Lực là đại lượng vật lý đặc trưng cho tác dụng của vật này vào vật khác, là số đo của tác động cơ học do các đối tượng khác tác dụng vào vật.. Chương này không nghiên cứu sự biến dạng c
Trang 1Chương 2
ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM
Động Lực Học nghiên cứu mối quan hệ giữa sự biến đổi trạng thái chuyển động của vật và nguyên nhân làm biến đổi trạng thái của chuyển động đó Chương này nghiên cứu mối quan hệ giữa gia tốc của chất điểm, hệ chất điểm với các lực tác dụng lên nó Các phương trình động lực học rút ra chỉ được áp dụng cho các vật có
kích thước nhỏ – các chất điểm Vì thế, khi nói “vật” ta hiểu vật đó là chất điểm
§2.1 – CÁC ĐỊNH LUẬT NEWTON
Cơ sở của Động Lực Học là ba định luật của Newton Isaac Newton – nhà Vật
Lý người Anh (1642 – 1727) Trong công trình “Các tiên đề toán học của triết học tự nhiên”, công bố năm 1687, ông đã phát biểu những định luật cơ bản của cơ học cổ điển, thiết lập được định luật vạn vật hấp dẫn, nghiên cứu sự tán sắc ánh sáng và khởi thảo những cơ sở của các phép tính vi phân và tích phân
1 – Định luật Newton thứ I:
Một vật cô lập, nghiã là hoàn toàn không chịu tác dụng của các vật khác, sẽ mãi mãi đứng yên (nếu nó đang đứng yên) hoặc chuyển động thẳng đều (nếu nó đang chuyển động) Nói các khác, một vật cô lập sẽ bảo toàn trạng thái chuyển động của nó
( ) Đây là một thuộc tính của vật chất, và được gọi là quán tính của vật Vì
thế, định luật I Newton còn gọi là định luật quán tính
→
→
= const
v
Trên thực tế, không có vật cô lập tuyệt đối, mà chỉ có những vật chịu tác dụng
của những lực cân bằng, khi đó định luật I Newton cũng nghiệm đúng
2 – Định luật Newton thứ II:
a) Khái niệm về lực: Trong cuộc sống, ta thấy rõ nhiều hiện tượng vật này tác dụng
vào vật kia Chẳng hạn như: khi nâng một vật lên cao, tay ta đã tác dụng vào vật và vật
đã đè lên tay ta; khi nam châm để gần đinh sắt sẽ hút đinh sắt, … Để đặc trưng cho
các tác dụng đó, người ta đưa ra khái niệm về lực
Lực là đại lượng vật lý đặc trưng cho tác dụng của vật này vào vật khác, là số
đo của tác động cơ học do các đối tượng khác tác dụng vào vật Số đo ấy đặc trưng cho hướng và độ lớn của tác dụng
Lực được kí hiệu là F (Force) Trong hệ SI, lực có đơn vị là newton (N) Lực
là một đại lượng vectơ ( ) và là một khái niệm cơ bản của Động Lực Học →F
- Phương của lực : cho biết phương tác dụng →F
- Chiều của →F : cho biết chiều tác dụng
Trang 2- Độ lớn của →F : cho biết độ mạnh, yếu (cường độ) tác dụng
- Điểm đặt của : cho biết vị trí (điểm) chịu tác dụng →F
Dưới tác dụng của lực, vật có thể thu gia tốc hoặc bị biến dạng Chương này không nghiên cứu sự biến dạng của vật, chỉ nghiên cứu quan hệ giữa gia tốc của chất điểm với các lực tác dụng vào nó
Nếu tổng vectơ của hai lực đặt vào chất điểm bằng không thì sự có mặt của các tác động đo bởi các lực đó không được phản ánh trong chuyển động của chất
điểm Hai lực như vậy được gọi là hai lực cân bằng
Trong cơ học, ta phân biệt ba loại lực:
Các lực hút tương hỗ giữa các vật – gọi là lực hấp dẫn
Các lực xuất hiện khi các vật tiếp xúc trực tiếp tác dụng lên nhau Các
lực này có chung bản chất là lực đàn hồi
Các lực là kết quả của sự tương tác giữa hai vật tiếp xúc nhau, chuyển
