1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai Thi 6-K60.Docx

12 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Thi 6 – Đường Lối Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Việt Nam
Trường học Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Chính Trị Học
Thể loại Bài thi
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 35,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THI MÔN 6 – ĐƯƠNG LỐI CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Câu 1 Trình bày quan điểm và phân tiachs những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN Liên hệ Đại hội IX) Đảng ta[.]

Trang 1

BÀI THI MÔN 6 – ĐƯƠNG LỐI CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT

NAM Câu 1 Trình bày quan điểm và phân tiachs những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN Liên hệ

Đại hội IX) Đảng ta chính thức đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN, là

mô hình tổng quát, là đường lối chiến lược nhất quán của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên CNXH kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định ngày càng sâu sắc

Về mục tiêu: Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất, thực hiện dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh “Mục đích là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân”

Đặc trưng về sở hữu: Trước đổi mới, nền kinh tế nước ta chỉ có một chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là chế độ công hữu Từ khi tiến hành đổi mới đất nước, Đảng ta thừa nhận trên thực tế có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm cả công hữu và tư hữu

Đặc trưng về cơ cấu kinh tế: Là nền kinh tế có nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác là bộ phận hợp thành, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế

Đặc trưng về phân phối: Phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, dựa trên các nguyên tắc của cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước là chủ thể quyết định phân phối chuyển dần sang xác định thị trường quyết định phân phối lần đầu và Nhà nước thực hiện phân phối lại

Về cơ chế vận hành: Kết hợp giữa cơ chế thị trường với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa X, Đảng ta khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và các yếu tố bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa Đây cũng là nền kinh tế có tổ chức, có kế hoạch, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa phát huy những ưu thế của kinh tế thị trường và kinh tế kế hoạch, vừa loại bỏ những khuyết tật của hai nền kinh tế, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Về phương tiện, công cụ, động lực của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó

là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đảng, Nhà nước sử dụng như một công cụ, phương tiện, một động lực để xây dựng chủ nghĩa

xã hội Cơ chế vận hành của kinh tế thị trường là một cơ chế mở, bị điều tiết bởi các quy luật kinh tế cơ bản: giá trị, cạnh tranh, cung cầu nên kinh tế thị trường tạo ra khả năng kết nối hình thành chuỗi giá trị cho nền sản xuất toàn cầu

Liên hệ: Việt Nam từ một nước nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung

bình thấp Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4%, thì giai đoạn 1991 - 1995, tăng trưởng GDP bình quân đã đạt 8,2%/năm Các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao, riêng giai đoạn 2016 - 2019 đạt mức bình quân 6,8 Liên tiếp trong 4 năm, từ năm 2016 - 2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới, là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất Đặc

Trang 2

biệt, trong năm 2020, trong khi phần lớn các nước có mức tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng thái suy thoái do tác động của đại dịch COVID-19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng 2,91%, góp phần làm cho GDP trong 5 năm (2016 - 2020) tăng trung bình 5,9%/năm, thuộc nhóm nước

có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới Quy mô nền kinh tế được nâng lên, nếu như năm 1989 mới đạt 6,3 tỷ USD thì đến năm 2020 đã đạt khoảng 343 tỷ USD Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần, năm 2020, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 3.500 USD Các cân đối lớn của nền kinh tế về tích luỹ - tiêu dùng, tiết kiệm - đầu tư, năng lượng, lương thực, lao động - việc làm… tiếp tục được bảo đảm, góp phần củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô Tính theo chuẩn nghèo chung, tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% năm

1990 xuống còn dưới 6% năm 2018; hơn 45 triệu người thoát nghèo trong giai đoạn từ năm

2002 đến năm 2018 Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2020 được xếp thứ 42/131 nước, đứng đầu nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập(10) Xếp hạng về phát triển bền vững của Việt Nam đã tăng từ thứ 88 năm 2016 lên thứ 49 năm 2020(11), cao hơn nhiều so với các nước có cùng trình độ phát triển kinh tế

