Năng lượng nguyên tử
Trang 1Năng lượng nguyên tử (NLNT) được tạo ra do các biến đổi trạng thái của nguyên tử
và hạt nhân có hai dạng là năng lượng bức xạ và năng lượng phân hạch, các dạng năng lượng này đã được ứng dụng trong đời sống kinh tế - xã hội Các ứng dụng của NLNT
có thể chia thành hai nhóm chính: Điện hạt nhân (sử dụng năng lượng phân hạch để phát điện) và các ứng dụng phi điện (sử dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong y tế, nông nghiệp, công nghiệp, địa chất, khoáng sản, khí tượng, thuỷ văn, giao thông, xây dựng, dầu khí, )
I Tình hình phát triển điện hạt nhân tại Việt Nam
Ngày 25/11/2009 Quốc hội đã ra Nghị quyết số 41/2009/NQ-QH12 phê duyệt chủ trương xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2, mỗi nhà máy có công suất 2.000 MWe, trong đó nhà máy đầu tiên sẽ bắt đầu được xây dựng năm 2014 và đi vào vận hành năm 2020
Năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét đến năm 2030” (Quy hoạch điện VII) trong đó xác định đến năm 2030 điện hạt nhân sẽ chiếm khoảng 6,6% tổng công suất các nhà máy điện tại Việt Nam Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt một số văn bản phục vụ việc phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử nói chung và điện hạt nhân nói riêng như Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, Quy hoạch tổng thể ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, Luật Năng lượng nguyên tử và một loạt các văn bản khác
Năm 2010, Việt Nam đã chính thức lựa chọn Liên bang Nga và Nhật Bản làm 2 đối tác xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2
Để triển khai Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải làm Trưởng ban và có sự tham gia của đại diện các bộ ngành liên quan Ban Chỉ đạo Nhà nước có 5 tiểu ban kỹ thuật, trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) được giao chủ trì 3 tiểu ban gồm: Tiểu ban An toàn và An ninh hạt nhân; Tiểu ban Đào tạo và Thông tin tuyên truyền; Tiểu ban Công nghệ lò phản ứng, Nhiên liệu hạt nhân và Chất thải phóng
xạ Kế hoạch hoạt động của 3 Tiểu ban này đang được 3 cơ quan về NLNT của Bộ KH&CN triển khai là Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục Năng lượng nguyên tử và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam Bên cạnh đó Bộ KH&CN đang triển khai cùng đối tác Nga việc xây dựng trung tâm khoa học công nghệ hạt nhân, tăng cường hợp tác của cơ quan pháp quy Việt Nam với các cơ quan pháp quy của Liên bang Nga, Hoa Kỳ
và Nhật Bản trong việc xây dựng năng lực pháp quy cho Việt Nam
Hiện nay Việt Nam đang phối hợp với các đối tác để xúc tiến công tác chuẩn bị địa điểm và chuẩn bị Dự án đầu tư (FS) Bên cạnh đó các bộ ngành và cơ quan liên quan đang tích cực phát triển các cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển điện hạt nhân trong đó
có cơ sở hạ tầng pháp quy Bộ KH&CN đang chủ trì dự án hợp tác kỹ thuật với IAEA
về “Phát triển cơ sở hạ tầng hạt nhân quốc gia” nhằm phấn đấu đạt được Cột mốc số 2 theo hướng dẫn của IAEA là thời điểm Việt Nam sẽ ký với đối tác hợp đồng xây dựng
Trang 2II Tình hình phát triển ứng dụng phi điện của NLNT tại Việt Nam
“Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020” (2006) đánh giá việc ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ ở Việt Nam còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, công nghệ còn ở trình độ thấp, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào việc nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật và nguồn phóng xạ Việc đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và đào tạo đội ngũ cán bộ chưa được chú ý đúng mức Việc ứng dụng năng lượng bức xạ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội chưa có định hướng rõ ràng Phần lớn người dân chưa được hưởng lợi từ việc ứng dụng năng lượng bức xạ trong chẩn đoán và điều trị bệnh Nguyên nhân chính là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta còn thấp và nhận thức của xã hội về vai trò của năng lượng bức xạ còn chưa đầy đủ
