Tóm tắt Bài nghiên cứu này phân tích năng lực quản trị/chất lượng thể chế và đạo đức thuế ảnhhưởng như thế nào đến nền kinh tế ngầm bằng cách sử dụng bảng dữ liệu gồm nhiềuquốc gia trên
Trang 1Tóm tắt
Bài nghiên cứu này phân tích năng lực quản trị/chất lượng thể chế và đạo đức thuế ảnhhưởng như thế nào đến nền kinh tế ngầm bằng cách sử dụng bảng dữ liệu gồm nhiềuquốc gia trên thế giới và sử dụng dữ liệu của các bang trong một quốc gia Các tài liệunghiên cứu về vấn đề này thì nhấn mạnh tầm quan trọng của định lượng trong việc hiểumức độ cũng như sự thay đổi của nền kinh tế ngầm Tuy nhiên, hạn chế của một số bàinghiên cứu trước là sử dụng dữ liệu chéo với số quan sát tương đối nhỏ và chưa có nhiềubài viết nghiên cứu về đạo đức thuế cũng như đưa ra bằng chứng mà sử dụng dữ liệu củamột quốc gia Với việc sử dụng hơn 25 biến để đo lường năng lực quản trị và chất lượngthể chế, tác giả đã tìm ra bằng chứng mạnh mẽ là năng lực quản trị và chất lượng thể chế
là yếu tố tác động lớn nhất trong việc làm giảm quy mô nền kinh tế ngầm
1 Giới thiệu
Tầm quan trọng trong việc xác định nguyên nhân của kinh tế ngầm và những hoạtđộng bất hợp pháp khác đã tăng mạnh trong những năm gần đây Tuy nhiên, điều tranguyên nhân vẫn là một lĩnh vực chưa được nhiều người phát triển và nghiên cứu Sựchuyển đổi của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là một trong những lý do chính cho sự quantâm của năng lực quản trị cũng như điểm yếu của thể chế và tham nhũng xuất hiện cũng
là những cản trở chính đến việc cải cách thị trường (Abed and Gupta, 2002) Tuy nhiên,những bộ phận phi chính thức cho thấy vai trò quan trọng của nó không chỉ ở các quốcgia trong thời kỳ quá độ mà còn ở những nước phát triển Việc làm việc trong những khuvực phi chính thức dường như có liên quan đến nguồn thu nhập của nhiều người Sự quantâm về vấn đề này ngày càng gia tăng và tập hợp dữ liệu mới đã giúp các nghiên cứu thựcnghiệm về những hoạt động bất hợp pháp, nền kinh tế ngầm, tham nhũng phát triểnnhanh chóng (see Schneider and Enste, 2000, 2002; Treisman, 2000, and Lambs dorff,
1999 for reviews) Hơn thế nữa, mối quan tâm của tác giả trong bài nghiên cứu không chỉ
về chất lượng thể chế/năng lực quản trị mà còn về chuẩn mực xã hội hoặc đạo đức thuế động lực nội tại để nộp thuế - cái mà đang được sự quan tâm lớn, cũng như kết quả thựcnghiệm và kinh nghiệm cho thấy các biện pháp răn đe dẫn đến kết quả là có quá ít sự tuân
Trang 2-thủ và có quá nhiều sự trốn thuế (for an overview, see Alm, 1999; Torgler, 2002) Cáckết quả tìm kiếm có thể không được giải thích được bởi mức độ tránh né rủi ro cũng nhưcác bài nghiên cứu cho rằng có khoảng cách lớn giữa mức độ tránh né rủi ro được báocáo và báo cáo về số yêu cầu đảm bảo sự tuân thủ (Graetz and Wilde, 1985, Alm,McClelland, and Schulze, 1992, Frey and Feld, 2002).
