đồ án xử lý nước thải sinh hoạt công nghệ SBR
Trang 1MỞ ĐẦU
Hàng ngày có khoảng hàng triệu m3 nước thải được đưa vào môi trường do hoạt động sinh hoạt của con người, chưa kể đến các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp… Cùng với lượng lớn nước thải đó là hàng trăm ngàn tấn các chất hữu cơ, dầu mỡ, các chất dinh dưỡng (giàu N, P)…cũng được thải ra Phần lớn lượng nước thải này không được xử lí mà đổ trực tiếp ra môi trường nước hay đất Điều này không chỉ gây nguy hại cho môi trường xung quanh mà còn nguy hiểm hơn khi các chất ô nhiễm này ngấm xuống lòng đất gây ô nhiễm nước ngầm, vốn là nguồn nước sinh hoạt của nhiều người dân
Nước ta đang trên đường hội nhập với thế giới nên việc quan tâm đến môi trường là điều tất yếu.Vấn đề bảo vệ sức khỏe cho con người, bảo vệ môi trường sống trong đó bảo vệ nguồn nước khỏi bị ô nhiễm đã và đang được Đảng, nhà nước cùng các
tổ chức, mọi người dân đều quan tâm Đó không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân
mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội
Một trong các biện pháp tích cực để bảo vệ môi trường sống, bảo vệ nguồn nước thiên nhiên tránh không bị ô nhiễm bởi các chất thải do hoạt động sống và làm việc của con người gây ra là việc xử lý nước thải và chất thải rắn trước khi xả ra nguồn tiếp nhận đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường hiện hành, đồng thời tái sử dụng và giảm thiểu nồng độ chất bẩn trong các loại chất thải này
Thành phố Tam Kỳ là một trong những khu vực trọng điểm của tỉnh Quảng Nam, đang được đầu tư và phát triển, có nhiều tiềm năng về kinh tế xã hội Sự phát triển của khu vực này đòi hỏi phải có một cơ sở hạ tầng đồng bộ và đáp ứng được các yêu cầu trong việc bảo vệ môi trường Tuy nhiên, hiện nay hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt của thành phố vẫn chưa được xây dựng, nước thải hầu như được thải trực tiếp
ra sông Tam Kỳ gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của người dân xung quanh Vì vậy, việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho khu vực mang tính cấp bách và cần thiết
Được sự gợi ý của thầy Trần Ngọc Tân, đề tài: “ Tính toán thiết kế hệ thống xử
lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ công suất Q = 12000 m 3 /ngày đêm” được
thực hiện nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt gây ra, đem lại môi trường sống xanh – sạch – đẹp cho thành phố Tam Kỳ
Nội dung đề tài bao gồm các phần như sau:
- Mở đầu
Trang 2- Chương I: Tổng quan chung về xử lý nước thải sinh hoạt.
- Chương II: Phân tích lựa chọn công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt cho thành phố Tam Kỳ
- Chương II: Tính toán thiết kế hệ thống xử lý
- Chương III: Tính toán sơ bộ chi phí xây dựng và vận hành
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN CHUNG VỀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
I.1 Tổng quan chung về xử lý nước thải sinh hoạt ở Việt Nam:
I.1.1 Tổng quan quy mô đô thị Việt Nam:
Tính đến năm 2006, nước ta có 718 đô thị (96 thành phố, thị xã và 622 thị trấn), trong đó có 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 17 đô thị có quy mô dân số từ 250.000 đến 3.000.000 người, 77 đô thị có quy mô dân số từ 50.000 đến 250.000 người và 622 đô thị có quy mô dân số nhỏ hơn 50.000 người Trên địa bàn cả nước đã
và đang thành lập khoảng 150 khu công nghiệp tập trung, 10 đô thị mới, 25 khu kinh tế
mở, khu kinh tế cửa khẩu, góp phần mở rộng mạng lưới đô thị quốc gia tại các vùng ven biển và biên giới Trong khi đó, theo niên giám thống kê năm 2004, Việt Nam có
672 đô thị, bao gồm 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 84 thành phố, thị xã trực
thuộc tỉnh và 583 thị trấn, cho thấy tốc độ đô thị hóa tăng nhanh [1]
Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 18% (1986) lên 27% (6/2006) Nhiều đô thị đã phát triển và mở rộng vượt ra ngoài dự báo cả về tăng trưởng dân số, nhu cầu sử dụng đất và
cơ sở hạ tầng [1]
Dự báo năm 2010, dân số cả nước là 93 triệu người, dân số đô thị sẽ tăng khoảng 1,14 triệu người/năm, tương ứng tỷ lệ tăng trưởng là 6% trung bình năm, đưa tổng dân số đô thị cả nước lên 30,4 triệu người chiếm 33% số dân cả nước Đến năm
2020, dân số cả nước sẽ là 103 triệu người, trong đó dân số đô thị là 46 triệu người,
chiếm tỷ lệ 45% số dân cả nước, bình quân tăng 1,56 triệu người/năm [2]
Mật độ dân số cao, sản xuất và dịch vụ ở các đô thị phát triển đồng nghĩa với nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, ngoài nước thải còn phát sinh một lượng lớn chất thải rắn, khí thải gây ô nhiễm đến môi trường tiếp nhận
I.1.2 Hiện trạng sử dụng nước ở Việt Nam:
Cùng với sự gia tăng dân số, đô thị hoá, phát triển kinh tế, nhu cầu nước dùng cho ăn uống - sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ ngày càng tăng Lượng nước cần của năm 2000 là 79,61 tỷ m3/năm, trong số đó có 2,91 tỷ
m3 cho ăn uống - sinh hoạt, 16,2 tỷ m3 cho công nghiệp và 60,5 tỷ m3 cho nông nghiệp Trong vòng 15 năm, nhu cầu nước đã tăng 1,76 lần (ăn uống - sinh hoạt: 1,65 lần; công
