LÊ THỊ THU HÒA NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA Chuyên ngành: Địa lí tự nhiên Mã số: 9.44.02.17 LUẬN ÁN TI
Trang 1LÊ THỊ THU HÒA
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP
VÀ DU LỊCH HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Địa lí tự nhiên
Mã số: 9.44.02.17
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học :
GS.TSKH PHẠM HOÀNG HẢI PGS.TS ĐẶNG DUY LỢI
HÀ NỘI - 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lê Thị Thu Hòa, nghiên cứu sinh khóa K36 Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, chuyên ngành Địa lí tự nhiên, xin cam đoan:
1 Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Phạm Hoàng Hải và PGS.TS Đặng Duy Lợi từ năm 2016 đến năm 2020
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2022
Nghiên cứu sinh
Lê Thị Thu Hòa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội theo chương trình đào tạo nghiên cứu sinh khóa 36 niên khóa 2016 - 2020 Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Địa lí, Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tôi cũng đã nhận được sự hỗ trợ của Viện Địa lí, Thư viện Quốc gia Việt Nam, UBND tỉnh Sơn La, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn La, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La, Tổ chức Nghiên cứu Nông Lâm Quốc tế (ICRAF), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La, UBND huyện Mộc Châu, Phòng Nông nghiệp huyện Mộc Châu, Phòng Văn hóa huyện Mộc Châu Nhân dịp này, tôi xin cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới GS.TSKH Phạm Hoàng Hải, PGS.TS Đặng Duy Lợi, đã dành nhiều thời gian và công sức hướng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, Ban Chủ nhiệm Khoa Khoa học Xã hội, đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân, đặc biệt là bố mẹ, các anh chị em trong gia đình, chồng, các con của tôi cùng các đồng nghiệp, cộng sự, bạn bè đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cả về vật chất, tinh thần
để tôi hoàn thành luận án
Nghiên cứu sinh
Lê Thị Thu Hòa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Cơ sở tài liệu của luận án 3
6 Luận điểm bảo vệ 3
7 Những điểm mới của luận án 3
8 Ý nghĩa khoa học của luận án 4
9 Cấu trúc của luận án 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH 5
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về cảnh quan trên thế giới 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phát triển nông lâm nghiệp 11
1.1.3 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phát triển du lịch 14
1.1.4 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Sơn La và Mộc Châu 17
1.2 LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH 21
1.2.1 Phân loại cảnh quan 21
1.2.2 Phân vùng cảnh quan 25
1.2.3 Đánh giá cảnh quan 27
1.2.4 Cấu trúc cảnh quan và mối quan hệ với các ngành kinh tế 28
1.2.5 Động lực của cảnh quan 34
1.2.6 Chức năng cảnh quan 37
1.3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU 44
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 44
Trang 51.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 45
1.3.3 Quy trình thực hiện luận án 49
Tiểu kết chương 1 51
CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA 52
2.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỨNG CẢNH QUAN HUYỆN MỘC CHÂU VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NGÀNH KINH TẾ 52
2.1.1 Vị trí Địa lí 52
2.1.2 Địa chất - Hợp phần tạo nên nền rắn và dinh dưỡng cảnh quan huyện Mộc Châu 53
2.1.3 Địa hình và các quá trình địa mạo - Nhân tố phân bố lại vật chất rắn và năng lượng 55
2.1.4 Khí hậu - Nhân tố thành tạo nền tảng nhiệt ẩm 58
2.1.5 Thủy văn - Nhân tố thành tạo nền tảng ẩm 64
2.1.6 Thổ nhưỡng - Nhân tố thành tạo nền tảng dinh dưỡng cảnh quan 65
2.1.7 Thảm thực vật - nhân tố chỉ thị cảnh quan 69
2.1.8 Hoạt động nhân sinh - Nhân tố biến đổi cảnh quan 81
2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ PHÂN HÓA CẢNH QUAN HUYỆN MỘC CHÂU 86
2.2.1 Hệ thống cảnh quan huyện Mộc Châu tỷ lệ 1:50.000 86
2.2.2 Đặc điểm cấu trúc ngang cảnh quan huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 88
2.2.3 Phân vùng cảnh quan 92
2.3 ĐỘNG LỰC VÀ CHỨC NĂNG CẢNH QUAN HUYỆN MỘC CHÂU 95
2.3.1 Tính nhịp điệu mùa của cảnh quan (động lực nhịp điệu của cảnh quan) 95
2.3.2 Các quá trình động lực và tai biến thiên nhiên 97
2.3.3 Chức năng cảnh quan 99
Tiểu kết chương 2 102
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH 103
HUYỆN MỘC CHÂU 103
Trang 63.1 NGUYÊN TẮC, ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO HUYỆN MỘC CHÂU 103 3.2 ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI SINH THÁI CẢNH CẢNH QUAN HUYỆN MỘC CHÂU CHO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 103
3.2.1 Lý do lựa chọn các loại hình và cây trồng để đánh giá cho nông nghiệp huyện Mộc Châu 103 3.2.2 Điều kiện sinh thái của các loại hình nông nghiệp và các loại cây trồng 106 3.2.3 Hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và thang bậc đánh giá các loại hình nông nghiệp cho địa bàn huyện Mộc Châu 108 3.2.4 Kết quả đánh giá cảnh quan cho ngành nông nghiệp 110
3.3 ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI SINH THÁI CẢNH QUAN HUYỆN MỘC CHÂU CHO PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP 114
3.3.1 Cơ sở lựa chọn loại hình lâm nghiệp và cây trồng lâm nghiệp để đánh giá 114 3.3.2 Điều kiện sinh thái cây Sơn tra 117 3.3.3 Hệ thống các tiêu chí, chỉ tiêu và thang thứ bậc đánh giá 118 3.3.4 Kết quả đánh giá cho lâm nghiệp 121
3.4 ĐÁNH GIÁ SINH THÁI CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN MỘC CHÂU 125
3.4.1 Cơ sở để lựa chọn loại hình du lịch nghỉ dưỡng và tham quan để đánh giá thích nghi sinh thái cho huyện Mộc Châu 125 3.4.2 Hệ thống tiêu chí và thang bậc đánh giá cảnh quan cho du lịch 126 3.4.3 Kết quả đánh giá cảnh quan cho du lịch 132
3.5 ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NÔNG LÂM NGHIỆP, DU LỊCH VÀ XÁC LẬP MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI CHO ĐỊA BÀN HUYỆN MỘC CHÂU 133
3.5.1 Quan điểm định hướng 133 3.5.2 Căn cứ định hướng 134 3.5.3 Định hướng phân bố không gian phát triển nông lâm nghiệp và du lịch huyện Mộc Châu 138
Trang 73.5.4 Định hướng không gian ưu tiên phát triển các tiểu vùng chức năng 143
Tiểu kết chương 3 146
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
KẾT LUẬN 147
KIẾN NGHỊ 149
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Hệ thống phân loại cảnh quan của Phạm Hoàng Hải và cộng sự 25
Bảng 1.2 Các nhóm chức năng của cảnh quan và hệ sinh thái (TEEB,2010) 37
Bảng 1.3 Dịch vụ hệ sinh thái rừng 41
Bảng 2.1 Số giờ nắng trung bình tháng huyện Mộc Châu giai đoạn 2008 - 2018 58
Bảng 2.2 Độ ẩm trung bình tháng tại trạm Mộc Châu giai đoạn 2008 - 2018 (%) 60
Bảng 2.3 Đặc điểm phân hóa các loại sinh khí hậu huyện Mộc Châu 62
Bảng 2.4 Kết quả các chỉ số phụ và chỉ số du lịch tại huyện Mộc Châu, 63
Bảng 2.5 Các loại đất trên địa bàn huyện Mộc Châu 65
Bảng 2.6 Diện tích các loại thảm thực vật huyện Mộc Châu 71
Bảng 2.7 Mười chi đa dạng nhất tại Khu bảo tồn Xuân Nha huyện Mộc Châu 77
Bảng 2.8 Phân bố các loài quý hiếm theo đai cao huyện Mộc Châu 79
Bảng 2.9 Tổng hợp tính đa dạng văn hóa của các dân tộc huyện Mộc Châu 85
Bảng 2.10 Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 87
Bảng 2.11 Tổng hợp các nhóm loại cảnh quan huyện Mộc Châu 91
Bảng 2.12 Hệ thống các chỉ tiêu phân vùng cảnh quan huyện Mộc Châu 93
Bảng 2.13 Phân cấp chế độ nhiệt ẩm 95
Bảng 2.14 Tỷ lệ diện tích các cấp phân vùng cảnh báo nguy cơ trượt lở đất đá 97
Bảng 2.15 Công dụng của các loài thực vật tại huyện Mộc Châu 100
Bảng 3.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thích nghi sinh thái cho cây Khoai môn 109
Bảng 3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá thích nghi sinh thái cho cỏ Mombasa Ghine 110
Bảng 3.3 Bảng phân cấp mức độ thích nghi sinh thái cho các loại hình nông nghiệp 110
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá cảnh quan cho phát triển cây Khoai môn 111
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá mức độ thích nghi sinh thái cây Khoai môn 112
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá diện tích cảnh quan cho phát triển cỏ Mombasa Ghine 113
Bảng 3.7 Kết quả đánh giá diện tích mức độ thích nghi sinh thái cỏ Mombasa Ghinê 114
Bảng 3.8 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá CQ cho phát triển rừng phòng hộ Mộc Châu 119
Bảng 3.9 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá CQ cho phát triển rừng sản xuất tại Mộc Châu 119 Bảng 3.10 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá cảnh quan cho cây Sơn tra huyện Mộc Châu 119
Bảng 3.11 Phân cấp mức độ thích nghi sinh thái cho các loại hình lâm nghiệp 121
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá diện tích mức độ ưu tiên rừng phòng hộ 121
Trang 9Bảng 3.13 Kết quả đánh giá diện tích mức độ ưu tiên rừng phòng hộ 122
Bảng 3.14 Kết quả đánh giá mức độ thích hợp phát triển rừng sản xuất 123
Bảng 3.15 Kết quả đánh giá diện tích mức độ thích hợp phát triển rừng sản xuất 123 Bảng 3.16 Kết quả đánh giá thích nghi sinh thái cho cây Sơn tra 124
Bảng 3.17 Kết quả đánh giá diện tích mức độ thích nghi cây Sơn tra 125
Bảng 3.18 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá du lịch nghỉ dưỡng huyện Mộc Châu 127
Bảng 3.19 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá du lịch tham quan huyện Mộc Châu 128
Bảng 3.20 Thống kê các loại tài nguyên du lịch huyện Mộc Châu 129
Bảng 3.21 Phân cấp mức độ thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng và tham quan 130
Bảng 3.22: Kết quả đánh giá cảnh quan cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng 130
Bảng 3.23: Kết quả đánh giá diện tích mức độ thích hợp hợp của du lịch nghỉ dưỡng 131 Bảng 3.24 Kết quả đánh giá cảnh quan cho phát triển du lịch tham quan 132
Bảng 3.25 Kết quả đánh giá diện tích mức độ thích hợp của du lịch tham quan 133
Bảng 3.26 Ma trận tam giác thể hiện các mức độ quan trọng của các loại hình sản xuất tại huyện Mộc Châu 137
Bảng 3.27 Trọng số các loại hình sản xuất quy hoạch tại huyện Mộc Châu 137
