Lấy ví dụ chứng minh cho các đặc điểm trong văn hóa giao tiếp của người Việt Ưu điểm, hạn chế Kn Văn hóa giao tiếp là một bộ phận của tổng thể văn hóa, là cách giao tiếp của mọi người trong xã hội (gi[.]
Trang 1Lấy ví dụ chứng minh cho các đặc điểm trong văn hóa giao tiếp của người Việt
Ưu điểm, hạn chế
Kn: Văn hóa giao tiếp là một bộ phận của tổng thể văn hóa, là cách giao tiếp của mọi người trong xã hội (giao tiếp lịch sự, thân thiện, cởi mở, chân thành, tôn trọng lẫn nhau), là tổng hợp các yếu tố: Lời nói, cử chỉ, cách cư xử, thái độ…
I Đặc điểm trong văn hóa giao tiếp
Bản chất của con người, trong tính hiện thực của nó là tổng hòa các quan hệ xã hội Bởi vậy, giao tiếp là một trong những hình thái biểu đạt văn hóa của cá nhân cũng như cộng đồng khá rõ nét Chỉ trong tương tác giữa con người với thế giới xung quanh, các phẩm chất người mới được bộc lộ, và giao tiếp giữa người với người là một loại hình tương tác như vậy
Cũng nhờ giao tiếp giữa người với người mà ngôn ngữ được hình thành và phát triển từ trạng thái tự nhiên đến trạng thái nhân tạo (ký tự) Ngôn ngữ vừa là kết quả của giao tiếp vừa là công cụ để thúc đẩy quá trình giao tiếp Nhờ có ngôn ngữ, các tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của nhiều thế hệ được cất giữ, lưu truyền Ngôn ngữ cũng là phương tiện để các chủ thể văn hóa biểu đạt cảm xúc tư tưởng
Vì có chức năng chuyển tải và chứa đựng như vậy, nên ngôn ngữ là một thành tố quan trọng của văn hóa Hiện nay việc nghiên cứu văn hóa thông qua ngôn ngữ đã trở thành một ngành chuyên biệt trong văn hóa học
Những đặc trưng trong văn hoá giao tiếp của người Việt:
- Về thái độ trong giao tiếp : vừa cởi mở vừa rụt rè Đặc trưng này bắt nguồn
từ nền kinh tế nông nghiệp, sống phụ thuộc lẫn nhau nên cần coi trọng các mối quan hệ cộng đồng, giữ gìn mối quan hệ tốt với các thành viên trong cộng đồng Việc thích giao tiếp thể hiện ở 2 điểm: Về chủ thể, người Việt thích thăm viếng nhau, đây là hành vi biểu hiện tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt mối quan hệ; Về đối tượng giao tiếp, người Việt có tính hiếu khách Ngược lại, người Việt lại rất rụt rè
Hai thái độ trái ngược nhau này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt nam là tính cộng đồng và tính tự trị: Khi ở trong cộng đồng quen thuộc, tính
Trang 2cộng đồng ngự trị, họ sẽ thoải mái theo những qui tắc có sẵn; còn khi ở ngoài cộng đồng, tính tự trị phát huy tác dụng, họ không xác định đựoc vị thế của mình, vì vậy trở nên lúng túng
Vd: Vàng thì thử lửa, thử than/ Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời
Một thương tóc bỏ đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
- Từ góc độ của chủ thể giao tiếp thì người Việt Nam có tính thích thăm viếng.
Đã thân nhau, thì cho dù hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần chăng nữa, lúc rảnh rỗi họ vẫn tới thăm nhau Thăm viếng không còn là nhu cầu công việc (như ở phương Tây) mà là biểu hiện của tình cảm, tình nghĩa, có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ
- Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách Có khách đến
nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo khó đến đâu cũng cố gắng tiếp đón chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho khách các tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi, bởi lẽ đói năm, không bằng đói bữa Tính hiếu khách này càng tăng lên khi ta về những miền quê hẻo lánh, những miền rừng núi xa xôi
- Về quan hệ giao tiếp , do ảnh hưởng của văn hoá nông nghiệp với đặc điểm
trọng tình nên họ lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử Yêu nhau yêu cả đường đi/ ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng; Yêu nhau cau sáu bổ ba/ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười; Yêu nhau chín bỏ làm mười; Yêu nhau củ ấu cũng tròn/ghét nhau quả
bồ hòn cũng méo; Yêu nhau mọi việc chẳng nề/một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng
Trang 3Mặc dù lấy sự hài hoà âm dương làm trọng nhưng họ vẫn thiên về âm, cuộc sống
có lý nhưng vẫn thiên về tình (Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình), coi trọng tình cảm hơn mọi thứ, ai giúp cũng nhớ ơn, ai bảo ban cũng tôn là thầy
Ví dụ: khái niệm “thầy” được mở ra rất rộng: thầy đồ, thầy võ, thầy thuốc, thầy bói, thầy cúng, thầy địa lý, thầy phù thủy,…
