viên thôngqua hệ thống thông tin vô tuyến
Mặt khác, ĐNCB đảo, cán bộ tàu thường xuyên công tác xa đơn vị, xagia đình, khó khăn, nguy hiểm luôn rình rập; tâm lý luôn căng thẳng, đờisống, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn Công tác quản lý có thuận lợi là dễ quản
lý con người, nhưng quản lý về tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, sức
Trang 29khoẻ của từng cán bộ không dễ dàng Các tàu ở Vùng D Hải quân chủ yếuthực hiện nhiệm vụ dài ngày trên biển, đảo, sóng to, gió lớn, qua nhiều vùngmiền, thành phố, bến cảng, ảnh hưởng đến trí lực, thể lực, tâm lý Vũ khí,trang bị kỹ thuật, tài sản lớn, nhiều xăng dầu, trong khi các hiện tượng tiêucực và tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; vì vậy, rất dễ dẫn đến mua bán, đổichác, thậm chí tiếp tay cho bọn buôn lậu Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trìđơn vị gặp nhiều khó khăn cả về quản lý con người, sức khoẻ, tư tưởng, tìnhcảm, đạo đức, lối sống của cán bộ
Các đơn vị trên bờ, hàng ngày hoặc hàng tuần về với gia đình, dễ quản
lý về con người, song khó quản lý các mối quan hệ xã hội Mặt khác, nơi đơn
vị đóng quân có vị trí chiến lược về quân sự, an ninh - quốc phòng, nhiềunước lớn quan tâm; đồng thời, đây còn là địa bàn có tình hình an ninh chínhtrị phức tạp Nếu không làm tốt công tác quản lý, cán bộ rất dễ bị kẻ thù lôikéo, làm tay sai cho địch, hoặc bị mua chuộc làm thoái hoá, biến chất
Ba là, công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân tiến hành đồng thời với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đơn vị và các hoạt động khác.
Là một khâu trong công tác cán bộ, một nhiệm vụ quan trọng của cấp
ủy, tổ chức đảng các cấp ở Vùng D Hải quân, công tác quản lý ĐNCB đượctiến hành thường xuyên trong mọi thời gian, mọi thời điểm hoạt động của đơn
vị Bên cạnh đó, nội dung của công tác quản lý cán bộ rộng, hình thức và biệnpháp quản lý phong phú, đa dạng, liên quan đến trách nhiệm, quyền hạn củanhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lực lượng, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp Chấtlượng công tác quản lý cán bộ phản ánh trong kết quả xây dựng các tổ chức,trong xây dựng đội ngũ cán bộ, trong kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trịcủa đơn vị Công tác quản lý cán bộ ở Vùng D Hải quân được tiến hành cùngvới các hoạt động khác của đơn vị; gắn chặt trách nhiệm của các tổ chức, cáclực lượng theo đúng nguyên tắc, chế độ quy định và tiến hành ở mọi lúc, mọi
Trang 30nơi, mọi thời điểm Ở đâu có hoạt động của cán bộ, ở đó có hoạt động quản
Trong thời gian qua Đảng ủy Vùng D Hải quân và cấp ủy, tổ chức đảngcác cấp luôn quán triệt thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác xây dựngĐNCB nói chung, công tác quản lý ĐNCB nói riêng Đảng ủy Vùng D Hảiquân đã lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng, phòng chính trị, ban cán bộtiến hành tốt các hội nghị như: Hội nghị công tác xây dựng đội ngũ cán bộ 5năm, từ năm 2000 đến 2005 (tháng 8/2005) Mỗi năm hai lần vào tháng 7 vàtháng 10 đều tổ chức Hội nghị rút kinh nghiệm cán bộ thay phiên trên quầnđảo Trường Sa, thông qua đó đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân,rút ra bài học kinh nghiệm và phương hướng, biện pháp cơ bản xây dựng vàquản lý chặt chẽ ĐNCB, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chủquyền, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa của Tổ quốc trong tình hình mới
