1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ruồi nhà, bọ chét

14 687 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ruồi nhà, bọ chét
Tác giả Phạm Văn Minh
Người hướng dẫn Thượng tá, Ths. Nguyễn Khắc Lực
Trường học Học Viện Quân Y
Chuyên ngành Ký sinh trùng
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 283 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu: Ruồi nhà, bọ chét

Trang 1

HỌC VIỆN QUÂN Y

BỘ MÔN: SỐT RÉT – KÝ SINH TRÙNG VÀ CÔN TRÙNG

Số:……

RUỒI NHÀ, BỌ CHÉT

(MUSCA DOMESTICA, APHANIPTERA)

Môn học: Ký sinh trùng Bài : Ruồi nhà và bọ chét Đối tượng: Bác sỹ Quân y hệ Dài hạn Đại học Năm học: 2009 - 2010

Giảng viên: Phạm Văn Minh

Chức vụ: Giảng viên

Biên soạn: Phạm Văn Minh

Hà Nội - 2010

Trang 2

KẾ HOẠCH GIẢNG BÀI

1 Phần thủ tục

Bộ môn: Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng

Môn học: Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng

Đối tượng học viên: Bác sỹ Quân y hệ Dài hạn Đại học

Tên bài giảng: Ruồi nhà và bọ chét

Tên giảng viên: Phạm Văn Minh

Năm học: 2009 - 2010

Thời gian giảng: 90 phút

2 Các mục tiêu học tập:

2.1 Nắm được đặc điểm sinh học, vai trò Y học và phòng chống ruồi nhà 2.2 Nắm được đặc điểm sinh học, vai trò y học và biện pháp phòng chống

bọ chét

3 Kỹ thuật tiến hành:

3.1 Loại bài giảng: Lý thuyết

3.2 Phương pháp dạy học: Diễn giảng, đàm thoại

3.3 Hình thức tổ chức dạy học: Theo lớp trên Giảng đường

3.4 Phương tiện dạy học: Bảng, tranh…

Trang 3

4 Thời gian và cấu trúc bài giảng

4.3 Giới thiệu mục tiêu học tập và tài liệu tham khảo: 2 phút

gian

Những PPDH vận dụng

Phương tiện sử dụng

Hoạt động của HV

1 Ruồi nhà

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

chỉ hình ảnh

Phấn, bảng, projector

Nghe, nhìn, ghi chép

5 Kiểm tra đánh giá, thông tin phản hồi: 2 phút

- Nêu được 1- 2 câu hỏi ngắn và yêu cầu 1 – 2 học viên trả lời

Trang 4

- Nêu được những câu hỏi ôn tập củng cố bài.

6 Tổng kết bài giảng: 2 phút

7 Nhận xét rút kinh nghiệm: 1 phút.

Ngày tháng năm 2010

Chủ nhiệm bộ môn Người làm kế hoạch

Thượng tá, Ths Nguyễn Khắc Lực Đại tá, Ths Phạm Văn Minh

Trang 5

HỌC VIỆN QUÂN Y

BỘ MÔN: SỐT RÉT – KÝ SINH TRÙNG VÀ CÔN TRÙNG

PHÊ DUYỆT

Ngày tháng năm 2009

CHỦ NHIỆM BỘ MÔN

Thượng tá, Ths Nguyễn Khắc Lực

RUỒI NHÀ, BỌ CHÉT

(MUSCA DOMESTICA, APHANIPTERA)

Môn học: Ký sinh trùng Bài : Ruồi nhà và bọ chét Đối tượng: Bác sỹ Quân y hệ Dài hạn Đại học Năm học: 2009 - 2010

Giảng viên: Phạm Văn Minh

Chức vụ: Giảng viên

Biên soạn: Phạm Văn Minh

Hà Nội – 2010

Trang 6

RUỒI NHÀ, BỌ CHÉT

(MUSCA DOMESTICA, APHANIPTERA)

RUỒI NHÀ - MUSCA DOMESTICA

Ruồi nhà thuộc lớp côn trùng hai cánh, không hút máu, ruồi sinh sản nhanh, nhiều, ruồi thường xuyên sống gần người, truyền bệnh theo phương thức không đặc hiệu

