Phân tích analysis
Trang 1Phân tí ch
Đào sâu suy nghĩ
Trong thang phân loại tư duy mới về những mục tiêu giáo dục, Robert Marzano đã
đưa ra một mô hình mới cho việc tư duy về những quá trình liên quan đến việc
học Ông đưa ra ba hệ thống: hệ thống cái tôi, hệ thống siêu nhận thức và hệ
thống nhận thức Cả ba hệ thống này làm việc và vận hành trong mối quan hệ với
hệ thống kiến thức Ông chia hệ thống nhận thức ra thành bốn yếu tố cấu thành:
hồi tưởng kiến thức, hiểu, phân tích và vận dụng kiến thức
Trong khi khái niệm hiểu tương ứng với cái mà Piaget gọi là “sự đồng hóa”, tức là
việc đưa kiến thức mới vào những kiến thức đã có của người học, khái niệm phân
tích cũng tương tự với khái niệm “điều ứng” của ông, tức là quá trình mà thông
qua đó người học có thể tái thiết lại hiểu biết của mình dựa trên những gì đã học
Marzano chỉ ra năm quá trình nhận thức trong tư duy phân tích: ghép nối, phân loại, phân tích lỗi, khái quát và cụ thể hóa Bằng cách tham gia vào những quá trình tư duy này, học sinh có thể sử dụng những gì các em đang học để tạo ra sự hiểu biết mới và tìm ra những cách thức áp dụng những gì mình vừa học vào những tình huống mới
Ghép nối bao gồm việc nhận ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa những khái niệm Marzano mô tả bốn bước liên quan đến ghép nối:
1 Chọn đối tượng phân tích
2 Xác định những thuộc tính hoặc đặc điểm được phân tích
3 Xác định những điểm tương đồng và khác biệt của chúng
4 Trình bày những điểm tương đồng và khác biệt một cách chính xác
Phân loại bao gồm việc tổ chức các khái niệm hoặc ý tưởng thành những phạm trù có ý nghĩa Những yếu tố cấu thành của phân loại là:
1 Lựa chọn khái niệm cần được phân loại
2 Xác định những thuộc tính quan trọng của khái niệm
3 Đặt tên nhóm lớn trong đó bao hàm các khái niệm nhỏ và diễn đạt tại sao khái niệm này lại thuộc về nhóm lớn
đó
4 Xác định tất cả các tiểu phạm trù của khái niệm và giải thích mối quan hệ giữa chúng
Phân tích lỗi, là một khía cạnh quan trọng của tư duy độc lập Bằng cách sử dụng quá trình này, học sinh có thể đánh giá được tính hợp lý của kiến thức Ở một khía cạnh nào đó, phân tích lỗi có thể được so sánh với tư duy logic, với việc đánh giá các luận cứ, và việc xác định lỗi trong lập luận
Tài nguyên và Ví dụ
Ví dụ về Phân tích
Tư duy phê phán Tranh luận Lỗi trong lập luận Tài nguyên: Tư duy bậc cao
Trang 2Khái quát hoá có thể được tiến hành theo phương pháp quy nạp lẫn diễn dịch, nhưng nó bao gồm việc đưa ra kết luận để
hình thành những nguyên tắc hoặc quy luật có thể được kiểm chứng dựa vào những sự kiện hoặc khái niệm cụ thể Để có thể Khái quát hóa tốt thì cần bốn bước:
1 Hướng sự chú ý đến những điều quan sát được hoặc những thông tin cụ thể
2 Tìm những khuôn mẫu và mối liên hệ của thông tin
3 Tạo ra một nhận định giải thích cho những khuôn mẫu và mối liên hệ đó
4 Thu thập thêm những ví dụ và kiểm tra chúng nhằm xem xét những điều được khái quát có đúng trong mọi tình huống không, nếu không đúng thì cần thay đổi
Cụ thể hóa đối xứng với khái quát hóa Nó là quá trình “tạo ra những ứng dụng mới cho một điều đã được khái quát hoá hoặc một nguyên lý đã biết” Những bước của cụ thể bao gồm:
1 Xác định khái niệm đang được phân tích
2 Lựa chọn những nội dung khái quát hoá có thể áp dụng vào khái niệm
3 Bảo đảm rằng khái niệm phải phù hơp với những điều kiện của quá trình khái quát hóa
4 Rút ra kết luận và đưa ra dự đoán dựa trên việc ứng dụng của sự khái quát hoá