Đối với tỉnh Thái Nguyên:

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nhân dân phát triển kinh tế - xã hội Năm vừa qua Thái Nguyên đã khắc phục những khó khăn, phát huy thời cơ, thuận lợi, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra,

cụ thể: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) ước tính tăng 8,59% so với năm 2021, vượt chỉ tiêu

kế hoạch năm 2022 Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng nông lâm thủy sản GRDP bình quân đầu người ước đạt 107 triệu đồng bằng 101,9% kế hoạch, tăng 12,5% (tương đương tăng gần 12 triệu đồng/người/năm) so với năm 2021

Đặc biệt, năm 2022 thu ngân sách toàn tỉnh đạt 19.096 tỷ đồng, bằng 131,2% so với dự toán Bộ Tài chính giao Trong đó thu nội địa đạt 15.890,5 tỷ đồng, đạt 125,6% dự toán Bộ Tài chính giao, là cơ sở để từ năm 2023,

Thái Nguyên là một trong 18 địa phương trong cả nước thực hiện điều tiết thu ngân sách

về Trung ương Điều này cho thấy sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong thực hiện mục tiêu phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Toàn tỉnh cấp mới đăng ký kinh doanh cho 850 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 9.000 tỷ đồng; cấp điều chỉnh thay đổi cho 2.400 doanh nghiệp; cấp thành lập 600 đơn vị trực thuộc; tạm ngừng hoạt động 700 doanh nghiệp; số doanh nghiệp giải thể là 92 doanh nghiệp Tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là 8.850 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký là 129.300 tỷ đồng Đến nay, tỉnh Thái Nguyên có 171 dự án FDI còn hiệu lực với tổng mức đầu tư đăng ký đạt gần 10,3 tỷ USD (tương đương khoảng 237,3 nghìn tỷ đồng), tổng số dự án ngoài ngân sách sử dụng vốn đầu tư trong nước còn hiệu lực là 854 dự án với số vốn đăng ký khoảng 150.111,1 tỷ đồng

Hoạt động của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp được duy trì ổn định Tỉnh Thái Nguyên hiện có 22 cụm công nghiệp đã có chủ đầu tư hạ tầng với tổng vốn đầu tư hạ tầng là 6.650 tỷ đồng, các cụm công nghiệp hoạt động trên địa bàn thu hút được 65 dự án đầu tư, tổng vốn đầu tư đăng ký là 9.433 tỷ đồng

Câu 2: Trình bày những nhiệm vụ cơ bản góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả xây dựng, phát triển văn hóa, con người VN trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ?

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

Trang 3

Thứ nhất, về nhận thức Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xác định xây dựng và phát triển văn

hóa, con người Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng trong suốt thời kỳ đổi mới Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao vai trò gương mẫu và động viên, tổ chức nhân dân thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, con người

Thứ hai, về cách thức Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng hài hòa, vừa

bảo đảm để văn hóa phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo

Phải coi trọng xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, mà nội dung quan trọng là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Văn hóa, đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức đảng, Nhà nước, đoàn thể; trong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; trong từng đảng viên, hội viên

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa

Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay, vai trò của quản lý nhà nước về văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa, Nghị quyết số 33-NQ/TW nhấn mạnh các yêu cầu sau:

Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực

tiễn Việt Nam

- Điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với tính đặc thù của văn hóa, nghệ thuật Bổ sung chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, xử lý hài hòa mối giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa; có chính sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số

- Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực văn hóa

-Tăng cường công tác thanh tra văn hóa, gắn với trách nhiệm cá nhân và tổ chức khi để xảy ra sai phạm Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và công dân đối với việc tổ chức và quản lý hoạt động

văn hóa

- Chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sản phẩm lệch lạc, thị hiếu tầm thường

Ngoài ra, cần tích cực tiếp thu và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu khoa học - công nghệ phục vụ hiện đại hóa công tác quản lý nhà nước về văn hóa, không ngừng đổi mới và nâng cao trình độ quản lý

Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa

Giải pháp này liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực - động lực của sự phát triển đất nước nói chung, phát triển văn hóa nói riêng Nghị quyết Trung ương chín khóa XI đã đề ra các biện pháp cụ thể sau:

Trang 4

- Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở

- Quan tâm xây dựng các trường văn hóa, nghệ thuật, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng và quy mô đào tạo Hình thành một số cơ sở đào tạo đại học, trên đại học trọng điểm, đạt chuẩn khu vực và quốc tế

Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế Tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, thể thao ở các nước phát triển Xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ trong các dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại địa phương Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các chuyên ngành văn hóa

- Có chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; trọng dụng người có tài, có đức Điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù

Tăng cường các nguồn lực cho văn hóa

Thứ nhất, về đầu tư của Nhà nước: Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế Sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn đầu tư của Nhà nước,

có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số loại hình

nghệ thuật truyền thống cần bảo tồn, phát huy

Thứ hai, về xã hội hóa: Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển văn hóa, xây dựng con người

Thứ ba, về quản lý: Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế và phí đối với các

cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa do khu vực tư nhân đầu tư, đặc biệt là ở vùng còn khó khăn Khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân tài, quảng bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất bản

Thứ tư, về thiết chế văn hóa: Xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm Các địa phương, các cơ quan, công sở, trường học, khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư có thiết chế văn hóa phù hợp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể thao )

Thứ năm, về nghiên cứu lý luận: Tăng cường đầu tư để đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để nâng cao khả năng dự báo và định hướng phát triển văn hóa, xây dựng con người Trong bốn giải pháp trên, cần đặc biệt lưu ý đến giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa Nhìn chung, đây là những giải pháp cơ bản, có tầm bao quát, cần phải được thực hiện đồng bộ, triệt để và thường xuyên dưới sự chỉ đạo thống nhất trong hệ thống chính trị để tạo nên sự chuyển biến toàn diện, sâu sắc trong quá trình xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam hiện nay

* Liên hệ tại địa phương:

Những năm qua, tỉnh Thái Nguyên tập trung xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; chú trọng phát triển, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nét văn hóa đặc trưng của địa phương Nhờ đó đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Triển khai thực hiện Nghị quyết  số 33-NQ/TW (khóa XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành  chương trình hành động nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống Đây cũng là mục tiêu, quyết tâm của tỉnh khắc phục tình trạng một số cấp ủy, chính quyền nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển văn hóa, con người đối với sự phát triển. 

Trang 5

Tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa của quê hương an toàn khu cách mạng thông qua tuyên truyền và nhiều hình thức phù hợp từng đối tượng nhằm khơi dậy niềm tự hào

và phát huy truyền thống đoàn kết, truyền thống cách mạng của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Gắn liền giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống; vận động cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. 

Mặt khác, tỉnh coi trọng, chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác kịp thời những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch Đội ngũ làm công tác nghiên cứu, lý luận phê bình và một số văn nghệ sĩ của tỉnh trở thành lực lượng nòng cốt định hướng cho văn học, nghệ thuật phát triển lành mạnh, đúng hướng. 

Thực tế ghi nhận, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở Thái Nguyên được tổ chức thực hiện với nhiều mô hình, cách làm mới, nội dung phong phú, từ đó nhận được

sự hưởng ứng mạnh mẽ của cộng đồng, gắn liền  các phong trào thi đua yêu nước Nổi bật như phong trào xây dựng thôn bản, khu phố văn hóa được quan tâm hướng dẫn gắn kết với Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững Chương trình xây dựng nông thôn mới làm thay đổi rõ rệt diện mạo nông thôn, góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. 