Bảng 3.28 Đề xuất không gian phát triển nông lâm nghiệp và du lịch 139
Bảng 3.29 Đề xuất không gian ưu tiên phát triển mô hình kinh tế sinh thái 142
Bảng 3.30 Định hướng phân bố không gian phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tiểu vùng chức năng núi thấp Tân Hợp - Hua Păng 143
Bảng 3.31 Định hướng phân bố không gian phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tiểu vùng chức năng cao nguyên nông trường Mộc Châu 144
Bảng 3.32 Định hướng phân bố không gian phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tiểu vùng biên giới Việt - Lào, Chiềng Khừa, Chiềng Sơn 144
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1.Tầm quan trọng của cảnh quan và hệ sinh thái núi với hạ lưu 38
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa chức năng cảnh quan và ngành nông nghiệp 40
Hình 1.3 Sơ đồ tuyến thực địa tại địa bàn huyện Mộc Châu 48
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Mộc Châu sau trang 52 Hình 2.2 Mô hình 3D địa hình Mộc Châu trang 56 Hình 2.3 Bản đồ địa mạo huyện Mộc Châu sau trang 57 Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện nhiệt độ lượng mưa giai đoạn 1961 - 2018 59
Hình 2.5 Số ngày rét, đậm rét hại trung bình tháng trạm Mộc Châu 61
Hình 2.6 Số ngày sương mù trung bình tháng giai đoạn 2009 –2019 61
Hình 2.7 Bản đồ sinh khí hậu huyện Mộc Châu sau trang 62 Hình 2.8 Biểu đồ biến thiên chỉ số TCI huyện Mộc Châu các tháng trong năm 63
Hình 2.9 Bản đồ thổ nhưỡng huyện Mộc Châu sau trang 65 Hình 2.10 Mô phỏng các kiểu thảm tự nhiên theo đai cao tại huyện Mộc Châu 70
Hình 2.11 Bản đồ thảm thực vật huyện Mộc Châu sau trang 71 Hình 2.12 Rừng kín thường xanh trên các loại đá mẹ khác nhau tại biên giới 75
Hình 2.13 Tiêu bản loài Ficus acamptophylla (Miq.)Miq – Sung acamp 78
Hình 2.14 Tiêu bản loài Rhododendron pseudochrysanthum Hayata - Đỗ quyên Xuân Nha 78
Hình 2.15 Các mảnh nương lúa trên gần đỉnh núi tại xã Chiềng Sơn 84
Hình 2.16 Bản đồ cảnh quan huyện Mộc Châu sau trang 89 Hình 2.17 Chú giải bản đồ cảnh quan huyện Mộc Châu sau trang 89 Hình 2.18 Lát cắt cảnh quan huyện Mộc Châu sau trang 89 Hình 2.19 Bản đồ phân vùng cảnh quan huyện Mộc Châu sau trang 93 Hình 2.20 Biểu đồ thế hiện biến thiên lượng mưa trung bình năm huyện Mộc Châu 95 Hình 2.21 Biểu đồ thế hiện biến thiên nhiệt độ trung bình năm huyện Mộc Châu 96 Hình 2.22 Biến thiên chỉ số khô hạn trong năm tại huyện Mộc Châu 96
Hình 3.1 Mô hình trồng cỏ kết hợp Sơn tra tại Điện Biên 106
Hình 3.2 Mô hình trồng cỏ Mombasa Ghine kết hợp trồng cây ăn quả 106
Hình 3.3 Khoai môn lòng vàng còn được gọi là khoai sọ Mán 107 Hình 3.4 Bản đồ đánh giá thích nghi sinh thái cây Khoai môn sau trang 111
Trang 11Hình 3.5 Một đồng cỏ Mombasa Ghine phát triển tốt giữa mùa đông 113 Hình 3.6 Bản đồ đánh giá thích nghi sinh thái Cỏ Mombasha Ghine sau trang 113 Hình 3.7 Sơn tra được trồng xen canh với nhãn, soài, bơ, lúa nương 116 Hình 3.8 Chất lượng không đều của quả Sơn tra trồng tại xã Chiềng Hắc, 117 Hình 3.9 Bản đồ đánh giá mức độ ưu tiên thái rừng phòng hộ sau trang 121 Hình 3.10 Bản đồ đánh giá thích hợp phát triển rừng sản xuất sau trang 123 hình 3.11 Bản đồ đánh giá thích nghi sinh thái cây Sơn tra sau trang 124 Hình 3.12 Bản đồ tài nguyên du lịch huyện Mộc Châu sau trang 129 Hình 3.13 Bản đánh giá mức độ thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng sau trang 130 hình 3.14 Bản đồ đánh giá mức độ thích hợp cho du lịch tham quan sau trang 132 Hình 3.15 Bản đồ kiến nghị phân bố không gian sản xuất sau trang 139 Hình 3.16 Biểu đồ thể hiện diện tích các mô hình kinh tế sinh thái 141
Trang 12ĐKTN Điều kiện tự nhiên
FAO Tổ chức Nông lương quốc tế
GPS Hệ thống định vị toàn cầu
GIS Hệ Thông tin Địa lí
HST Hệ sinh thái
ICRAF Tổ chức nghiên cứu nông lâm quốc tế
KTST Kinh tế sinh thái
MEA Các đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỉ
NCCQ Nghiên cứu cảnh quan
NCS Nghiên cứu sinh
PVCQ Phân vùng cảnh quan
PVĐLTN Phân vùng Địa lí tự nhiên
REDD Chương trình của Liên hợp quốc về giảm phát thải từ mất rừng và
suy thoái rừng
STCQ Sinh thái cảnh quan
TEEB Kinh tế học về các hệ sinh thái và đa dạng sinh học
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
TTNT Thị trấn
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu phát triển bền vững là mục tiêu thiên niên kỉ không chỉ của toàn cầu
mà còn là mục tiêu mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong đó có huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Huyện Mộc Châu thuộc một phần cao nguyên Mộc Châu, nằm ở độ cao trên
1050 m so với mực nước biển, nơi đây dặc trưng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, quy luật đai cao chi phối mạnh mẽ điều kiện tự nhiên của huyện Mộc Châu
có hệ thống cảnh quan đa dạng, tài nguyên đất rừng phong phú, khí hậu trong lành, nguồn lực tự nhiên và văn hóa đặc sắc Ngay từ cuối thế kỉ XIX, khi tiến hành khảo sát để khai thác thuộc địa và xây dựng các khu an dưỡng ở Đông Dương, người Pháp
đã nhận ra ưu thế của Mộc Châu so với các địa phương khác Cụ thể: “Cao nguyên
Mộc Châu: mát hơn và ít ẩm hơn Tam Đảo, rộng hơn Sa Pa Từ tháng 5 tới tháng 9 nhiệt độ không vượt quá 23 đến 24 độ C, dễ chịu hơn Sa Pa, Tam Đảo, Lang Bian, Trấn Ninh Nằm gần Hà Nội, để vào đó không cần tuyến đường đặc biệt nào”[140]
Dựa trên những tiềm năng đó, các ngành kinh tế nông lâm nghiệp và du lịch của huyện có vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm 93% cơ cấu GDP (2021) Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên ở đây trong một thời gian dài còn thiếu đồng bộ, chưa có cơ sở khoa học vững chắc
Ngành Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của phần đông dân cư nhưng sản xuất mang tính chất độc canh (ngô và lúa) Trong đó, người Mông - dân tộc
được gọi là “những người chạy theo nương rẫy” trong một thời gian dài với lối
sống du canh du cư và lối canh tác thiếu các biện pháp bảo vệ đất đã khiến đất ở đây bị xói mòn, rửa trôi, mất khả năng canh tác
Sở hữu một diện tích rừng có trữ lượng khá, có mức đa dạng sinh học cao nhưng nhiều diện tích rừng đã bị thu hẹp, các chức năng cung cấp, sinh cảnh, đặc biệt là chức năng điều tiết của rừng bị suy giảm nghiêm trọng Hiện nay các hiện tượng thời tiết cực đoan ở Mộc Châu đang có xu hướng gia tăng, quy luật mùa vụ bị phá vỡ, sản xuất của người dân trở nên bị động, bấp bênh
Ngành du lịch là ngành kinh tế trẻ và rất quan trọng của Mộc Châu Nhờ du lịch, thu nhập của người dân được tăng lên, cơ cấu kinh tế của huyện được chuyển dịch theo hướng tích cực Tuy nhiên, phát triển du lịch còn mang tính tự phát, giá trị thẩm mĩ của điểm đến chưa được khai thác hợp lí Thực tế cho thấy, thời gian lưu trú của du khách đến Mộc Châu thường ngắn và ý định quay trở lại không nhiều
Trang 14Để có đánh giá tổng thể, giúp các nhà quản lý tham khảo trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, phát triển bền vững các ngành nông lâm nghiệp, du lịch thì hướng nghiên cứu tổng hợp ĐKTN của huyện để làm cơ sở tổ chức không gian phát triển các ngành kinh tế có ý nghĩa quan trọng Từ
những lý do trên tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho mục
đích phát triển nông lâm nghiệp và du lịch huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La” làm đề
tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục tiêu
Mục tiêu của luận án được xác định là “Xác lập những cơ sở khoa học cho việc
sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển nông lâm nghiệp và du lịch bền vững trên cơ sở nghiên cứu quy luật hình thành cấu trúc cảnh quan huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La”
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện 5 nhiệm vụ chính:
- Xây dựng cơ sở lý luận, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp và du lịch huyện Mộc Châu
- Nghiên cứu đặc trưng, vai trò nhân tố thành tạo và đặc điểm phân hóa cảnh quan, xây dựng hệ thống phân loại và thành lập bản đồ cảnh quan huyện Mộc Châu
- Phân tích đặc điểm các đơn vị phân loại, phân vùng cảnh quan huyện Mộc Châu
- Đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp và
du lịch Từ đó, xác định vùng thích nghi sinh thái cho phát triển nông lâm nghiệp và
du lịch huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
- Định hướng không gian cho phát triển nông lâm nghiệp và du lịch ở cấp cảnh quan và tiểu vùng cảnh quan cho huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Lãnh thổ nghiên cứu
Đề tài thực hiện theo quy mô cấp huyện: Toàn bộ huyện Mộc Châu có diện tích 107.169,92 ha, với 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Mộc Châu, Thị trấn Nông Trường, các xã: Chiềng Hắc, Chiềng Khừa, Chiềng Sơn, Đông Sang, Hua Păng, Lóng Sập, Mường Sang, Nà Mường, Tân Hợp, Tân Lập, Tà Lại, Phiêng Luông, Quy Hướng
4.2 Nội dung nghiên cứu
Với mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu những vấn đề sau:
Trang 15- Tập trung nghiên cứu cấu trúc cảnh quan (cấu trúc đứng và cầu trúc ngang) cảnh quan huyện Mộc Châu
- Đánh giá được giới hạn chính cho 3 loại hình sản xuất nông lâm nghiệp và du lịch theo mức tương thích với tài nguyên của lãnh thổ
- Đề xuất các không gian ưu tiên với phát triển các ngành kinh tế và mô hình kinh tế sinh thái với đơn vị cơ sở là loại cảnh quan và tiểu vùng cảnh quan
5 Cơ sở tài liệu của luận án
- Tư liệu khoa học: gồm các sách, bài báo khoa học về lý thuyết và ứng dụng
trong các lĩnh vực nghiên cứu của luận án; các đề tài, dự án nghiên cứu tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
- Tư liệu bản đồ: hệ thống bản đồ được cung cấp bởi Bộ Tài nguyên và Môi
trường (Bản đồ địa hình), Viện Thổ nhưỡng và Nông hóa (Bản đồ thổ nhưỡng); Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Sơn La (Bản đồ hiện trạng rừng), Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La (Bản đồ hành chính)
- Các số liệu, kết quả khảo sát, điều tra thực địa trong quá trình thực hiện luận
án giai đoạn 2016 - 2020
6 Luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Huyện Mộc Châu nằm trong hệ cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt
Nam và phụ hệ thống gió mùa cao nguyên có mùa đông lạnh, tương tác giữa các nhân tố hình thành cảnh quan nhất là quy luật đai cao đã quy định sự phân hóa cảnh quan lãnh thổ
miền núi ở cấp huyện thành 3 lớp, 4 phụ lớp, 4 kiểu và 175 loại cảnh quan
- Luận điểm 2: Các không gian phát triển nông lâm nghiệp và du lịch huyện
Mộc Châu (các đơn vị cảnh quan và tiểu vùng cảnh quan) được đề xuất có cơ sở khoa học dựa trên tích hợp kết quả nghiên cứu, đánh giá cảnh quan theo tiếp cận sinh thái tổng hợp và dựa trên quan điểm bền vững là chủ đạo
- Luận điểm 3: Huyện Mộc Châu tồn tại 3 tiểu vùng cảnh quan, mỗi tiểu vùng
cảnh quan có tính ứng dụng về nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch (có khả năng khai thác nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch khác nhau)
7 Những điểm mới của luận án
- Điểm mới 1: Làm rõ được tính đặc thù trong cấu trúc và phân hóa cảnh quan
huyện Mộc Châu (tỉ lệ 1/50.000) dựa theo tiếp cận sinh thái cảnh quan và tiếp cận nhân sinh, tạo cơ sở khoa học cho định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp
và du lịch huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La
Trang 16- Điểm mới 2: Bước đầu tính toán được chỉ số khí hậu du lịch, chỉ số khí hậu
khô hạn từ đó lượng hóa được động lực cảnh quan của địa bàn nghiên cứu
- Điểm mới 3: Xác định được các không gian ưu tiên phát triển nông lâm
nghiệp, du lịch cho các loại cảnh quan và tiểu vùng cảnh quan thông qua các kết quả nghiên cứu, đánh giá cảnh quan Các kết quả này được minh họa bằng tập bản
đồ chuyên đề về đánh giá và kiến nghị sử dụng cảnh quan
8 Ý nghĩa khoa học của luận án
8.1 Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài về lãnh thổ góp phần làm
phong phú hệ thống tri thức khoa học về cảnh quan cao nguyên trong môi trường nhiệt đới gió mùa Việt Nam
8.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu phục vụ việc
giảng dạy, nghiên cứu về địa lí tự nhiên, du lịch và là cơ sở giúp các nhà hoạch định chính sách có những giải pháp phát triển nông lâm nghiệp và du lịch bền vững huyện Mộc Châu
9 Cấu trúc của luận án
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan cho phát triển nông lâm nghiệp và du lịch
Chương 2: Các nhân tố thành tạo cảnh quan huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và mối quan hệ với các ngành kinh tế
Chương 3: Đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp và du lịch
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH 1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về cảnh quan trên thế giới
Nghiên cứu cảnh quan là một hướng nghiên cứu Địa lí tổng hợp, xuất hiện khá sớm, được định hình cả về cơ sở lý luận và những nghiên cứu ứng dụng ở các thập niên cuối của thế kỷ XIX
Trường phái các nhà khoa học Nga: Về cơ bản, khoa học cảnh quan ở Nga
xuất hiện sớm, ban đầu tiếp cận nghiên cứu theo hướng tự nhiên đơn thuần Đặt nền móng đầu tiên cho khoa học cảnh quan ở Nga là V.V Docuchaev với nhận định
coi“đất là sản phẩm tương tác lâu dài của các thành phần tự nhiên, là tấm gương
phản ánh cảnh quan” Kế tiếp là các học thuyết về đới tự nhiên: “mỗi đới tự nhiên là một tổng hợp thiên nhiên có quy luật, các thành phần tự nhiên có liên quan chặt chẽ
và tạo điều kiện lẫn nhau” (trích theo Oldfied and Shaw, 2015)[115] Sau đó, các tác
giả là A.N.Krasnov, G.F.Morozov, G.N.Vysotsyk, L.S Berg đã phát triển lí thuyết về
cảnh quan và thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên Năm 1915, L.S.Berg đã đưa ra định nghĩa “cảnh quan là một khu vực trong đó tính chất của phù điêu, khí hậu, thảm thực
vật và lớp phủ đất hợp nhất thành một tổng thể hài hòa duy nhất Chi tiết hơn,
G.N.Vysotsky phát triển và đưa ra chỉ số nhiệt ẩm” để phân định các vùng tự nhiên
Một số nhà khoa học (R.I.Abolin và BB Polynov, I.V Larinu) nghiên cứu các vấn đề
tổ chức phân cấp của các phức hợp cảnh quan, sử dụng các nguyên tắc phân vùng
khác nhau (theo Ixatxenko, 1969)[37]
Từ cuối thể kỉ XX cho đến nay khoa học cảnh quan ở Nga phát triển theo 3 hướng chính:
Thứ nhất: Khoa học cảnh quan tiếp cận theo hướng hệ thống, tổng hợp và xuất hiện các hệ thống phân loại cảnh quan ở quy mô khác nhau V.B Sochava (1963) đã
tiếp cận cảnh quan ở ở ba cấp: hành tinh, khu vực và địa phương; V.A Nikolaev (1979) và G.I Yurenkov (1982) đã đề xuất một hệ thống các đơn vị phân loại cảnh quan dựa trên nghiên cứu tổng hợp tự nhiên các vùng lãnh thổ khác nhau của Nga (Trích theo Karakov, 2008) [153] Đặc biệt, A.G Ixatsenko (1964) đã xây dựng bản
đồ cảnh quan Liên Xô tỷ lệ 1:4.000.000 và đưa phân loại cảnh quan thành các đơn vị:
Trang 18nhóm, hàng, lớp, loại cảnh quan (A.G Ixatsenko, 1985)[38]
Thứ hai, đối tượng nghiên cứu cảnh quan mở rộng từ các nhân tố và hiện tượng
tự nhiên đơn thuần sang cảnh quan nhân sinh và ứng dụng F.N Milkova đã mở ra
hướng khoa học cảnh quan nhân tạo, đã đi sâu nghiên cứu vị trí của con người và tác
động của con người vào cảnh quan tự nhiên (Theo Karakov, 2008) [153]
A.G.Ixatsenko với nghiên cứu "Khoa học cảnh quan ứng dụng" (1985) đi sâu nghiên
cứu mối quan hệ giữa sản xuất của con người và tự nhiên [38] Những năm đầu thế kỉ
XXI, ông đã công bố nghiên cứu Địa lí sinh thái học Nga (2003), đánh giá hiện trạng
sinh thái môi trường của nước Nga theo vùng và khu vực dựa trên cơ sở cảnh quan học
và yếu tố nhân sinh [143] Ngoài ra, còn có các nghiên cứu cảnh quan phục vụ quy hoạch để bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên các vùng đất xa xôi, giàu tài nguyên và
dễ bị tổn thương với tai biến thiên nhiên như: Antai, Siberia, vùng núi [145, 151]
Thứ ba, nghiên cứu cảnh quan chú ý đến sử dụng hợp lí điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nước Nga Các nghiên cứu nổi bật gồm: Cấu trúc cảnh quan Trái đất, định cư và quản lý thiên nhiên” (A.G Ixatsenko, 2008) [152]; Các chỉ số Địa
lí cho sử phát triển bền vững (T.V Shikotarova, 2012)[147] Về nghiên cứu cơ sở lí
luận có công trình “Quy hoạch cảnh quan với các yếu tố của sinh thái kỹ thuật’’(A.V
Drozdov, 2006) đã làm rõ các nguyên tắc khác nhau để tiến hành quy hoạch cảnh quan, chú ý đến sự nhạy cảm của các thành phần cảnh quan, các xung đột môi trường làm cơ sở để quy hoạch cảnh quan và sử dụng đất [150]
Trường phái nghiên cứu cảnh quan ở Tây Âu: Khác biệt với hướng tiếp cận
của Nga, các nhà khoa học Tây Âu thường tiếp cận cảnh quan theo hướng nhân sinh, văn hóa và sinh thái cảnh quan Năm 1908, Paul Vidal De La Blache đã tiếp cận gần
đến khái niệm cảnh quan văn hóa hiện nay khi công nhận tầm quan trọng của xã hội
địa phương và phong tục tập quán trong việc tổ chức cảnh quan, ông cũng coi cảnh quan tự nhiên và xã hội là sự thống nhất toàn diện Sinh thái cảnh quan thực sự ra đời
ở đây vào năm 1939, khi Carl Troll đã sử dụng ảnh hàng không để nghiên cứu cảnh quan vùng Đông Phi và chỉ ra mối quan hệ giữa Địa lí và sinh thái Ông cũng là người
đầu tiên sử dụng thuật ngữ “sinh thái cảnh quan” nhằm nhấn mạnh tính thống nhất của sinh thái và cảnh quan Nhiều nhà khoa học cho đây là “hôn nhân giữa sinh thái học
và Địa lí” (Antrop, 2000) [84]
Về cơ bản, khoa học cảnh quan ở Châu Âu có hai đặc trưng chính:
Trang 19Thứ nhất, nghiên cứu cảnh quan có tính chất liên ngành sâu rộng nhằm ứng
phó với các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu (Wu, 2006; Wu, 2012)[130, 131] Phương thức hợp tác thông qua các tạp chí quốc tế làm phương tiện công bố kết quả chung Chương trình khung Châu Âu (EU) đã thống nhất chính sách khoa học và điều phối các hoạt động nghiên cứu cảnh quan Năm 2000, các quốc gia thành viên của Hội đồng Châu Âu ký kết Công ước Cảnh quan Châu Âu nhằm đạt được sự phát triển bền vững dựa trên mối quan hệ cân bằng và hài hòa giữa nhu cầu xã hội, hoạt động kinh tế
và môi trường [93]
Thứ hai, các nghiên cứu tập trung định lượng và định tính các dịch vụ hệ sinh thái
và chức năng cảnh quan Thậm chí các nghiên cứu vượt ra ngoài phạm trù nghiên cứu của
sinh thái học, bao gồm: tối đa hóa hiệu quả của không gian đất, quản lý không gian sinh thái (môi trường sống) trong đó đặc biệt đề cao đa dạng sinh học Các nước đã hợp tác để đưa ra các công bố chung, nhất là đưa ra khung các dịch vụ hệ sinh thái, các phương pháp đánh giá và bảo vệ các dịch vụ hệ sinh thái (MEA, 2003; MEA, 2005;Turner, 2015) [83,
112, 127] Khung dịch vụ hệ sinh thái đã giúp tác giả có nhìn nhận đầy đủ và chuẩn xác hơn về các giá trị của cảnh quan và hệ sinh thái đối với con người, nhất là ở địa bàn miền núi, dịch vụ hệ sinh thái càng cần được quan tâm và bảo vệ
Về phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học Tây Âu hiện nay có các đặc trưng cơ bản gồm:
- Chuyển từ phương pháp nghiên cứu chuyên gia sang phương pháp thống kê, tìm kiếm thông số định lượng về hoạt động của hệ sinh thái;
- Sử dụng các phương pháp và công cụ thông tin Địa lí (xử lý thống kê thông tin dạng lưới, mô hình hóa GIS) làm cơ sở phân tích khoa học;
- Mô hình hóa nhằm giải thích động lực cảnh quan và sự biến đổi khí hậu toàn cầu và suy thoái môi trường;
- Sử dụng tài liệu viễn thám có độ phân giải cao làm cơ sở cho nghiên cứu
Nghiên cứu cảnh quan ở Bắc Mĩ và Úc: chú ý đến các nghiên cứu có tính ứng
dụng, nhưng khoa học cảnh quan không phổ biến đối với các nhà địa lí Bắc Mỹ và Úc (mặc dù ở Mỹ, tạp chí "Khoa học cảnh quan" đã được xuất bản trong nhiều năm) Các nghiên cứu ở các khu vực này tập trung đánh giá đất đai và sinh thái học Người đầu tiên đưa ra quan niệm cảnh quan là nhà địa lí văn hóa người Mĩ Carl Sauer (1925)
trong tác phẩm “Hình thái cảnh quan” ông đã đưa ra quan niệm “cảnh quan là một
Trang 20khoảng đất đai được hình thành bởi các yếu tố tự nhiên và yếu tố văn hóa” Đặc biệt,
ông đã tiếp cận gần đến khái niệm chức năng cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái khi
nhấn mạnh đặc tính “trả tiền” của cảnh quan và vai trò của con người trong việc thay
đổi cảnh quan Trái Đất (Sauer, 1925) [119]
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên ở đây gắn liền với đánh giá đất nông nghiệp, kiểm kê rừng Đại diện nổi bật nghiên cứu sau về cảnh quan là R Forman (1995) với các nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung chính: các mối quan hệ không gian giữa các bộ phận của cảnh quan; hoạt động của cảnh quan; sự biến đổi của cảnh quan