động tương đối với nhau Các lực này gọi là lực ma sát
Bản chất và đặc điểm của các lực này, được trình bày rõ hơn ở §2.2
b) Khái niệm về khối lượng:
Mọi vật đều có xu hướng bảo toàn trạng thái chuyển động ban đầu của mình Thuộc tính đó gọi là quán tính của vật Mức quán tính của vật được đặc trưng bởi một đại lượng vật lý đó là khối lượng Ta nói: khối lượng là số đo mức quán tính của vật
Quán tính của vật thể hiện ở gia tốc mà nó thu được khi có ngoại lực tác dụng
và được định lượng bởi định luật II Newton: F = ma Ta thấy, với cùng một lực tác dụng, trạng thái chuyển động biến đổi càng nhỏ (gia tốc càng nhỏ) khi khối lượng (quán tính) của vật càng lớn và ngược lại
Khối lượng còn là đại lượng đặc trưng cho mức hấp dẫn giữa vật và các vật khác Theo Newton, lực hấp dẫn giữa Trái đất và vật là F = mg Như vậy, đối với cùng một vật, ta có thể viết: F=mia và F = mgg Trường hợp thứ nhất, khối lượng là số
đo quán tính của vật, nên gọi là khối lượng quán tính và được kí hiệu là mi Trường hợp thứ hai, khối lượng là số đo tương tác hấp dẫn của vật với Trái đất, nên gọi là khối lượng hấp dẫn và được kí hiệu là mg
Tuy nhiên, trong sự rơi tự do, mọi vật đều có cùng gia tốc a = g như nhau nên suy ra khối lượng quán tính và khối lượng hẫp dẫn bằng nhau về trị số:
m m
Hệ thức (2.1) là một trong những kết luận vững chắc nhất của vật lý hiện đại
Trên cơ sở đó, ta đi đến khái niệm về khối lượng như sau: Khối lượng là số đo mức
Trang 3quán tính của vật và mức hấp dẫn của vật đối với vật khác Trong hệ SI, đơn vị đo
khối lượng là kilôgam (kg) và là một trong bảy đơn vị cơ bản
Khối lượng không phải là đại lượng bất biến Thuyết tương đối hẹp của Einstein đã chỉ ra rằng, khối lượng m của vật tăng theo vận tốc v của nó (xem chương 5) theo công thức:
2 2 0c
v1
mm
−
Trong đó m0 là khối lượng của vật lúc đứng yên (khối lượng nghỉ), c = 3.108 m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không Tuy nhiên, trong phạm vi cơ học cổ điển, v << c nên m ≈ m0, ta coi khối lượng là đại lượng bất biến
c) Phát biểu định luật Newton thứ II:
Khi vật chịu tác dụng của ngoại lực , nó sẽ thu một gia tốc theo hướng của lực, tỉ lệ thuận với lực và tỉ lệ nghịch với khối lượng của vật:
→
m
Fa
m
F
F F m
F m
3 – Định luật Newton thứ III:
Nếu vật A tác dụng vào vật B một lực thì vật B cũng tác dụng ngược trở lại vật A một lực Hai lực này tồn tại đồng thời, cùng giá, bằng nhau về độ lớn nhưng ngược chiều:
→
F
→
' F
' F
F được gọi là lực tác dụng vào vật thì F gọi là phản lực của vật Lực và phản lực là
hai lực trực đối nhưng không cân bằng nhau, vì đặt vào hai vật khác nhau Chúng có cùng bản chất, cùng tồn tại và mất đi đồng thời
→
'
Định luật III Newton khẳng định tác
dụng giữa các vật bao giờ cũng là “tương tác”
(có tính hai chiều) Điều này thể hiện mối liên
hệ biện chứng giữa các vật
BA
F '
→
Hình 2.1: Lực và phản lực
Trang 44 – Phương trình cơ bản của động lực học chất điểm:
Từ các định luật cơ học của Newton, ta khái quát nên một phương trình diễn
tả mối quan hệ giữa lực tác dụng (nguyên nhân) và gia tốc của vật (kết quả):
→
→
=
∑F ma (2.6) Phương trình (2.6) được gọi là phương trình cơ bản của Động Lực Học chất điểm Từ (2.6) suy ra:
• Khi ngoại lực = 0 thì gia tốc = 0 và do đó : ta có chuyển động thẳng đều (2.6) thể hiện định luật Newton thứ nhất