nghiệp: 5,62lần; nông nghiệp: 1,49lần) [3]
Sau năm 2015 - 2020, nhu cầu nước sẽ vào khoảng 140 tỷ m3/năm, tạo nên một sức ép rất lớn, đó là chưa kể đến khi ấy nước ta đã trở thành nước công nghiệp, dân số
Trang 4khoảng 120 - 150 triệu, mức sống cao hơn đòi hỏi lượng nước dùng lớn hơn: trung bình cư dân đô thị mỗi người một ngày dùng 120 - 150 lít nước cao hơn so với hiện
nay (mức 80 - 100 lít), còn người dân nông thôn dùng 80 - 100 lít thay vì 40 - 60 lít [3]
Theo dự báo của ủy hội Tài nguyên nước quốc tế nhu cầu nước vào năm 2020 sẽ tăng 6,5 lần so với năm 1990, thì nhu cầu nước của Việt Nam lúc đó rất lớn sẽ vào khoảng 510 - 520 tỷ m3 /năm [3]
Lượng nước thải sinh hoạt tại các cơ sở dịch vụ, công trình công cộng phụ thuộc vào loại công trình, chức năng, số người tham gia trong đó Thông thường tiêu chuẩn
nước thải sinh hoạt lấy bằng 90 đến 100% tiêu chuẩn cấp nước [4]
Tiêu chuẩn thải nước của một số cơ sở dịch vụ và công trình công cộng được nêu trong bảng I.1
Bảng I.1 Tiêu chuẩn thải nước của một số cơ sở dịch vụ
Khu triển lãm, giải trí Người tham quan 15 - 30
Đặc trưng của nước thải sinh hoạt là hàm lượng chất hữu cơ và hàm lượng chất
lơ lửng lớn (hàm lượng chất hữu cơ chiếm 55% – 65% tổng lượng chất ô nhiễm); giàu Nitơ và Phôtpho; chứa nhiều vi sinh vật, trong đó có cả những vi sinh vật và kí sinh trùng gây bệnh (tổng số Coliform từ 106 – 109 MPN/100ml, Fecal Coliform từ 104 – 107 MPN / 100ml) Mặt khác, trong nước thải còn có nhiều vi khuẩn phân hủy các chất hữu
cơ cần thiết cho các quá trình chuyển hóa chất bẩn trong nước [4]
Trang 5Bảng I.2 Tiêu chuẩn nước thải và lượng chất ô nhiễm tính cho một người
ở một số nước [5]
Tên nước Tiêu chuẩn thải nước
(l/người.ngày) Chất lơ lửng (SS) Lượng chất bẩn (g/người.ngày) BOD 5
hữu cơ trong nước thải dao động trong khoảng 150 – 450 mg/l [6]
Thành phần nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào tiêu chuẩn cấp nước, đặc điểm hệ thống thoát nước, chế độ xả, tiêu chuẩn thải nước và điều kiện trang thiết bị vệ sinh của từng khu dân cư khác nhau
Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt được nêu trong bảng I.3:
Bảng I.3 Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư [4]
4015250,050,2
Trang 6Bảng I.4 Lượng chất bẩn một người trong một ngày xả vào
hệ thống thoát nước [4]
- Chất lơ lửng (SS)
- BOD5 của nước thải chưa lắng
- BOD5 của nước thải đã lắng
30 - 3583,310
2 - 2,5
- BOD, COD: sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường nước Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành Trong quá trình phân hủy yếm khí sinh ra các sản phẩm như H2S, NH3, CH4,… làm cho nước có mùi hôi thối và làm giảm pH của môi trường
- SS: lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí
- Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến đời sống của thủy sinh vật nước
- Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu chảy, ngộ độc thức ăn, vàng da,…
- N, P: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng Nếu nồng độ trong nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa
- Màu: gây mất mỹ quan
I.1.3 Hiện trạng hệ thống thoát nước: [7]
Hiện nay, hệ thống thoát nước phổ biến nhất ở các đô thị của Việt Nam là hệ thống thoát nước chung Phần lớn những hệ thống này được xây dựng cách đây khoảng
100 năm, chủ yếu để thoát nước mưa, ít khi được sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng nên đã xuống cấp nhiều; việc xây dựng bổ sung được thực hiện một cách chắp vá, không theo quy hoạch lâu dài, không đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị
Các dự án thoát nước đô thị sử dụng vốn ODA (cho khoảng 10 đô thị) đã và đang được triển khai thực hiện thường áp dụng kiểu hệ thống chung trên cơ sở cải tạo nâng cấp hệ thống hiện có
Trang 7Đối với các khu công nghiệp, được xây dựng từ 1994 đến nay, việc tổ chức hệ thống thoát nước theo dạng phổ biến trên thế giới Thông thường có hai hoặc ba hệ thống thoát nước riêng biệt:
- Trường hợp ba hệ thống cho ba loại nước thải: nước mưa, nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt
- Trường hợp hai hệ thống: nước mưa thoát riêng, còn nước thải sản xuất sau khi
đã xử lý sơ bộ trong từng nhà máy thì thoát chung và xử lý kết hợp với nước thải sinh hoạt
Trong từng đô thị thì mật độ cống thoát nước khác nhau, các khu trung tâm đặc biệt là các khu phố cũ, mật độ cống thoát nước thường cao hơn các khu vực mới xây dựng Ngoài ra, nhiều đô thị gần như chưa có hệ thống thoát nước, nhất là các thị xã tỉnh lỵ vừa được tách tỉnh
Theo đánh giá của các công ty thoát nước, công ty môi trường đô thị tại các địa phương và các công ty tư vấn, thì có trên 50% các tuyến cống đã bị hư hỏng nghiêm trọng cần phải sửa chữa, 30% các tuyến cống đã xuống cấp, chỉ khoảng 20% vừa được xây dựng là còn tốt
Các kênh rạch thoát nước chủ yếu là sử dụng kênh rạch tự nhiên, nền và thành bằng đất do vậy thường không ổn định Các cống, ống thoát nước được xây dựng bằng