Về phương pháp, nghiên cứu cảnh quan - sinh thái ở Hoa Kỳ chú ý sử dụng các phương pháp định lượng hiện đại, mô hình hóa, tạo ra các hệ thống thông tin địa lí dựa trên các sản phẩm phần mềm mới nhất (Forman, M Gordon, 1995)[96]
Các công trình nghiên cứu cảnh quan tại Việt Nam: các nhà địa lí người Pháp
là những người đầu tiên nghiên cứu về điều kiện tự nhiên Đông Dương và Việt Nam nhằm mục đích quân sự, khai thác tài nguyên, quản lý hành chính
Năm 1922, người Pháp đã thành lập “Hội Địa lí Hà Nội” nhằm nghiên cứu Địa
vật lý, Địa lí văn hóa, Khảo cổ học, Du lịch Đông Dương Các nghiên cứu thành phần
Địa lí tự nhiên riêng lẻ được công bố dưới dạng bảng tin như: Cấu trúc địa chất Đông
Dương thuộc Pháp (Aurousseau, 1926); Robequain (1930) nghiên cứu về Khí hậu Đông Dương đã làm rõ các đặc điểm khí hậu, quy luật của bão và gió mùa (thông qua
quan trắc 19 trạm khí tượng ở Bắc Kì và 10 trạm ở Nam Kì Việt Nam) hay Bruzon và cộng sự (1930) đã nghiên cứu và ghi chép kĩ lưỡng về chế độ gió mùa ở bán đảo Đông Dương và các cơn bão; Gourou (1939) phân tích đặc điểm khí hậu cao nguyên LangBiang [133, 136, 138, 139] Về sinh vật, các nhà địa lí Pháp đi sâu nghiên cứu tài nguyên rừng và đa dạng sinh học ở Việt Nam Năm 1918, Chevalier là người đầu tiên đưa ra bảng phân loại thực vật rừng Bắc Bộ Việt Nam, đây cũng là bảng phân loại rừng nhiệt đới Châu Á đầu tiên trên thế giới Thành tựu nổi bật nhất của các nhà địa lí Pháp thời kì này là lần đầu tiên xây dựng được hệ thống bản đồ về rừng, khí hậu, thảm thực vật, hệ thống suối khoáng thuộc Đông Dương Đứng trên quan điểm Địa lí văn hóa, các nhà địa lí Pháp đã bước đầu đặt mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên với con người trong mối quan hệ nhân quả như: thảm thực vật rừng và lũ lụt ở Bắc Kì (Jules Sion, 1920) đã chỉ rõ hậu quả của mối liên hệ giữa các hiện tượng thời tiết cực đoan và nạn phá rừng ở Bắc Kì nơi có địa hình dốc và tài nguyên rừng phong phú nhất Việt
Trang 21Nam [141]
Về nghiên cứu tổng hợp, tiêu biểu là nghiên cứu của R.Demazez (1919) khi phân tích các đặc điểm từng thành phần tự nhiên của miền núi Đông Dương như: địa hình, khí hậu, thảm thực vật, môi trường tự nhiên Từ đó phân tích mối liên hệ giữa các thành phần này với đời sống, sản xuất của người dân địa phương [135]
Nhìn chung, các nghiên cứu thời kì này của các nhà địa lí Pháp chỉ đề cập đến đặc điểm từng nhân tố tự nhiên riêng lẻ, việc chú ý đến yếu tố nhân sinh và văn hóa, các công trình về Địa lí tự nhiên tổng hợp còn ít Về phương pháp, các nghiên cứu vẫn thiên về mô tả, chưa có tính định lượng rõ ràng Tuy nhiên, khi đặt các nghiên cứu trong mối quan hệ với trình độ khoa học, không thể phủ nhận những nỗ lực và đóng góp của các nhà địa lí Pháp khi nghiên cứu Địa lí Đông Dương
Sau khi hòa bình lập lại, các nhà khoa học Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu giá trị, nhất là hướng nghiên cứu tự nhiên riêng lẻ Năm 1978 (sau gần 30 năm khảo sát thực địa dọc chiều dài đất nước), Thái Văn Trừng đã công bố công trình nghiên cứu
“Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm sinh thái” Trên cơ sở xem xét rất chi
tiết nhân tố phát sinh thảm thực vật rừng (Địa lí - địa hình; khí hậu - thủy văn; đá mẹ - thổ nhưỡng; khu hệ thực vật; sinh vật - con người) để xác lập hệ thống phân loại thích hợp nhất thảm thực vật rừng nhiệt đới Việt Nam Dựa trên những luận cứ mà ông đưa
ra, tác giả đã chọn hệ thống phân vị này để làm căn cứ phân loại thảm thực vật cho địa bàn nghiên cứu [72]
Nghiên cứu cảnh quan thực hiện ở cấp toàn quốc, miền và các vùng Ở cấp toàn
quốc có nghiên cứu Thiên nhiên Việt Nam của Lê Bá Thảo (1977) đã nêu được đặc
điểm thiên nhiên, chiến lược khai thác tài nguyên hợp lí của toàn bộ 7 miền tự nhiên Việt Nam (Đông Bắc, Tây Bắc, Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long)[64] Bên cạnh đó, tác giả
Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1976) đã xuất bản cuốn “Giáo trình Địa lí tự nhiên
Việt Nam”, phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 3 miền và 13 khu, lấy tiêu chí sự đan
xen xứ và đới để phân miền, tiêu chí địa chất, địa mạo để phân khu Các khu ở miền núi thống nhất trong hệ thống địa hình, có một hệ thống đai cao riêng [17]
Ở quy mô miền có các công trình Cảnh quan Địa lí miền Bắc Việt Nam (Vũ Tự Lập, 1976) và Phân vùng cảnh quan miền Nam Việt Nam (Trương Quang Hải, 1991)
Ở quy mô vùng có Chương trình Tây Nguyên, Tây Bắc, Nam Bộ đã phân vùng cảnh quan khu vực khá chi tiết Theo đó, lãnh thổ miền Bắc Việt Nam được phân hóa thành
Trang 22577 cảnh quan thuộc 1 đới, 2 á đới, 2 miền, 3 đai cao và 8 khu Từ đó khẳng định tính
đa dạng cao của cảnh quan tự nhiên miền Bắc Việt Nam [24, 40]
Về cơ sở lí luận và ứng dụng, Phạm Hoàng Hải (1988) có công trình “Vấn đề lí
luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ - ví
dụ vùng Đông Nam Bộ” Kế đến năm 1990, tác giả hoàn thành kết quả nghiên cứu
“Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên dải ven biển Việt Nam
cho mục đích phát triển sản xuất nông lâm nghiệp và bảo vệ môi trường” Trong hai
nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra các phương pháp đánh giá tổng hợp cho địa bàn nghiên cứu, áp dụng tổng hợp các chỉ tiêu để phân vùng và quy hoạch các ngành kinh
điểm quan trọng trong xu hướng nghiên cứu cảnh quan thời kì này [40]
Hiện nay, các nhà khoa học cảnh quan Việt Nam đã chú ý gắn nghiên cứu vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước bao gồm:
Thứ nhất, các nghiên cứu hướng đến bảo vệ tự nhiên, sử dụng hợp lý tài nguyên
và môi trường đất nước, gắn kết nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Các
nghiên cứu điển hình như “Cơ sở cảnh quan học và việc sử dụng hợp lí tài nguyên
thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn
Ngọc Khánh, Nguyễn Thượng Hùng (1997) Nghiên cứu đã phân chia cảnh quan Việt Nam thành 3 phụ hệ thống, 5 lớp và 11 phụ lớp, 15 phụ hệ cảnh quan Từ đó tạo cơ sở đưa ra các loại hình sử dụng tài nguyên ở nước ta Cụ thể hơn, Nguyễn Cao Huần
(2004) đã công bố công trình “Nghiên cứu hoạch định tổ chức không gian phát triển
kinh tế và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cấp tỉnh, huyện (nghiên cứu mẫu tỉnh Lào Cai) hay Trương Quang Hải (2007) với công trình “Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vùng núi đá vôi Ninh Bình” [23, 27, 34] Các công trình đã giúp tác giả hiểu được
hệ thống phân loại cảnh quan ở các cấp, từ đó lựa chọn được hệ thống phân loại thích
Trang 23hợp nhất với địa bàn nghiên cứu
Thứ hai, trước tình hình thiên tai diễn biến phức tạp, các nhà khoa học nước ta
đã ứng dụng cảnh quan dự báo và phòng tránh thiên tai, nhất là thiên tai ở vùng núi:
Năm 2006 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành điều tra, khảo sát
cảnh báo khả năng xuất hiện lũ quét ở miền núi Việt Nam và năm 2014 tiến hành
nghiên cứu “Điều tra, phân vùng cảnh báo lũ quét, sạt lở đất ở các địa phương vùng
núi Việt Nam” [5, 6]
Thứ ba, nghiên cứu cảnh quan chú ý khai thác thế mạnh từng vùng địa lí (miền núi, đồng bằng và hải đảo) Cụ thể, Nguyễn Cao Huần và cộng sự (2005) đã đánh giá tính đặc thù cảnh quan ven biển Thái Bình; Nguyễn An Thịnh và cộng sự nghiên cứu
“Phân tích cấu trúc mô hình sinh thái phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình khu vực
miền núi” (2004) Cùng xu hướng này, Lại Vĩnh Cẩm (2008) đã có nghiên cứu “Tiếp cận sinh thái cảnh quan nghiên cứu, đề xuất định hướng sử dụng hợp lí các dải cát ven biển miền Trung Việt Nam” [11, 36, 67] Các nghiên cứu đã cho thấy biển đảo và
miền núi là những vùng giàu tài nguyên nhưng rất nhạy cảm, việc phát triển cần đi đôi với bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên môi trường
Thứ tư, đánh giá cảnh quan đã được ứng dụng nhằm xác lập loại hình và không gian phát triển các ngành kinh tế Các nghiên cứu điển hình như: Nguyễn Thế Thôn
(1993) công bố công trình “Nghiên cứu và đánh giá cảnh quan cho quy hoạch phát
triển kinh tế” Hay công trình mang tính chất lí luận “Đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái” của Nguyễn Cao Huần (2005) đã đưa ra nghiên cứu cơ sở lí
luận và phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái; Phạm Hoàng Hải (2006) đã có
những kết quả nghiên cứu bước đầu về “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam -
phương pháp luận và một số kết quả thực tiễn nghiên cứu” [88, 45, 28] Các công trình
đã đưa ra cơ sở lí luận và phương pháp luận vững vàng để đánh giá cảnh quan cho từng địa bàn nghiên cứu Đây là những kiến thức quý báu để tác giả tham khảo và áp dụng trong nghiên cứu đề tài luận án
1.1.2 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phát triển nông lâm nghiệp
1.1.2.1 Nghiên cứu cảnh quan phục vụ phát triển nông lâm nghiệp trên thế giới
Trang 24để thiết kế cảnh quan nông nghiệp’’(1996) tác giả đã dựa trên các nguyên tắc chức
năng hệ HST để đưa ra các tiêu chuẩn gieo trồng, bón phân, sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật cho cây trồng trên từng đơn vị cảnh quan Kế tiếp, trong nghiên cứu “Lý thuyết về
canh tác cảnh quan thích nghi và thiết kế cảnh quan nông nghiệp” (2003) ông đã phân
vùng cảnh quan, đất nông nghiệp để xác định mức độ thâm canh và cơ cấu cây trồng thích hợp cho từng vùng lãnh thổ của Nga [154, 155]
Đối với lâm nghiệp: Nga là nước có diện tích rừng lớn nhất trên thế giới Khoa
học cảnh quan được ứng dụng làm rõ động lực thay đổi rừng theo không gian và thời gian, hướng tới bảo tồn chức năng và dịch vụ hệ sinh thái rừng Ứng dụng cảnh quan vào lâm nghiệp được thấy rõ trong nghiên cứu của A.N.Gomtsev (2001), ông đã ứng dụng cơ sở sinh thái cảnh quan để nghiên cứu cấu trúc, động lực, phân vùng cảnh quan rừng taiga của Nga và toàn Châu Âu trong suốt 25 năm [148]
b Tại Tây Âu
Các nghiên cứu ứng dụng cảnh quan với ngành nông nghiệp ở Tây Âu diễn ra trong bối cảnh đất nông nghiệp bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, biến đổi khí hậu tác động đến mọi mặt của đời sống Các ứng dụng cảnh quan vào nông nghiệp tập trung vào các hướng sau:
Thứ nhất, hạn chế tối đa hậu quả của sản xuất nông nghiệp mang tính chất độc
canh Các nghiên cứu đã làm rõ hậu quả cường độ sử dụng hóa chất làm suy thoái các
hợp phần cảnh quan như đất, nước, không khí và đa dạng sinh học khi các nước chỉ tập trung một vài cây trồng truyền thống Từ đó, đưa ra các giải pháp căn bản khắc phục tình trạng này (Matson và cộng sự, 1997; Stoate và cộng sự, 2009) [110, 122]
Thứ hai, làm rõ sự đánh đổi của dịch vụ cảnh quan nông nghiệp và dịch vụ hệ
sinh thái tự nhiên, từ đó khuyến khích các mô hình nông nghiệp sinh thái bền vững;
thiết lập hệ cảnh quan nông nghiệp đi kèm bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái khi tiến hành thâm canh nông nghiệp, còn gọi là nông nghiệp sinh thái (Scherr and Mc Neely, 2008; Landis, 2017) [104, 120]
Các nhà khoa học Tây Âu, tập trung ứng dụng cảnh quan thiết kế cảnh quan nông nghiệp đa chức năng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu Các nghiên cứu theo xu hướng này ưu tiên các vùng có chỉ số đa dạng cảnh quan cao nhưng nhạy cảm với môi trường như: núi, cửa sông, ven biển (Jordan và cộng sự 2007, Thomax Dux, 2017)
[101, 128]
Trang 25Đối với ngành lâm nghiệp: Các nhà khoa học Tây Âu đánh giá rất cao đa dạng
sinh học thảm thực vật rừng và các dịch vụ hệ sinh thái rừng, các nghiên cứu đo lường
và khẳng định vai trò của rừng đối với phục hồi các dịch vụ hệ sinh thái và hạnh phúc của con người (R.Sears và cộng sự, 2017; Perera và cộng sự, 2018) [116, 121]
Ngoài ra, các nghiên cứu tập trung áp dụng các phương pháp hiện đại, mô hình hóa các giá trị của rừng và nhu cầu của thị trường về các sản phẩm từ rừng (Toppine, 2010) [125]
c Tại Bắc Mĩ và Úc
Đứng trên phương diện sinh thái cảnh quan, các nhà khoa học đánh giá cảnh quan và môi trường sống nhằm nắm bắt đặc điểm môi trường sinh thái hướng đến duy trì đa dạng sinh học, nhất là duy trì loài mục tiêu, có giá trị sinh thái lớn với môi trường (Freemack và cộng sự, 1986) [129] Bên cạnh đó, tập trung phân loại và lập bản đồ sinh thái cảnh quan nhằm quản lý rừng và lập kế hoạch sử dụng tài nguyên
rừng hợp lý như: Phân định các khu vực sinh thái của Hoa Kì (R.G Bailey, 1980);
Các khu vực sinh thái cảnh quan khu vực Michigan, Minnesota và Wicosin (D.A
Albert, 1995) [82, 97, 117]
Gần đây, ở nhiều quốc gia trên thế giới đã xuất hiện các khái niệm mới như khí
hậu nông nghiệp thông minh, nông nghiệp thông minh, thực phẩm thông minh được
các nhà khoa học đưa ra khi thiết kế mô hình cảnh quan nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu và đảm bảo an ninh lương thực cho tương lai (Lipper và cộng sự, 2017, FAO, 2019) [95, 107]
1.1.2.2 Nghiên cứu cảnh quan phát triển nông lâm nghiệp tại Việt Nam
Nghiên cứu tổng hợp các điều kiện cho phát triển nông nghiệp ở nước ta được chú ý thực hiện ở hai vùng Tây Nguyên Mở đầu là Phạm Quang Anh đã tiến hành điều tra tổng hợp nhằm xác định vùng chuyên canh cây cà phê cho vùng này năm 1985 [1] Bên cạnh đó, các nhà khoa học chia Tây Nguyên thành 21 vùng địa lí tự nhiên, kết quả đánh thích nghi sinh thái cho thấy đây là vùng có 40% diện tích rất thích hợp để phát triển cây công nghiệp và lương thực
Các nghiên cứu cho vùng Tây Bắc được quan tâm, thực hiện nhiều từ năm
2013 Nội dung chính của các nghiên cứu là bảo vệ môi trường miền núi khi phát triển nông lâm nghiệp Các nghiên cứu điển hình như: Xác lập cơ sở khoa học, tích hợp và ứng dụng công nghệ địa thông tin (viễn thám - GIS - GPS) dự báo thời tiết phục vụ
Trang 26cảnh báo đa mục tiêu: lũ quét, cháy rừng, quá trình phát triển sâu bệnh nông nghiệp chính ở quy mô không gian cấp huyện (Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự, 2018) Hay
Trần Đăng Quy (2018) đã hoàn công trình thành nghiên cứu “Xây dựng mô hình phát
triển bền vững tích hợp 3E+1 (kinh tế, môi trường, hệ sinh thái và an ninh phi truyền thống) cho các khu vực biên giới Việt - Lào vùng Tây Bắc” [55, 63]
Ở cấp địa phương, có các nghiên cứu tập trung vào các mục đích khác nhau như đánh giá như quy hoạch trồng cây công nghiệp dài ngày (Lê Văn Thăng, 1995; Nguyễn Xuân Độ, 2004); Phát triển vùng chuyên canh cây ăn quả (Phạm Quang Tuấn, 1994); Phát triển nông lâm nghiệp và du lịch (Nguyễn Cao Huần và cộng sự, 2004; Nguyễn An Thịnh, 2007; Trương Quang Hải, 2010 [20, 26, 27, 34, 60, 65] Các nghiên cứu này đã
đi từ các yếu tố đến tổng hợp để tìm ra vùng phát triển các cây trồng tối ưu và hiệu quả nhất đối với các địa phương Điều này chứng tỏ việc quy hoạch tổ chức sản xuất nông nghiệp hợp lí là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm và đánh giá cao
1.1.3 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phát triển du lịch
1.1.3.1 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phát triển du lịch trên thế giới
a Tại Nga
Những năm 1970 là thời kì hệ thống lí luận về tổ chức lãnh thổ du lịch được
tích lũy tại Nga Năm 1974, công trình “Cơ sở lý thuyết của Địa lí giải trí” của V.S
Preobrazhensky đã đưa ra những lí luận về xác định tính chất chu kỳ mùa vụ nghỉ dưỡng dưới tác động của tính nhịp điệu của cảnh quan (Trích theo M.S Oborin, 2013); Những năm 80, các nhà nghiên cứu tập trung đánh giá các ĐKTN lãnh thổ nhằm xác định không gian và thời gian cho các hoạt động giải trí, cũng như tác động kinh tế với
phát triển du lịch Các nội dung này được tìm thấy trong tác phẩm “Động lực của hệ
thống giải trí lãnh thổ” của A.Yu.Vedenin (1982) [146, 157]
Từ năm 2000 cho đến nay, ứng dụng nghiên cứu khoa học cảnh quan vào quy hoạch du lịch được chú ý, điển hình có hai công trình nghiên cứu mang tính chất lí luận cụ thể nhằm đưa ra cơ sở khoa học và phương pháp đánh giá cảnh quan cho du lịch của P.O Nikolaeva (2011) và M.V Gudkovskikh (2017) [149, 156]
b Tại Tây Âu
Nghiên cứu tự nhiên phục vụ cho phát triển du lịch ở Tây Âu được tiếp cận ở phạm vi thành phần riêng lẻ và tổng hợp
Trang 27Trong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến ngành du lịch (nhất là các loại hình du lịch ngoài trời), các nghiên cứu về mối quan hệ giữa khí hậu và du lịch cũng rất được quan tâm, chú ý Các nghiên cứu khẳng định vai trò và mối quan hệ giữa khí hậu với sức khỏe du khách, sức hấp dẫn của điểm đến Nổi bất nhất là các
nghiên cứu về chỉ số khí hậu du lịch TCI (Mieczkowski, 1985); khí hậu bãi biển BCI (Morgan và cộng sự, 2000); Chỉ số khí hậu thứ hai cho du lịch, đặc điểm xác minh”
(De Fraitas, 2008) Tuy nhiên, từ khi ra đời cho đến nay chỉ số TCI được đề xuất bởi Mieczkowski là chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá sự thích hợp của khí hậu cho du lịch [90, 111, 113]
Tiếp cận theo hướng tổng hợp ứng dụng cảnh quan vào du lịch ở Tây Âu tập trung vào 4 hướng:
Thứ nhất, chuyển đổi từ cảnh quan sản xuất sang cảnh quan tiêu dùng, chú ý
đến chức năng cảnh quan và hệ sinh thái là nơi cung cấp các dịch vụ hàng hóa cho ngành du lịch, các dịch vụ này không đương nhiên và miễn phí, như R Buckley
(2011) khẳng định “cảnh quan là nơi cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái văn hóa, là nơi
nghỉ ngơi, thư giãn và truyền cảm hứng, cải thiện sức khỏe tinh thần và thể chất của
du khách” Theo đó, các nghiên cứu đánh giá và định giá các dịch vụ giải trí nhận từ
cảnh quan [88, 89]
Thứ hai, chú ý đến chính sách cảnh quan, quy hoạch và các công cụ phân tích
cảnh quan để làm rõ tác động của ngành du lịch đến cảnh quan (Klijn và cộng sự,
1999; Tress, 2001) [103, 129]
Thứ ba, trước thực trạng du lịch châu Âu bị suy thoái, các nghiên cứu tập
trung vào đánh giá, đo lường giá trị của cảnh quan và hành vi của con người trong khai thác du lịch nhằm bảo vệ môi trường và bản sắc của điểm đến
(Terkenli 2002, 2004)
Thứ tư, các nghiên cứu về giải trí và du lịch sử dụng phương pháp định lượng
để từ đó lập bản đồ, mô hình hóa và phân loại các loại hình giải trí ở quy mô khác nhau Nghiên cứu du lịch không chỉ đơn thuần là của Địa lí và Xã hội học mà còn là
môn khoa học liên ngành, nhằm đáp ứng tính xã hội hóa ngày càng tăng, có nhiều loại hình du lịch mới xuất hiện (Terkenli 2002; Rovira So To và cộng sự 2017) [123, 124]
Trang 281.1.3.2 Nghiên cứu cảnh quan cho mục đích phát triển du lịch tại Việt Nam
a Các nghiên cứu của người Pháp về du lịch và nghỉ dưỡng ở Việt Nam
Người Pháp là những người đầu tiên nghiên cứu về các yếu tố tự nhiên phục vụ cho nghỉ dưỡng ở Việt Nam, tìm kiếm các giải pháp để phục hồi sức khỏe của binh lính, công dân Pháp khi đến vùng nhiệt đới nóng ẩm Trong hồi kí của Paul Doumer - Đặc mệnh toàn quyền Đông Dương đã đưa ra 3 tiêu chí để xây dựng khu an dưỡng là
“độ cao ít nhất 1200 m, nước dồi dào, đất đai màu mỡ, có khả năng thiết lập các tuyến
giao thông” (1897) [18] Người Pháp đã cử nhà khoa học kiêm nhà thám hiểm
Alexandre Yersin “tìm kiếm Thụy Sĩ ở Đông Dương”(Trích theo E.T Jeannings, 2015)
thực hiện các cuộc thám hiểm từ năm 1892 đến 1894 Sau đó, các nhà khí tượng Pháp
đã tiến hành nghiên cứu kĩ lưỡng khí hậu của Lang Biang để xây dựng khu nghỉ dưỡng vào năm 1897 (có so sánh với các khu nghỉ dưỡng của người Anh ở Ấn Độ) Yersin đã
ca ngợi “những làn gió mát rượi và mức nhiệt độ thấp khắp vùng cao mênh mông này” ông cũng mô tả khí hậu Lang - Bian tương tự với khí hậu Địa Trung Hải vào mùa
xuân (Trích theo E.T Jeannings, 2015) [39] Năm 1919, Bà Nà ở Trung Kì cũng được
xây dựng khu nghỉ dưỡng Sau đó họ đã xây dựng một mạng lưới nghỉ dưỡng phụ khác trên cao nguyên như Sa Pa, Tam Đảo và Mẫu Sơn
Khảo sát các tài liệu cũng cho thấy, trong chính sách khai thác thuộc địa, người
Pháp đã sớm chú ý đến nghiên cứu du lịch Trong cuốn sách “Guide touristique
général de l'Indochine: guide alphabétique Taupin”, Taupin và cộng sự (1939) đã đưa
ra chỉ dẫn tỉ mỉ các điểm du lịch Đông Dương (gồm tài nguyên và cơ sở vật chất phục
vụ du lịch) Cuốn sách này cũng thống kê các địa điểm du lịch quan trọng suốt chiều dài Việt Nam [137]
b Các nghiên cứu cảnh quan phục vụ phát triển du lịch tại Việt Nam
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cảnh quan và du lịch thực sự bắt đầu ở Việt Nam từ năm 1990 Các nghiên cứu tập trung làm rõ các dạng tài nguyên du lịch