Vấn đề nêu trên được tỉnh Thái Nguyên xác định là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xuất phát từ tình hình thực tế ở tỉnh, phát triển văn hóa, con người chưa theo kịp với tăng trưởng, phát triển kinh tế; từ sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên… 

Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành nhiều giải pháp chỉ đạo, trong đó yêu cầu các cấp ủy đưa nội dung xây dựng cơ quan, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hằng năm Các địa phương, đơn vị cụ thể hóa thông qua nội quy, quy chế, các quy định chuẩn mực về đạo đức, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức; đẩy mạnh cải cách hành chính, góp phần giảm thủ tục rườm rà, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. 

Các địa phương, đơn vị coi trọng rèn luyện đạo đức công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong sáng, nêu cao vai trò, trách nhiệm, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao Cải thiện môi trường đầu tư, bảo đảm tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nhân, doanh nghiệp đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Tạo lập môi trường văn hóa pháp lý, thị trường sản phẩm văn hóa minh bạch, tiến bộ, hiện đại để các doanh nghiệp tham gia xây dựng, phát triển văn hóa Văn hóa doanh nghiệp được tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện trên cơ sở tôn trọng pháp luật, xây dựng thương hiệu, cạnh tranh lành mạnh, phát triển bền vững, kinh doanh có hiệu quả. 

Tỉnh cũng đẩy mạnh hoạt động thông tin đối ngoại, tập trung quảng bá tiềm năng, thế mạnh của Thái Nguyên nhằm thu hút đầu tư, phát triển du lịch, nâng cao vị thế của tỉnh trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển Các địa phương chú trọng tạo điều kiện để nhân dân phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu chính đáng, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội Việc sưu tầm, bảo tồn các làng nghề thủ công truyền thống, làng văn hóa dân tộc được gắn với phát triển

du lịch… 

Toàn tỉnh Thái Nguyên có 108 xã đạt chuẩn nông thôn mới; có 96,7% số hộ gia đình đăng ký danh hiệu “Gia đình văn hóa”; có 99,8% số xóm, tổ dân phố đăng ký danh hiệu “Làng, tổ dân phố văn hóa”; 99,6% số đơn vị đăng ký danh hiệu “Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa”…

Trang 6

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, kết quả đạt được, việc phát huy giá trị văn hóa, con người cho tăng trưởng, phát triển với vị trí, vai trò là trung tâm vùng còn nhiều hạn chế so với tiềm năng, thế mạnh của Thái Nguyên Nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị đầu tư cho phát triển văn hóa, con người chưa tương xứng với đầu tư phát triển kinh tế, xã hội Công tác tuyên truyền, vận động, huy động các nguồn lực xã hội vào sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa còn nhiều hạn chế, yếu kém Trong đó có nguyên nhân trình độ tham mưu, quản lý chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. 

Từ thực tế đó, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành những chủ trương, giải pháp nhằm tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Tỉnh đã và đang tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa; tăng nguồn lực của Nhà nước, đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho xây dựng, phát triển văn hóa, con người, tạo điều kiện cho kinh tế-xã hội phát triển toàn diện và bền vững

Câu 3 Trình bày những giải pháp cơ bản đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức (KTTT) Liên hệ với việc thực hiện giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại địa phương, đơn vị

 Quan điểm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức (KTTT) đã được Đảng ta chính thức đề cập tại Đại hội X: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển KTTT, coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại” Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã phát triển và cụ thể hoá thêm một bước quan điểm đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển KTTT; …Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, phát triển KTTT, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”

Thuật ngữ “kinh tế tri thức” (knowledge economy), mặc dù xuất hiện từ khá sớm, nhưng  mãi tới năm 1990 mới chính thức được ghi nhận trong báo cáo của Liên hiệp quốc và từ đó trên sách báo đã xuất hiện những định nghĩa khác nhau về KTTT Năm 1996, OECD đưa ra định nghĩa: “Nền KTTT là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống” Nền KTTT là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế và xã hội; đó là nền kinh tế với những đặc trưng chủ yếu sau:

- Khác với nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên, chủ thể chính là nông dân cần cù trong sử dụng “cày chìa vôi” để sản xuất; nền kinh tế công nghiệp, chủ thể là công nhân thành thạo trong thao tác các công cụ cơ khí, nền KTTT là nền kinh tế mà chủ thể của nó

là công nhân - trí thức sáng tạo trong điều khiển các công cụ tự động hoá, các công cụ truyền thông đa phương tiện, sử dụng có hiệu quả tri thức và công nghệ để phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 7

- Hoạt động chủ yếu nhất trong nền KTTT là hoạt động tạo ra, quảng bá và sử dụng hiệu quả tri thức, biến tri thức thành giá trị Tri thức đã trở thành nguồn lực hàng đầu, mà giá trị của nó chiếm tỷ trọng cao, thậm chí là tuyệt đối trong sản phẩm Với nền KTTT, nhân tài trí thức được coi trọng, quyền  sở hữu trí tuệ trở thành yếu tố quan trọng; tri thức trở thành hình thức cơ bản nhất của vốn, quan trọng hơn cả tài nguyên, sức lao động; lực lượng sản xuất từ dựa vào tài nguyên thiên nhiên chuyển dần sang dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người

- Nền KTTT phát huy tối đa  năng lực sáng tạo của con người trong vận dụng và sáng tạo ra tri thức mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển con người và xã hội một cách nhanh chóng Bởi vậy, vòng đời của một sản phẩm, một công nghệ từ lúc nảy sinh, phát triển, chín muồi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn; trước đây vòng đời công nghệ tính bằng nhiều thập niên, ngày nay tính bằng năm, thậm chí tính bằng tháng Tốc độ đổi mới công nghệ rất nhanh chóng

cần thiết phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần tập trung toàn lực vào việc thực hiện những giải pháp mang tính đột phá sau:

Một là, tiếp tục cải cách mạnh mẽ, có hiệu quả nền giáo dục và đào tạo theo hướng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và phát huy nhân tài

Cải cách triệt để nền giáo dục được coi là “đột phá khẩu”, bởi nó hướng tới việc đào tạo, bồi dưỡng và phát huy nguồn nhân lực có chất lượng cao cho quá trình tái cơ cấu lại nền kinh tế, tăng lợi thế cạnh tranh, bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011

- 2020 khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm kinh tế - xã hội phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển KTTT”

Hai là, phát triển mạnh khoa học, công nghệ, chú trọng vào việc việc ứng dụng, sáng tạo công nghệ cao làm động lực đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, phát triển KTTT

Đã từ lâu, chúng ta quan tâm tới việc phát triển khoa học và công nghệ, song trong lĩnh vực công nghệ chúng ta chưa tập trung vào việc vận dụng và sáng tạo, phát triển công nghệ cao Thực tế cho thấy, việc thiếu cơ chế chính sách trong việc tập trung cho công nghệ cao không tạo động lực cho phát triển; còn công nghệ lạc hậu sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của CNH, HĐH Đã đến lúc cần phải “tuyên chiến” với công nghệ lạc hậu, chỉ nhập khẩu, ứng dụng và đầu tư sáng tạo công nghệ cao trên cơ sở sử dụng có hiệu quả những công nghệ hiện có Là nước đi sau, Việt Nam có thể bỏ qua các thế hệ công nghệ trung gian để đi ngay vào các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, không lệ thuộc vào cơ sở hạ tầng đã có Trong các lĩnh vực công nghiệp dựa vào tri thức, nhất là công nghệ thông tin, Việt Nam có thể chọn một số lĩnh vực để bứt phá lên trước

Nhiệm vụ trung tâm là sử dụng tri thức mới, công nghệ mới của thời đại kết hợp với sáng tạo tri thức mới, công nghệ mới để nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ hàm lượng tri thức cao, giá trị gia tăng cao Đây chính là yêu cầu và nội dung của công cuộc CNH, HĐH gắn với phát triển KTTT trong thời đại toàn cầu hoá với một trật tự “thế giới phẳng”

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, khẳng định: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, phát triển KTTT; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỉ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu: nâng cao năng lực khoa học, công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng”