Bài nghiên cứu của tác giả đề cập đến năng lực quản trị/ chất lượng thể chế và đạođức thuế ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế ngầm Để kiểm tra độ tin cậy, tác giả đã
sử dụng 3 nguồn dữ liệu khác nhau bao gồm hơn 25 biến đo lường năng lực quản trị/chấtlượng thể chế Mặc dù có nhiều bài luận nghiên cứu về nguyên nhân của nền kinh tếngầm và chúng thường có khuynh hướng quản lý các hoạt động bất hợp pháp thông quacác biện pháp như trừng phạt, truy tố… (Schneider and Enste, 2002), tuy nhiên vẫn cónhiều phương pháp đo lường tạo ra nhiều sự chú ý trong các bài nghiên cứu này Nókhông chỉ đề cập đến tầm quan trọng của các biến khách quan cũng như gánh nặng thuế,
cơ cấu ngành, sự giàu có của quốc gia hoặc các điều kiện thị trường lao động, mà cònchất lượng thể chế /năng lực quản trị, những kỳ vọng, thái độ, động cơ, cũng như đao đứcthuế cái mà tác giả xác định như tổ chức xã hội Nguồn dữ liệu được phát triển gần đâycung cấp cơ sở để điều tra tầm quan trọng của lý thuyết tinh vi hơn ở tầm vi mô và vĩ mô
Do đó, giả thuyết làm nền tảng căn bản của tác giả cho thấy rằng nếu người dân nhậnthức được các tổ chức chính trị là đại diện cho quyền lợi của họ và chính phủ làm việchữu ích hơn lãng phí, họ sẵn sàng lựa chọn ở lại trong khu vực chính thức và họ sẽ tuânthủ các nghĩa vụ cao hơn Hơn nữa, trong một tình huống như vậy, vi phạm chuẩn mực
xã hội khi đang hoạt động trong lĩnh vực phi chính thức sự được kết nối với chi phí đạođức cao hơn Để giải thích sự khác biệt giữa các quốc gia và trong nước thì sự thay đổitheo thời gian của quy mô nền kinh tế ngầm là rất hữu ích để nghiên cứu xem phạm vichuẩn mực xã hội và chất lượng của các vấn đề quản trị
2 Các giả thuyết tác giả đưa ra trong bài nghiên cứu này.
Giả thuyết 1: Việc tăng cường năng lực quản trị và chất lượng thể chế sẽ làm
giảm quy mô của nền kinh tế ngầm với điều kiện các yếu tố khác không đổi
Trang 3Chế độ chính trị ảnh hưởng một cách trực tiếp lẫn gián tiếp đến các hoạt động kinh
tế Bird et al (2006) đã nhấn mạnh rằng “Các quốc gia luôn cố gắng đạt được một trạngthái cân bằng về quy mô và bản chất của hệ thống tài chính để thể hiện sự cân bằng củasức mạnh và thể chế chính trị, họ sẽ cố gắng giữ tình trạng đó cho đến khi bị một cú sốc
và chuyển sang một trạng thái cân bằng mới” Đồng thời, ông cũng khẳng định: “Một hệthống thuế bền vững là một hệ thống thuế công bằng và thuận tiện, để đạt được điều đócần có sự liên quan chặt chẽ giữa tiền thuế phải đóng và hàng hóa công được hưởng”Điều này được giải thích bởi các nhà kinh tế chính trị đang cố gắng tìm hiểu về nhữngyếu tố làm thay đổi quy mô của nền kinh tế ngầm, nếu người dân nhận thấy quyền lợi củamình luôn được đảm bảo bởi chính quyền cũng như được nhận các hàng hóa công xứngđáng thì sự gắn bó cũng như tính tự nguyện đóng góp cho nhà nước sẽ gia tăng và ngượclại
Friedman et al ( 2000 ) cho rằng nền kinh tế ngầm của các quốc gia có thamnhũng sẽ chiếm một tỷ lệ cao hơn so với các quốc gia khác Dreher và Schneider ( 2006 )cũng đã điều tra mối tương quan giữa nền kinh tế ngầm và tình trạng tham nhũng bằngviệc quan sát khuynh hướng thay thế của nền kinh tế ngầm và tình trạng tham nhũng tạicác quốc gia có thu nhập cao, nhưng chưa hoàn tất tại các quốc gia có thu nhập thấp Nếunhư các nhà cầm quyền, các nhà quản lý và các nhà lập pháp có quyền chuyên quyết khicác cơ quan không những không đáng tin cậy mà còn không làm việc tốt thì sẽ giúp ngănchặn sự mất lòng tin của người dân đối với chính quyền
Sự bất ổn trong tổ chức cũng như sự thếu sót về tính minh bạch và quy tắc pháp lýđang ngầm phá hoại lòng tin của những người dân hoạt động trong nền kinh tế Bên cạnh