và tổ chức lãnh thổ du lịch ở quy mô toàn quốc và địa phương, cụ thể:
Phạm Trung Lương và cộng sự (1991) đã tiến hành nghiên cứu tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam Năm 1992, Nguyễn Minh Tuệ cùng cộng sự đã hoàn
thành nghiên cứu Địa lí du lịch, trong đó đưa ra cơ sở lí luận về tài nguyên du lịch và
ứng dụng cho lãnh thổ Việt Nam Cả hai nghiên cứu này đều đồng quan điểm phân vùng lãnh thổ du lịch Việt Nam thành 3 vùng (Vùng du lịch Bắc Bộ, vùng du lịch Bắc
Trang 29Trung Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ) và 11 tiểu vùng từ Bắc vào Nam Ứng dụng cảnh quan học, năm 1996 tác giả Phạm Quang Anh hoàn thành công trình
Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam (lấy một số địa phương ở Đắk Lắk, Thanh Hóa, Ninh Bình làm ví dụ), qua
đó khẳng định sự cần thiết phải đồng thời thực hiện phát triển du lịch và bảo vệ tài nguyên môi trường Việt Nam (môi trường tự nhiên, văn hóa, kĩ thuật [2, 10, 44, 61] Bên cạnh đó, phát triển du lịch hợp lí theo thế mạnh địa phương là vấn đề quan trọng,
vì có như vậy mới đảm bảo được các nguồn lực được phát huy tối ưu cũng như bảo vệ được tài nguyên tự nhiên và nhân văn hợp lí
Quy mô địa phương có các nghiên cứu như: “Đánh giá ĐKTN và TNTN huyện
Ba Vì phục vụ mục đích du lịch” của Đặng Duy Lợi (1992); Trương Quang Hải với
“Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất
các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên”(2016) Gần đây có nghiên cứu “Du lịch Tây Nguyên - Luận cứ khoa học và giải pháp phát triển” (2019) đã trình bày có hệ
thống, chuyên sâu các luận cứ, mô hình, giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch Tây Nguyên theo hướng bền vững [28, 29, 42]
Như vậy, các nghiên cứu cảnh quan cho du lịch ở quy mô lãnh thổ khác nhau,
sử dụng các phương pháp và chỉ tiêu đánh giá các yếu tố tự nhiên, văn hóa xã hội khác nhau đã khẳng định du lịch là ngành kinh tế gắn với môi trường Việc phát triển
du lịch bền vững được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở quy mô khác nhau
1.1.4 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Sơn La và Mộc Châu
1.1.4.1 Các công trình nghiên cứu thể tổng hợp tự nhiên huyện Mộc Châu
Do sự cách biệt với miền xuôi, giao thông đi lại khó khăn, sự khác biệt về phong tục tập quán nên vùng đất biên viễn Tây Bắc nói chung và Mộc Châu nói riêng không được đề cập đến nhiều trong sử sách phong kiến Có thể kể đến một số tác
phẩm điển hình như: Đại Việt sử ký toàn thư, Dư địa chí, Đại Việt thông sử, Hồng Đức
bản đồ, Hoàng Việt dư địa chí, Phương Đình dư địa chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục… ghi chép về đơn vị hành chính của Tây Bắc và một số tộc người
cũng như sự trị vì của một số dòng họ quý tộc cùng với sự nổi dậy của họ nếu có Trong số đó, phải kể đến dấu ấn đầu tiên là tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi Tác phẩm dành một phần nội dung mô tả đặc điểm tự nhiên của Mộc Châu (bấy giờ thuộc
xứ Hưng Hóa): đất đai, địa hình, sinh vật, khoáng sản; đồng thời thể hiện không gian
Trang 30lãnh thổ của vùng đất này lên bản đồ Hồng Đức (theo Ức Trai Di tập, 1960), [70] Đến thế kỉ XIX, các sử gia triều Nguyễn đã có những ghi chép cụ thể về khu vực Châu
Mộc (Mường Sang) trong tác phẩm Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục (Quốc
sử quán triều Nguyễn, 1881); Đặc biệt, cuốn Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán
triều Nguyễn, 1885) đã mô tả đặc điểm điều kiện tự nhiên gồm vị trí địa lí, khí hậu, sông ngòi, khoảng sản của huyện Châu Mộc thuộc tỉnh Hưng Hóa Tác phẩm này đã
nhấn mạnh đặc điểm khí hậu thời tiết và tính mùa vụ trong gieo cấy; địa hình hiểm trở,
bốn mặt là núi; rừng có gỗ xoan, tô mộc, gỗ tạp; đồng ruộng nhiều cát sỏi, ít màu mỡ, phần nhiều trồng lúa kê [53, 54] Một trong những tác phẩm nổi tiếng về vùng Tây Bắc và
Mộc Châu thời Nguyễn thế kỷ XIX phải kể đến đó là cuốn Hưng Hóa ký lược của Phạm
Thận Duật – giữ chức Giáo thụ phủ Đoan Hùng và tri châu Tuần Giáo Trong thời gian
giưc chức, ông đã biên soạn xong cuốn Hưng Hóa ký lược - trở thành cuốn địa phương
chí tiêu biểu và có giá trị về vùng Tây Bắc rộng lớn gồm các tỉnh: Phú Thọ, Hòa Bình, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu Ông ghi chép khá đầy đủ hệ thống núi sông, trong đó có kể đến núi Pha Luông thuộc châu Mộc Không chỉ vậy, bàn về chùa chiền, thành trì, cổ tích và phong tục tập quán, trong tác phẩm có nhắc đến Thiền Viện tự (chùa Chiền Viện) của Châu Mộc, trong đền có các pho tượng đồng nhiều kích cỡ…, đến nay di tích này vẫn tồn tại và thu hút khách du lịch tới tham quan Có thể nói, các nghiên cứu này dù chỉ mang tính chất mô tả ước lượng nhưng đã bước đầu nghiên cứu về ĐKTN và TNTN, tài nguyên văn hóa, lịch sử của Mộc Châu một cách tổng hợp, qua đó giúp NCS có những nhận định mang tính lịch sử của địa bàn nghiên cứu
Điển hình những năm 1970 - 1980 có công trình công trình “Thiên nhiên Việt
Nam”(1977) của Lê Bá Thảo đã chia Việt Nam thành 8 miền tự nhiên, Mộc Châu thuộc
miền Tây Bắc có độ cao 600 - 800m, có nơi 1100 - 1300m, bề mặt chia cắt thành các cao
nguyên nhỏ, đá vôi là vật liệu chính, bề mặt là các cánh đồng caxtơ rộng, các bề mặt lượn sóng, khí hậu mát mẻ [64]
Từ những năm 2000 đến nay, nghiên cứu theo hướng tổng hợp và phân vùng cảnh quan có công trình tiêu biểu như: Lê Mỹ Phong (2002) đã phân vùng đánh giá chức năng cảnh quan tạo cơ sở sử dụng hợp lí lãnh thổ dưới tác động của công trình thủy điện Sơn La Tiếp cận theo hướng tự nhiên tổng hợp, Lê Thị Thu Hòa (2006) trên
cơ sở nghiên cứu cảnh quan tỉnh Sơn La đã đánh giá thích nghi sinh thái, đưa ra kiến nghị phân bố không gian trồng cây Chè, Cà phê, Cao su cho tỉnh Sơn La Cùng xu
Trang 31hướng đó Phạm Anh Tuân (2016) nghiên cứu cảnh quan và đánh giá thích nghi sinh thái, đưa ra kiến nghị vùng phân bố không gian các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La [32, 51, 59]
Các nghiên cứu chứng tỏ, Mộc Châu là khu vực sớm được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào phân tích đặc điểm cảnh quan huyện Mộc Châu tổng hợp và có hệ thống Nghiên cứu cảnh quan huyện Mộc Châu là cơ sở quan trọng để nhận định các đặc điểm về điều kiện tự nhiên cho địa bàn huyện
1.1.4.2 Các công trình nghiên cứu phục vụ phát triển nông lâm nghiệp của huyện Mộc Châu
Nông lâm nghiệp là ngành kinh tế có lợi thế ở Sơn La nói chung và Mộc Châu nói riêng Người Pháp đã sớm có những nghiên cứu về lợi thế tự nhiên của Mộc Châu
và Sơn La để phát triển nông nghiệp như: thế mạnh chăn nuôi đại gia súc ở Sơn La
trong tác phẩm Le Tonkin en 1909 (Bắc Kỳ năm 1909) hay tình trạng phụ thuộc vào đất rừng của đồng bào dân tộc và thế mạnh chăn nuôi bò ở Sơn La trong nghiên cứu Xứ Bắc
Kỳ ngày nay của Henri Cucherousset [134]
Các nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước cũng rất phong phú Năm
1983, Phòng Phân vùng - Viện Quy hoạch thiết kế đã nghiên cứu các hợp phần tự
nhiên để “phân vùng một số cây con chủ yếu theo điều kiện tự nhiên Tây Bắc”, xác lập
Mộc Châu là vùng thuận lợi để trồng hoa màu, chăn nuôi gia súc lớn [52] Đặc biệt,
nghiên cứu chuyển đổi hệ thống canh tác trên vùng sinh thái “đồi núi” tỉnh Sơn La
nhằm phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Thế Hoàng, 1998)
đã phân tích các nguồn lực và điều kiện tự nhiên cho phát triển nông lâm nghiệp của vùng sinh thái tỉnh Sơn La ở cấp vùng và tiểu vùng [33]
Về lâm nghiệp, phục vụ thực hiện chương trình REDD của Liên hợp quốc về giảm phát thải nhà kính và suy thoái rừng ở các nước phát triển, các chuyên gia đầu
ngành lâm nghiệp của nước ta đã phân vùng sinh thái lâm nghiệp (2012) Theo đó
Mộc Châu thuộc miền Bắc, vùng Tây Bắc và tiểu vùng sinh thái cao nguyên Sơn La
- Mộc Châu có kiểu rừng phổ biến là rừng kín, hỗn loài, lá rộng thường xanh mưa
ẩm vùng đồi, núi thấp và trung bình 500-1500m và kiểu rừng lá kim, hỗn loài lá rộng
lá kim [43]
Các nghiên cứu trên đã cung cấp cho NCS các thông tin về nông lâm nghiệp tại Sơn
La nói chung và Mộc Châu nói riêng Các điều kiện sinh thái, cơ cấu cây trồng và mùa vụ
Trang 32cây trồng được các tác giả nghiên cứu đã khẳng định Mộc Châu có thế mạnh về nông lâm nghiệp Tuy nhiên đây là một vùng đồi núi dễ bị tổn thương, việc canh tác cần chú ý đến tính bền vững của môi trường, nhất là hai yếu tố đất và rừng
1.1.4.3 Các công trình nghiên cứu phục vụ phát triển du lịch ở huyện Mộc Châu
Cao nguyên Mộc Châu đã được thực dân Pháp đánh giá cao về khí hậu và vị trí địa lí, thuận lợi hơn một số địa điểm khác của Việt Nam Tuy nhiên, do những mưu đồ
về chính trị và những tính toán kinh tế nên họ đã không đầu tư xây dựng giao thông và
cơ sở hạ tầng phục vụ nghỉ dưỡng ở đây
Hòa bình lập lại, ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, ý tưởng hình thành một khu du lịch lớn mang tầm cỡ quốc gia có diện tích 200 ha đã được đưa ra trên cơ
sở đánh giá vị trí và tiềm năng du lịch của Mộc Châu Năm 1997, Viện nghiên cứu Phát triển du lịch và Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sơn La tiến hành nghiên cứu thực
hiện “Quy hoạch phát triển du lịch Mộc Châu Sơn La” Sau đó, năm 2013, “Báo cáo
quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” (kèm theo Quyết định số 2050/QĐ -TTg của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt) đã làm rõ tính cấp thiết, những thế mạnh và tiềm năng của du lịch Mộc Châu cùng quy hoạch cụ thể cho Mộc Châu Ở phạm vi cấp tỉnh và
huyện cần phải kể đến dự án “Điều tra đánh giá chất lượng các hang động thuộc
phạm vi tỉnh Sơn La phục vụ cho việc phát triển du lịch của tỉnh” (UBND tỉnh Sơn
La, 2003); “Đề án phát triển Mộc Châu thành Khu du lịch quốc gia” do Sở Thương
mại - Du lịch tỉnh Sơn La chủ trì (2007) Dù ở quy mô nghiên cứu khác nhau nhưng các đề án, quy hoạch đã cung cấp những thông tin về chiến lược phát triển của các viện nghiên cứu, các ban ngành với du lịch huyện Mộc Châu [57, 76, 80, 81] Thông qua các tài liệu tác giả đã có những kiến thức về tài nguyên du lịch nổi bật của huyện, các chiến lược phát triển các cấp đã được hoạch định cho địa bàn nghiên cứu, từ đó có những nhận định đầy đủ hơn về du lịch huyện