Những kỹ năng này, vốn được sử dụng để phân tích những ấn phẩm hoặc tài liệu trực tuyến, đóng vai trò rất quan trọng nếu chúng ta muốn học sinh có được tư duy độc lập về những thông tin mà các em tìm được và sử dụng những thông tin
đó một cách hiệu quả
Tài liệu tham khảo
Marzano, R J (2000) Thiết kế một thang phân loại mới về những mục tiêu giáo dục Thousand Oaks, CA: NXB Corwin
Trang 3Thiết kế dự án hiệu quả: Phân tí ch
Ví dụ về dạy phân tí ch
Dạy phân tí ch cho học sinh khối lớp 1-3
Bằng việc học tập với những học sinh lớn hơn, học sinh tiểu học sẽ trở thành những chuyên gia về tám loài gấu Các em tham gia vào các hoạt động so sánh rất đa dạng, bao gồm cả ước đoán và tiếp theo là xác định cụ thể sự khác nhau giữa
mình và những chú gấu Các em cũng so sánh về nơi ở, kích thước và nhu cầu của cả hai loài Cuối cùng, học sinh đào sâu suy nghĩ tất cả những điều mình đã học về một chú gấu và áp dụng sử hiểu biết của mình để hướng dẫn cho những em nhỏ đến thăm sở thú địa phương Để tìm thêm thông tin về hồ sơ bài dạy này, hãy xem trang Gặp những chú
gấu
Ghép nối: học sinh so sánh hai loại gấu khác nhau và ghi lại những điểm giống và khác nhau giữa chúng
Phân loại: học sinh phân loại các sách về gấu thành hai loại: sách hư cấu và sách khoa học
được miêu ta trong sách và xem thử chúng có đúng với gấu thật trong thiên nhiên hoang dã không
Khái quát hóa: Học sinh viết ra một phát biểu đúng với tất cả các loài gấu
từng loài gấu
Dạy phân tí ch cho học sinh khối lớp 6-8
Trong bài mô phỏng về sự di cư, học sinh quay ngược thời gian và trải nghiệm cuộc sống thông qua cách nhìn của một người nhập cư châu Âu thế kỷ 19 Các em tìm hiểu về những nhân tố “đấy” và “kéo” của việc di cư và viết những lá thư
đa phương tiện gởi về quê nhà để mô tả cảm tưởng của mình về quê hương mới trên đất Mỹ cũng như những thử thách
và cơ hội mà miền đất này mang lại Đây là một giai đoạn trong bài học về việc tìm hiểu làn sóng nhập cư, bao gồm cả việc điểm qua làn sóng di cư của những người Châu Á và Châu Mỹ La tinh Xem trang Điểm đến Hoa Kỳ: hy vọng và tương lai của chúng ta để hiểu thêm về bài học này
Ghép nối: Học sinh so sánh nước Mỹ nơi các em sống với nước Mỹ nơi những người mới nhập cư tìm thấy vào thế kỷ 19
vào lý do nhập cư
giả định và kết luận sai lầm
Trang 4Khái quát hóa: Học sinh khái quát những nguyên tắc cơ bản về chính sách nhập cư hiện nay
Cụ thể hóa: Học sinh sử dụng những nguyên tắc cơ bản vừa khái quát để khuyến nghị về hướng hành động nào nên được
sử dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể về nhập cư hiện nay
Dạy phân tí ch cho học sinh khối lớp 9-12
Học sinh sử dụng bài báo “Nhật Ký Về Những Khu Rừng Bắc” của Jim Brandenburg trích từ số phát hành tháng 11 năm
1997 của tạp chí Địa lý Quốc gia làm nguồn cảm hứng Các em dấn thân vào cuộc sống thiên nhiên và ghi lại những trải nghiệm bằng lời văn và hình ảnh Các em phát triển bài thuyết trình mà trong đó các em so sánh các cảm nhận của mình đối với thiên nhiên so với những nhận thức và thái độ của các tác giả như Emerson, Fuller, và Thoreau Các mục từ và
hình ảnh của nhật ký được thể hiện bằng bài trình diễn điện tử, và được dùng như là ”phông nền” đa phương tiện cho mỗi bài thuyết trình của học sinh
cảm nhận được ở đó
Phân loại: Học sinh sử dụng thông tin được ghi lại trong nhật ký của mình để phân loại dữ liệu mà các em thu thập được
sai về tính nhất quán cũng như trong cách lập luận