M
→ n
F
→ n
a
→
a
→ ta
Khi chất điểm chuyển động cong, vectơ gia
tốc được phân tích làm hai thành phần:
Suy ra: , nghĩa là lực tác dụng
lên vật cũng được phân tích làm hai thành
tuyến (vì nằm trên tiếp tuyến qũi đạo),
có tác dụng làm thay đổi độ lớn của
vectơ vận tốc (gây ra gia tốc tiếp tuyến)
→
→
t m a F
• Thành phần gọi là lực pháp tuyến (vì nằm trên pháp tuyến qũi đạo),
có tác dụng làm thay đổi hướng của vectơ vận tốc (gây ra gia tốc pháp tuyến)
→
→
n m a F
Như vậy, vật chuyển động cong thì ngoại lực tác dụng phải có thành phần pháp tuyến:
R
mv ma
Fn = n = 2 (2.7)
Từ phương trình cơ bản (2.6) suy ra: nếu biết lực tác dụng vào vật (nghiã là biết được nguyên nhân) thì sẽ tìm được gia tốc của vật và từ đó biết được tính chất chuyển động của vật (kết quả) Bài toán xác định tính chất chuyển động của vật khi
biết các lực tác dụng vào vật được gọi là bài toán thuận Trong một số trường hợp đơn
giản, nếu biết trước tính chất chuyển động của vật, ta có thể tìm được nguyên nhân
gây nên tính chất của chuyển động ấy – bài toán ngược
Trang 5ma sát Vì vậy trong cơ học cổ điển, xét về bản chất, có ba loại lực gọi là lực cơ học: lực hấp dẫn, lực đàn hồi và lực ma sát Về mặt hình thức, người ta chia các lực cơ học
làm hai loại: các lực trực tiếp tác dụng vào vật (lực hấp dẫn) và các lực liên kết với
chuyển động của vật (phản lực, lực ma sát, lực căng dây) Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu đặc điểm của các lực này
1 – Lực hấp dẫn – Trọng lực:
Các vật trong vũ trụ đều hút lẫn nhau bằng các lực có cùng bản chất – gọi là
lực hấp dẫn Newton là người đầu tiên phát hiện ra rằng, nguyên nhân làm cho quả táo
rơi xuống đất, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, hay nguyên nhân làm các hành tinh
quay xung quanh Mặt Trời đó chính là lực hấp dẫn Ông đã thiết lập được biểu thức định lượng của lực hấp dẫn và phát biểu thành định luật vạn vật hấp dẫn
a) Định luật vạn vật hấp dẫn (định luật hấp dẫn):
Hai chất điểm bất kì luôn hút nhau một lực gọi là lực hấp dẫn Lực này tỉ lệ thuận với tích khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng
2 21 hd
r
m m G
r
m m G
∫
=
) V ( 2
1 2
hd
r
dm Gm
Kết quả tính tích phân (2.9) cho phép rút ra một số kết luận sau:
• Lực hấp dẫn của một quả cầu đồng nhất lên một chất điểm ở ngoài quả cầu tựa
hồ như toàn bộ khối lượng của quả cầu tập trung tại tâm của nó
• Lực hấp dẫn của một quả cầu rỗng đồng nhất lên một chất điểm ở trong quả cầu luôn bằng không Nói cách khác, vỏ cầu đồng nhất không hấp dẫn bất kì vật nào bên trong nó
Trang 6Từ kết quả trên suy ra, lực
hấp dẫn của Trái Đất tác dụng lên
một vật nhỏ ở ngoài Trái Đất là:
2 hd
) h R
của Trái Đất, h là độ cao từ mặt đất
F = , với M’ là khối lượng
phần Trái đất nằm trong hình cầu bán
kính r Coi mật độ khối lượng Trái
' V M ' M V
Vậy: trong lòng Trái Đất, lực hấp dẫn tỉ lệ thuận với bán kính r; tại tâm Trái Đất, lực
hấp dẫn triệt tiêu; tại bề mặt Trái Đất, lực hấp dẫn đạt cực đại; bên ngoài Trái Đất, lực hấp dẫn tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách từ tâm Trái Đất đến vật Hình (2.3) biểu diễn phân bố lực hấp dẫn của Trái Đất lên một vật nhỏ theo khoảng cách từ tâm Trái Đất đến vật