đó, việc có nhiều quy định ràng buộc và thủ tục hành chính quan liêu không chỉ làm hạnchế sức cạnh tranh và hoạt động của thị trường mà còn tạo điều kiện cho tham nhũng pháttriển Nếu người dân cảm thấy tham nhũng tràn lan, chính phủ không có trách nhiệm vàgánh nặng thuế của họ không được sử dụng tốt cũng như không được bảo vệ bởi hệ thốngpháp lý thì quy mô của nền kinh tế ngầm sẽ ngày càng gia tăng
Trang 4 Giả thuyết 2: Quyền chính trị của người dân càng cao thì quy mô của nền kinh tế
ngầm càng thấp
Trong các cuộc điều tra, các nhà nghiên cứu thường tập trung vào sự ảnh hưởngcủa nền dân chủ tuyệt đối đến quy mô của nền kinh tế ngầm, nếu chính phủ không tốt,các cử tri trực tiếp bỏ phiếu hoàn toàn có thể thay đổi quyền lực của các nhà chính trị vàđiều đó giúp hạn chế việc lạm dụng quyền lực của các chính khách chỉ biết nghĩ đến lợiích của bản thân Với nền dân chủ tuyệt đối, người dân đã được trao một công cụ để kiểmsoát quyền lực của chính phủ, chính điều đó đã ảnh hưởng đến việc xây dựng chính sáchcủa người được đắc cử vì họ luôn phải tính đến khả năng can thiệp của các cử tri Levi( 1988 ) đã chỉ ra một khả năng để tạo ra hay duy trì sự hài lòng của người dân đó là tạocho họ sự yên tâm, khi chính phủ đặt ra luật dân chủ và bắt buộc chính mình phải tuânthủ thì sẽ làm cho người dân cảm thấy việc đóng thuế là trách nhiệm của họ
Chính phủ cần phải đề cao ý kiến của người dân trong tiến trình chính trị, sự biểuquyết của người dân cũng mang lại lợi ích cho họ ví dụ như có thể tìm ra những thủ tụcthuận tiện, phù hợp với người dân Nếu người đóng thuế có thể bỏ phiếu cho cách sửdụng tiền thuế thì họ sẽ cảm thấy có lòng tin và họ sẽ không tham gia vào nền kinh tếngầm và ngược lại Điều luật được thông qua nhờ sự góp ý của tất cả mọi người sẽ cóđược tính tuân thủ và tính hợp tác cao của người dân vì họ cảm thấy mình có trách nhiệmtrong việc thực hiện những điều mà mình đã góp phần đề ra Việc cho người nộp thuếbiểu quyết về luật thuế sẽ làm tăng tính tự nguyện và đạo đức thuế của họ đồng thời sẽgiúp luật hoàn thiện và thuận tiện hơn cho cả hai bên, chính vì vậy, nó là một tác độngtiêu cực đối với quy mô của nền kinh tế ngầm
Giả thuyết 3: Đạo đức thuế càng cao thì dẫn đến tính tự giác tuân thủ tăng và điều
này sẽ làm giảm quy mô của nền kinh tế ngầm
Các tài liệu về tuân thủ thuế cho thấy cách tiếp cận nhu cầu tự do hoạt động củacác lực lượng trên thị trường là quá xa khi cố hiểu tại sao công dân nộp thuế Mô hìnhmang tính đột phá của Allingham và Sandmo (1972) cho rằng mức độ trốn thuế tỷ lệ
Trang 5nghịch với khả năng phát hiện và phạm vi hình phạt bị chỉ trích (chẳng hạn như, Graetz
và Wilde, 1985 ; Alm, McClelland, và Schulze, 1992 ; Frey và Feld, 2002)
Như đã đề cập, ở nhiều quốc gia, cấp độ ngăn chặn thấp đến nỗi không thể giảithích sự tuân thủ thuế (the high degree of tax morale) Để giải quyết câu đố về sự tuân thủthuế, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng đạo đức thuế có thể giúp giải thích sự tuân thủthuế (the high degree of tax morale ) (xem tổng quan Torgler, 2007) Đạo đức thuế, khácvới trốn thuế, không đo lường hành vi mà là đo thái độ của cá nhân Đạo đức thuế không
là khái niệm mới nhưng đã nhận được rất ít sự chú ý trong các tài liệu về tuân thủ thuế
Có thể định nghĩa đạo đức thuế là nghĩa vụ nộp thuế, niềm tin khi đóng góp cho xã hộibằng cách nộp thuế
Đạo đức thuế liên quan chặt chẽ với đạo đức người nộp thuế, “Những tiêu chuẩn
về hành vi của việc quản lý công dân hay người nộp thuế trong mối quan hệ của họ vớichính phủ” (Song and Yarbrough, 1978, p 443) Giá trị và thái độ có thể tác động hành
vi của cá nhân (Ajzen và Fishbein 1980 và Lewis 1982) Spicer và Lundstedt (1974) chorằng lựa chọn giữa tuân thủ thuế và trốn thuế không chỉ do biện pháp trừng phạt mà còn