1 Hình thể:

Ruồi nhà màu xám đen, toàn thân và chân có nhiều lông Đầu ruồi hình bán cầu, có hai mắt kép Ruồi đực có hai mắt kép gần nhau, ruồi cái có hai mắt kép xa nhau Anten ngắn, có 3 đốt, vòi ruồi cấu tạo theo kiểu liếm hút, khi không ăn vòi gập được vào ổ miệng

Ngực ruồi có 3 đôi chân, một đôi cánh mỏng, trong suốt với 5 gân dọc Chân ruồi được chia ra thành nhiều đốt, có lông, đốt cuối bàn chân có móng, đệm móng và tuyến tiết chất dính

Bụng ruồi thường chỉ nhìn rõ 5 đốt, ruồi cái có ống dẫn trứng, kéo dài ra khi

đẻ, sau đẻ co lại Ruồi cái có độ dài khoảng 5,6 - 7,5mm, ruồi đực nhỏ hơn: 5,8 - 6,5mm

Trứng ruồi hình bầu dục, màu trắng, nhỏ

Ấu trùng (dòi) màu trắng ngà, thân chia 10 đốt

Thanh trùng (nhộng) không ăn, không hoạt động Dài khoảng 5 - 6,3mm, màu nâu đen như hạt gạo rang cháy

2 Vòng đời:

Ruồi nhà là loài côn trùng có vòng đời biến thái hoàn toàn, phát triển qua 4 giai đoạn: trứng - ấu trùng - thanh trùng - trưởng thành (hình 73)

Ruồi đẻ ra trứng, sau khi giao phối 4 - 8 ngày ruồi bắt đầu đẻ, mỗi lần ruồi đẻ

100 - 150 trứng, cả đời ruồi đẻ 4 - 8 lần về mùa hè sau khoảng 12 - 24 giờ, trứng

nở ra dòi, dòi lột xác 2 lần, dài 1 - 1,2cm Sau 2 - 4 ngày dòi chui xuống đấtlột xác,

Trang 7

nhưng xác vẫn giữ nguyên thành kén giả, đó là nhộng, sáu một thời gioan phá kén, chui lên khỏi mặt đất trở thành ruồi trưởng thành

Thời gian hoàn thành vòng đời của ruồi phụ thuộc vào nhiệt độ và thức ăn của môi trường ở môi trường có đủ thức ăn và nhiệt độ 180C ruồi hoàn thành vòng đời trong khoảng 20 ngày, ở nhiệt độ 280C, thời gian này chỉ khoảng 10,5 ngày

Đời sống của ruồi về mùa hè ngắn: khoảng 18 - 20 ngày, mùa đông sống lâu hơn, có khi tới 4 tháng

3 Sinh lý - sinh thái

Ruồi thường đẻ trứng vào hố rác, phân người, phân gia súc hoặc xác động vật Sau 12 - 24 giờ trứng nở ra dòi giai đoạn I (ấu trùng I), dòi ăn các chất hữu

cơ trong môi trường, sau 2 lần lột xác thành dòi giai đoạn III, chúng không ăn, tìm

Trang 8

nơi đất xốp để chui xuống phát triển thành nhộng (thanh trùng), nhộng thường ở độ sâu thích hợp 20 - 30cm dưới mặt đất, nhưng có khi chỉ 1 - 2cm Nếu dòi không chui được xuống đất thì không thể thành nhộng được Nhộng không ăn, không hoạt động Sau một thời gian nhộng nở ra ruồi và chui lên khỏi mặt đất, khoảng 2 giờ sau khô cánh, ruồi bay đi Vào mùa đông lạnh, ruồi phát triển chậm, hoặc ngừng phát triển, sang xuân ấm áp, nhộng mới nở, nếu đát chặt quá, hoặc nhiều nước quá ruồi không chui lên được khỏi mặt đất và chết

Sau khi nở khoảng 2 ngày, ruồi bắt đầu giao phối, nếu đói ruồi không giao phối được, nếu thức ăn thiếu đạm, trứng thường không phát triển Ruồi sinh sản nhanh, nhiều, theo Howard: một ruồi cái trung bình 1 lần đẻ 120 trứng Chỉ trong vòng gần 5 tháng (tính từ 15 tháng 4 đến 10 tháng 9) từ một một ruồi cái qua nhiều thế hệ sinh sản cho ra đời 398.720.000.000 ruồi, con số này ít hơn thực tế nhiều vì chỉ tính mỗi đời ruồi đẻ một lần Theo Hodge cũng từ một ruồi cái qua mùa hè có thể tạo ra 191010 x 1015 ruồi, số lượng này chứa đầy 180dm3