bê tông hoặc xây gạch, tiết diện cống thường có hình tròn, hình chữ nhật, có một số tuyến cống hình trứng Ngoài ra tại các đô thị tồn tại nhiều mương đậy nắp đan hoặc mương hở, các mương này thường có kích thước nhỏ, có nhiệm vụ thu nước mưa và nước bẩn ở các cụm dân cư Các hố ga thu nước mưa và các giếng thăm trên mạng lưới
bị hư hỏng nhiều ít được quan tâm sửa chữa gây khó khăn cho công tác quản lý
I.1.4 Vấn đề xử lý nước thải sinh hoạt ở Việt Nam:
Vấn đề hiện nay, để thực hiện được triệt để việc xử lý nước thải sinh hoạt thì chúng ta phải làm ngay từ đầu nguồn Tức là phải có hệ thống xử lý nước thải trong mỗi hộ gia đình hoặc cụm dân cư trước khi thải ra ngoài
Cả nước hiện có 12 thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hạ Long, Huế, Buôn Mê Thuột, Đà Lạt, Thái Nguyên, Vũng Tàu, Cần Thơ, Bắc Ninh, Hải Dương và Vinh có các dự án trạm xử lý nước thải đô thị công suất trên 5000m3/ngàyđêm đang trong giai đoạn quy hoạch và xây dựng Trong đó Buôn Mê Thuột là thành phố đã thực hiện được việc gắn thoát nước với xử lý nước thải, Đà Lạt thực hiện được một nửa diện tích thành phố Tại các nơi này, các hộ gia đình không làm tự hoại mà đưa thẳng vào một hồ chung để xử lý tổng thể trước khi thải ra ngoài sông, suối Thành phố Hà Nội
Trang 8cũng đang chuẩn bị xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại Yên Sở để xử lý toàn bộ lượng nước thải của thành phố Tuy nhiên những người dân sống xung quanh các khu
xử lý nước thải này lại bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ các nhà máy [8]
Hiện nay, công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt và nước ao hồ, kênh rạch ô nhiễm tại các đô thị mới được triển khai ở quy mô Pilot Công ty HAECON (Bỉ) đã nghiên cứu công nghệ bể lọc đệm sinh học cố định để xử lý nước thải sinh hoạt cho các cụm
dân cư nhỏ khoảng vài trăm đến vài nghìn người [9]
Hệ thống xử lý nước thải Johkasou của Nhật trong các khu đô thị hoặc cụm gia đình để xử lý triệt để cũng được áp dụng Đây là một hệ thống xử lý nước thải tiên tiến hiện nay với cách khử khí kín đáo, hiệu quả cao, công nghệ tốt, có thể áp dụng cho số lượng ít hoặc nhiều tùy ý, nhưng việc lắp đặt hệ thống này còn khá đắt đối với các hộ
gia đình [8]
I.2 Tổng quan về khu vực thành phố Tam Kỳ:
I.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực:
I.2.1.1 Điều kiện tự nhiên:
a) Vị trí địa lý:
Thành phố Tam Kỳ được xây dựng bên quốc lộ 1A, cách khu Nam thành phố
Đà Nẵng 70km và có tuyến đường sát thống nhất chạy qua phía Đông Trên bản đồ địa hình, thành phố nằm ở tọa độ 15021’ vĩ Bắc và 10809’ tới 108044’ kinh độ Đông, phía Đông giáp biển và có ranh giới hành chính với 3 huyện thuộc tỉnh là huyện Thăng Bình
ở phía Bắc, huyện Núi Thành ở phía Nam và huyện Tiên Phước ở phía Tây
Bản đồ liên hệ thành phố Tam Kỳ (phụ lục I)
b) Điều kiện địa hình:
Thành phố Tam Kỳ nằm trong khu vực địa hình bán sơn địa và khu vực đồng bằng ven biển với những nét đặc trưng là:
- Toàn bộ thành phố rộng 34.157 ha được chia làm 3 vùng địa hình là vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển
- Khu nội thành và 3 xã ngoại vi liền kề (Tam An, Tam Ngọc, Tam Thái) đều nằm hoàn toàn trong vùng địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng, hướng dốc thoải
từ Tây Bắc về Đông Nam là nhỏ, cao độ địa hình trung bình ở mức thấp từ 2,5 – 3,0 m nên một số nơi trũng ngay trong nội thị thường bị ngập úng và nhiều ô địa hình bị mặn biển thâm nhập và người dân không thể sử dụng giếng nước khơi để phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt
c) Điều kiện khí hậu:
Trang 9Khu vực thành phố Tam Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nắng – khô – nóng, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9 và mùa khô
từ tháng 10 đến tháng 12
Nhiệt độ trung bình của năm là 26,4oC Nhiệt độ cao nhất là 38,9oC và thấp nhất
là 15,5oC, độ ẩm thấp từ 82 - 85%
Lượng mưa cao và tập trung trong ít tháng Lượng mưa trung bình năm đạt 2419
mm và chủ yếu tập trung vào 3 tháng 7, 8 và 9 Lượng mưa trong năm cao nhất là
3307 mm, có nhiều năm lượng mưa rất thấp, chỉ đạt khoảng 1111 - 1300 mm
Hai hướng gió chính của khu vực :
+ Gió Tây Nam : từ tháng 5 đến tháng 11
+ Gió Đông Nam : từ tháng 12 đến tháng 4
d) Điều kiện địa chất:
Nội thành Tam Kỳ và một vài xã liền kề nằm trong vùng có kiến tạo địa tầng thuộc hệ trầm tích đệ tứ có nguồn gốc phù sa sông biển
Địa chất công trình tương đối ổn định Theo chiều sâu phân bố, địa tầng bên trên thường gồm các lớp:
Mực nước ngầm khá cao, thường gặp ở độ cao 1,5 – 3,5 m
I.2.1.2 Dân số và tình hình phát triển kinh tế ở địa phương:
b) Tình hình phát triển kinh tế:
Tam Kỳ thuộc đô thị loại nhỏ, là trung tâm chính trị và trọng điểm kinh tế của tỉnh Quảng Nam Do điều kiện tự nhiên không ưu đãi, do vốn đầu tư của trung ương tại địa phương qua nhiều năm sau giải phóng ít nên kinh tế của thành phố còn chưa phát
Trang 10triển mạnh Trong những năm gần đây, kinh tế thành phố có những bước phát triển đáng kể nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào tình hình phát triển chung trong tỉnh Cơ cấu kinh tế hiện tại của thành phố tuy khác biệt so với các nơi khác trong tỉnh nhưng chưa