Trang 8

Ba là, tiếp tục đổi mới, phát huy vai trò quản lý, điều hành ở tầm vĩ mô của Nhà nước trong cải cách giáo dục - đào tạo, phát triển khoa học, công nghệ và trong quản lý và phát triển kinh tế thị trường - xã hội

Vai trò quản lý của Nhà nước trong điều kiện mới phải được xem như là một quá trình tạo điều kiện cho việc thúc đẩy phát triển chứ không đơn thuần là sự thực thi những quyết sách không sát với thực tiễn

LIÊN HỆ:

Thái Nguyên là tỉnh miền núi nhưng có đội ngũ trí thức KHCN với số lượng lớn và chất lượng cao: Số cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh là trên 27.500 người, trong đó trình độ đại học và trên đại học chiến khoảng 90% Đại học Thái Nguyên có trên 2.400 cán bộ, giảng viên, trong

đó Giáo sư là 11 người, Phó Giáo sư là 136 người, số có học vị tiến sĩ và tương đương là 696 người; thạc sĩ và trình độ đại học là trên 1.600 người Số lượng cán bộ khoa học công nghệ/vạn dân của tỉnh Thái Nguyên cao hơn so với bình quân của cả nước (trung bình cả nước đạt 11- 12 người/1 vạn dân)

Những năm qua, đội ngũ trí thức KHCN đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các đề tài,

dự án của tỉnh; tham gia hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng KHCN vào các lĩnh vực quản lý, sản xuất và kinh doanh, đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản

lý, phục vụ công tác quy hoạch của tỉnh. 

đội ngũ trí thức KHCN tích cực tham gia gián tiếp và trực tiếp vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, chủ thể cơ bản đưa KHCN vào quy trình sản xuất phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì với khả năng và điều kiện của mình, đội ngũ trí thức sẽ đóng vai trò chủ chốt trong nghiên cứu khoa học, chủ động tham gia CMCN 4.0 và Chương trình chuyển đổi số để KHCN và đổi mới sáng tạo thật là động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên

Câu 4: Phân tích các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo thời kỳ đổi mới? Liên hệ

Quan điểm, chủ trương của Đảng đối với tôn giáo

Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý trong lĩnh vực tôn giáo, Đảng ban hành các chủ trương thông qua các nghị quyết, chỉ thị, từ đó Nhà nước tổ chức thực hiện bằng những chính sách và quy định pháp luật cụ thể, hình thành hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo Thời kỳ đổi mới, chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn giáo bao gồm các văn kiện như sau: Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990) của Bộ Chính trị

Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới; Chỉ thị số 37-CT/TW (1998) của Bộ Chính trị Về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị quyết số 25/NQ-TW (2003) của Ban Chấp hành Trung ương Về công tác tôn giáo; Chỉ thị số 18-CT/TW (2018) của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới

Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990) là mốc son đổi mới về nhận thức và ứng xử với tôn giáo ở Việt Nam Nghị quyết số 24 đã mở rộng cách tiếp cận tôn giáo, không chỉ từ góc độ chính trị,

mà còn từ các góc độ khác, như: nhận thức, văn hóa, đạo đức, lối sống Đã bổ sung nguyên nhân ra đời và tồn tại của tôn giáo, không chỉ hai nguyên nhân liên quan đến tự nhiên, liên quan đến xã hội, mà còn nhiều nguyên nhân khác, trong đó có cái chết của con người - điều mà các tôn giáo tập trung lý giải và đều cho rằng con người có thế giới sau khi chết Đã khách quan trong đánh giá vai trò của tôn giáo, bên cạnh những mặt tiêu cực, nhất là tiêu cực về chính trị, tôn giáo có những mặt tích cực nhất định, nhất là về đạo đức, văn hóa, lối sống Từ đó, Đảng đưa ra ba quan điểm đột phá thể hiện rõ bước chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo: một là, tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; hai là, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; ba là, nhìn nhận và phát huy những giá trị tích cực