Khái quát hóa: Học sinh sử dụng những ngày tháng được phân chia trong nhật ký của mình để đưa ra các phát ngôn về
ý thức của mình đối với môi trường xung quanh
những luận điểm của các em
Trang 5Thiết kế dự án hiệu quả: Phân tí ch
Tư duy độc lập
Tì m kiếm sự thật
Khi nói đến việc giúp học sinh phát triển kỹ năng tư duy, các nhà sư phạm thường lấy tư duy độc lập làm đích đến Thuật ngữ này, vốn được sử dụng thường xuyên trong giới sư phạm, nghĩa là hình thành quan điểm bằng cách tìm kiếm những thông tin có liên quan, đánh giá thận trọng và khách quan chất lượng thông tin, và thay đổi suy nghĩ khi thông tin mới đáng tin cậy xuất hiện và thành tâm điểm chú ý của chúng ta
Người có tư duy độc lập thường luôn hỏi “tại sao?” hay “như thế nào?” và luôn chú ý đến các thông tin có liên quan Bên cạnh khả năng phân tích và đánh giá những thông tin có được, người có tư duy độc lập thường có cách nghĩ cởi mở, điều này thúc đẩy họ đi tìm chân lý và rất mềm dẻo trong việc thay đổi tư duy của mình khi họ tìm được lý lẽ chính đáng cho việc thay đổi đó
Tuy nhiên, luận cứ thuyết phục nhất cho việc Dạy học tư duy độc lập là việc hình dung ra một thế giới khi con người không
có khả năng tư duy độc lập Việc tư duy thiếu suy xét về thế giới xung quanh chúng ta đồng nghĩa với việc mù quáng chấp nhận các nội dung quảng cáo, các tuyên bố chính trị, sách giáo khoa và các nguồn ấn phẩm và lập trường của các tổ chức
và cơ quan (Messina và Messina 2005) Mặc dù tư duy độc lập thường mang tính phủ định, như từ chối tin điều gì là không đúng, nó cũng có nghĩa là chấp nhận những gì đúng đắn Từ chối tin vào mọi thứ cũng chẳng tốt hơn là việc chúng ta tin vào mọi thứ
Kỹ năng nhận thức
Vào năm 1990, một nhóm chuyên gia về tư duy độc lập soạn ra Báo Cáo Delphi Báo cáo này xem xét khái niệm tư duy
độc lập và đưa ra một số khuyến nghị về việc giảng dạy nó
Báo cáo này liệt kê những kỹ năng lớn và kỹ năng phụ có trong tư duy độc lập sau đây:
Thuyết minh
Phân loại
Giải mã ý nghĩa
Làm sáng tỏ các ý nghĩa
Phân tích
Xem xét ý tưởng
Xác định luận cứ
Phân tích luận cứ
Trang 6Đánh giá
Đánh giá các khẳng định
Đánh giá luận cứ
Suy luận
Đặt vấn đề về chứng cứ
Phỏng đoán các lựa chọn khác
Rút ra kết luận
Giảng giải
Trình bày kết quả
Giải trình các tiến trình
Trình bày luận cứ
Tự điều chỉnh
Tự kiểm tra
Tự điều chỉnh
Dạy học tư duy độc lập cho khối lớp 6
Trong kế hoạch bài dạy Đừng làm ô nhiễm trái đất , học sinh khối lớp 6 thực hành khả năng tư duy độc lập nhằm đưa ra các quyết định về lĩnh vực môi trường Nhiệm vụ của các em là đánh giá việc tái chế và quản lý rác thải ở trường Sau khi phân tích những phương pháp hiện hành, các đội đưa ra một kế hoạch tái chế mới hoàn chỉnh với việc phân tích chi phí và các dữ liệu hỗ trợ, và trình bày kế hoạch của mình cho thầy hiệu trưởng Trong bài trình bày cuối cùng về trách nhiệm đối với xã hội, các em học sinh đóng vai các nhà kinh doanh biến rác thải thành kho báu khi các em biến đổi các vật liệu từ nguồn chất thải thành các loại hàng hóa hấp dẫn được bán ở hội chợ thương mại trong mùa nghỉ hè
Để hoàn thành thành công dự án, học sinh thuyết minh những thông tin các em nghe thấy và đọc được về việc tái chế và quản lý rác thải Các em phân loại các phương pháp tái chế khác nhau nhằm tìm ra các phương pháp thích hợp cho tình huống cụ thể của mình Học sinh cũng quyết định xem thông tin quan trọng nào cần xem xét và các em làm rõ những thuật ngữ và khái niệm mà các em không hiểu