là thái độ và các chuẩn mực Lewis (1982) chỉ ra “Trốn thuế có lẽ là hành động duy nhấtcủa người nộp thuế mà qua đó thể hiện sự ác cảm của họ… Qua dự báo, tác giả có thể tựtin rằng nếu thái độ của thuế ngày càng tệ thì trốn thuế sẽ ngày càng tăng” (p.165, 177).Đạo đức thuế giảm làm giảm chi phí tuân thủ của các hành vi bất hợp pháp và khuyếnkhích tăng hoạt động trong nền kinh tế ngầm Vấn đề liên quan đến sự khác biệt về đạođức thuế trong nghiên cứu ở các quốc gia được phản ánh thực tế hoặc quan sát các hành
vi Vì vậy, tác giả tin rằng đạo đức thuế thật sự ảnh hưởng đến quy mô nền kinh tế ngầm
Đồng thời, Alm, Martinez-Vazquez, và Schneider (2004) cho rằng quy mô nềnkinh tế ngầm có thể hữu ích, nhưng không hoàn toàn, dùng để đo lường mức độ trốn thuế,
do đó quy mô của nền kinh tế ngầm tỷ lệ nghịch với đạo đức thuế, hành động của cá nhânliên quan đến quan điểm của họ về đóng thuế
Một số nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu về mối hệ giữa đạo thức thuế và quy
mô nền kinh tế ngầm Alm và Torgler (2006) tập trung nghiên cứu ở Châu Âu và Hoa
Trang 6Kỳ, họ tìm thấy mối quan hệ nghịch với mức ý nghĩa 0.05 Khi phân tích mối quan hệtrong mô hình hồi quy tuyến tính, các nhà nghiên cứu thấy rằng biến đạo đức thuế có thểgiải thích hơn 20% sự thay đổi quy mô nền kinh tế ngầm Vì vậy, mức độ đạo đức thuếgây ra hậu quả về hành vi và tác nhân chính tác động đến quy mô nền kinh tế ngầm: Nếuđạo đức thuế giảm, thì quy mô nền kinh tế ngầm sẽ gia tăng
Alm, Martinez-Vazquez và Torgler (2006) cũng đã sử dụng cách tiếp cận tương tự
ở các quốc gia đang trong thời kỳ quá độ Với mức ý nghĩa 0.01, từ dữ kiệu của WorlldValues Survey 1999 – 2000 cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa hai biến (-0.657) Khithêm dữ liệu của WVS từ 1995 – 1997 và tăng số quan sát thì mối quan hệ vẫn là tỷ lệnghịch (Pearson r = -0.551), với mức ý nghĩa 0.01 Như vậy, đạo đức thuế thấp ở nhiềunước cho thấy xu hướng quy mô nền kinh tế ngầm sẽ lớn hơn Mô hình hồi quy tuyếntính trên cho thấy khi đạo đức thuế giảm 1 đơn vị thì quy mô nền kinh tế ngầm sẽ tăng20% và biến đạo đức thuế có thể giải thích hơn 30% tổng thay đổi của nền kinh tế ngầm
Torgler (2005b) nghiên cứu mối tương quan giữa quy mô nền kinh tế ngầm và đạođức thuế ở Mỹ Latinh sử dụng Latinobarómetro, cuộc khảo sát hằng năm tại 17 quốc giacủa Mỹ La-tinh (dữ liệu năm 1998), là dữ liệu để đo đạo đức thuế Cuộc khảo sát đã chothấy ý kiến, thái độ và hành vi của khoảng 400 triệu dân trên hầu hết Châu Mỹ Latinh(trừ Cuba, the Dominican Republic, and Puerto Rico) và đã đưa ra thông tin thực tế vàkhách quan là có mối quan hệ nghịch biến giữa hai biến (-0.511) với mức ý nghĩa 0.05
Các nghiên cứu có thể giải thích được sự ảnh hưởng của đạo đức lên của quy môcủa nền kinh tế ngầm, nhưng điều quan trọng là phải nghiên cứu nguyên nhân phụ thuộclẫn nhau của chúng và các nghiên cứu tập trung vào mối tương quan giữa chúng đã phầnnào bị hạn chế Do đó, hồi quy đa biến như là một công cụ giúp phân biệt những nhân tốtác động và ảnh hưởng của đạo đức thuế
Giả thuyết 4: Thu nhập bình quân đầu người càng cao thì mức độ của nền kinh tế
ngầm càng giảm với các yếu tố khác không đổi
Trang 7“GDP bình quân đầu người là một chỉ số thể hiện cho trình độ phát triển của mộtquốc gia Trình độ phát triển cao luôn đi kèm với việc phải vận hành một hệ thống thuếphức tạp để thu và nộp thuế cũng như có yêu cầu cao hơn về hàng hóa và dịch vụ công(theo Chelliah, 1971; Bahl, 1971) Nói chung, tác giả mong chờ một mối quan hệ nghịchbiến giữa biến số thu nhập bình quân đầu người và quy mô của nền kinh tế ngầm”
Giả thuyết 5: Gánh nặng tài khóa càng lớn thì nền kinh tế ngầm càng cao với các
yếu tố khác không đổi