là khu kinh tế độc lập, có tiềm năng nên mọi hoạt động đầu tư quy mô lớn đều do trung ương, tỉnh chi phối
Một số nét về hiện trạng phát triển kinh tế như sau:
- Kinh tế toàn thành phố đang phát triển theo cơ cấu nông – công – lâm – ngư nghiệp kết hợp thành một khối thống nhất Đối với khu vực nội thành, phát triển kinh
tế tập trung vào các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
- Lực lượng lao động hiện có chiếm khoảng 39% dân số (khoảng 62.000 người) Trong đó lao động trong ngành nông nghiệp là 33,5%, công nghiệp là 23,5%, lâm nghiệp là 5% và các ngành ngư nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, du lịch khoảng 19,3%
- Nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4,0 – 4,5% (giai đoạn 1991 – 1995) và giá trị tổng sản lượng khoảng 16,2 tỷ đồng (năm 1995) Các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là không nhiều, chủ yếu là tập trung trong nội thành và phần lớn thuộc các ngành gia công chế biến sản phẩm lâm – ngư nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ trong địa bàn tỉnh, phần nhỏ gia công ngành tiểu thủ công nghiệp để xuất khẩu
I.2.2 Hiện trạng hệ thống cấp thoát nước thành phố Tam Kỳ:
I.2.2.1 Hiện trạng hệ thống cấp nước:
Cấp nước cho thành phố Tam Kỳ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu dân sinh khu vực nội thành và một bộ phận nhỏ cấp hỗ trợ cho các xã lân cận là Tam An, Tam Ngọc, Tam Thái và Tam Thăng
Trên cơ sở tình hình phát triển dân số hiện trạng và dự báo phát triển dân số thành phố đến năm 2020, quy hoạch cấp nước dự báo mức gia tăng dân số cho khu vực được thể hiện qua bảng I.5:
Bảng I.5 Dự báo dân số khu vực thành phố Tam Kỳ đến năm 2020 [10]
-4 Phường Hoà Hương 1.915 8.409 12.778
Trang 116.6756.99812.6825.883
36.031
7.4607.82114.1746.575
40.361
-Các xã ven thành phố
Kết quả tính toán cho thấy năm 2010, nhu cầu cấp nước trung bình của khu vực
sẽ vào khoảng 16.250 m3/ngày đêm và vào ngày dùng nước nhiều nhất sẽ là mức 19.500 m3/ngày đêm (số được làm tròn) Đến năm 2020, nhu cầu dùng nước của khu vực sẽ đạt 32.900 m3/ngày đêm và vào ngày sử dụng nước nhiều nhất 39.450 m3/ngày đêm (số được làm tròn) Kết quả tính toán cụ thể được trình bày ở bảng I.6
Bảng I.6 Dự báo nhu cầu dùng nước sinh hoạt của thành phố Tam Kỳ đến năm
Nhu cầu dùng nước m3/ngày đêm 8.886 20.372
Trang 12Tiêu chuẩn cấp nước
Lít/người/
Nhu cầu dùng nước m3/ngày đêm 1.729 3.633Tổng nhu cầu nước sinh hoạt
của khu vực m3/ngày đêm 10.615 24.005
Hệ số dùng nước không điều
I.2.2.2 Hiện trạng hệ thống thoát nước:
Hệ thống thoát nước chính với 2 tuyến chính và 3 cửa ngăn triều đang được gấp rút hoàn thiện Cả 3 kênh thoát nước cũng đang được khẩn trương thi công: kênh Duy Tân hoàn thành 550m trên tổng số 1.015m; kênh Nguyễn Du hoàn thành 220/625m;
kênh Ngã Ba đã đắp đất thành kênh 910/1.020m [11]
Tương ứng 3 kênh thoát nước trên, có 3 hồ điều hòa đang được hình thành: Hồ Duy Tân có chu vi 1.463m, đã xây móng và kè, khối lượng đất đào lòng hồ trên 50 nghìn khối (tổng sản lượng 123 nghìn khối); hồ Ngã Ba chu vi 1.393m đã thi công khá hoàn chỉnh 1.360m kè, cả đường bê tông đi dạo quanh hồ 1.300m Riêng hồ Nguyễn
Du mới xong phía phường An Mỹ 984m, còn phía phường Tân Thạnh mới xây móng
và mái kè 800m, khối lượng đất đào lòng hồ 10 nghìn khối, đạt khoảng 20% tổng sản
lượng [11]
Đặc biệt là tuyến đê Bạch Đằng đang gấp rút thi công Tuyến đê phòng chống ngập lụt này chạy dọc theo sông Tam Kỳ, chiều dài 2,3 km, nối dài từ khu dân cư số 6
đến chợ Tam Kỳ [11]
I.2.3 Vấn đề xử lý nước thải sinh hoạt ở Tam Kỳ:
Hiện nay, thành phố Tam Kỳ vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt Nước thải của thành phố vẫn thải ra sông Tam Kỳ và sông Trường Giang gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân xung quanh Vì vậy, việc xử lý nước thải này đang
là một vấn đề mang tính cấp bách và cần thiết cho cả thành phố
Trang 13CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
CHO THÀNH PHỐ TAM KỲ
II.1 Xác định nồng độ chất bẩn trong nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
Bảng II.1 Ước tính lượng nước thải sinh hoạt trong năm 2010 – 2020.
Lưu lượng tính toán của hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
Chọn lưu lượng tính toán cho trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung của thành phố Tam Kỳ là: QTB = 12.000 (m3/ngày.đêm)
Bảng II.2 Lưu lượng tính toán cho hệ thống xử lý.
Xác định nồng độ chất bẩn trong nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
- Dân số tính toán cho thành phố Tam Kỳ:
0
1000
Q N
q
×
=
với: Q: lưu lượng nước thải, Q = 12000 m3/ng.đ
q0: tiêu chuẩn thải nước theo đầu người,
120 80
96100
o
(l/người/ngày.đêm)
Trang 14trong đó: tiêu chuẩn cấp nước = 120 l/người/ngày.đêm
lượng nước thải sinh hoạt = 80% lượng nước cấp
12000 1000
12500096
- Hàm lượng COD của nước thải sinh hoạt:
Trang 15Theo [4] ta có tỷ lệ:
4
4
5 5
COD COD
Bảng II.3 Bảng thông số các thành phần chất bẩn trong nước thải sinh hoạt.