Đảng ủy Vùng D Hải quân luôn coi trọng đổi mới phương pháp, tácphong công tác, đi sâu, đi sát cơ sở, nhất là các đơn vị tàu, đơn vị đảo, thườngxuyên kiểm tra các hoạt động huấn luyện SSCĐ ở các đơn vị bờ; hàng năm đều
tổ chức một đến hai đoàn ra thăm và kiểm tra trên quần đảo Trường Sa; chỉ đạocác cấp ủy, tổ chức đảng hoạt động đúng chức năng nhiệm vụ, coi trọng côngtác quản lý cán bộ Những hoạt động cơ bản đó đã thể hiện nhận thức, tráchnhiệm cao của Đảng ủy Vùng D Hải quân trong công tác quản lý cán bộ
Trang 31Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị đã quán triệt tốt các Nghị quyết củaĐảng ủy Vùng D Hải quân, nắm vững phương hướng, yêu cầu, nguyên tắcquản lý ĐNCB, những đặc điểm, thực trạng của đối tượng quản lý để lồngghép nhiệm vụ quản lý cán bộ trong nghị quyết lãnh đạo hàng tháng, quý
và cụ thể hóa thành những yêu cầu, chỉ tiêu cụ thể để quản lý chặt chẽĐNCB của đơn vị, làm cơ sở cho nhận xét đánh giá cán bộ, đảng viên hàngnăm Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Đoàn M62 lần thứ II(Nhiệm kỳ 2005-2008) chỉ rõ: “Tăng cường công tác quản lý, rèn luyện cán
bộ, đảng viên, nhất là quản lý các mối quan hệ xã hội Kết hợp chặt chẽ giữaxây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên…Lấy kết quả họctập, rèn luyện, thực hiện nhiệm vụ được giao để đánh giá cán bộ và phântích chất lượng đảng viên hàng năm” [22, tr 16] Trên cơ sở nghị quyết đãđược xác định, đảng ủy (chi bộ) tiểu đoàn, các tàu, các đảo, các kho, trạm,xưởng xác định đúng kế hoạch quản lý ĐNCB của đơn vị với mục đích, yêucầu, nội dung, hình thức, biện pháp cụ thể nhằm huy động, phát huy sứcmạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng theo đúng chức năng, nhiệm
vụ trong hoạt động quản lý; từng bước khắc phục sự chồng chéo, thiếu thốngnhất trong tổ chức thực hiện
Mặt khác, các cấp ủy, tổ chức đảng đã duy trì và thực hiện nghiêmcông tác quản lý cán bộ bằng nguyên tắc, chế độ theo phân cấp; đã quán triệt
và thực hiện khá tốt 19 điều đảng viên không được làm; duy trì, thực hiện có
nề nếp chế độ sinh hoạt Đảng để giao nhiệm vụ, giám sát, kiểm tra, quản lýĐNCB, đảng viên trong đơn vị
Cùng với cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trong thời gian qua công tácquản lý cán bộ ở Vùng D Hải quân luôn có sự tham gia tích cực, sự phối hợpnhịp nhàng của các tổ chức, các lực lượng Phòng chính trị, trực tiếp là bancán bộ (thông qua ban chủ nhiệm, phòng chính trị) đã làm tốt chức năng thammưu cho Đảng ủy Vùng D Hải quân tổ chức thực hiện có hiệu quả công tácxây dựng ĐNCB nói chung, công tác quản lý ĐNCB nói riêng Phòng chính
Trang 32trị đã thường xuyên có kế hoạch, hướng dẫn, kiểm tra, giúp đỡ các đơn vị tổchức hoạt động quản lý cán bộ đảm bảo chặt chẽ; luôn theo dõi, giúp đỡ cácđơn vị nắm vững số lượng, chất lượng, cơ cấu ĐNCB; tiến hành sơ kết, tổngkết, rút kinh nghiệm về công tác cán bộ và quản lý ĐNCB, kịp thời giải quyếtnhững khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý cán bộ.