Khi học sinh lắng nghe người khác nói và tìm thông tin từ các nguồn ấn phẩm và nguồn tài nguyên trực tuyến, các em phân tích những thông tin mà mình thu được Các em suy nghĩ về những luận cứ cho các loại tái chế khác nhau và suy nghĩ
về khẳng định của mình, chứng cứ hỗ trợ cho khẳng định và kết luận được rút ra Dựa vào những điều đã thấy trong luận
cứ, học sinh đánh giá các nguồn tài nguyên của mình, phán đoán những khẳng định nào hợp lý, những chứng cứ nào đáng tin cậy và những kết luận nào là logic Xem Các công cụ thể hiện chứng cứ để tìm ra phương thức giúp học sinh
tư duy về đánh giá luận cứ và các quan điểm
Khi học sinh trở nên quen thuộc với nội dung có liên quan đến tái chế và quản lý rác thải, các em sẽ thực hành kỹ năng suy luận của mình bằng cách kết hợp các kiến thức đã có với những kinh nghiệm cá nhân để đặt câu hỏi về chứng cứ mà các em đang đọc Các em cũng tư duy một cách sáng tạo bằng cách kết hợp những điều mình biết lại với nhau và rút ra kết luận về kết quả việc sử dụng các phương pháp cụ thể ở trường Các em cũng có thể đưa ra những lựa chọn mới dựa vào những điều các em đã học
Trang 7Cuối cùng, học sinh truyền tải kết luận của mình dưới dạng một bài thuyết trình cho hiệu trưởng Trong bài thuyết trình này, các em giải thích các nguồn thông tin và lý do các em đưa ra những quyết định như vậy
Tài liệu tham khảo
Facione, P A (1998) Tư duy độc lậ ạ Santa Clara, CA: OERI
www.insightassessment.com/pdf_files/what&why2006.pdf* (PDF; 22 pages)
Facione, P A (1990) Tư duy độc lập: Nhất trí của các chuyên gia về mụ đí h đ h ảng dạy trong giáo dục: Bảng
www.insightassessment.com/pdf_files/DEXadobe.PDF* (PDF; 20 pages)
Messina, J J and C M Messina (2005) Tổng quan về ư duy độc lập Tampa Bay, FL: Coping.org
Trang 8Thiết kế dự án hiệu quả: Phân tí ch
Tranh luận
Lập luận rõ ràng
Các học sinh trưởng thành có thể học các loại luận chứng chính thống và có kết cấu chặt chẽ hơn Những học sinh nhỏ tuổi hơn có thể chuẩn bị cho loại lý lẽ này bằng cách suy nghĩ cẩn trọng về những nguyên nhân cho quan điểm của mình Giáo viên dạy bậc tiểu học có thể khuyến khích các em xác định nguồn gốc của những quan điểm mà các em có và đánh giá
độ tin cậy của chúng Khi học sinh lên cấp hai, các em có thể bắt đầu hiểu những thuật ngữ và cấu trúc của luận chứng chính thống Nhà triết học Stephen Toulmin cho rằng các luận chứng thuyết phục bao gồm ít nhất ba thành phần cấu thành: khẳng định, chứng cứ và chứng thực
Khẳng định
Một khẳng định là một lời tuyên bố lập trường mà chúng ta muốn thuyết phục người khác tin vào Một số ví dụ về khẳng định:
Abraham Lincoln quan tâm đến việc bảo vệ sự thống nhất đất nước hơn là giải phóng nô lệ
Việc đốn gỗ trong rừng nguyên sinh nên bị cấm
Các bộ luật nên cấm nhân bản vô tính ở người
Willy Lowman là nhân vật bi kịch vĩ đại nhất trong văn học Mỹ thế kỷ 20
Khẳng định có nhiều tên gọi khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau Chúng có thể được gọi là giả thuyết, phán đoán,
dự đoán, lập trường, định đề và tiền đề
Chứng cứ
Còn được gọi là ví dụ, dữ kiện, những gì quan sát được, hoặc dữ liệu, chứng cứ bao gồm các lý lẽ thuyết phục một người nào đó tin vào khẳng định của chúng ta Chất lượng của chứng cứ có thể được xem xét thông qua việc đặt câu hỏi về độ đầy đủ, độ tin cậy và độ chính xác
Có đủ chứng cứ để hỗ trợ cho khẳng định không?
Chứng cứ có được đưa ra bởi một thẩm quyền công tâm không?
Chứng cứ có thật không và chứng cứ đó có thể được kiểm định lại từ nhiều nguồn không?