“Gánh nặng tài khóa cũng được mong đợi là có ảnh hưởng tích cực đến quy môcủa nền kinh tế ngầm Nó có thể được lập luận rằng gánh nặng càng cao thì nguy cơ dẫnđến vi phạm pháp luật càng lớn Như một biến mà tác giả sử dụng các mức thuế suất caonhất (cái ngưỡng thu mà nó được áp dụng) được cung cấp bởi cở sở dữ liệu củaEconomic Freedom of the word Tác giả hi vọng rằng có mối tương quan thuận giữa gánhnặng tài khóa và quy mô của nền kinh tế ngầm Tuy nhiên việc sử sụng mức thuế suấtbiên thì có một số hạn chế Nó có thể dẫn đến tranh cãi rằng không có nhiều mức thuếsuất theo luật định có liên quan trong việc ra các quyết định hành xử bất hợp pháp, màứng dụng của họ chủ yếu cung cấp các trường hợp ngoại lệ hay là ưu đãi về thuế cái màảnh hưởng đến các quyết định cá nhân ( theo Friedman và các cộng sự, 2000) Tác giả đãkhông thể tìm thấy bằng chứng cho thấy mức thuế suất thuế gián thu hay trực thu cao hơn
có liến quan đến quy mô của nền kinh tế ngầm lớn hơn Ngược lại, họ lại tìm thấy một sốbằng chứng cho thấy mức thuế suất thuế trực thu cao hơn thì lại có liên quan đến nềnkinh tế ngầm nhỏ hơn Kết quả này cũng được đưa ra bởi Dreher and Schneider năm2006”
Giả thuyết 6: Tốc độ đô thị hóa và quy mô dân số càng tăng thì quy mô nền kinh
tế ngầm càng cao với các yếu tố khác không đổi
“Đặc điểm dân số và lao động là quy mô dân số hoặc lực lượng lao động cũng cóthể ảnh hưởng đến nền kinh tế ngầm Theo Bahl (2003, trang 13) chỉ ra rằng: ở các nước
có dân số tăng nhanh thì hệ thống thuế có thể bị tụt hậu trong khả năng nắm bắt đối tượngnộp thuế mới Điều này có thể khuyến khích mở rộng quy mô của nền kinh tế ngầm, hơn
Trang 8nữa mật độ dân số cao trong đô thị có thể dẫn đến tình trạng không khai báo nhân khẩucho cơ quan quản lý và kết quả là làm giảm trách nhiệm của công dân đối với chínhquyền địa phương và điều này có thể dẫn đến mức độ của nền kinh tế ngầm cao hơn Như
là các lĩnh vực nền tảng của thành phố, các lĩnh vực được coi như là khuyến khích hànhđộng trong nền kinh tế ngầm tinh vi hơn, đặc biệt là khi các hoạt động và dịch vụ củachính phủ không đáp ứng được nguyện vọng của người dân”
Giả thuyết 7: Với các yếu tố khác không đổi thì lực lượng lao động tăng thì nền
kinh tế ngầm thấp hơn
Biến số lực lượng lao động dùng để đo lường the potential pool cái được xem như
là điều kiện tiên quyết để làm việc trong khu vực shadow economy, mặt khác nhữngngười có nghề nghiệp ổn định thì họ lại có ít thời gian để nghĩ ngơi Do đó thời gian hoạtđộng như là một hạn chế trong shadow economy Những người thất nghiệp thì có động
cơ không khai báo giờ làm thêm của họ vì nếu khai báo họ sẽ bị mất khoản trợ cấp từchính phủ Nếu tiền lương không hợp pháp cộng với tiền trợ cấp từ chính phủ mang lạithu nhập cao hơn công việc thường xuyên và làm thêm giờ đồng thời cũng tính đến cácchi phải gánh chịu khi bị phát hiện và giả định rủi ro có tính trung lập Giả sử các yếu tốkhác không đổi thì công việc bất hợp pháp toàn thời gian mà vẫn được coi như người thấtnghiệp thì thiết thực hơn Trong tình huống như vậy thì mối nguy hiểm của một người ởlại trong The shadow economy và từ bỏ công việc tăng (theo Schneider and Enste, 2002)(Tác giả chưa thể tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa thất nghiệp và quy
mô của shadow economy)
Giả thuyết 8: Tỉ trọng của ngành nông nghiệp càng cao thì nền kinh tế ngầm càng
cao với các yếu tố khác không đổi
“Cơ cấu ngành của các sản phẩm nội địa cũng có thể ảnh hưởng đến quy mô của
nền kinh tế ngầm Tỉ trọng nông nghiệp trên GDP là phương pháp truyền thống để xácđịnh thuế nội địa đầu ra thì gặp nhiều khó khăn Thêm vào đó các tài liệu về tuân thủ thuếcho thấy xu hướng những người lao động tự do như là nông dân thì có xu hướng trốnthuế nhiều hơn các ngành nghề khác.( xem them ví dụ của Torgler 2007)”
Trang 9 Giả thuyết 9: Giao dịch thương mại càng cao thì quy mô nền kinh tế ngầm càng
thấp với các yếu tố khác là không đổi
“Tác giả đánh giá tính minh bạch tập trung vào giao dịch thương mại Giao dịch
thương mại thì minh bạch và dễ dàng hơn cho việc thực hiện nghĩa vụ thuế, do đó thì nó
sẽ khó khăn hơn trong việc che giấu kinh tế ngầm Vì vậy kim ngạch thương mại cao hơn
so với GDP có thể dẫn đến nền kinh tế ngầm thấp hơn với các yếu tố khác không đổi.”