Cán bộ chủ trì các đơn vị đã tăng cường duy trì cán bộ, chiến sĩ trongđơn vị chấp hành nghiêm Pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ, kỷ luậtcủa quân đội, quy định của đơn vị, quy định ra vào căn cứ; thực hiện khá tốtcác Công ước về biển - đảo, Điều lệnh tàu Hải quân nhân dân Việt Nam, Nghịquyết số 1348/NQ-ĐUQC, ngày 20/3/2003 của Thường vụ Đảng ủy Quân
chủng Hải quân, Về tăng cường rèn luyện kỷ luật, xây dựng nề nếp chính quy, đổi mới phong cách, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Công tác quản lý cán bộ đã tập trung vào những đơn vị điểm về
chấp hành kỷ luật, xây dựng nề nếp chính quy, xây dựng đơn vị Cụ thể là:
“Thường xuyên tổ chức kiểm tra, chấn chỉnh khắc phục thiếu sót, khuyếtđiểm và những mặt còn tồn tại trong huấn luyện, xây dựng nề nếp chính quy.Xây dựng Đoàn C57, Hải đội B11 điểm về nề nếp chính quy; Đoàn M62 làmđiểm về huấn luyện để các đơn vị trong toàn Vùng tham khảo học tập, qua đókhắc phục kịp thời khâu yếu, mặt yếu” [11, tr 4] Vì vậy, “số vụ việc vi phạm
kỷ luật đã có chiều hướng giảm rõ rệt, năm 2001 là 0,35%, đến năm 2004 còn0,24%, đứt điểm được một số loại vụ việc nghiêm trọng như: tự tử, tự sát,quan hệ với người nước ngoài” [11, tr 14] Bên cạnh đó, cán bộ chủ trì cáccấp đã thực sự có sự chuyển biến trong việc nói đi đôi với làm, gương mẫutrong tự quản lý, nên đã góp phần quản lý chặt chẽ ĐNCB thuộc quyền
Các cấp ủy đảng và cán bộ chủ trì các đơn vị đã thường xuyên liên hệchặt chẽ với các đơn vị bạn trên địa bàn đóng quân, cấp ủy, chính quyền địaphương; thường xuyên trao đổi, tổ chức rút kinh nghiệm thông qua các Hộinghị dân vận hàng năm, thông qua giao ban, hội ý tình hình an ninh, chính trị
Trang 33trên địa bàn, nên đã có những thông tin chính xác, kịp thời, từ đó có hìnhthức, biện pháp quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ.
Những năm qua Đảng ủy Vùng D Hải quân đã “chăm lo củng cố, kiệntoàn ban chấp hành đoàn, Hội phụ nữ vững mạnh, quan tâm và tạo điều kiệncho các tổ chức quần chúng hoạt động và tham gia công tác xây dựng Đảng”[11, tr 2], tham gia quản lý đội ngũ cán bộ Vì vậy, các tổ chức quần chúng đã
có nhiều cố gắng giúp cấp ủy, tổ chức đảng quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ
Hội đồng quân nhân, đã đề cao và phát huy tốt vai trò, trách nhiệm dânchủ trong đóng góp ý kiến xây dựng ĐNCB của đơn vị; đặc biệt, đã phát hiện,ngăn ngừa những hiện tượng tham ô, tham nhũng, lãng phí của cán bộ trongđơn vị để xử lý kịp thời
Thứ hai, nội dung, hình thức, biện pháp quản lý đội ngũ cán bộ từng bước đổi mới phù hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ của từng đơn vị
- Về nội dung quản lý:
Cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị đã luôn bám sát thực tiễn nhiệm vụhuấn luyện, SSCĐ của từng đơn vị tàu, bờ, đảo; sự trưởng thành tiến bộ, nhữngđiểm mạnh, điểm hạn chế của từng cán bộ và của cả đội ngũ Nội dung quản lýĐNCB đã thể hiện tính toàn diện, nhưng đã tập trung quản lý về số lượng, chấtlượng, các mối quan hệ xã hội của đội ngũ cán bộ Báo cáo tổng kết CTĐ,CTCT năm 2004 của Bộ chỉ huy Vùng D Hải quân đã nêu rõ: Cấp ủy, tổ chứcđảng các cấp đã “chú trọng quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên cả vềphẩm chất, lối sống, năng lực, tác phong công tác, các mối quan hệ gia đình, xãhội” [9, tr 4] Kết quả thăm dò ý kiến đối với 200 cán bộ về nội dung quản lýĐNCB ở Vùng D Hải quân, có 21,5% ý kiến cho rằng, đã quản lý tốt tư tưởngcán bộ; 26,3% ý kiến cho rằng, đã quản lý tốt về đạo đức, lối sống cán bộ [44]