Trang 9

về đạo đức của tôn giáo Đây là cách tiếp cận khoa học dưới góc nhìn đa chiều về tôn giáo, khắc phục được cách nhìn mặc cảm, nặng về yếu tố chính trị đối với tôn giáo Sau đó, Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003) đã tiếp tục phát triển, bổ sung Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990) và Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003) đã nêu những nội dung cụ thể về quan điểm, chủ trương của Đảng đối với tôn giáo thời kỳ đổi mới

- Về phương hướng: Tiếp tục tinh thần đổi mới được đặt ra từ Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990), Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003) Về công tác tôn giáo đã xác định: “Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc

Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

-Về quan điểm, chủ trương: Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990) và Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003) xác định quan điểm, chủ trương của Đảng đối với tôn giáo trên các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng trước pháp luật

Hai là, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử

vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia

Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đảm bảo lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo

Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị Công tác tôn giáo liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành Công tác tôn giáo thực chất là công tác vận động quần chúng Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chống đối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng

Năm là, việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013: “1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật 2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24)' Như vậy, theo Hiến pháp năm 2013, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người (không chỉ là quyền của công dân như trước); Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (không chỉ là bảo đảm như trước)

Trang 10

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã xác định những nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo trong thời gian tới: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín

đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển của đất nước Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia

rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết dân tộc”!

Chính sách và quy định pháp luật của Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

- Các văn bản quy định pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Với cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, sau khi Đảng ban hành Nghị quyết thể hiện quan điểm, chủ trương đối với công giáo và công tác tôn giáo, Nhà nước sẽ cụ thể hóa bằng quy định pháp luật cụ thể để thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống Thời kỳ đổi mới, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/NĐ-HĐBT (1991) Quy định về các hoạt động tôn giáo; sau khi Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003), Chủ tịch nước

đã ký ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004) Qua 12 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, để tiếp tục thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, Chủ tịch nước ký ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) Sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP (2017) Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; tiếp tục thể chế hóa các quan điểm của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo; cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; đồng thời tiếp tục sự tương thích với luật pháp quốc tế trong điều kiện Việt Nam mở cửa và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng

- Những quy định pháp luật trong việc thực hiện chính sách về tin ngưỡng, tôn giáo.

Việc Nhà nước quy định phạm vi điều chỉnh và những khung pháp lý đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính là đưa chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn giáo vào cuộc sống, hay nói cách khác là để tín đồ, chức sắc tôn giáo thụ hưởng những chủ trương, chính sách mới đối với tôn giáo, để tạo điều kiện cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo Có nhiều nội dung hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo liên quan đến chính sách của Nhà nước cũng như quy định pháp luật để điều chỉnh hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Có thể khái quát một số hoạt động chủ yếu về tín ngưỡng, tôn giáo như sau:

+ Hoạt động tín ngưỡng: Là những hoạt động diễn ra ở các cơ sở tín ngưỡng, như: đình, đền, miếu, phủ, chủ yếu gắn với các lễ hội

+ Sinh hoạt tôn giáo của tín đồ: Là những sinh hoạt tôn giáo tập trung của tín đồ tại cơ sở thờ tự: chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất, và địa điểm hợp pháp khác

+ Hoạt động của chức sắc tôn giáo: Là những hoạt động của chức sắc trong việc hướng dẫn sinh hoạt tôn giáo của tín đồ và những hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động từ thiện xã hội + Công nhận pháp nhân tổ chức tôn giáo: Là sự công nhận của nhà nước đối với sự hợp pháp của tổ chức tôn giáo qua hai bước: đăng ký và công nhận tư cách pháp nhân (thuộc pháp nhân phi thương mại)

+ Các hoạt động của tổ chức tôn giáo: Là các hội nghị (theo tháng, theo quý, theo năm), đại hội (chủ yếu theo nhiệm kỳ) của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc

+ Đào tạo chức sắc: Là việc mở trường đào tạo chức sắc, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho tín

đồ, chức sắc, chức việc của các

tổ chức tôn giáo

Ngày đăng: 19/04/2023, 14:09

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w