II.2 Các công trình xử lý nước thải sinh hoạt được áp dụng trong thực tế:
Dây chuyền công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt phổ biến có thể chia làm 4 khối:
a) Khối xử lý cơ học (xử lý sơ cấp):
Nước thải tuần tự qua song chắn rác, bể lắng cát, bể điều hòa và bể lắng đợt I Chức năng của khối xử lý cơ học là tách rác và các hạt rắn có kích thước lớn khỏi dòng nước thải đảm bảo chế độ làm việc ổn định cho các công trình ở phía sau
b) Khối xử lý sinh học (xử lý thứ cấp):
Nước thải tuần tự qua các khối xử lý cơ học, công trình xử lý sinh hoc, bể lắng đợt II Tại đây các chất hòa tan và các chất rắn không hòa tan không loại bỏ được ở các công trình phía trước sẽ được xử lý tương đối triệt để và tách ra khỏi nước Một số vi sinh vật gây bệnh trong nước thải cũng bị loại bỏ khi qua công trình xử lý sinh học
c) Khối khử trùng:
Nước thải sau khi qua khối xử lý cơ học (nếu điều kiện vệ sinh cho phép) hoặc khối xử lý sinh học sẽ được hòa trộn cùng với chất khử trùng, tới máng trộn, bể tiếp xúc và phản ứng khử trùng xảy ra ở bể tiếp xúc Nước thải sau khi qua khối khử trùng
sẽ được thải ra nguồn tiếp nhận
d) Khối xử lý cặn:
Trang 16Bùn cặn lấy ra từ các bể lắng được đưa tới các công trình xử lý cặn để tiếp tục
xử lý Qua các công đoạn tách nước, ổn định, làm khô, bùn cặn sẽ được đưa đi chôn lấp hay sử dụng vào các mục đích khác
Hình II.1 dưới đây là sơ đồ tổng quát dây chuyền công nghệ xử lý nước thải sinh học áp dụng cho trường hợp trạm xử lý có quy mô lớn và yêu cầu vệ sinh cao:
Trang 17Nước thải vào
IIIIV
Hình II.1 Sơ đồ nguyên tắc dây chuyền công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh
[14]
Trang 18II.2.1 Công nghệ xử lý bằng bể lọc Biophin cao tải:
Sơ đồ công nghệ:
Hình II.2 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bằng bể lọc Biophin cao tải [4]
Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
Đầu tiên, nước thải được dẫn về ngăn tiếp nhận Sau đó được chảy qua song chắn rác để tách hết các vật thải có kích thước lớn như bao bì, gỗ, đá ra khỏi nước thải
Nước thải chảy qua bể lắng cát ngang để tách cát đảm bảo cho công trình xử lý sinh học ở sau hoạt động ổn định Sau đó nước thải chảy qua bể lắng đợt I nhằm tách cặn làm trong nước thải, phần bùn cặn lắng xuống dưới đáy bể, được xả liên tục về bể chứa bùn Phần nước trong sau khi lắng tự chảy vào bể Biophin cao tải Tại đây diễn ra các quá trình phân hủy các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học trong nước thải
Trang 19Nước thải được chảy qua bể lắng đợt II, bùn được giữ lại và lắng xuống đáy, phần nước trong được chảy qua máng trộn Tại đây, hóa chất được trộn đều với nước thải Sau đó hỗn hợp này chuyển qua bể tiếp xúc để thực hiện các quá trình và phản ứng diệt khuẩn.
Nước sau khử trùng được xả ra nguồn tiếp nhận
Bùn từ các bể lắng được được bơm vào bể metan là nơi phân hủy các hợp chất hữu cơ có trong bùn trong môi trường kỵ khí Sau đó bùn được đem đi phơi tại sân phơi bùn
Ưu, nhược điểm của công nghệ:
+ Dễ bị tắc nghẽn trong các lỗ rỗng của lớp vật liệu lọc;
+ Phải thường xuyên rửa lớp vật liệu lọc;
+ Quản lý vận hành phức tạp;
+ Tốn năng lượng để thổi khí
II.2.2 Công nghệ xử lý bằng hồ sinh học:
Bảng II.4 Tính chất nước thải đầu vào và đầu ra của hệ thống xử lý nước thải sinh
hoạt thành phố Buôn Mê Thuột.
Trang 20 Sơ đồ công nghệ::
Hình II.3 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt thành phố Buôn Mê Thuột.
Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
Nhà máy xử lý nước thải áp dụng công nghệ xử lý hồ ổn định Hệ thống xử lý
sử dụng hồ ổn định bao gồm hai chuỗi hồ song song, mỗi chuỗi gồm năm hồ nối tiếp nhau Đầu tiên nước thải từ các hộ gia đình, cơ quan, công sở, nhà hàng, khách sạn được đấu nối chảy vào hệ thống cống chung, chuyển tải về nhà máy bằng hệ thống đường ống chôn ngầm dưới đất dẫn về nhà máy xử lý nước thải
Nước thải từ các trạm bơm, từ các đường ống tự chảy đi vào nhà máy qua ống dẫn nước thải về có đường kính 700 mm Tại điểm đầu công trình thu, nước thải chảy qua một hố chìm là nơi đá, cát, sỏi được tích đọng lại, lượng này được đinh kì xả ra hố thu đá gần kề Sau đó nước thải chảy vào hệ thống thu gom, qua hệ thống thu gom cặn, váng, các chất rắn được giữ lại, đươc vớt ra theo chu kỳ Tại đây các công nhân đo lưu lượng nước hàng giờ
Nước thải qua hệ thống thu gom vào hố phân chia lưu lượng, tại đây nước thải được bổ sung thêm lượng bùn nước được lấy từ hầm tự hoại của các khu vực (thực ra
Hồ kỵ khí Thác tạo
khí
Hồ sinh học
Nước thải
Công trình thu
Thác tạo khí
Hồ sinh học
Hồ làm thoángTrạm bơm
tái sử dụng
Suối Suối
Chú thích:
Ống dẫn chính Ống dẫn phụ
Xả tạm
Tưới tiêu