- Về đối tượng giao tiếp, người Việt có thói quen tìm hiểu, quan sát, đánh
giá Thói quen này khiến cho người nước ngoài đánh giá là hay tò mò Đây là sản phẩm của tính cộng đồng làng xã, đó là sự quan tâm lẫn nhau mà muốn quan tâm, cần phải biết rõ hoàn cảnh Mặt khác, trong quan hệ giao tiếp, để xưng hô, phải biết rõ thông tin Chọn mặt gửi vàng/ Tùy mặt gửi lời, tùy người gửi của Khi không được lựa chọn thì người Việt Nam dùng chiến lược thích ứng một cách linh hoạt: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy Vd: Trên trời Phạm Nhan, thế gian một mắt
Đàn bà con mắt lá dăm/ Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền
Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình (bố mẹ còn hay mất, đã có vợ/ chồng chưa, có con chưa, mấy trai mấy gái…) là những vấn đề người Việt Nam thường quan tâm về đối tượng giao tiếp
- Về chủ thể giao tiếp : người Việt rất trọng danh dự (Đói cho sạch, rách cho
thơm/ Trâu chết để da, người chết để tiếng) Danh dự gắn với năng lực giao tiếp, lời hay tạo thành tiếng tăm; lời dở tạo thành tai tiếng Vì coi trong danh dự đến mức trở thành bệnh sĩ diện (Một quan tiền công không bằng một đông tiền thưởng/ Đem chuông đi đấm nước người, không kêu cũng đấm ba hồi lấy danh/ Ở đời muôn sự của chung, hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi) Ở làng quê, thói sĩ
Trang 4diện thể hiện trầm trọng qua tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và tục chia phần Do danh dự các cụ già vẫn có thể to tiếng nhau vì miếng ăn: Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tin đồn tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng
xã Không ai dám dẫm lên dư luận Người Việt Nam sợ dư luận tới mức nhà văn
Lê Lựu đã viết trong tiểu thuyết Thời xa vắng: “Người ta chỉ dám lựa theo dư luận
mà sống chứ ai dám dẫm lên dư luận mà đi theo ý mình” “Ở đời này người ta chỉ sẵn sàng chết đói, chết rét, chết bom, chết đạn để che chở, nuôi nấng cho con mình tai qua nạn khỏi, con mình được sung sướng, được vinh hoa chứ không ai chịu tai tiếng, chịu sỉ nhục để con mình được tự do theo ý nó”
- Về cách thức giao tiếp: tế nhị, ý tứ và coi trọng sự hoà thuận Tính tế nhị
khiến cho người Việt không có thói quen trực tiếp đi vào nội dung chính của câu chuyện (Vòng vo) Lối giao tiếp này tạo ra thói quen chào, hỏi Lối giao tiếp này còn tạo nên thói quen đắn đo, cân nhắc kỹ càng khi nói năng (Ăn có nhai, nói có nghĩ/ Chó ba quanh mới nằm, người ba năm mới nói/ Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe/ Người khôn ăn nói nửa chừng, để cho ngừi dại nửa mừng nửa lo), chính sự đắn đo này dẫn đến tính thiếu quyết đoán nhưng đồng thời giữ được
sự hòa thuận, không làm mất lòng ai Và để tránh quyết đoán, người Việt rất hay cười, nụ cười là một bộ phận quan trọng trong thói quen giao tiếp của người Việt; người ta có thể gặp nụ cười Việt Nam vào lúc ít chờ đợi nhất Tâm lý ưa hoà thuận khiến người Việt luôn chủ trương nhường nhịn (Một sự nhịn là chín sự lành/ Chồng giận thì vợ bớt lời )
- Hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú : đó là sự phong phú của hệ thống
xưng hô, dùng các quan hệ họ hàng để xưng hô thể hiện tính cộng đồng, cách nói lịch sự, phân biệt các lời chào theo sắc thái tình cảm và quan hệ xã hội , không theo trình tự thời gian
Trang 5Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm:
- Thứ nhất, có tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình
- Thứ hai, có tính chất cộng đồng hóa cao – trong hệ thống này không có những từ xưng hô chung mà phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp cụ thể: chú khi ni, mi khi khác Cùng là hai người, cách xưng hô có kkhi thể hiện được hai quan hệ khác nhau: chú-con, ông-con, bác-em, anh-tôi… Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng; bằng thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư…)
- Thứ ba, thể hiện tính tôn ti kỹ kưỡng: người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính) Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai cùng xưng là em và cùng gọi nhau là chị Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: xưa kia chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con cần nhất là không được trùng tên của những người bề trên trong gia đình, gia tộc cũng như ngoài xã hội Vì vậy mà người Việt Nam trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai phải hỏi tên chủ nhà