Giả thuyết 10: Chính phủ can thiệp càng nhiều vào nền kinh tế thì quy mô của
nền kinh tế ngầm càng lớn với các yếu tố khác không đổi
“Luật cũng có thể ảnh hưởng đến quy mô của nền kinh tế ngầm, đặc biêt là các
quy định về lao động Các quy định về lao động có tác động mạnh mẽ đến lựa chọn xuấtcảnh, vì nó làm phức tạp hóa vấn đề này ( theo Schneider and Enste, 2002) Tác giả đã đinghiên cứu luật lao động ( như là tác động của mức lương tối thiểu, hoạt động thuê và sathải, chia sẻ của những người lao động có mức lương theo thương lượng, trợ cấp thấtnghiệp, sử dụng những người lính nhập ngũ để có được nhân viên sĩ quan quân đội).Thêm vào đó tác giả sử dụng một biến để đo lường phạm vi mà doanh nghiệp được địnhgiá về lương của riêng họ, ngoài ra luật doanh nghiệp cũng được tác giả nghiên cứu khi
có các nghiệp vụ phát sinh phản ánh năng lực quản trị và chất lượng thể chế, dữ liệu từThe Economic Freedom of the World (EFW) cho phép tác giả sử dụng các biến này, chấtlượng càng cao thì sai sót càng ít.”
3 Phương pháp kiểm định giả thuyết của tác giả.
3.1 Phương trình kiểm định
Để kiểm tra xem nếu cải thiện năng lực quản trị cũng như chất lượng thể chế vàđạo đức thuế có làm giảm quy mô của nền kinh tế ngầm, tác giả đề xuất phương trình cơbản sau:
SHADOWit = α + β1 CTRLit + β2 GOVINSTit + β3 TAXMORALEit + TDt + REGION +εit (1)
Trang 10Với i là nước i trong mẫu, để kiểm soát được thời gian cũng như các yếu tố bất biến địa phương, tác giả lấy thời gian cố định, TDt, và các yếu tố bất biến địa phương cố định, REGIONi (có sự phân biệt giữa nước phát triển, Châu Á, đang phát triển và các nước trong giai đoạn quá độ) Và cuối cùng εit biểu thị sai số.
3.2 Biến phụ thuộc SHADOWit , phương pháp xây dựng và lấy số liệu của tác giảBiến phụ thuộc SHADOWit miêu tả quy mô của nền kinh tế ngầm được thể hiệnqua tỉ lệ phần trăm của nền kinh tế ngầm/GDP thực
Nền kinh tế ngầm bao gồm tất cả các sản xuất hợp pháp dựa trên thị trường hànghóa và dịch vụ được cố ý che dấu từ cơ quan chính quyền vì những lý do sau đây (theoSchneider 2005a):
1) Để tránh chi trả thu nhập, giá trị gia tăng hoặc các loại thuế khác,
2) Để tránh thanh toán các khoản đóng góp an sinh xã hội,
3) Để tránh việc phải đáp ứng một số tiêu chuẩn thị trường lao động hợp pháp, chẳng hạn như mức lương tối thiểu, giờ làm việc tối đa, tiêu chuẩn an toàn 4) Để tránh việc tuân thủ các thủ tục hành chính nhất định, chẳng hạn như hoàn thành bảng câu hỏi thống kê hoặc các hình thức hành chính khác.
Do đó, trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ không đề cập đến các hoạt động kinh
tế ngầm có liên quan đến tính chất tội phạm hình sự như là trộm, cướp, buôn bán ma túy
và tác giả cũng không đề cập đến các hoạt động sản suất kinh doanh của các hộ gia đìnhphi chính thức Để đo lường nền kinh tế ngầm theo thông số tỷ lệ phần trăm của nền kinh
tế ngầm trên GDP chính thức, tác giả sử dụng phương pháp DYMIMIC- để ước lượngcác thông số để xác định quy mô của nền kinh tế ngầm và sử dụng phương pháp theCurrency Demand để hiệu chỉnh các hệ số của DYMIMIC thành những con số tuyệt đối.Tác giả xây dựng một bảng dữ liệu với các giá trị cho các năm 1990, 1995, và 2000, cơ
sở dữ liệu căn bản đã được đưa ra trong nghiên cứu trước đây do đó tác giả sẽ không thảoluận trong bài viết này (xem thêm Schneider, 2005a, 2005b)
3.3 Biến độc lập GOVINSTit , phương pháp xây dựng và lấy số liệu của tác giả
Trang 11Biến độc lập GOVINSTit biểu thị cho năng lực quản trị và chất lượng thể chế vàmột số nguồn dữ liệu được sử dụng để điều tra mối quan hệ giữa năng lực quản trị haychất lượng thể chế và nền kinh tế ngầm sau:
3.3.1 International Country Risk Guide (ICRG)
Các chỉ số ICRG đặc biệt nhấn mạnh các khía cạnh ảnh hưởng đến quyết định đầu
tư nước ngoài Đánh giá bao gồm 22 biến trong ba nhóm rủi ro: Chính trị, tài chính vàkinh tế Tác giả chủ yếu tập trung vào các thành phần rủi ro chính trị Tuy nhiên, trongmột số trường hợp tác giả cũng sẽ sử dụng thêm các biến số trong chỉ số COMPOSITERISK RATING (Rủi ro tổng hợp bao gồm rủi ro chính trị, rủi ro tài chính và rủi ro kinhtế)
Chỉ số POLITICAL RISK RATING (Rủi ro chính trị) được đưa ra để đánh giá sự
ổn định của thể chế chính trị trên cơ sở so sánh sử dụng 12 phép đo khác nhau bao gồm
cả các thuộc tính chính trị và xã hội Tác giả đã nghiên cứu POLITICAL RISKRATING, nhưng cũng chính 8 tiểu hợp phần đo lường năng lực quản trị và chất lượngthể chế, cụ thể: BUREAUCRATIC QUALITY, CORRUPTION, GOVERNMENTACCOUNTABILITY, GOVERNMENT STABILITY, LAW & ORDER, MILITARYCONFLICT và MILITARY IN POLITICS Một số lượng các điểm chỉ ra một nguy cơtiềm năng thấp hơn và do đó điểm số cao hơn là phù hợp với năng lực quản trị và chấtlượng thể chế cao hơn
BUREAUCRATIC QUALITY: Chất lượng thể chế của bộ máy hành chính.
“Điểm cao được trao cho các quốc gia mà có bộ máy hành chính có năng lực vàchuyên môn để quản lý và không có sự sáo trộn lớn khi chính sách thay đổi hoặccác dịch vụ công bị gián đoạn Ở những nước low-risk, bộ máy hành chính cókhuynh hướng độc lập một phần nào đó dưới áp lực chính trị và họ thiết lập một
cơ chế riêng cho việc tuyển dụng và đào tạo Những nước có bộ máy hành chính
bị ảnh hưởng mạnh bởi tính quan lưu thì nhận được điểm thấp”
CORRUPTION: Đánh giá tham nhũng trong hệ thống chính trị “Điểm thấp cho
thấy các công chức có nhu cầu thanh toán đặc biệt cao và việc thanh toán bất hợp
Trang 12pháp này thấp hơn ở cấp chính quyền thấp hơn bằng các hình thức như là hối lộtrong việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu, quản lý ngoại hối, ấn định thuế, cảnh sátbảo vệ hoặc là các khoản vay”
GOVERNMENT ACCOUNTABILITY: Các giải pháp đáp ứng người dân của
chính phủ như thế nào?
GOVERNMENT ACCOUNTABILITY: Đánh giá năng lực của chính phủ để
thực hiện các lời hứa của họ trong việc làm của họ (phần phụ: sự thống nhất củachính phủ, tính nghiêm minh của luật pháp và các hỗ trợ cơ bản)
LAW & ORDER: Chỉ số LAW đo lường tính nghiêm minh và sự công bằng của
hệ thống luật pháp, chỉ số ORDER đánh giá sự tuân thủ pháp luật
MILITARY CONFLICT: Đánh giá bạo động chính trị trong một quốc gia trong
thực tế cũng như tiềm năng (Phân nhóm: chiến tranh/cuộc đảo chính, mối đe dọadân sự, chủ nghĩa khủng bố, an ninh mất ổn định)
MILITARY IN POLITICS: Biến này đo lường sự can thiệp của quân đội trong
chính trị, ICRG nhấn mạnh rằng “sự tham gia của quân đội trong chính trị mặc dù
ở mức độ ngoại vi thì nó cũng làm suy giảm sự dân chủ”
3.3.2 Chỉ số quản trị tổng hợp
Tác giả sử dụng chỉ số năng lực quản trị như một biến chính để đo lường năng lựcquản trị và chất lượng thể chế ( xem thêm Kaufmann, Kraay, and Mastruzzi, 2003) Mộtcái bất lợi là không có dữ liệu cho năm 1990 Vì vậy, có những biến chỉ chỉ có dữ liệu ởhai năm còn lại Các biến dựa trên hàng tram các biến đo lường về quan niệm quản trị và
có nguồn gốc từ 25 nguồn dữ liệu khác nhau Kaumann và cộng sự của ông ta phân loạicác chỉ số quản trị thành 3 nhóm chính sau:
Một là quy trình bầu cử, giám sát và thay thế chính phủ gồm 2 biến sau:
VOICE AND ACCOUNTABILITY: Đo lường tiến trình chính trị, quyền tự do
dân chủ và quyền chính trị
POLITICAL STABILITY AND ABSENCE OF VIOLENCE: Đánh giá khả
năng chính phủ sẽ bị lật đỗ hoặc bất ổn