Bên cạnh đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là cấp ủy, tổ chức đảngĐoàn M46, Đoàn M62 đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo cơ quan quân y,hậu cần chăm lo, bảo đảm tốt sức khoẻ cho ĐNCB của đơn vị, để cán bộ đủđiều kiện thực hiện nhiệm vụ trên biển, đảo Những cán bộ không đủ phẩm
Trang 34chất, năng lực, sức khoẻ, kiên quyết không biên chế xuống tàu và điều động
ra đảo Vì vậy, trong những năm qua ĐNCB ở Vùng D Hải quân đã hoànthành khá tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, không có cán bộ nào có biểuhiện thoái thác nhiệm vụ
- Về hình thức, biện pháp quản lý:
Đã chú trọng quản lý đội ngũ cán bộ thông qua thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, thực tiễn đi biển và sinh hoạt cá nhân.
Quán triệt sâu sắc Nghị quyết 94-NQ/ĐUQSTW, ngày 29/4/1998 của
Đảng ủy quân sự Trung ương, Về xây dựng đội ngũ cán bộ trong tình hình mới: “Mọi phẩm giá, bằng cấp, danh hiệu và chức vụ cán bộ đều phải được
kiểm nghiệm qua hoạt động thực tiễn” [26, tr 5] Nhận thức được vai trò củacông tác quản lý ĐNCB thông qua hoạt động thực tiễn, trong những năm qua,các cấp ủy, tổ chức đảng ở Vùng D Hải quân đã tích cực quản lý ĐNCB thôngqua giáo dục, rèn luyện trong thực tế huấn luyện, SSCĐ, công tác, học tập vàcác nhiệm vụ đột xuất trên giao như: Phòng, chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạntrên biển; thường xuyên, chủ động bám, nắm tình hình hoạt động, “đi sâu, đisát cơ sở” [11, tr 14] và sâu sát từng cán bộ, thông qua các buổi làm việc, kiểmtra các đơn vị Đồng thời, đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp đã thường xuyên chỉđạo và tham gia huấn luyện, diễn tập với các đơn vị, đi biển với các tàu, để nắmchắc, hiểu rõ từng cán bộ và cả ĐNCB cả về phẩm chất, năng lực, phươngpháp, tác phong công tác và hành vi, lối sống, sinh hoạt cá nhân của từng cán
bộ Mặt khác, cấp ủy, tổ chức đảng các đơn vị đã thường xuyên giao nhiệm vụ,
tổ chức thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụcủa từng người và của đơn vị để quản lý chặt chẽ phẩm chất, năng lực của độingũ cán bộ Trong 5 năm qua Đảng ủy, Bộ chỉ huy Vùng D Hải quân đã tổ chứcnhiều phong trào hành động cách mạng, nổi bật là triển khai 8 phong trào thiđua lớn để ĐNCB tham gia, qua đó để quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ
Thông qua hoạt động thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, cấp ủy, tổ chứcđảng, cán bộ chủ trì các cấp đã biểu dương kịp thời những thành tích, những
Trang 35chiến công mà ĐNCB đạt được; đồng thời, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm
để cán bộ kịp thời khắc phục, sửa chữa, tránh được những vi phạm kỷ luậtkhông đáng có Qua thực tế huấn luyện, SSCĐ, học tập, công tác, ĐNCB ởVùng D Hải quân đã có bước tiến bộ, trưởng thành về mọi mặt
Đã phát huy khá tốt vai trò của cán bộ trong tự quản lý.