Trong trường hợp tổng quát, tích phân (2.9) khá phức tạp, nên ta có thể tính gần đúng lực hấp dẫn giữa các vật thể bằng cách coi chúng là những chất điểm đặt tại khối tâm của chúng
Bảng 2.1: Lực hấp dẫn của các vật trong vũ trụ
Vật thể m1 (kg) m2 (kg) r (m) Fhd (N)
Mặt trời – Trái đất
Mặt trời – Sao Thủy
Mặt trời – Sao Diêm vương
Do trị số của G quá nhỏ nên lực hấp dẫn chỉ đáng kể đối với vật có khối lượng rất lớn (các thiên thể) Chính vì thế, trong cuộc sống, ta không phát hiện ra lực hấp dẫn
Trang 7của các vật xung quanh Bảng 2.1 cho ta một số giá trị của lực hấp dẫn giữa các vật thể khác nhau
b) Trọng lực – gia tốc rơi tự do:
Trọng lực của một vật, theo nghĩa gần đúng là lực hấp dẫn của Trái Đất tác
g
(2.12)
Trong đó: M và m là khối lượng của Trái Đất và
vật; r khoảng cách từ tâm của Trái Đất đến vật và:
2
hd
r
M G m
R
M G
g = ≈ 9 , 8 m/s2 (2.14) Khi lên cao, lực hấp dẫn giảm nên gia tốc g giảm theo qui luật:
2
2 o 2 h
) h R (
R g ) h R (
M G g
+
= +
với go là gia tốc tại mặt đất
Ở độ sâu h so với mặt đất, từ (2.11) suy ra gia tốc rơi tự do là:
) R
h 1 ( g R
h R g r R
GM (
Thực ra, vật luôn tham gia vào chuyển động tự quay của Trái Đất, nên ngoài lực hấp dẫn của Trái Đất, nó còn chịu tác dụng một lực - gọi là lực quán tính li tâm (chúng ta sẽ nghiên cứu sau) Hợp lực: (2.17)
Vậy, theo nghĩa chính xác, trọng lực của một vật là lực mà Trái đất hút nó khi có kể
đến sự tự quay của Trái đất
Vì lực quán tính li tâm phụ thuộc vào vĩ độ, nên trọng lực cũng phụ thuộc vào vĩ độ, kéo theo trị số của g thay đổi theo vĩ độ Càng xa xích đạo, g càng tăng (ở xích đạo: g = 9,78 m/s
→
2; ở điạ cực: g = 9,83m/s2) Các kết quả tính toán cho
Trang 8thấy thành phần quán tính li tâm rất nhỏ, chỉ làm g thay đổi tối đa 0,5%, nên để
đơn giản, ta hiểu trọng lực theo nghĩa gần đúng, và khi đó, gia tốc rơi tự do g được
tính theo các công thức (2.14), (2.15) và (2.16) Trong đa số các trường hợp, để đơn giản, ta thường chọn g = 10 m/s
Trọng lượng của một vật là lực mà vật ấy tác dụng lên giá đỡ hoặc dây treo
nó, do bị Trái Đất (hoặc rộng hơn là các thiên thể ) hút mà không được tự do chuyển động
Thuật ngữ “trọng lượng” và “trọng lực” thường hay bị lầm lẫn, thực ra chúng
là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Trọng lực là lực hút của Trái đất tác dụng lên vật, có điểm đặt tại trọng tâm của vật; còn trọng lượng là lực mà vật tác dụng vào giá
đỡ hoặc dây treo, có điểm đặt tại giá đỡ hoặc dây treo Ở điều kiện bình thường, khi
vật đứng yên so với mặt đất thì trọng lượng và trọng lực có cùng trị số Nhưng khi vật chuyển động có gia tốc, thì trị số của trọng lượng có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn trị
số của trọng lực P (hiện tượng tăng giảm trọng lượng – đọc thêm §6)
d) Đo khối lượng:
Để đo khối lượng của một vật, ta dùng một dụng cụ gọi là cái cân Sơ đồ
Nguyên lý hoạt động của cái cân được mô tả ở hình (2.5)
Giả sử khối lượng vật cần cân là m, khối lượng chuẩn (quả cân) là mo Vì ở cùng một nơi, gia tốc rơi tự do là không đổi, nên:
Đo chiều dài các cánh tay đòn OA, OB và biết
khối lượng của quả cân mo ta sẽ tính được khối lượng của vật
Hình 2.5: Sơ đồ nguyên
lý của cái cân