Ruồi không phải là ký sinh trùng Ruồi ăn tất cả các thức ăn từ chất lỏng đến chất rắn Nếu thức ăn là chất rắn thì ruồi tiết nước bọt làm mềm thức ăn, rồi hút vào dạ dày

Ruồi ăn rất lâu, khoảng 2 giờ mới no, ăn tất cả các chất bổ đến chất thừa, thải,

ôi, thiu Ruồi vừa ăn vừa nôn, vừa bài tiết, đạp rũ chân, gây ô nhiễm nơi ruồi đậu Ruồi tìm thức ăn nhờ đôi râu, ruồi thích thức ăn có mùi thơm, tanh, thối Thức

ăn và chất thải của người là thức ăn của ruồi, ở đâu có ngưòi ở đó có ruồi, vì vậy

được gọi là ruồi nhà (Musca domestica).

Ruồi hoạt động vào ban ngày Ruồi không thích ánh sáng mặt trời trực tiếp cũng không thích chỗ tối Ruồi thích màu vàng, da cam, ruồi không thích màu tím, màu đỏ

Ruồi bay xa được khoảng 1500m Nhưng ruồi có thể theo tầu, xe, thuyền bè, phát tán đi rát xa

Ruồi phát triển và hoạt động mạnh vào mùa nóng; mùa lạnh ruồi ít hoạt động, thường tìm nơi ấm để đậu Ruồi phát triển ở nơi có điều kiện vệ sinh kém

4 Tác hại:

Ruồi truyền bệnh theo phương thức không đặc hiệu và truyền được rắt nhiều loại mầm bệnh Ruồi có vai trò truyền bệnh rất lớn do:

+ Cấu tạo của ruồi có rất nhiều lông ở chân, ở vòi nên mang được nhiều loại mầm bệnh

Trang 9

+ Ruồi thích ăn phân, máu, mủ, chất nôn, các mầm bệnh vào cơ quan tiêu hoá của ruồi, không bị tiêu diệt, vẫn tồn tại

+ Ruồi thích ăn các thức ăn của người và sống gần với người

+ Trong khi ăn ruồi vừa ăn, vừa nôn, vừa bài tiết

+ Ruồi có thể vận chuyển được nhiều mầm bệnh

Theo Derbeneva - Ukhova (1952) ruồi có thể mang trên thên 6 triệu mầm bệnh và trong ống tiêu hoá 28 triệu mầm bệnh

Ruồi truyền được các loại mầm bệnh sau:

− Vi khuẩn: tả, lỵ, lao, thương hàn

− Virut: đậu mùa, mắt hột, viêm gan, bại liệt

− Ký sinh trùng: amip lỵ, trùng roi, trứng giun sán

Do đặc tính sinh lý, sinh thái, khả năng vận chuyển mầm bệnh của ruồi, ruồi

đã trở thành một trong các nguyên nhân quan trọng phát sinh dịch đặc biệt là các dịch bệnh đường tiêu hoá

5 Phòng chống:

+ Triệt ngồn thức ăn của ruồi: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, quản lý

và xử lý các chất thải

+ Triệt nơi sinh đẻ của ruồi: Chuồng gia súc, hố xí, hố rác phải xây gạch hoặc nện chặt đất, đậy kín

Diệt ruồi trưởng thành: đập, bẫy, bẫy dính, mồi độc, khi dùng phải bảo đảm an toàn cho người và gia súc

BỘ BỌ CHÉT – APHANIPTERA

Bộ bọ chét là loại côn trùng không có cánh, thành phần loài rất phong phú Tại Việt Nam đã phát hiện được 34 loài (Đỗ Sỹ Hiển, 1992)

1 Hình thể:

Thân bọ chét dẹt 2 bên, cấu tạo đối xứng, vỏ thân bằng kitin dày, cứng Bọ chét dài 1-5 mm, con đực nhỏ hơn con cái Bọ chét có màu vàng, nâu, nâu sẫm hoặc đen màu sắc biến đổi đậm nhạt tuỳ theo môi trường sống Toàn thân bọ chét

có phủ nhiều lông cứng, mọc xuôi về phía sau

+ Đầu: có 2 anten nằm trong rãnh anten ở phía sau mắt, có 1 đôi pan và 1 vòi

Trang 10

Có loài có mắt (loại mắt đơn), có loài không có mắt, có loài mắt thoái hoá Đầu có lông ở trước mắt, lông ở gáy; có loài có những lông to, cứng ở gần vòi gọi là lược má