Những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở Vùng D Hải quân đãkết hợp khá tốt sự quản lý của tổ chức với tự quản lý của mỗi cán bộ Các cấp
ủy, tổ chức đảng đã tăng cường giáo dục động viên ĐNCB đề cao vai trò,trách nhiệm trong tự tu dưỡng, rèn luyện, tự quản lý, đồng thời, “kết hợp vớiđộng viên tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên tích cực học tập, tu dưỡng nângcao trình độ, có kế hoạch phân công cụ thể cho từng cấp ủy viên kèm cặp, theodõi giúp đỡ những đảng viên đủ tư cách có mặt hạn chế và đảng viên vi phạm
tư cách xác định rõ thời gian phấn đấu tiến bộ” [9, tr 4] Mỗi cán bộ đã đề caođược vai trò trong tự quản lý; kết hợp khá nhuần nhuyễn tự quản lý với tự giáodục, tự rèn luyện, tự phê bình; đồng thời, xây dựng kế hoạch tự quản lý hiệuquả, nhất là trong ngày nghỉ, giờ nghỉ, những lúc đi biển, đi công tác ở đảo, khitàu sửa chữa ở các xưởng, hay khi tàu neo đậu ở những bến cảng không thuộcphạm vi quản lý của đơn vị Vì vậy, phần đông cán bộ đã đề cao ý thức, tráchnhiệm, gương mẫu trong tự quản lý, trên cơ sở đó quản lý tốt đơn vị
Kết quả tự quản lý của cán bộ ở Vùng D Hải quân được thể hiện khá rõtrong việc chấp hành khá tốt kỷ luật quân đội, các chế độ, quy định của đơnvị; thể hiện trong giải quyết các mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, vớicông nhân viên quốc phòng, giữa đơn vị với cấp ủy, chính quyền địa phương
và với các đơn vị bạn trên địa bàn đóng quân Tỉ lệ vi phạm kỷ luật củaĐNCB đã giảm mạnh, từ 0,57% trong năm 2001 xuống còn 0,42% trong năm
2005 và 0,25% trong 6 tháng đầu năm 2006 [46]; kết quả hoàn thành nhiệm
vụ của cá nhân và đơn vị được nâng lên [47]
Công tác quản lý hồ sơ cán bộ đã có tiến bộ
Trang 36Trong những năm qua do thực hiện khá tốt công tác quản lý hồ sơ,nên hồ sơ của ĐNCB trong toàn Vùng được cập nhật, bổ sung thông tin kháthường xuyên và kịp thời; kết hợp chặt chẽ giữa quản lý hồ sơ cán bộ vớiquản lý hồ sơ đảng viên Ban cán bộ Vùng D Hải quân và trợ lý cán bộ các
lữ đoàn đã làm tốt công tác lưu trữ, bảo quản hồ sơ cán bộ không để thất lạc;đồng thời, phân cấp quản lý hồ sơ đúng quy định; đã từng bước cập nhật,quản lý thông tin của ĐNCB trên máy tính Theo kết quả khảo sát, trong 5năm từ năm 2001-2005, không có hồ sơ cán bộ nào bị thất lạc, hay khôngđược cập nhật thông tin
Đội ngũ cán bộ ở Đoàn M46 là cán bộ của các đơn vị trong toàn quânthay phiên 2 năm một lần làm nhiệm vụ trên quần đảo Trường Sa Hàng năm,Vùng D Hải quân phải nhận và bàn giao một số lượng khá lớn đội ngũ cán bộ
Do vậy, quản lý hồ sơ cán bộ gặp nhiều khó khăn, nhưng do sự cố gắng cao,
có trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là ban cán bộ vàđội ngũ trợ lý cán bộ, nên hồ sơ của cán bộ được quản lý chặt chẽ, giúp chocấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì đơn vị nắm chắc, có hệ thống lai lịchchính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống của từng cán bộ Hồ sơ của cán bộ nàocòn chưa rõ, đã kiên quyết giữ lại để thẩm tra kỹ mới biên chế ra đảo làmnhiệm vụ Sau khi cán bộ hết thời gian công tác trên quần đảo Trường Sa, cấp