Cái cân có sơ đồ nguyên lý ở hình (2.5) được gọi là cân đòn Trong đó, cánh
tay đòn OA là cố định, cánh tay đòn OB có các vạch chia sẵn tương ứng với khối lượng m của vật Di chuyển quả cân (thay đổi chiều dài cánh tay đòn OB) đến vị trí cân thăng bằng, ta sẽ có số chỉ của khối lượng m
Trang 9Nếu cố định chiều dài các cánh tay đòn bằng nhau thì phải thay đổi khối lượng chuẩn mo cho đến khi cân thăng bằng Lúc đó khối lượng m sẽ bằng tổng khối lượng
các quả cân Đó chính là nguyên lý hoạt động của cân đĩa (cân Rôbécvan)
Đo khối lượng bằng phương pháp trên được gọi là phép cân Mặc dù khi ta
cân vật ở các địa điểm khác nhau thì gia tốc g có khác nhau, nhưng (2.18) không phụ thuộc vào gia tốc g nên phép cân không phụ thuộc vào địa điểm cân
Một phương pháp đo khối lượng khác là dựa vào lực kế lò xo (cân lò xo) Ta biết độ giãn của lò xo tỉ lệ với lực đàn hồi Nếu ta móc vật vào lò xo thì khi vật đứng yên cân bằng (trong hệ qui chiếu gắn với Trái Đất), độ lớn của lực đàn hồi chính bằng trọng lượng mg của vật Do đó khối lượng của vật tỉ lệ với độ giãn của lò xo Dựa vào
độ giãn của lò xo, ta có thể suy ra khối lượng của vật Phương pháp cân vật bằng các cân lò xo khá tiện lợi, nhưng kết quả không thật chính xác vì phụ thuộc vào gia tốc g (nghĩa là phụ thuộc vào địa điểm cân) Tuy nhiên, sai số là không đáng kể, nên trong đời sống hàng ngày, cân lò xo được sử dụng khá rộng rãi
Trong đó k: là hệ số đàn hồi (hay độ
cứng) của vật, đơn vị đo là niutơn trên
mét (N/m); ∆ : là độ biến dạng của vật
(m); dấu “ – “ chứng tỏ lực đàn hồi
ngược với chiều biến dạng
A
Độ cứng của một vật phụ thuộc vào chiều
dài ban đầu , tiết diện ngang S và bản
chất của vật liệu làm ra nó:
A
A
S E
trong đó E là hệ số tỉ lệ đặc trưng cho vật liệu, gọi là suất Young Từ (2.20) suy ra, với
cùng một loại vật liệu và cùng tiết diện ngang, vật nào càng ngắn thì càng cứng Bảng 2.2 cho biết suất Young của một số vật liệu thông dụng
Lực đàn hồi có bản chất là lực điện từ Vì khi biến dạng, khoảng cách giữa các phân tử thay đổi nên xuất hiện các lực hút và lực đẩy tĩnh điện giữa các phân tử
Lực đàn hồi thể hiện rõ nhất là ở các lò xo, các dây thun Một số dạng khác của lực đàn hồi, đó là lực căng dây, phản lực vuông góc của bề mặt tiếp xúc Chúng ta
sẽ lần lượt tìm hiểu sâu hơn
Trang 10Bảng 2.2: Suất Young của vài vật liệu thông dụng
Vật liệu Suất Young E (N/m2) Vật liệu Suất Young E (N/m2) Đồng
trường hợp này được gọi là lực căng dây
Để đơn giản hoá các tính toán, người ta
thường coi dây như không bị giãn và không có
khối lượng Khi đó lực căng có độ lớn bằng nhau
tại mọi điểm trên dây Ta nói sợi dây truyền
nguyên vẹn lực từ đầu này đến đầu kia
Ví dụ: Xét vật m được treo ở đầu sợi dây,
đầu kia của sợi dây treo vào điểm cố định C (hình
2.7) Trong quá trình chuyển động của vật, sợi
dây luôn được căng thẳng Tại điểm A bất kì trên
dây, nó chịu tác dụng của hợp lực bằng không
Nếu cắt đứt sợi dây tại A, muốn cho đoạn AC vẫn căng thẳng như trước, ta phải tác dụng lên A một lực Ngược lại, muốn cho vật m vẫn có chuyển động như cũ, ta phải tác dụng lên A một lực và cùng độ lớn, cùng giá nhưng ngược chiều
và được gọi là lực căng dây
→
' T
A A
A m
Xét hai vật (1) và (2) tiếp xúc nhau, do áp lực của
vật (1) tác dụng vào vật (2) làm bề mặt của vật (2) bị biến