Trang 21lượng này được lấy từ các hố ga) Sau đó nước sẽ được phân chia làm 2 dòng chảy vào
2 hồ kỵ khí
Tại các hồ kỵ khí, quá trình chuyển hóa chất bẩn chủ yếu diễn ra trong lớp cặn lắng và lớp nước sâu thiếu oxi Nước thải sau khi đi qua 2 hồ kỵ khí được dẫn chung vào thác tạo khí
Các thác tạo khí có cấu tạo đặc biệt sẽ làm cho oxi trong không khí được hấp phụ vào trong nước thải tạo điều kiện cho các vi sinh vật hiếu khí hoạt động
Nước thải đi vào 2 hồ sinh học kết hợp, tại đây ánh sáng mặt trời có thể xuyên qua nước xuống tận đáy Ở hồ này quá trình quang hợp của tảo được thực hiện trong toàn bộ tầng nước nên sự khuyếch tán oxy qua bề mặt và quang hợp là những yếu tố chính cung cấp oxy cho nước Chất hữu cơ được oxy hóa chủ yếu là nhờ hô hấp của vi khuẩn hiếu khí Sau đó nước thải được chảy qua thác tạo khí
Nước thải đi vào 2 dãy hồ làm thoáng nối tiếp nhau Tại đây, các nguyên tố dinh dưỡng (N, P) và khử trùng nước thải trước khi xả ra nguồn với yêu cầu làm sạch cao Các loại vi khuẩn và trứng giun sán được tiêu diệt hầu hết nhờ tảo, vi khuẩn hiếu khí và tia cực tím từ ánh sáng mặt trời
Sau đó, nước thải được dẫn vào hố thu gom nhằm tái sử dụng lại
Ưu, nhược điểm của công nghệ:
- Ưu điểm:
+ Tiết kiệm năng lượng;
+ Chỉ dùng một trạm bơm để đưa nước thải về, còn lại thì phần lớn dòng chảy tự chảy về nhà máy;
+ Không sử dụng hóa chất (chỉ tốn một lượng nhỏ để khử mùi hôi), chỉ dùng năng lượng mặt trời để khử trùng nước thải;
+ Có khả năng làm giảm các vi sinh vật gây bệnh nhiễm trong nước thải xuống tới mức thấp nhất;
+ Cung cấp nước tưới tiêu cho người dân xung quanh; kết hợp chăn nuôi có giá trị kinh tế cao;
+ Chi phí xây dựng, vận hành, bảo dưỡng thấp, đơn giản, tiết kiệm
- Nhược điểm:
+ Thời gian lưu nước khá lâu nên thể tích hồ lớn, tốn diện tích đất
+ Cần nhiều nhân lực để quản lý vận hành nhà máy;
+ Gây mùi hôi;
+ Công trình chỉ phù hợp với nơi có địa hình dốc
Trang 22II.2.3 Công nghệ xử lý bằng bể SBR:
Sơ đồ công nghệ:
Hìn
h II.4 Sơ đồ hoạt động của hệ thống aeroten hoạt động gián đoạn [4]
Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
Đầu tiên nước thải chảy qua song chắn rác nhằm loại bỏ bớt các tạp chất thô như: giẻ, giấy, bao bì,…Sau đó nước thải được chảy vào bể lắng cát nhằm loại bỏ cát nhằm đảm bảo cho công trình xử lý phía sau hoạt động ổn định
Từ bể lắng cát nước thải qua bể lắng đợt một nhằm tách cặn làm trong nước, phần bùn được lắng xuống đáy Phần nước trong sau khi lắng được xả vào bể SBR qua máng phân phối, trong khi nạp nước vào bể, ta tiến hành cấp oxy bằng máy khuấy trộn
bề mặt để vi sinh vật có trong bể từ chu kỳ trước thực hiện quá trình oxy hóa các chất bẩn hữu cơ Sau khi hết thời gian cấp khí cần thiết, tiến hành để lắng tĩnh trong một thời gian nhất định rồi xả nước và lượng bùn hoạt tính dư ra khỏi bể
Nước sau khi xử lý sinh học xong được dẫn qua bể khử trùng nhằm tiêu diệt hết
vi sinh vật gây bệnh Nước khử trùng xong được xả ra ngoài sông hồ
Nồng độ chất bẩn trong dòng nước thải ra khỏi bể SBR:
Xả bùn hoạt tính dư
Trang 23- SS: 3 – 25 mg/l;
Ưu, nhược điểm của công nghệ::
- Ưu điểm:
+ Cấu tạo đơn giản.
+ Bể làm việc không cần phải có bể lắng thứ cấp Do vậy tiết kiệm được diện
tích xây dựng
+ Sự dao động lưu lượng nước thải ít ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý
+ Hiệu quả xử lý cao và có thể khử được Nitơ và Photpho sinh hoá do có thể điều các quá trình hiếu khí, thiếu khí và kị khí trong bể bằng việc thay đổi chế độ cấp khí vào bể
+ Có thể dễ dàng điều chỉnh được quá trình xử lý
- Nhược điểm:
+ Nhân lực vận hành bể đòi hỏi phải có trình độ, theo dõi thường xuyên các bước xử lý nước thải
+ Không tuần hoàn bùn, chỉ định kỳ xả lượng bùn ra ngoài
II.3 Lựa chọn công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt cho thành phố Tam Kỳ:
Từ việc phân tích các sơ đồ công nghệ, việc lựa chọn công nghệ xử lý SBR có nhiều ưu điểm như: khử được tốt Nito, Photpho; chịu được sự quá tải; có thể điều chỉnh được thời gian lưu ở trong bể…
Công nghệ SBR được ứng dụng ngày càng nhiều trong các công trình xử lý nước thải sinh hoạt
Sơ đồ công nghệ XLNT sinh hoạt thành phố Tam Kỳ:
M 1
Trang 24 Thuyết minh sơ đồ công nghệ:
Nước thải từ hệ thống bể tự hoại của các hộ gia đình được xử lý sơ bộ rồi xả vào
hệ thống cống thu gom, sau đó dẫn về hố thu của trạm bơm qua song chắn rác thô đặt trước hố thu, trong khu xử lý Từ đây, nước thải được bơm lên ngăn tiếp nhận, ngăn tiếp nhận được đặt trên cao để nước thải từ đó có thể tự chảy qua các công trình trong dây chuyền xử lý
Từ ngăn tiếp nhận nước thải chảy qua song chắn rác nhằm loại hết các tạp chất thô như bao bì, tóc, giấy,…có trong nước thải Sau đó, nước thải tự chảy tiếp qua bể lắng cát