ủy, tổ chức đảng, cơ quan cán bộ đã kịp thời bổ sung hồ sơ, giới thiệu cán bộ
về đơn vị cũ đúng quy định, không bị thất lạc, hay mất hồ sơ
Bên cạnh những ưu điểm trên, trong những năm qua cấp ủy, tổ chứcđảng các cấp ở Vùng D Hải quân đã thực hiện khá tốt việc kết hợp giữa quản
lý đội ngũ cán bộ với quản lý đội ngũ đảng viên; thường xuyên tạo điều kiệncho mọi cán bộ, chiến sĩ, mọi tổ chức, mọi lực lượng tham gia giám sát, phêbình tư cách và công việc của cán bộ, nên đã góp phần quản lý chặt chẽ độingũ cán bộ Nhiều biểu hiện tiêu cực, hạn chế của đội ngũ cán bộ ở các đơn
vị đã được cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị phản ánh cho cấp ủy, tổ chức đảng,
Trang 37cán bộ chủ trì, vì vậy, đã có biện pháp quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộkịp thời, có hiệu quả
Ba là, đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân có sự trưởng thành cả về phẩm chất, năng lực, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.
Chất lượng, hiệu quả công tác quản lý ĐNCB được thể hiện rõ nét nhất
ở sự trưởng thành, tiến bộ về mọi mặt cả về phẩm chất, năng lực, kết quảhoàn thành chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ
- Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ ở Vùng D Hải quân
Về phẩm chất chính trị: Đánh giá về thành tựu của công tác xây dựng
Đảng, xây dựng ĐNCB, quản lý cán bộ, Nghị quyết Đại hội Đại biểu Vùng DHải quân lần thứ VIII đã chỉ rõ: Trong “5 năm qua , cán bộ, chiến sĩ yên tâm,gắn bó xây dựng đơn vị, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định,tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thànhnhiệm vụ được giao” [11, tr 2] Thông qua nhiều công tác khác nhau, trong
đó có công tác quản lý, ĐNCB đã nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định với lýtưởng, mục tiêu XHCN, nhất trí cao với đường lối đổi mới, có thái độ kiênquyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc của Đảng.Đại bộ phận cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng trước những khó khăn thửthách để bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh hải của Tổ quốc, bảo vệ
an toàn căn cứ đóng quân Theo đánh giá của Chính ủy Vùng D Hải quân,hiện nay 100% cán bộ xác định tốt nhiệm vụ, sẵn sàng nhận và hoàn thànhmọi nhiệm vụ được giao, nhất là ĐNCB trên quần đảo Trường Sa
Về đạo đức, lối sống: Nét nổi bật, ĐNCB ở Vùng D Hải quân đã đề cao
ý thức tự giác trong quản lý, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, không ngừng nângcao phẩm chất đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh; có lòng yêubiển, yêu đảo, yêu tàu, thực sự coi: Tàu, đảo là nhà, biển cả là quê hương, gắn
bó với đơn vị, hết lòng vì đồng chí đồng đội Cán bộ, chiến sĩ coi nhau nhưanh em một nhà; có lối sống trong sạch, lành mạnh, “không có vụ việc nào
Trang 38tham nhũng, thất thoát lớn” [11, tr 14] Tuyệt đại đa số cán bộ - đảng viên đã
chấp hành nghiêm 19 điều đảng viên không được làm, không có biểu hiện
thoái hóa về đạo đức, lối sống, không sa vào các tiêu cực và tệ nạn xã hội.Cán bộ ở đảo, cán bộ ở tàu đã luôn quan tâm giáo dục bộ đội và tự bản thântiết kiệm xăng dầu, tiết kiệm rau xanh, nước ngọt, lương thực, thực phẩm,thông qua đó để rèn luyện lối sống trong sạch, lành mạnh