Các vấn đề về nguồn lực, tổ chức lãnh thổ của du lịch Mộc Châu còn thấy trong
các đề tài cấp tỉnh và luận án tiến sĩ của một số các nhà khoa học, như “Nghiên cứu,
sưu tầm các di sản văn hoá các dân tộc phục vụ phát triển du lịch huyện Mộc Châu”
của Nguyễn Anh Cường (2009) đã phân tích nguồn di sản vật thể và phi vật thể tại huyện Mộc Châu để phát triển du lịch đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển du lịch
của huyện Mộc Châu Năm 2010, Đỗ Thúy Mùi trong công trình nghiên cứu “Tổ chức
Trang 33lãnh thổ du lịch Sơn La” đã phân tích các nguồn lực phát triển du lịch Mộc Châu và
đưa ra đề xuất các loại hình tổ chức lãnh thổ cho du lịch Sơn La Năm 2017, Tống
Thanh Bình trong đề tài luận án về “Kinh tế, xã hội tỉnh Sơn La từ năm 1895 đến năm
1945” đã nhận định “Mộc Châu có nhiều điều kiện phát triển du lịch tuy nhiên do nhiều yếu tố chi phối đặc biệt địa hình hiểm trở và những tính toán chính trị nên người Pháp đã không xây dựng khu nghỉ dưỡng ở Mộc Châu” Gần đây, dựa trên cơ sở khoa
học phân tích đặc điểm tự nhiên và nhân văn, Nguyễn Thị Cẩm Vân (2018) đã phân chia huyện Mộc Châu thành 5 tiểu vùng, sau đó tiến hành đánh giá, xác lập vùng thích nghi cho phát triển du lịch sinh thái [4, 12, 46, 79]
Các nghiên cứu đã cung cấp cho NCS những thông tin chi tiết, đầy đủ hơn về tài nguyên, tổ chức và hiện trạng phát triển du lịch địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cảnh quan huyện Mộc Châu nào đầy đủ, chi tiết Việc đáng giá các loại tài nguyên mới áp dụng cho phát triển các ngành đơn lẻ Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên cho phát triển các ngành kinh tế trong mối liên hệ khoa học là cần thiết
1.2 LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN CHO PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ DU LỊCH
1.2.1 Phân loại cảnh quan
1.2.1.1 Cơ sở và nguyên tắc phân loại cảnh quan
Phân loại cảnh quan là gộp, nhóm các khoanh vi cảnh quan tương đối đồng nhất
về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cùng cấp vào một loại, nhằm định hướng cùng mục đích sử dụng lãnh thổ
Xây dựng được một hệ thống phân loại cảnh quan và đưa ra các chỉ tiêu đảm bảo các nguyên tắc khách quan, thích hợp với quá trình phát sinh, phát triển là cơ sở vững chắc cho việc tiến hành phân tích, đánh giá cảnh quan đúng đắn
Nguyên tắc đồng nhất phát sinh: Là sự đồng nhất trong phát sinh, đồng nhất về
lịch sử phát triển, đồng nhất trong cấu trúc và chức năng của các đơn vị cảnh quan Những đơn vị cảnh quan có các hợp phần cùng nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và hình thái tương đối đồng nhất thì được xếp vào cùng cấp phân loại mặc dù
phân bố có thể ở xa nhau
Nguyên tắc phát sinh lịch sử: Trong quá trình phát sinh, phát triển của cảnh
quan lãnh thổ thì các yếu tố tự nhiên - tác nhân thành tạo nên cảnh quan luôn có sự biến đổi không ngừng dưới tác động của các quá trình tự nhiên và các tác động của
Trang 34con người Cảnh quan vừa có sự phân hóa theo những quy luật mang tính chất chung nhưng đồng thời lại có sự phân dị theo những đặc thù địa phương của nó và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình nhân tác
Nguyên tắc tổng hợp: Là nguyên tắc áp dụng trong nghiên cứu và phân tích,
tổng hợp các yếu tố tự nhiên thành tạo nên cảnh quan nhằm xác định mối liên hệ giữa chúng và xác định những nhân tố chủ đạo quyết định sự hình thành và phát triển, phân hóa cảnh quan ở các cấp Sử dụng nhân tố chủ đạo hay nhân tố trội là nhân tố bền vững nhất và thể hiện rõ nhất sự phân hóa, nhưng đồng thời phải đặt nó trong mối quan hệ tổng hợp với các yếu tố khác của hệ thống thành tạo cảnh quan Đây là cơ sở vạch ranh giới cảnh quan ở các cấp trong hệ thống phân loại cảnh quan
Các nguyên tắc này có thể áp dụng riêng để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu mang tính độc lập, nhưng các nguyên tắc này luôn có mối liên quan chặt chẽ, bổ sung cho nhau và gắn bó với nhau trong quá trình áp dụng để tiến hành nghiên cứu xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Theo ý tưởng này,
hệ thống phân loại cảnh quan phục vụ xây dựng bản đồ cảnh quan huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tỷ lệ 1/50.000 gồm 7 cấp: hệ thống, phụ hệ thống CQ, lớp, phụ lớp CQ, kiểu CQ, loại CQ
1.2.1.2 Một số hệ thống phân loại cảnh quan trong và ngoài nước
Đối với hệ thống phân loại của các tác giả nước ngoài, NCS chủ yếu tham khảo
3 hệ thống phân loại của các nhà Cảnh quan học Xô Viết được các nhà Địa lí Việt Nam ứng dụng phổ biến trong quá trình xây dựng các hệ thống phân loại cảnh quan ở Việt Nam Đó là hệ thống phân loại của A.G.Ixasenko (1965), M.A.Grvozetxki (1961) và V.A.Nicolaev (1970) [23, 37] Trong các hệ thống nêu trên có hàng loạt những đơn vị phân loại chung như lớp, kiểu, nhóm, loại Bên cạnh đó, mỗi hệ thống cũng có các dấu hiệu riêng theo quan niệm của từng tác giả, cho từng lãnh thổ nhất định Đây là những
cơ sở quan trọng để khi thành lập các hệ thống phân loại CQ, các vùng lãnh thổ các tác giả có sự so sánh, đối chiếu và phân tích để đưa những chỉ tiêu thích hợp cho từng cấp phân loại và lựa chọn các cấp phân loại thích hợp với lãnh thổ nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu và tỷ lệ bản đồ
Hệ thống phân loại của các tác giả Việt Nam được NCS tìm hiểu khá kỹ càng từ những hệ thống đơn vị theo hướng phân vùng phân chia cảnh quan Việt Nam thành các vùng địa lí tự nhiên những năm 60, 70 như: Hệ thống phân vị thiên nhiên Miền
Trang 35Bắc Việt Nam gồm 5 cấp: Lãnh thổ, tỉnh, quận, huyện, xã dựa trên quan điểm phân hoá phi địa đới của V.M.Fridlan (1961); Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1962) đã phân chia Địa lí tự nhiên Việt Nam theo hệ thống phân vị có 6 cấp gồm: đới, xứ, miền, khu, vùng, cảnh trên quan điểm phân hoá địa đới và phi địa đới nên phản ánh sự phân
hoá tự nhiên một cách khách quan hơn và lần đầu tiên thuật ngữ Cảnh quan được sử
dụng; Hệ thống phân vị từ á đại lục đến cấp vùng cho miền Bắc Việt Nam trong
“Phân vùng Địa lí tự nhiên Việt Nam của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước”
(1970), đây là công trình có ý nghĩa lớn trong điều tra và sử dụng lãnh thổ [17, 40]
Đáng chú ý trong giai đoạn này là hệ thống phân loại cảnh quan của Vũ Tự Lập
trong “Cảnh quan Địa lí miền Bắc Việt Nam” năm 1976, trong đó đã đưa ra một hệ
thống các cấp phân vị sử dụng để phân loại cảnh quan miền Bắc Việt Nam gồm 8 cấp:
hệ, lớp, phụ lớp, nhóm, kiểu, chủng, loại và thứ [24] Đây là hệ thống phân loại CQ đầu tiên ở Việt Nam mà trong đó tác giả đã căn cứ trên cơ sở phân hoá địa đới và phi địa đới để xây dựng các cấp phân vị, mỗi cấp tương ứng với một chỉ tiêu hoặc một tập hợp các chỉ tiêu nhất định, có sự kết hợp giữa các cặp trong thành phần của cảnh quan
từ nền nham, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và thảm thực vật Trong đó cấp
cơ sở của hệ thống - cấp cảnh Địa lí có sự đồng nhất về cả tính địa đới và phi địa đới Công trình đã có những đóng góp quan trọng trong công tác NCCQ phục vụ thực tiễn sản xuất, quan điểm tổng hợp trong NCCQ được các nhà Địa lí quan tâm và tiếp tục phát triển Cũng trong giai đoạn này, công trình phân vùng có giá trị thực tiễn lớn là
“Phân vùng Địa lí tự nhiên Tây Nguyên” của Nguyễn Văn Chiển, Trần Quang Ngãi,
Hoàng Đức Triêm nghiên cứu từ 1976-1980 và công bố năm 1984 với hệ thống phân
vị chỉ gồm 3 cấp: xứ, khu, vùng nhưng đã nói lên được giá trị thực tiễn của việc vận dụng nghiên cứu Địa lí tự nhiên trong thực tiễn sản xuất [16]
Từ sau 1980 cho đến nay, có rất nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu cảnh quan các vùng lãnh thổ Việt Nam, đưa ra các hệ thống phân loại khác nhau tuỳ theo từng lãnh thổ, mục đích nghiên cứu như Phạm Quang Anh, Nguyễn Thành Long; Nguyễn Văn Vinh; Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh, Nguyễn Trọng Tiến, Phạm Thế Vĩnh và nhiều người khác Các công trình này chủ yếu tiến hành theo hướng phân loại cảnh quan không dựa vào cá thể địa tổng thể Trong đó tác giả đi sâu tìm hiểu các cấp phân loại và chỉ tiêu cho từng cấp của 2 hệ thống phân loại sau:
Trang 36(1) Hệ thống phân loại cho bản đồ CQ Việt Nam trên các tỷ lệ được tác giả Nguyễn Thành Long và tập thể Phòng Địa lí tự nhiên thuộc Trung tâm Địa lí và Tài nguyên thiên nhiên xây dựng năm 1992 dựa vào hệ thống phân loại của V.A.Nicolaev gồm 10 cấp: Hệ CQ, phụ hệ CQ, lớp CQ, phụ lớp CQ, kiểu CQ, phụ kiểu CQ, hạng
CQ, loại CQ; ngoài ra còn có 2 cấp bổ trợ khác là dạng, nhóm dạng Địa lí và diện, nhóm diện Địa lí [23, 41]
(2) Các tác giả ở Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã có nhiều hệ thống phân loại cảnh quan ứng dụng trong nghiên cứu cho các vùng lãnh thổ riêng biệt như: Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh nghiên cứu
cảnh quan Sapa, Lào Cai; Trương Quang Hải “Phân kiểu Cảnh quan miền Nam Việt
Nam”; Nghiên cứu vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình, và nhiều tác giả khác… Theo đó,
mỗi vùng lãnh thổ đều có một hệ thống phân loại cảnh quan cụ thể thích hợp với mục tiêu, nội dung và tỷ lệ nghiên cứu [24, 25, 68] Các hệ thống phân loại này có sự chi tiết hóa ở các chỉ tiêu nền tảng rắn như nền nham, dạng địa hình, độ dốc và các chỉ tiêu nền nhiệt, ẩm trên bảng chú giải ma trận của bản đồ cảnh quan; cấp phân chia thấp hơn, có thể đến dạng CQ; xây dựng cho các bản đồ tỷ lệ lớn và thường nghiên cứu cho lãnh thổ hẹp ở cấp huyện, xã hoặc vùng địa hình phục vụ các mục đích cụ thể
(3) Năm 1997, khi nghiên cứu CQ nhiệt đới gió mùa Việt Nam, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh đã xây dựng hệ thống phân loại áp dụng cho Bản đồ CQ Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000
Trong quá trình nghiên cứu xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, NCS cũng đã kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đây về nguyên tắc, cách xây dựng chỉ tiêu cho từng cấp phân loại của các tác giả nói trên Luận án đã tham khảo, vận dụng, kế thừa một số cấp phân loại ở bậc cao như Hệ, Phụ Hệ, Kiểu, Phụ kiểu theo sự phân hoá địa đới và phi địa đới trong hệ thống phân loại cảnh quan toàn lãnh thổ Việt Nam của Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997)