dạng Khi đó vật (2) xuất hiện lực đàn hồi chống lại sự
biến dạng đó Lực này tác dụng ngược trở lại vật (1) theo
hướng vuông góc với bề mặt tiếp xúc nên được gọi là phản
lực vuông góc hay phản lực pháp tuyến (hoặc ngắn gọn là
phản lực) của mặt tiếp xúc, và được kí hiệu là N→
Trang 11a) Lực ma sát trượt:
Giả sử vật m trượt trên mặt sàn nằm ngang
Trong quá trình chuyển động, vật m sẽ tác dụng vào
mặt sàn một lực Theo định luật III Newton, mặt
sàn sẽ tác dụng ngược trở lại vật m một phản lực liên
Gỗ – gỗ Cao su – đất cứng Cao su – gang Nước đá – nước đá
0,25 – 0,5 0,4 – 0,6 0,83 0,03
Đặc điểm của lực ma sát trượt:
• Xuất hiện tại bề mặt tiếp xúc khi hai vật trượt tương đối với nhau
• Có phương tiếp tuyến với bề mặt tiếp xúc và hướng ngược chiều chuyển động
• Có độ lớn tỉ lệ với áp lực vuông góc với bề mặt tiếp xúc, không phụ thuộc vào diện tích mặt tiếp xúc: fms = µQ = µ N (2.22)
Trang 12với µ: là hệ số tỉ lệ, được gọi là hệ số ma sát trượt Giá trị của µ phụ thuộc vào bản chất của hai vật tiếp xúc và tính chất của bề mặt tiếp xúc Bảng 2.3 cho biết hệ số ma sát trượt của vài vật liệu thông thường
b) Lực ma sát lăn:
Khi vật có chuyển động lăn thì xuất hiện lực ma sát lăn cản trở chuyển động của vật Thực nghiệm chứng tỏ rằng, lực ma sát lăn cũng tỉ lệ với áp lực vuông góc với mặt tiếp xúc và tỉ lệ nghịch với bán kính R của vật lăn hình trụ hoặc hình cầu:
fms lăn = µL N =
R
N 'L
với µL là hệ số ma sát lăn µL nhỏ hơn µ rất nhiều Chính vì thế mà trong kĩ thuật, để giảm ma sát, tại chỗ tiếp xúc ta thay bằng các ổ bi, bánh xe
c) Lực ma sát nghỉ:
Trường hợp ngoại lực tác dụng không
đủ mạnh, ta thấy vật vẫn đứng yên Điều này
có mâu thuẫn với định luật II Newton hay
không? Thực ra khi vật có xu hướng trượt, tại
bề mặt tiếp xúc sẽ xuất hiện lực ma sát nghỉ,
cân bằng với thành phần tiếp tuyến của
ngoại lực, làm cho tổng các lực tác dụng lên
vật vẫn triệt tiêu, kết quả vật không trượt Nếu thành phần F
→ t
F
t tăng lên thì lực ma sát nghỉ cũng tăng theo, cho đến khi fmsn = µ N thì vật bắt đầu trượt
chuyển Khi nó bắt đầu dịch
chuyển, ta thấy dễ đẩy hơn) Đồ
thị hình (2.11) biểu diễn sự biến
thiên của lực ma sát theo vận
tốc tương đối v Khi vật bắt đầu
trượt, lực ma sát nghỉ cực đại
lớn hơn lực ma sát trượt Khi
vận tốc v tăng thì lực ma sát tăng chậm Nếu bỏ qua các chi tiết nhỏ này, đồ thị (2.11a) được thay bằng đồ thị (2.11b) Khi đó, ta có công thức (2.24)
Trang 13Tuy nhiên, trong một số trường hợp, ma sát lại rất cần thiết Không có ma sát, con người và tất cả xe cộ đều không thể chuyển động được Quan sát một chiếc ôtô đi trên đoạn đường bùn lầy, ta thấy có lúc bánh xe quay rất nhanh mà ôtô không tiến lên được Đó là vì ma sát của đường không đủ lớn để giữ cho bánh xe khỏi trượt Trong
trường hợp này, lực ma sát nghỉ đóng vai trò là ngoại lực phát động làm vật chuyển
trường lỏng hoặc khí Nếu nó đứng yên thì
chỉ cần một lực rất nhỏ cũng làm cho nó
chuyển động (thí dụ một người không thể
làm nhúc nhích chiếc tàu mắc cạn, nhưng
nếu tàu đậu trên bến thì người ấy có thể
đẩy nó chuyển động dễ dàng) Có thể nói
rằng, chất lỏng và chất khí không có ma
sát nghỉ
a) b) c)
Khi vật rắn chuyển động trong
môi trường chất lỏng, hay khí thì nó chịu