Về năng lực công tác: Bên cạnh việc quản lý tốt phẩm chất chính trị, tư
tưởng, đạo đức, lối sống, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở Vùng D Hải quân đãthường xuyên quan tâm quản lý năng lực công tác của cán bộ, giúp cho cán
bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Chính vì vậy, 5 năm qua, từ
2001-2005, các đơn vị của Vùng D Hải quân “đã kiên quyết xua đuổi và xử lý 53lần chiếc tàu, xuồng nước ngoài vi phạm vào gần đảo của ta, bắt giữ 110xuồng, phóng thích 48 xuồng, 245 người theo đúng đối sách, không để xảy raxung đột trong vùng biển quản lý” [11, tr 3] Khảo sát thực tế, trung bìnhhàng năm ĐNCB có mức độ hoàn thành tốt nhiệm vụ là 61,1% [47] Kết quả
đó cho thấy, công tác xây dựng ĐNCB nói chung, quản lý cán bộ nói riêng ởVùng D Hải quân đã có sự tiến bộ Đội ngũ cán bộ từng bước đáp ứng với yêucầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo, thềm lục địa và khu vựcđóng quân
Với những đơn vị trên quần đảo Trường Sa và các đảo ven bờ, đã khắcphục khó khăn về khí hậu, thời tiết, những khó khăn, thiếu thốn về vật chất,tinh thần, đã xác định tốt nhiệm vụ, an tâm công tác, gắn bó với đơn vị, vớiđảo Đến nay có 97,12% cán bộ hoàn thành nhiệm vụ ở mức tốt và khá [47].Với những đơn vị tàu, yêu cầu nhiệm vụ rất cao, hoạt động trong điều kiện giankhổ, nguy hiểm, sóng to, gió lớn, nhưng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ Nghịquyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng bộ Vùng D Hải quân đã tổng kết: Từ năm2000-2005, đã “tổ chức 106 lần/chiếc tàu vận chuyển 23.511 tấn hàng và 1.670lượt người ra đảo, vào bờ an toàn tuyệt đối, đạt 100% kế hoạch được giao” [11,
tr 3] Kết quả khảo sát thực tế cũng cho thấy, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của
Trang 39ĐNCB ở các đơn vị tàu luôn đạt trên 85% khá, tốt [47], góp phần quản lý tốtđơn vị, xây dựng đơn vị VMTD, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh
Đối với cán bộ khối bờ, đã thường xuyên “duy trì nghiêm, có nề nếpchế độ trực SSCĐ, trực chỉ huy, trực ban, trực chiến, tuần tra canh gác …Tổchức các cuộc diễn tập hàng năm đạt 100% khá và giỏi” [11, tr 3] “Tình hìnhchấp hành kỷ luật toàn Vùng có chuyển biến tiến bộ Tỉ lệ vi phạm kỷ luật củacác đơn vị trong toàn Vùng hàng năm giảm (năm 2001: 0,35% đến năm 2004còn 0,22%; giảm 0,14 %)” [11, tr 4]
Những kết quả trên cho thấy, công tác xây dựng ĐNCB nói chung,quản lý cán bộ nói riêng ở Vùng D Hải quân cơ bản đã thực hiện khá chặt chẽ,ĐNCB đã hoàn thành khá tốt chức trách, nhiệm vụ chính trị được giao, gópphần giữ vững ổn định tình hình chính trị khu vực đóng quân và chủ quyền
vùng biển, hải đảo của Tổ quốc
* Những hạn chế, khuyết điểm
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, công tác quản lý ĐNCB ở Vùng DHải quân trong những năm qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, khuyết điểm:
Một là, nhận thức về công tác quản lý đội ngũ cán bộ ở một số cấp ủy,
tổ chức đảng chưa cao; lãnh đạo, tổ chức thực hiện thiếu chặt chẽ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng.