Trang 13Hai là Năng lực của chính phủ để xây dựng hiệu quả và thực hiện các chính sách phù hợp gồm 2 biến sau:
GOVERNMENT EFECTIVENESS: yêu cầu đầu vào của chính phủ để có thể
thực hiện các chính sách và cung cấp hàng hóa công tốt
REGULATORY QUALITY: tập trung hơn vào chính sách, chẳng hạn như phạm
vi thị trường bị tác động/chính sách không phù hợp, quan điểm về ấn định gánhnặng bởi các quy định quá mức
Ba là mối quan hệ giữa công dân và nhà nước trong chi phối nền kinh tế và các tương tác xã hội gồm 2 biến:
RULE OF LAW: Một vài chỉ số đo lường mức độ tin tưởng vào agents và phù hợp
với các thước đo của xã hội
CONTROL OF CORRUPTION: đo lường nhận thức tham nhũng (dùng quyền
lực công cho lợi ích cá nhân) Theo Kaufman và các cộng sự (2003,p.4) các chỉ
số đo lường sự thành công của một xã hội trong việc phát triển môi trường mà ở
đó có sự công bằng và khuôn khổ luật có thể tiên đoán được thì làm cơ sở cho sựtương tác giữa kinh tế và xã hội
Theo ước tính của Kaufmann và các cộng sự điểm sổ của tất cả các chỉ số nằmtrong khoảng -2.5 đến 2.5 với điểm số cao hơn tương ứng với thể chế tốt hơn (kết quảquản trị công) Tác giả đã sử dụng các chỉ số độc lập để kiểm tra tính thiết thực của cácchỉ số thống kê
Các biến của bộ dữ liệu ICRG và Aggregate Governance Indicators liên quan chặtchẽ với nhau Ví dụ, mối tương quan giữa the POLITICAL RISK RATING và mức trungbình của sáu chỉ số quản trị tổng hợp là 0.88 Tác giả sẽ sự dụng hai bộ biến này trongcác ước tính khác nhau để kiểm tra sự thiết thực của hai giả thuyết đầu tiên
3.3.3 Economic Freedom of the World (EFW)
Mục tiêu của chỉ số này là đo lường sự tự do kinh tế một cách chính xác và toàndiện Các dữ liệu quốc tế có nguồn gốc từ một bên thứ ba như IMF, Word Bank, Word
Trang 14Economy Forum…Các chỉ số bao gồm nhiều quốc gia trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Một vài dữ liệu có đủ ba khoảng thời gian và một vài là hai hoặc chỉ duy nhất mộtkhoảng thời gian Tác giả điều tra nhiều biến số đo lường kết cấu của luật pháp, sự antoàn trong quyền sở hữu và các quy định trong kinh doanh.
Các biến số LEGAL SYSTEM, LAW AND ORDER, JUDICIALINDEPENDENCE, IMPARTIAL COURTS, PROPERTY RIGHTS, MILITARYINTERFERENCE, ADMINISTRATIVE CONDITIONS đo tính công minh của hệthống pháp luật, bảo vệ sở hữu trí tuệ, độc lập tư pháp, sự công bằng của tòa án, và sự canthiệp quân sự trong luật pháp và tiến trình chính trị Nhóm BUREAUCRACY (TIME),STARTING BUSINESS, IRREGULAR PAYMENTS, BUSINESS REGULATIONS đolường tính hạn chế của luật doanh nghiệp khi áp dụng vào thị trường Quy định chặt chẽtăng thì khuyến khích hoạt động trong nền kinh tế nước ngoài Các biến sử dụng đượcthiết kế để xác đinh mức độ hạn chế của các quy định và thủ tục hành chính trong hoạtđộng cuar thị trường cạnh tranh
LEGAL SYSTEM: Sự liêm chính của hệ thống pháp luật và quyền sở hữu (bao
gồm các chỉ số: JUDICIAL INDEPENDENCE (mức độ đọc lập của hệ thống tưpháp), IMPARTIAL COURTS (sự công bằng của tòa án) and PROPERTYRIGHTS ( quyền sở hữu)
LAW AND ORDER: Chỉ số LAW đo lường tính nghiêm minh và sự công bằng
của hệ thống luật pháp, chỉ số ORDER đánh giá sự tuân thủ pháp luật
JUDICIAL INDEPENDENCE: Đo lường tính độc lập của tư pháp và không
chịu sự can thiệp của chính phủ hay các bên tranh chấp
IMPARTIAL COURTS: Tồn tại một khuôn khổ pháp lý đáng tin cậy để doanh
nghiệp tư nhân cỏ thể thách thức các hành động hay các quy định của chính phủ
PROPERTY RIGHTS: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
MILITARY INTERFERENCE: Sự can thiệp của quân đội trong luật pháp và
tiến trình chính trị