lực cản đáng kể, ta gọi là lực cản của môi
trường Nguyên nhân của lực cản này, một
Đặc điểm của lực cản môi trường:
• Tỉ lệ với tiết diện cản S – là tiết diện ngang lớn nhất của vật vuông góc với
có cùng tiết diện cản S, chuyển động trong không khí với cùng vận tốc v, nhưng có hình dạng khác nhau Nếu lực cản đối với vật hình trụ là lớn nhất bằng 1 thì lực cản
của vật có dạng (d) là nhỏ nhất, chỉ bằng 1/25 Ta gọi dạng (d) là dạng khí động học
Thân các loài chim, cá đều có dạng này Người ta cũng chế tạo thân máy bay, ô tô theo dạng này để giảm tối đa lực cản môi trường
Trang 14§2.3 - PHƯƠNG PHÁP ĐỘNG LỰC HỌC
Trên cơ sở hiểu biết về bản chất và các đặc điểm của các lực cơ học, chúng ta
sẽ vận dụng các định luật Newton để khảo sát các bài toán cơ bản của động lực học Phương pháp vận dụng các định luật Newton để khảo sát các bài toán cơ học còn được
gọi là phương pháp động lực học
Bài toán thuận của cơ học là bài toán biết các lực tác dụng lên vật, tìm tính chất chuyển động của nó Để giải tường minh bài toán này, cần phải biết thêm các
điều kiện ban đầu, tức là vị trí (toạ độ), vận tốc của vật ở một thời điểm nào đó được
qui ước làm gốc thời gian Trình tự giải bài toán này là:
• Xác định các lực tác dụng lên chất điểm
• Vận dụng (2.6)
• Chiếu lên các trục toạ độ Ox, Oy, Oz cần thiết để tìm các thành phân ax,
ay, az của vectơ gia tốc rồi sử dụng các điều kiện ban đầu, tìm phương trình chuyển động của chất điểm
Trong quá trình nghiên cứu, đôi khi ta gặp bài toán ngược của cơ học: biết tính chất chuyển động của vật, xác định các lực tác dụng lên nó Ví dụ nổi tiếng của
bài toán này là việc Newton tìm ra lực hấp dẫn từ chuyển động của các hành tinh Trong kĩ thuật, ta cũng thường hay gặp bài toán ngược Thí dụ: trong một ống phóng điện tử (như đèn hình chẳng hạn), electron phải có qũi đạo và vận tốc xác định, người
kĩ sư phải tính các lực điện, lực từ tác dụng lên electron, để từ đó thiết kế các mạch điện hợp lý Trình tự giải bài toán này là:
• Từ chuyển động của vật suy ra gia tốc của nó
• Vận dụng (2.6) suy ra lực tác dụng lên vật
Trên thực tế, nhiều bài toán không thuần tuý là thuận hay ngược Thí dụ trong bài toán thuận, thường ta không biết đầy đủ về lực ma sát, lực liên kết, để giải được, phải có thêm các dữ kiện như hệ số ma sát hoặc biết một vài yếu tố của chuyển động Dưới đây là vài ví dụ điển hình
Ví dụ 2.1: Vật có khối lượng m được kéo trượt trên mặt sàn ngang bởi một lực
không đổi, tạo với phương ngang một góc α Hệ số ma sát giữa vật và mặt sàn là µ Tính gia tốc của vật Xác định góc α để gia tốc lớn nhất
Trang 15mg ) sin (cos
F
a = α + µ α − µ = α + µ α − µ (2.27)
Từ (2.27) suy ra: khi lực kéo có độ lớn không đổi, gia tốc của vật là lớn nhất khi (cosα + µ sinα)max Áp dụng bất đẳng thức Bunhiacopxki, ta có:
(cosα + µ sinα)2 ≤ (12 + µ2 )(sin2α + cos2α)
⇒ cosα + µsinα ≤ 1 + µ2 = const
⇒ (cosα + µsinα)max = 1 + µ2 khi µ cosα = sinα
⇒ tgα = µ (2.28) Vậy để gia tốc nhất thì lực kéo phải hợp với mặt nghiêng một góc αo sao tgαo = µ
Ví dụ 2.2: Vật có khối lượng m được kéo trượt lên một mặt phẳng nghiêng có góc
nghiêng α so với mặt phẳng ngang bởi lực hợp với mặt nghiêng một góc β Hệ số
ma sát giữa vật và mặt phẳng nghiêng là µ
→