Theo Chiến lược ứng dụng NLNT, tính đến hết năm 2004 Việt Nam có 1.465 cơ sở bức xạ đang hoạt động, trong đó ngành y tế chiếm 88.8% (1301 cơ sở), ngành công nghiệp chiếm 5,9% và các ngành, lĩnh vực khác như nghiên cứu đào tạo chiếm 3,8%
Có 1.173 nguồn phóng xạ, trong đó số nguồn được sử dụng trong y tế chiếm 46,9 %, công nghiệp chiếm 36,2% và trong các ngành ứng dụng khác chiếm 17% Các ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ chính có thể kể tới:
- Trong y tế: Ngành y tế có khoảng 2.000 máy X - quang, 14 máy xạ trị Cobalt -60, 4 máy gia tốc, 524 nguồn xạ trị áp sát (phần lớn là nguồn Radium); 10 máy gamma camera phục vụ chẩn đoán; Sản xuất dược chất phóng xạ trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 1/2 nhu cầu đối với các loại đồng vị tạo ra trên lò phản ứng, còn lại phải nhập khẩu
- Trong công nghiệp: Ngành công nghiệp có khoảng 300 nguồn được dùng trong kiểm tra mẫu không phá huỷ (NDT) và thăm dò đầu khí; kỹ thuật thủy văn đồng vị để nghiên cứu nước ngầm đã được triển khai ứng dụng bước đầu ở Thành phố Hồ Chí Minh; số lượng thiết bị bức xạ dùng trong chiếu xạ thực phẩm tăng lên một cách đáng
kể, hiện đã có 5 thiết bị hoàn thành việc lắp đặt và đi vào hoạt động
- Trong nông nghiệp: Một số loại giống lúa, đậu tương được tạo ra bằng kỹ thuật đột biến phóng xạ
Năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến năm 2020” trong đó có giao cho các Bộ liên quan xây dựng Quy hoạch chi tiết cho ứng dụng NLNT trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế theo hướng đẩy mạnh ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế-xã hội Cụ thể, trong nông nghiệp đến năm 2015 góp phần xử lý ít nhất 35% và đến năm 2020 xử lý ít nhất 70% hàng nông sản xuất khẩu bằng kỹ thuật chiếu xạ; trong công nghiệp cần tăng tỷ lệ đáp ứng nhu cầu về chiếu xạ công nghiệp giai đoạn 2011-2015 lên 35%, giai đoạn 2016-2020 lên 40%
III Kinh nghiệm quản lý ứng dụng NLNT trên thế giới
Trên thế giới, quản lý nhà nước đối với ứng dụng NLNT thường được tổ chức theo các cách chính sau:
- Là cơ quan trực thuộc trực tiếp Chính phủ (cơ quan ngang Bộ) Đây là trường hợp của Pháp (CEA), Liên bang Nga (ROSATOM), Ấn Độ (DAE), Phần Lan (STUK), Canada (AECL), Pakistan (PAEC) và Indonesia (BATAN);
2
Trang 3- Là cơ quan trực thuộc Bộ phụ trách khoa học và công nghệ: Đây là trường hợp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan và Philippines
Dưới đây là mô hình tổ chức quản lý nhà nước đối với ứng dụng NLNT:
A Các quốc gia đã có điện hạt nhân
01 Nhật Bản
Trang 502 Pháp
03 Liên bang Nga
Trang 7Chính phủ Nhật Bản
Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp
Ủy ban An toàn hạt nhân Nhật Bản
04 Ấn Độ
Trang 9Chính phủ Pháp
Chính phủ Pháp
Cơ quan Năng lượng nguyên tử và Năng lượng thay thế
Cơ quan An toàn hạt nhân
Cơ quan An toàn hạt nhân
05 Hàn Quốc
Trang 1010
Trang 11Chính phủ Liên bang Nga
Rosato
mEnergoatomAtomEnergoPromAtomstroyexport
T V EL
Atomenergoproekt RostechnadzorAtomEnergoPromAtomstroyexport Energoatom
T V EL Atomenergoproekt
B Các quốc gia chưa có điện hạt nhân
01 Malaysia
Trang 1212
Trang 1302 Indonesia
Trang 15Chính phủ
Ấn ĐộCơ quan Năng lượng nguyên tử
Ủy ban Kiểm soát Năng lượng nguyên tử Ủy ban Công nghệ Bức xạ và Đồng vị Công ty Điện hạt nhân Ấn ĐộỦy ban Năng lượng nguyên tử
03 Thái Lan
Trang 1704 Philippines
Trang 19Tổng thống Hàn Quốc Thủ tướng Hàn Quốc
IV Kết luận
- Ứng dụng NLNT không chỉ bao gồm điện hạt nhân mà còn có các ứng dụng phi điện
về bức xạ và đồng vị phóng xạ
- Ứng dụng NLNT là lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành khác nhau, đòi hỏi hàm lượng khoa học-công nghệ rất cao và tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn, an ninh Vì vậy kinh nghiệm nước cho thấy việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực ứng dụng NLNT thường được giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc một cơ quan ngang Bộ