+ Ngực: có 3 đốt là đốt trước, đốt giữa và đốt sau, mỗi đốt mang 1 đôi chân Mỗi chân có 5 đốt; đôi chân sau mập và dài nhất giúp bọ chét nhảy được cao và xa (P irritans nhảy cao 19,5 cm, xa 33 cm) Tấm lưng ở các đốt ngực trước và sau đôi khi

có lược, gọi là lược ngực trước và lược ngực sau

+ Bụng: có 10 đốt, mỗi đốt có nhiều hàng lông, có loài có lược bụng Ba đốt cuối (đốt 8,9,10) phát triển thành cơ quan sinh dục Con đực có càng sinh dục ở đốt cuối; con cái có túi chứa tinh bên trong bụng

Trong ống tiêu hoá của bộ chét, giữa thực quản và dạ dày là diều Trong diều có những gai kitin nhỏ, cấu tạo như hom giỏ giống chiếc phễu lộn ngược,

có tác dụng ngăn không cho máu chảy ngược ra khi bọ chét hút máu vào dạ dày

2 Đặc điểm sinh học:

2.1 Vòng đời:

Vòng đời bọ chét trải qua 4 giai đoạn: trứng- ấu trùng- thanh trùng (nhộng) và trưởng thành

Bọ chét đực và cái đều hút máu Sau khi giao phối con cái đẻ trứng

Bọ chét trưởng thành đẻ

trung bình 400 trứng (Xenopsylla

cheopis đẻ 300-400 trứng; Pulex

Ctenocephalides felis đẻ 800

trứng) Sau khoảng 1 tuần trứng

nở ra ấu trùng ấu trùng có hình sâu, trên thân có nhiều lông nhỏ dài ấu trùng ăn phân của bọ chét bố mẹ, trong phân có nhiều máu khô chưa tiêu hoá và các tạp chất hữu cơ khác Sau khoảng 2 tuần, qua 2 lần lột xác, ấu trùng nhả tơ làm kén và thành nhộng Nhộng không ăn, không hoạt động, sau 1 tuần nhộng nở ra bọ chét trưởng thành

Thời gian hoàn thành vòng đời của bọ chét Xenopsylla cheopis ở 21-230C khoảng 3-5 tuần

Trang 11

Số lượng trứng bọ chét đẻ mỗi lần ít, khoảng 3-20 trứng/lần; có thể đẻ trên vật chủ hoặc không trên vật chủ Khi đẻ trên vật chủ, trứng nhanh chóng rơi ra vì không có chất dính với vật chủ, chính vì vậy thường thấy trứng ở nơi cư ngụ của vật chủ ấu trùng trong trứng phá vỡ vỏ nhờ có gai ở đầu, nở ra ấu trùng có màu trắng, không có chân, có đầu riêng biệt (dễ bị nhầm với ấu trùng các loài 2 cánh khác) Miệng ấu trùng thuộc kiểu nhai ấu trùng ăn thức ăn hữu cơ như: phân vật chủ, xác côn trùng và máu không tiêu hoá hết do bọ chét trưởng thành thải ra Thời

kỳ phát triển của ấu trùng dao động từ 9-200 ngày, tuỳ điều kiện môi trường như:

độ ẩm, nhiệt độ, áp lực oxy Ấu trùng lột xác 2 lần, cuối giai đoạn ấu trùng, ấu trùng nhả tơ làm kén và phát triển thành thanh trùng (nhộng) trong đó

Kén (giai đoạn nhộng) được nguỵ trang tốt và rất dính nên nhanh chóng được các hạt bụi, cát mịn bao quanh

Bọ chét trưởng thành phát triển đầy đủ trong vòng 1-2 tuần nhưng chỉ nở ra khỏi kén khi nhận được sự kích thích như: sự rung động do chuyển động của vật chủ ở những ngôi nhà hoang, chúng có thể sống trong kén đến 1 năm Người đến những nơi đó có thể bị bọ chét nở từ nhộng đồng thời tấn công với số lượng lớn 2.2 Sinh lý - Sinh thái:

Bọ chét rất ham hút máu, khi đã no vẫn tiếp tục hút máu, vừa hút vừa đùn

máu ra hậu môn để có máu nuôi ấu trùng Bọ chét có sức chịu đói rất cao: Pulex

irritans không hút máu vẫn sống được trên 4 tháng Bọ chét hút máu nhiều loài vật

chủ: chuột, chó, mèo, chồn, sóc, dơi, chim, gà và người Tuy nhiên, bọ chét có tính chọn lọc vật chủ để ký sinh:

+ X cheopis thích hút máu chuột

+ P irritans thích hút máu chó

+ Stivalius thích hút máu chuột và các động vật hoang dã.