Tại bể lắng cát ngang, các tạp chất rắn vô cơ không tan có kích thước từ 0,2 đến
2 mm được tách ra khỏi nước thải, đảm bảo cho các thiết bị cơ khí (như bơm) không bị cát, sỏi bào mòn, tránh tắt các đường ống dẫn và các ảnh hưởng xấu cùng việc tăng tải lượng vô ích cho các thiết bị xử lý sinh học Sau một thời gian, cát lắng ở bể lắng cát được đưa ra sân phơi cát
Sân phơi cát có nhiệm vụ làm giảm độ ẩm của cát, nước thu được dẫn về bể trung gian
Nước thải từ bể lắng cát chảy qua bể lắng đợt I Bể lắng I có nhiệm vụ tách các tạp chất lơ lửng còn lại trong nước thải sau khi đã qua các công trình xử lý trước Bùn
từ đáy bể lắng được bơm về bể nén bùn
Trang 25Sau đó nước được dẫn qua bể chứa trung gian Từ đây nước thải được bơm lên
bể SBR Tại đây, trong khi nạp nước vào bể, ta tiến hành cấp oxy bằng máy khuấy trộn
bề mặt để vi sinh vật có trong bể từ chu kỳ trước thực hiện quá trình oxy hóa các chất bẩn hữu cơ Sau khi hết thời gian cấp khí cần thiết, tiến hành để lắng tĩnh trong một thời gian nhất định Nước sau khi lắng được xả ra bằng thiết bị thu nước bề mặt (decanter) Bùn dư được đưa ra bể nén bùn
Nước sau khi xử lý sinh học cho chảy tới máng hòa trộn hóa chất khử trùng, sau khi hòa trộn đều hóa chất, nước được dẫn sang bể tiếp xúc, quá trình khử khuẩn xảy ra chủ yếu ở bể này Bùn cặn từ đáy bể này được xả định kỳ về bể nén bùn
Nước khử trùng xong đạt tiêu chuẩn loại A (QCVN 14 : 2008) được xả ra nguồn tiếp nhận
Bùn cặn từ bể lắng I, bể SBR, bể tiếp xúc được đưa vào bể nén bùn nhằm giảm bớt độ ẩm và thể tích của bùn, làm giảm khối lượng vận chuyển Sau đó, bùn được bơm ra sân phơi bùn, nước tách ra được dẫn về bể chứa trung gian
Sân phơi bùn có chức năng làm mất nước bùn cặn (giảm độ ẩm bùn cặn từ 97 – 98% xuống còn 80%) trong điều kiện tự nhiên Sau đó, bùn được đem đi sử dụng cho các mục đích khác, nước thu được dẫn về lại bể trung gian
Trang 26- Nitơ hữu cơ: 8 – 35 mg/l (trung bình 15 mg/l) ;
- Nitơ amoni: 12 – 50 mg/l (trung bình 25 mg/l);
- Nito nitrit: 0 – 0,1 mg/l (trung bình 0,05 mg/l);
- Nito nitrat: 0,1 – 0,4 mg/l (trung bình 0,2 mg/l) [4 – 9]
với Cmax: nồng độ tối đa cho phép của thông số ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
khi thải ra nguồn tiếp nhận, mg/l
C: giá trị nồng độ của thông số ô nhiễm quy định tại bảng 1 mục 2.2 (QCVN
14 : 2008)
K: hệ số tính tới quy mô, loại hình cơ sở dịch vụ, cơ sở công cộng và chung cư quy định tại mục 2.3 (QCVN 14 : 2008)
Chọn K = 1
Vì K = 1 nên Cmax = C được lấy theo bảng 1 (QCVN 14 : 2008)
Như vậy, giá trị các thông số ô nhiễm đầu vào và đầu ra trong nước thải sinh hoạt thành phố Tam Kỳ như sau:
Trang 27Bảng III.1 Tính chất nước thải sinh hoạt đầu vào và đầu ra thành phố Tam Kỳ:
III.1 Tính toán các thiết bị chính:
III.1.1 Ngăn tiếp nhận nước thải:
Nước thải được bơm từ hố thu gom trong trạm bơm lên ngăn tiếp nhận nước thải theo đường ống đẩy có áp Tùy thuộc vào địa hình và dây chuyền công nghệ được lựa chọn, mà ngăn tiếp nhận có thể bố trí trên cao bằng cách đặt trên các giá đỡ bằng bê tông cốt thép, để từ đó nước thải có thể tự chảy qua các công trình xử lý sau này
[14 – 521]
Kích thước của ngăn tiếp nhận được lựa chọn theo lưu lượng của nước thải cần
xử lý
Q = 12000 m3/ngày = 500 m3/h
Theo bảng 16.3 [14 - 522], ngăn tiếp nhận ứng với lưu lượng tính toán nằm
trong khoảng 400 – 630 m3/h có kích thước như sau:
Chiều dài của ngăn tiếp nhận A = 1,5 (m);
Chiều rộng của ngăn tiếp nhận B = 1 (m);
Chiều cao xây dựng của ngăn tiếp nhận H = 1,3 (m);
Chiều cao mực nước H1 = 1 (m);
Trang 28Nước thải được bơm lên ngăn tiếp nhận theo 1 đường ống có đường kính Dống = 0,4 m
Nước thải từ ngăn tiếp nhận đưa đi phân phối đến các công trình cho nên ngăn tiếp nhận không làm thay đổi các thành phần của nước thải Vì vậy các thông số đầu vào và đầu ra của nước thải là như nhau
Bảng III.2 Các thông số tính toán ngăn tiếp nhận:
III.1.2.1 Mương dẫn nước thải:
phải đảm bảo sao cho duy trì vận tốc tự làm sạch và hạn chế quá trình lắng cặn trong mương
Mương dẫn nước thải thường là mương bê tông cốt thép có tiết diện hình chữ nhật hở để dễ quan sát, theo dõi và vệ sinh, đồng thời để giảm nhiệt độ và một lượng oxy được hoà tan vào nước để tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình tiếp theo
Với: d: đường kính ống hay chiều rộng của mương, d = B = 500 mm
min
1500
Với: W: Diện tích mặt cắt ướt, m2
Q: Lưu lượng nước thải, Qmax = 0,219 m3/s
Trang 29H = ≈ (đạt yêu cầu). [13 – 13]
Vậy kích thước của mương là: chiều rộng B = 0,5 m
chiều cao H = 0,8 m
Bảng III.3 Các thông số tính toán mương dẫn nước thải.