Ở các cấp phân loại thấp, NCS đã nghiên cứu, lựa chọn các chỉ tiêu phân loại trên cơ sở xem xét đến các yếu tố thành tạo cụ thể của lãnh thổ nghiên cứu và căn
cứ trên những nguyên tắc trong xây dựng hệ thống phân loại và thành lập Bản đồ Cảnh quan Hệ thống gồm 7 cấp, cụ thể như bảng sau:
Trang 37Bảng 1.1 Hệ thống phân loại cảnh quan của Phạm Hoàng Hải và cộng sự
Đặc trưng định lượng của các điều kiện khí hậu được quy định bởi
sự hoạt động của chế độ hoàn lưu khí quyển trong mối tương tác giữa các điều kiện nhiệt và ẩm ở quy mô á đới Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các quần thể thực vật liên quan đến vùng sinh thái hệ thực vật
quan
Đặc trưng hình thái phát sinh của đại địa hình lãnh thổ, quyết định các quá trình thành tạo và thành phần vật chất mang tính chất phi địa đới biểu hiện bằng các đặc trưng định lượng của cân bằng vật chất, quá trình di chuyển vật chất, lượng sinh khối, cường độ tuần hoàn sinh vật của các quần thể thích hợp với điều kiện sinh thái được quy định bởi sự kết hợp giữa yếu tố địa hình và khí hậu
cảnh quan
Đặc trưng trắc lượng hình thái trong khuôn khổ lớp, thể hiện cân bằng vật chất giữa các đặc trưng trắc lượng hình thái địa hình, các đặc điểm khí hậu và đặc trưng quần thể thực vật: sinh khối, mức tăng trưởng, tuần hoàn sinh vật theo các ngưỡng độ cao
5 Kiểu cảnh
quan
Những đặc điểm sinh khí hậu chung quyết định sự thành tạo các kiểu thảm thực vật, tính chất thích ứng của đặc điểm phát sinh quần thể thực vật theo đặc trưng biến động của cân bằng nhiệt ẩm
cảnh quan
Những đặc trưng định lượng sinh khí hậu cực đoan quyết định thành phần loài của các kiểu thảm thực vật, quy định các ngưỡng tới hạn phát triển của các loài thực vật cấu thành các kiểu thảm theo nguồn gốc phát sinh
Nguồn: Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh, 1997 [23]
1.2.2 Phân vùng cảnh quan
1.2.2.1 Khái niệm về phân vùng cảnh quan
Phân vùng cảnh quan là phân chia lãnh thổ thành các khu vực (đơn vị) có sự đồng nhất tương đối về thành phần, tính chất và mối quan hệ giữa các nhân tố thành tạo, trên cơ sở các khu vực (đơn vị) đó, lựa chọn loại hình sản xuất thích hợp với các
Trang 38biện pháp khai thác, bảo vệ hợp lý "Việc phân vùng và nghiên cứu đặc điểm cá thể, cụ
thể của các địa tổng thể có ý nghĩa hết sức to lớn vì tất cả các biện pháp kinh tế và kĩ thuật đều phải chú ý đến những đặc điểm riêng của địa phương ở từng thời điểm" (Vũ
Tự Lập) [17] Trong phạm vi lãnh thổ nghiên cứu là một huyện, phân vùng cảnh quan chính là phân chia lãnh thổ thành các tiểu vùng cảnh quan
Theo Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997): Phân vùng cảnh quan thể hiện sự tồn tại khách quan trên bề mặt trái đất các thể tổng hợp tự nhiên Mỗi vùng cảnh quan có tính toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất nội tại bởi khái quát chung vị trí Địa lí, lịch sử phát triển, bởi sự thống nhất các quá trình Địa lí cũng như tập hợp các thành phần cấu tạo [23]
Phân vùng cảnh quan khác với phân vùng địa lí tự nhiên ở nguyên tắc mang tính cốt lõi là phải dựa trên Bản đồ cảnh quan đã được xây dựng Về bản chất, phân vùng cảnh quan là nhóm các đơn vị cảnh quan liền kề có sự tương đồng về đặc điểm, nguồn gốc phát sinh và chức năng chính của chúng
1.2.2.2 Nguyên tắc phân vùng cảnh quan
Khi tiến hành phân vùng cảnh quan nói riêng hay phân vùng Địa lí tự nhiên nói chung có thể áp dụng nhiều nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc phát sinh, nguyên tắc đồng nhất tương đối, phân tích - tổng hợp và nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ Tuy nhiên, mỗi một lãnh thổ việc áp dụng các nguyên tắc là không đồng nhất Theo Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) nguyên tắc phân vùng có 3 nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc cùng chung lãnh thổ: Nguyên tắc cùng chung lãnh thổ - còn gọi là
nguyên tắc tính toàn vẹn, không chia cắt lãnh thổ, dựa trên tính cá thể của các địa tổng thể Nguyên tắc này cho thấy không thể có hai địa tổng thể hoàn toàn giống nhau Do
đó mỗi đơn vị phân vùng đều có ranh giới khép kín, phân biệt hẳn với các đơn vị lãnh thổ lân cận, và mỗi đơn vị cũng không thể bao gồm những bộ phận rời rạc phân cách nhau về mặt lãnh thổ
Nguyên tắc phát sinh: Nguyên tắc này đòi hỏi phải chia ra những đơn vị lãnh thổ
không những giống nhau về các đặc điểm tự nhiên mà còn có chung một nguồn gốc phát sinh và phát triển Nguyên tắc phát sinh trong nghiên cứu cảnh quan giúp nhận biết và giải thích được nguồn gốc các yếu tố thành tạo mà cả tổng hợp thể tự nhiên và mối liên hệ tác động giữa chúng với nhau
Nguyên tắc đồng nhất phân hóa và tích hóa: Giữa các bộ phận, các vùng có mối
quan hệ gắn kết nhờ dòng trao đổi vật chất và năng lượng Vì thế, khi phân vùng cần
Trang 39coi chúng là một thể thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của các tổng thể khác nhau ở bậc thấp hơn, nghĩa là phân định được một hệ thống các cấp phân vị với chỉ tiêu rõ ràng
1.2.2.3 Các hệ thống phân vùng cảnh quan
Theo Ixatsenko (1976), “Phân vùng cảnh quan được xem như là một phương pháp toàn năng, nhằm sắp xếp và hệ thống lại các lãnh thổ đã được sử dụng rộng rãi trong các khoa học địa lí, kể cả phân vùng tự nhiên bộ phận cũng như phân vùng địa lí
tự nhiên tổng hợp” [37]
Trên thế giới, phân vùng cảnh quan được chia thành các nhóm sau: (1) Hệ thống phân vùng sắp xếp theo tính địa đới và phi địa đới ở cấp cao (Grigogiev, XoTrava, Minkov); (2) Hệ thống phân vùng dựa vào tính địa đới và phi địa đới (Sukin, Ixatsenko): Đới - Xứ - Miền - Vùng, hệ thống phân vùng này không có sự luân phiên giữa các đơn vị mang tính địa đới và phi địa đới; (3) Hệ thống phân vùng dựa vào tính phi địa đới tự nhiên, hệ thống này hoàn toàn loại bỏ các quy luật địa đới trong phân hóa cảnh quan: Lục địa - Xứ - Miền - Vùng, Xontxev (1958); (iv) Hệ thống phân vùng dựa vào tổng thể các yếu tố địa lí, trên nguyên tắc đánh giá tổng hợp các nhân tố phân hóa địa lí tự nhiên (Gvozaexki, Mikhailop, Kondratxki): Xứ - Đới - Khu - Á đới - Á khu - Vùng - Tiểu vùng [40]
Ở Việt Nam, hệ thống phân vùng cảnh quan của Vũ Tự Lập (1976); Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) mang tính lí luận cao, có khả năng áp dụng với các quy
mô lãnh thổ khác nhau Cả 2 hệ thống phân vùng đều bảo đảm tính logic theo trình tự các cấp phân vị từ lớn đến nhỏ, mỗi cấp có chỉ tiêu xác định rõ ràng Trong khi đó, các nghiên cứu gần đây lại cho thấy xu hướng phân vùng cảnh quan theo hướng CQ ứng dụng, áp dụng cho các lãnh thổ cụ thể NCS đã kế thừa các kết quả này và phân vùng cảnh quan huyện Mộc Châu ở phần sau của luận án
1.2.3 Đánh giá cảnh quan
Đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó như: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, du lịch (Nguyễn Cao Huần, 2005) [35] Đây là một nội dung quan trọng, tạo cơ sở khoa học cần thiết để đề xuất các định hướng phát triển cho một vùng lãnh thổ Trên một lãnh thổ nghiên cứu, tùy mục đích có thể chọn hệ thống tiêu chí và các bước đánh giá khác nhau Đánh giá cảnh quan vận dụng quan điểm sinh thái cần đặt hệ thống cảnh quan trong bối cảnh môi trường, kinh tế xã hội đặc trưng của vùng miền Việc sử dụng và khai thác cảnh quan cần phải xem xét tính thích nghi sinh thái, tính bền vững môi trường, tính hiệu quả kinh tế và bến vững xã hội Vị trí của đánh giá CQ có ý nghĩa hết sức quan, nhất là các
Trang 40hoạt động phát triển kinh tế Giúp các nhà quản lí, quy hoạch đưa ra quyết định thích hợp với từng đơn vị, lãnh thổ cụ thể Đánh giá cảnh quan bao gồm đánh giá thích nghi sinh thái; đánh giá ảnh hưởng của môi trường, đánh giá kinh tế, đánh giá tính bền vững
xã hội
Đạt được các mục tiêu sinh thái, môi trường, kinh tế, xã hội nhằm tối ưu hóa trong quy hoạch không gian lãnh thổ Đánh giá đạt được mục tiêu tối ưu hóa cần 4 yêu cầu chính: hiểu sâu sắc các địa hệ sinh thái; đánh giá đúng đắn nhất các ĐKTN và TNTN; đề xuất các biện pháp hợp lí nhất cả về kinh tế, xã hội, môi trường; đề xuất quy hoạch, dự báo biến đổi về môi trường và điều chỉnh tác động Để hoạt động đánh giá đạt được kết quả tối ưu cần có quá trình khảo sát thực tế cùng các tài liệu về yêu cầu của đối tượng cần đánh giá Quá trình xác định chỉ tiêu tùy vào điều kiện thực tế của cảnh quan, các nhân tố ảnh hưởng đến đối tượng đánh giá
1.2.4 Cấu trúc cảnh quan và mối quan hệ với các ngành kinh tế
1.2.4.1 Cấu trúc cảnh quan
Tương tác giữa các hợp phần cảnh quan tạo ra cấu trúc cảnh quan Theo nghĩa
chung nhất, cấu trúc cảnh quan được hiểu là sự sắp xếp trong không gian và thay đổi
trạng thái theo thời gian của một cảnh quan Kế thừa lý luận cảnh quan học Xô Viết,
khái niệm về cấu trúc cảnh quan tại Việt Nam bao hàm cả khía cạnh không gian, thời gian, gồm cả cấu trúc đứng, cấu trúc ngang và cấu trúc thời gian Trên cơ sở tiếp cận
sinh thái học và Địa lí học, tác giả Nguyễn An Thịnh (2010) đã định nghĩa “Cấu trúc
cảnh quan phản ánh những đặc trưng không gian và thời gian về môi trường và nơi sống tạo ra các hiệu ứng sinh thái ảnh hưởng đến sinh vật, con người và các quá trình
hệ sinh thái, bao gồm sự sắp xếp không gian của các yếu tố không gian theo chiều nằm ngang, mối liên hệ giữa cấu trúc cảnh quan theo chiều thẳng đứng và nhịp điệu biến đổi cảnh quan theo thời gian” [69]
Cấu trúc cảnh quan luôn được xem xét giữa các hợp phần cảnh quan theo chiều thẳng đứng, đặc điểm sắp xếp trong không gian của các yếu tố cảnh quan theo chiều nằm ngang Theo đó cầu trúc cảnh quan được phân chia như sau:
Cấu trúc đứng: sự phân bố theo chiều thẳng đứng tạo nên cấu trúc đứng của
cảnh quan, thế hiện mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần riêng biệt của cảnh quan Cấu trúc đứng thể hiện tập hợp có quy luật của các hợp phần cảnh quan bao gồm mẫu chất, địa hình, thủy văn, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật
Cấu trúc ngang: còn gọi là cấu trúc hình thái của cảnh quan, là đặc điểm kết
hợp các yếu tố cảnh quan cơ bản Cấu trúc này thể hiện quy luật sắp xếp và mối quan