để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói chệch đi)
Nghi thức trong cách nói lịch sự cũng rất phong phú Do truyền thống tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như phương Tây Với mỗi trường hợp có thể có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: Con xin chú (cảm ơn khi nhận quà), Chị chu đáo quá(cảm ơn khi được quan tâm), Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được đon tiếp), Quý hóa quá (cảm ơn khi khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được khen),Cháu được như hôm nay là nhờ cô đấy (cảm ơn khi được giúp đỡ)…
Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian nên người Việt Nam phân biệt kỹ các lời chào theo quan hệ xã hội và theo sắc thái tình cảm Trong khi đó văn hóa phương Tây ưa hoạt động lại phân biệt kỹ các lời chào theo thời gian như chào gặp mặt, chào chia tay, chào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối…
Bảng ưu điểm và hạn chế
Về thái độ
giao tiếp: Giữ gìn mối quan hệ tốt với các thành viên trong cộng đồng, thắt Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi ở ngoài cộng đồng, tính tự
Trang 6vừa cởi
mở, vừa rụt
rè
chặt được mối quan hệ tốt
Sự hiếu khách tạo được ấn tượng tốt trong mắt đối tượng giao tiếp, rút gắn khoảng cách giữa người với người
Tính rụt rè giúp ta không trở nên
sỗ sàng khi giao tiếp với người chưa thực sự quen biết
trị phát huy tác dụng, họ không xác định được vị trí của mình, vì vậy trở nên lúng túng
Tính hiếu khách có thể dẫn đến tính xa xỉ, tốn kém và nó cũng
đi cùng với tính sĩ diện Người giao tiếp rụt rè thường sẽ
để lại ấn tượng không tốt trong mắt đối tượng giao tiếp => đưa con ra xa nhau hơn và làm cho quá trình giao tiếp rơi vào ngõ cụt
Về quan hệ
giao tiếp:
trọng tình
cảm hơn lý
trí
Có tác dụng tích cực, tạo nên sức mạnh của sự kết nối cộng đồng, nếp sống chan hòa, cởi
mở, giàu tính nhân văn Người coi trọng tình cảm thường được mọi người yêu quý, tôn trọng
Đôi khi khiến con người trở nên
cả nể, về tình nghĩa nên không muốn làm mất lòng nhau, nhận thiệt thòi về mình
Không lí trí, không công tư phân minh trong xử lí công việc là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng “con ông cháu cha” trong
xã hội
Về đối
tượng giao
tiếp: tìm
hiểu, quan
sát, đánh
giá
Hiểu rõ hoàn cảnh đối phương giúp con người thấu hiểu tâm tư tình cảm, san sẻ với nhau
Quan sát tìm hiểu kĩ giúp t đưa
ra lối ứng xử phù hợp, tinh tế, linh hoạt
Phần nào đánh giá sơ bộ đối tượng giao tiếp là người như nào (xấu hay tốt)
Với bối cảnh hiện nay, sẽ bị người nước ngoài coi là tò mò
và dễ bị hiểu lầm là đụng chạm đến quyền cá nhân của họ
Dễ khiến người khác cho là vô duyên, sỗ sàng, tọc mạch (hỏi về chuyện đời tư)
Có thể dẫn đến tính bao đồng, thích lo chuyện người khác Đánh giá qua giao tiếp, tìm hiểu, quan sát của bản thân mang tính chủ quan => không đánh giá một cách đúng nhất
Trang 7Về chủ thể
giao tiếp:
coi trọng
danh dự
Coi trọng danh dự dẫn đến cơ chế tin đồn tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã
Coi trọng danh dự quá trở thành bệnh sĩ diện, không hòa mình được với cộng đồng
Nhiều người lợi dụng cơ chế tin đồn để hạ bệ danh dự của người khác
Về cách
thức giao
tiếp: tế nhị,
ý tứ, coi
trọng sự
hòa thuận
Tính tế nhị không có thói quen
đi vào nội dung chính câu chuyện tạo ra thói quen chào hỏi, đưa đẩy tạo không khí Cân nhắc kĩ lưỡng đến câu nói tạo sự hoàn chỉnh của câu nói khi được nói ra
Tạo nét duyên dáng của người Việt
Tạo sự yên bình, hòa thuận giữa mọi người, không mất lòng ai
Khiến người Việt thiếu quyết đoán, không dám đi thẳng vào vấn đề (vòng vo) Tâm lý ưa hòa thuận khiến người Việt luôn có chủ trương nhường nhịn
Tạo cơ hội cho người xấu lấn lướt, lợi dụng “được đằng chân lân đằng đầu”
Dù tài giỏi hay chăm chỉ nhưng chủ trương nhường nhịn khiến người khác đánh giá là nhu nhược, không có chí tiến thủ
Hệ thống
nghi thức
lời nói rất
phong phú
Có tính thân mật hóa, coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình
Có tính cộng đồng hóa cao Thể hiện tính tôn ti kỹ lưỡng Nghi thức trong cách nói lịch sử cũng rất phong phú
Tính cộng đồng hóa cao làm cho người nước ngoài tiếp xúc với văn hóa Việt Nam trở nên bối rối, dễ nhầm lẫn
Xưng hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn đôi khi tạo ra khoảng cách giữa người giao tiếp và đối tượng giao tiếp, không thân mật, gần gũi, thoải mái như gọi tên riêng