III.1.2.2 Song chắn rác:
nhằm tách các tạp chất thô trong nước thải nhử giẻ, bao bì, giấy, tóc,…
- Lượng rác giữ lại sau song chắn rác:
3, / ày
365 1000
a N
×
Với a: lượng rác tính theo đầu người trong năm, a = 8 l/năm; [ 13 – 29]
N: dân số tính toán, N = 125000(người)
Trang 30P = W x Gvới: G: khối lượng riêng của rác.
Trang 31chọn hạt cặn có đường kính d = 0,25 mm ứng với U0 = 24,2 mm/s; [17 – 38]K: hệ số tỷ lệ U0/U
Với: a: tiêu chuẩn cát bị giữ lại cho 1 đầu người, a = 0,02 l/người/ngày
T: thời gian giữa hai lần vớt cát, lấy không quá hai ngày
chọn T = 2 ngày
N: số người sử dụng hệ thống, N = 125000 người
30,02 2 125000
Để ổn định tốc độ dòng chảy trong bể lắng cát, ở phía cuối bể cần có đập tràn
- Chiều rộng cửa tràn thu hẹp từ B xuống b:
3/2 2/3
ax
11
Trang 32chọn m = 0,352 ứng với cotgθ =1 [15 – 35]
min ax
3/2 2/3
1, 2 0,3 1, 2 0,3 1 0,38
0,5( )
0, 219 1 0,380,352 2 9,8
số đầu vào và đầu ra khi qua bể lắng cát là như nhau
Bảng III.4 Các thông số tính toán bể lắng cát ngang.
Trang 33Bảng III.5 Các thông số ô nhiễm sau khi qua bể lắng cát:
III.1.4 Sân phơi cát:
Cát lấy ra từ bể lắng cát có độ ẩm cao nên cần phơi khô trước khi sử dụng vào những mục đích khác nhau
Sân phơi cát là một khoảng đất được giới hạn bởi các bờ chắn cao 1 – 2m Kích
thước sân phơi cát được xác định từ điều kiện lớp cát chất cao 3 – 5 m/năm [14 - 402].
Khu vực xây dựng hệ thống xử lý có mực nước ngầm tương đối cao, nên sân phơi xây dựng nền nhân tạo và thu nước thấm bằng hệ thống ống ngầm có đục lỗ Nước thu được sẽ dẫn về bể lắng sơ cấp
Hình III.2 Sân phơi cát.
- Diện tích sân phơi cát:
3651000
tt
a N F
Với: a: Lượng cát tính theo đầu người, a = 0,02 l/người.ngày;
Ntt: Dân số tính toán, N = 125000 người;
h: Chiều cao lớp cát, m/năm
Khi tính toán lấy h = 3 – 5 m/năm [14 - 402],
Trang 34Chọn chiều cao bảo vệ: hbv = 0,3m.
Do đó, chiều cao xây dựng là: Hxd = 1,8m
Bảng III.6 Các thông số tính toán sân phơi cát.
xuống đáy bể hoặc nổi lên trên mặt nước
4 5 6 8 7 3
Trang 35- Diện tích tiết diện ướt của ống trung tâm:
TB s tt tt
q f v
Chọn vtt = 30 mm/s = 0,03 m/s
20,139
q F v
0,139
278( )0,5 10
43( / ày)278
278 4,6
70( )4
Trang 36- Chiều cao tính toán vùng lắng trong bể lắng đứng:
với: t: thời gian lắng, t = 1h ÷ 2h [4 – 82]
Chọn t = 1,5 h
30,5 10 1,5 3600 2,7( )
h = + =h h − ÷×tgα
với: h2: chiều cao lớp trung hòa, m;
h3: chiều cao giả định của lớp cặn lắng trong bể, m;
D=1,35d
1,3D 17
Trang 37- Chiều cao của ống trung tâm bằng chiều cao tính toán của vùng lắng, và bằng
- Góc nghiêng giữa bề mặt tấm hắt với mặt phẳng ngang là 170
- Chiều cao từ mặt dưới tấm hắt đến bề mặt lớp cặn là 0,3 m [13 – 49]
- Khoảng cách giữa mép ngoài cùng của miệng loe đến mép ngoài cùng của bề mặt tấm hắt theo mặt phẳng qua trục được tính theo công thức sau:
4
TB s
q L
- Máng thu nước đặt ở vòng tròn có đường kính 0,9 đường kính bể:
118( / ài ày) <125
25, 4
tb L
Trang 3815 cm nên 1 m chiều dài của máng thu sẽ có 6 khe Do đó, toàn bộ chiều dài máng sẽ
Dựa vào đồ thị 2-12 [12 – 46], ứng với t = 1,5 h ta có hiệu suất lắng khoảng
60% Cho nên, hàm lượng SS ra khỏi bể lắng đợt I là:
mBOD = 0,1 x 0,313 x 12000 ≈ 376 (kg/ngày)
→ mbùn = 4500 + 376 = 4876 (kg/ngày).
- Thể tích bùn sinh ra trong 1 ngày:
3 ùn
Trang 393 ùn
4,876
95,6( / ày)1,02 0,05
b
×
Bảng III.7 Các thông số tính toán bể lắng đứng đợt I:
Đường kính phần loe ở cuối ống trung tâm, dloe m 1,35
Bảng III.8 Các thông số ô nhiễm sau khi qua bể lắng đợt I:
III.1.6 Bể trung gian:
thải từ bể lắng đợt I chảy sang, rồi từ đó nước thải được bơm sang bể SBR
- Thể tích của bể:
TB h
Q V t
=
Với: Q: lưu lượng trung bình theo giờ của nước thải, TB
h
Q = 500 m3/ht: thời gian lưu nước thải trong bể, chọn t = 0,5 h
3500
1000( )0,5