Những năm qua, công tác quản lý ĐNCB ở Vùng D Hải quân đã đạtđược nhiều kết quả; tuy nhiên, một số cấp ủy, tổ chức đảng nhận thức về vị trí,vai trò, trách nhiệm đối với công tác quản lý ĐNCB chưa nhất quán, chưa cao;trong quá trình tổ chức thực hiện, nhiều lúc chưa chủ động, chưa tích cực, chưađồng bộ Việc nghiên cứu, quán triệt, vận dụng các nghị quyết, chỉ thị, hướngdẫn của đảng ủy và cơ quan chức năng cấp trên về công tác xây dựng ĐNCBnói chung, công tác quản lý cán bộ nói riêng ở một số chi ủy, chi bộ chưa sâusắc, tính chủ động, tính sáng tạo còn hạn chế; chất lượng sinh hoạt lãnh đạo vàsinh hoạt tự phê bình, phê bình có lúc chưa cao Nghị quyết lãnh đạo của một
số chi bộ chưa quan tâm đề cập nội dung quản lý ĐNCB; vì vậy, việc xác định
Trang 40hình thức, biện pháp quản lý cán bộ có lúc, có nơi, có thời điểm chưa thật sựphù hợp, chưa bám chắc vào thực tiễn và đặc điểm của đội ngũ cán bộ
Trong thời gian qua, mặc dù cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở Vùng DHải quân đã lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức, các lực lượng tham gia vào côngtác quản lý ĐNCB theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; tuy nhiên,nhận thức của một số tổ chức, một số cá nhân về vai trò công tác quản lýĐNCB vẫn còn hạn chế Có cán bộ chủ trì chưa duy trì nghiêm Điều lệnh,Điều lệ, kỷ luật của quân đội, quy định của đơn vị Nghị quyết Đại hội lần thứVIII của Đảng bộ Vùng D Hải quân đã chỉ rõ: Một số cán bộ chủ trì “chưa coitrọng đúng mức giáo dục, rèn luyện, quản lý bộ đội; duy trì nề nếp chưanghiêm túc, thiếu chặt chẽ, cá biệt có lúc buông lỏng” [11, tr 15] Các tàu vậntải quân sự còn dễ dãi, bỏ qua một số chế độ trong ngày, trong tuần Dẫn đếncán bộ vi phạm kỷ luật Một số cán bộ chủ trì chưa thực sự gương mẫu trong
tự quản lý, nên chưa quản lý tốt đơn vị và ĐNCB thuộc quyền Có cấp ủyđảng và cán bộ chủ trì chưa coi trọng liên hệ chặt chẽ với các đơn vị bạn vàcấp ủy, chính quyền địa phương để thường xuyên để trao đổi, tổ chức rút kinhnghiệm trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên của đơn vị Các hình thứcgiao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị với địa phương còn mang tính hình thức
Công tác quản lý cán bộ ở Vùng D Hải quân có thời kỳ, có giai đoạnchưa phát huy tốt sức mạnh tổng hợp và sự phối kết hợp giữa các tổ chức, cáclực lượng trong đơn vị thiếu chặt chẽ, “còn có biểu hiện khoán trắng, xem nhẹcông tác quần chúng, nên chưa phát huy hết vai trò của các tổ chức quầnchúng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị” [11, tr 15], trong đó có công tácquản lý cán bộ Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị nhận thức chưa đầy
đủ về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia quản lý ĐNCB,còn coi đó là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ chủ trì; do
đó, chỉ tập trung vào hoàn thành chức trách, nhiệm vụ chuyên môn, ít quantâm giám sát, quản lý cán bộ Biểu hiện, việc tham gia đóng góp ý kiến xây