Bọ chét trưởng thành có thể sống tự do ở đất, nơi có nhiều mùn, cát, rác

rưởi trong các khe kẽ tường hoặc trong các hang ổ chuột, ổ gà, tổ chim

Khi có nhiều bọ chét, có thể nhận biết sự có mặt của chúng bằng dấu hiệu của các vết máu khô do bọ chét không tiêu hoá hết thải ra quần áo, giường

Theo tính chất ký sinh có thể phân bọ chét thành các nhóm:

+ Bọ chét ký sinh cố định thường xuyên trên thân vật chủ: bọ chét chi Tunga

+ Bọ chét ký sinh trên thân vật chủ là chính, có thời gian ngắn sống tự

do: P.irritans, C felis

Trang 12

+ Bọ chét sống trong hang ổ động vật là chính, chỉ ký sinh ở vật chủ khi hút máu: bọ chét chi Phadinopsylla

Bọ chét có thể phát tán đi xa do chuột mang đi theo các phương tiện giao thông: tàu biển, máy bay, ôtô tới các vùng xa lạ, vì vậy bệnh dịch hạch do bọ chét truyền có thể lan truyền từ vùng này sang vùng khác

Mùa phát triển của bọ chét thuỳ theo loài: X cheopis phát triển mạnh vào mùa nóng từ tháng 6 đến tháng 9; P irritans từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, chi

Stivalis phát triển mạnh vào mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 6.

3 Vai trò truyền bệnh:

Bọ chét có thể truyền những mầm bệnh: dịch hạch, sốt phát ban chuột, sán lá

chuột (Hymenolepis diminuta) và sán dây chó (Dipylidium canium)

Ngoài vai trò truyền bệnh, bọ chét đốt có thể gây dị ứng, viêm da Con người

thường bị bọ chét mèo C felis đốt nhiều nhất, tiếp đến là bọ chét chó C canis Còn P

irritans (mặc dầu có tên là bọ chét người như vậy) nhưng lại ít quan trọng nhất Khi

đứng, người thường bị bọ chét tấn công cẳng chân, còn khi nằm thì bị ở bất cứ vị trí nào

3.1 Cơ chế truyền bệnh sán dây chuột và sán dây chó:

Những đốt sán già chứa đầy trứng theo phân hoặc tự bò ra hậu môn chó, chuột Đốt sán vỡ, trứng tung ra ngoại cảnh, có thể bám vào lông xung quanh hậu môn chó, chuột Bọ chét ký sinh ở chó, chuột nuốt phải trứng sán, trứng vào cơ thể bọ chét phát triển thành nang ấu trùng Nếu chó, chuột và người (như trẻ em chơi với chó) ăn phải bọ chét có nang ấu trùng sẽ mắc bệnh sán Sán trưởng thành ký sinh ở ruột

3.2 Cơ chế truyền bệnh dịch hạch:

Để truyền bệnh vi khuẩn cần có bọ chét hút máu cả người và động vật (chuột) P.iritans hút máu cả người và động vật nhưng hiếm khi hút máu chuột nên

vai trò không đáng kể Chi Xenopsylla hút máu cả người và động vật, trong đó bọ chét chuột Châu Á X cheopis có vai trò lớn.

Bệnh dịch hạch do vi khuẩn Yersinia pestis, gây ra những vụ dịch ở các động

vật hoang như: chuột, các loài gặm khác và có thể lây cho người Trước đây, dịch hạch được gọi là “cái chết đen” và là nguyên nhân gây ra các vụ dịch bệnh thảm

khốc Vai trò truyền bệnh đáng chú ý là bọ chét chuột Xenopsylla.

+ Vi khuẩn dịch hạch từ vòi hoặc từ phân bọ chét theo vết đốt, vết xước xâm nhập vào cơ thể vật chủ

Ngày đăng: 15/01/2013, 10:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w