Fa) Tìm gia tốc của vật Từ đó suy ra lực kéo tối thiểu để vật có thể đi lên
b) Giả sử lực kéo có độ lớn không đổi, hãy tìm góc β để gia tốc lớn nhất
c) Trong trường hợp không có lực kéo, hãy tìm biểu thức tính gia tốc trượt xuống của vật Từ đó suy ra góc α nhỏ nhất để vật bắt đầu trượt xuống
Trang 16Giải
→ t
P
→ t
P
→ n
F
→
Fβ
α) α
Thay (3) vào (2) ⇒ F(cosβ +µsinβ) –mg(sinα + µcosα) = ma
Từ đó tính được gia tốc của vật là:
) cos (sin
g ) sin (cos
α µ + α
=
sin cos
) cos (sin
mg
Nếu lực kéo có hướng song song mặt nghiêng (β = 0) thì:
Trang 17) cos (sin
g m
F
b) Từ (2.29) suy ra: khi lực kéo có độ lớn không đổi, gia tốc của vật là lớn nhất khi (cosβ + µ sinβ)max Áp dụng bất đẳng thức Bunhiacopxki, tương tự như ví dụ 1, ta có: tgβ = µ Vậy để gia tốc nhất thì lực kéo phải hợp với mặt nghiêng một góc βo sao cho tgβo = µ
c) Nếu không có lực kéo, vật có thể sẽ trượt xuống dốc Khi đó lực ma sát hướng ngược lên trên dốc Làm tương tự như câu a, ta sẽ thu đựợc gia tốc của vật khi nó trượt xuống dốc: a = g(sinα – µ cosα) (2.32) Vật thực sự trượt xuống khi a ≥ 0 (2.32) ⇒ sinα µ cosα ⇒ tgα µ ≥ ≥
Vậy góc α nhỏ nhất để vật bắt đầu trượt xuống dốc (khi không có lực kéo) là:
αmin = arctgµ (2.33)
Ví dụ 2.3: Thang máy chuyển động với
đồ thị vận tốc như hình (2.15) Khối
lượng của thang máy là 500 kg, lực
căng lớn nhất của dây cáp cho phép sự
an toàn của thang máy là Tmax = 12000
N Tính trọng tải của thang máy
10 13 2
5
v (m/s)
t (s)
Giải
Gọi m và M là khối lượng thang máy và
tải trọng Hình 2.15: Đồ thị vận tốc của thang máy
Lực tác dụng lên hệ (thang máy + tải)
lên hệ (thang máy +người)
trong đó gia tốc a có giá trị đại số, nó có
giá trị dương hay âm tùy theo vectơ
hướng lên hay hướng xuống
→
a
Trang 18Khi thang máy chuyển động đi lên nhanh dần hoặc đi xuống chậm dần thì hướng lên , suy ra a > 0, khi đó từ (2) ta có lực căng dây lớn nhất :
→
a
T = Tmax = (m + M)(g + amax) và do đó: m
ag
TM
max
max −+
Từ đồ thị vật tốc, suy ra: 2 , 5
2
5 t
12000m
ag
TM
Ví dụ 2.4: Hai vật có khối lượng m1, m2 buộc
vào hai đầu sợi dây, vắt qua ròng rọc Bỏ qua
khối lượng dây và ròng rọc Coi dây không giãn
Chứng tỏ hai vật chuyển động ngược chiều với
cùng độ lớn gia tốc Tính gia tốc của các vật và
lực căng dây
→ 2
P
→ 1
P
→ 1
T
→ 2
Gọi x1 và x2 là tọa độ của m1 và m2 Do dây
không giãn nên chiều dài dây: Hình 2.17: Hệ vật vắt qua ròng rọc
A = x1 + x2 +C = const (5)
với C là hằng số biểu diễn phần dây vắt qua ròng rọc
Lấy đạo hàm cấp 2 của (5) ta được: a1 + a2 = 0 ⇒ a1 = – a2 = a (6)
Phương trình (6) chứng tỏ hai vật luôn chuyển động ngược chiều với cùng độ lớn gia tốc a
Mặt khác, dây rất nhẹ nên T1 = T2 = T (7)
Thay (6) và (7) vào (3) và (4) rồi trừ vế với vế, suy ra gia tốc:
2 1
2 1mm
g)mm(a
2 1mm
gmmT
+
Thay số: m1 = 6kg; m2 = 4kg; g = 10m/s2 vào (8) và (9) ta được: a = 2m/s2; T = 24N
Trang 19§2.4 – ĐỘNG LƯỢNG – XUNG LƯỢNG
i heä
trong đó F→i và →fi là tổng các ngoại lực và nội lực tác dụng lên chất điểm thứ i Theo định luật III Newton, các vật trong hệ tương tác nhau bằng những cặp lực trực
đối, vì thế ∑→fi =0 Suy ra: → →
→
=
p d
i
dt
heä
Định lí 1: Đạo hàm của vectơ động lượng của một chất điểm (hay hệ chất điểm) theo
thời gian bằng tổng các ngoại lực tác dụng lên chất điểm (hay hệ chất điểm) đó