Chứng cứ có thể được định lượng bằng những con số và thống kê, hay định tính bằng cách mô tả và đưa ra những dữ kiện
Dù chứng cứ ở dạng số hay dạng lời nói, nó nên phản ánh sự phân tích mang tính hệ thống về một số trường hợp, không phải là một con số thống kê hay ví dụ đơn lẻ
Chứng thực
Chứng thực trả lời câu hỏi: “ Tại sao chứng cứ này có nghĩa là ai đó nên chấp nhận khẳng định của tôi?” Chứng thực một
Trang 9lý lẽ thường được diễn đạt ẩn và có thể phụ thuộc vào văn hóa và kinh nghiệm của người nghe Chẳng hạn, nếu một người lập luận rằng việc đốn cây trong rừng nguyên sinh nên bị cấm, chứng cứ cho khẳng định này có thể là hàng năm chúng
ta đang mất đi hàng triệu hecta rừng Chứng thực cho chứng cứ này là nếu cây lâu năm có sinh lợi và việc chặt rừng phá
đi rất nhiều cây cổ thụ, thì việc này nên bị cấm
Việc lập luận rõ ràng và hiệu quả là kỹ năng quan trọng mà học sinh phải nắm vững Công cụ thể hiện chứng cứ
cho phép học sinh thực hành việc hình thành và bảo vệ lý lẽ
Trang 10Thiết kế dự án hiệu quả: Phân tí ch
Ngụy lý
t ong c ch ậ uận
Chứng cứ thiếu tính thuyết phục và những chứng thực bất hợp lý thường dẫn đến những kết luận sai lệch Những lỗi trong cách lập luận này thường được gọi là ngụy biện Hiểu biết về những hình thức ngụy biện này có thể giúp học sinh hình thành những luận cứ có tính thuyết phục hơn và trở thành những nhà tư duy giỏi hơn
h ng sự h u t ho th ếu cân nhắc
Việc xây dựng quan điểm dựa trên quá ít chứng cứ hoặc ví dụ sẽ dễ tạo ra những quan điểm khái quát hoá mang tính nóng vội Một ví dụ cho cách lập luận này là một người đang xem một mẫu chuyện trong bản tin trên tivi về một phụ nữ lừa tiền phúc lợi xã hội và kết luận rằng hầu hết mọi người ở trung tâm phúc lợi xã hội đều là những kẻ lừa đảo Những cách lập luận như vậy thường là kết quả của sự khái quát hoá vội vã Có một loại khái quát hoá vội vã gọi là khái quát hoá dựa vào
sự nổi tiếng, trong đó người ta cho rằng các trường hợp nổi tiếng nhất là đại diện cho đa số mọi trường hợp
Sự ngẫu nhiên
ai lầm loại này thường xảy ra khi những cá nhân đưa ra ý kiến dựa trên ngoại lệ của một quy luật nào đó Chẳng hạn, mặc dù phần lớn chúng ta đều cho rằng giết người là sai nhưng hầu hết đều đồng ý rằng có những trường hợp, như là để
tự vệ hoặc bảo vệ cho người khác, điều đó có thể chấp nhận được Lý giải theo sự ngẫu nhiên này sẽ cho rằng vì giết người
để tự vệ là không sai, do đó giết người trong những tình huống khác cũng không sai
Nguyên nhân sai lầm
Kiểu lập luận sai lệch này thường xảy ra khi học sinh nghĩ rằng hai sự kiện xảy ra theo trình tự cái trước cái sau thì cái trước
sẽ là nguyên nhân của cái sau Cả hai sự kiện đều có thể được gây ra bởi sự kiện thứ ba hoặc chúng có thể tình cờ xảy ra cùng một lúc Nhiều sự mê tín xuất phát từ loại lập luận này “Khi tôi mặc chiếc áo sơ mi may mắn, tôi luôn làm tốt các bài kiểm tra”
Nh ng ví von sai lệch
Việc so sánh hai khái niệm hoặc ý tưởng tương đồng thông qua những điểm giống nhau có thể là một công cụ hiệu quả trong việc tìm hiểu những khái niệm mới Tuy nhiên, cách lập luận sai lầm xuất hiện khi những sự so sánh không hợp lý được thực hiện Chẳng hạn, có những điểm tương đồng giữa cuộc cách mạng của người Mỹ, người háp, và người Mexico, nhưng nếu đưa ra ý kiến về một trong số đó thì có thể sẽ là sai lầm bởi vì vẫn có những điểm khác nhau đáng kể giữa cuộc cách mạng trên
Đầu độc c g ếng
Chiến lược này được áp dụng bởi những người có một quan điểm nhất định nào đó và họ không chấp nhận bất cứ chứng
cứ nào mâu thuẫn với quan điểm của mình Chẳng hạn, một học sinh trung học có thể nói rằng những vở kịch của hakespeare là ngớ ngẩn và từ chối công nhận rằng hàng triệu người thích chúng trong nhiều thế kỷ qua