1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục và chế độ chính sách nhà giáo đối với ngành giáo dục sơn la

12 3,3K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Đội Ngũ Cán Bộ Quản Lí Giáo Dục Và Chế Độ Chính Sách Nhà Giáo Đối Ngành Giáo Dục Sơn La
Tác giả Th.S. Lò Mai Cương
Người hướng dẫn Phó Phòng Tổ Chức Cán Bộ
Trường học Cao Đẳng Sơn La
Thể loại bài viết
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục và chế độ chính sách nhà giáo đối với ngành giáo dục sơn la

Trang 1

THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC VÀ CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH NHÀ GIÁO ĐỐI NGÀNH GIÁO DỤC SƠN LA

Th.S Lò Mai Cương Phó phòng Tổ chức cán bộ trường Cao đẳng Sơn La

Tóm tắt : Sơn La là tỉnh miền núi cao biên giới, diện tích tự nhiên 14.174 km2,

có 250 km đường biên giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; gồm 11 huyện,

thành phố, 206 xã, phường, thị trấn, 3.174 bản, tiểu khu, tổ dân phố (trong đó có 88 xã, 1.119 bản đặc biệt khó khăn, được hưởng Chương trình 135 giai đoạn 2); dân số trên

một triệu người, gồm 12 dân tộc anh em cùng sinh sống

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo Sơn La trong những năm gần đây ngày càng phát triển và hoàn thiện: Giáo dục phổ thông cơ bản đã ổn định; Quy mô giáo dục được mở rộng, mạng lưới trường lớp ổn định và phát triển với nhiều loại hình; giáo dục vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa ngày càng được đẩy mạnh; chất lượng giáo dục - đào tạo từng bước được nâng lên; việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được quan tâm; cơ sở vật chất trang thiết bị trường học tiếp tục được bổ sung; công tác xã hội hoá bước đầu thu được kết quả đáng trân trọng; tạo nên phong trào học tập sôi nổi trong các tầng lớp xã hội

I - THỰC TRẠNG

1 Những mặt mạnh

* Về chất lượng đội ngũ nhà giáo:

- Hầu hết nhà giáo có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn, số chưa đạt chuẩn giảm dần hàng năm

- Về nghiệp vụ sư phạm: phần lớn nhà giáo đều đã qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ nhà giáo đã được nâng lên (đặc biệt ở các cấp học cao và đối với giảng viên)

- Về cơ bản đội ngũ nhà giáo có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt;

* Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ nhà giáo

Những năm qua, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã phối hợp với các bộ, ngành tập trung xây dựng và ban hành được một hệ thống văn bản chỉ đạo tương đối đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương và các cơ sở giáo dục thực hiện tốt chế độ chính sách đối với đội ngũ nhà giáo

Công tác đánh giá phân loại nhà giáo đã có nhiều đổi mới, bước đầu phát huy tính tích cực, tạo động lực và khuyến khích nhà giáo phấn đấu vươn lên

* Về đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

Cơ bản đã từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có nhận thức đúng đắn, phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn sư phạm cao, tâm huyết với nghề (phần đa là

Trang 2

những nhà giáo được bổ nhiệm, điều động sang làm công tác quản lý), có kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục

2 Về những tồn tại yếu kém:

- Chất lượng giáo dục - đào tạo của ngành giáo dục tỉnh Sơn La so với toàn quốc nhìn chung còn thấp, chưa đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng chưa cao Quy mô đào tạo nghề còn nhỏ; cán bộ khoa học kỹ thuật trình độ cao, cán bộ là người dân tộc thiếu số còn thiếu nhiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp Cơ sở vật chất trường học vẫn còn thiếu thốn, số lượng phòng học tạm chiếm tỷ lệ cao Các phòng học bộ môn, phòng, chức năng, nhà hiệu bộ hầu như chưa có Công tác xã hội hoá giáo dục chuyến biến chưa mạnh mẽ, quá trình đa dạng hoá các loại hình giáo dục ngoài công lập còn chậm

- Mặt bằng chung về đời sống, đa số nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng dân tộc, miền núi Sơn La còn gặp không ít khó khăn trong công tác cũng như trong sinh hoạt, một trong những nguyên nhân là do đất nước còn nghèo, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thực sự hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và đời sống

- Hiện tượng tiêu cực trong công tác quản lý vẫn còn

- Khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý còn yếu Đa số chưa được đào tạo có hệ thống về công tác quản lý, trình độ và năng lực điều hành quản lý chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tính chuyên nghiệp thấp, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân nên chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao

- Công tác sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều khó khăn, bất cập, như: chưa có giải pháp giải quyết thoả đáng chế độ chính sách đối với những nhà giáo được điều động sang làm công tác quản lý; đời sống của phần đông cán bộ quản lý giáo dục gặp khó khăn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên nhiều người

- Biên chế giáo viên mầm non, THCS rất hạn chế, khó khăn;

- Chính sách luân chuyển nhà giáo và nghĩa vụ làm việc trong ngành giáo dục còn thiếu cơ chế, chưa có biện pháp khả thi để triển khai thực hiện có hiệu quả

- Nhận thức và trách nhiệm của một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đầy đủ, còn né tránh, nể nang; việc đánh giá CBGV chưa thật chính xác, khách quan, chưa phản ánh đúng thực chất về đội ngũ

- Chế độ chính sách cho đội ngũ nhà giáo hiện còn nhiều hạn chế, vướng mắc, như:

+ Nhiều quy định trong chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo

đã ban hành từ lâu, không còn phù hợp, song chậm được bổ sung, sửa đổi

+ Bất cập trong việc thực hiện các chính sách đãi ngộ đối với nhà giáo, điều kiện làm việc còn hạn chế nên bản thân họ chưa thực sự yên tâm công tác, đã có hiện tượng giáo viên xin nghỉ việc, chuyển chỗ, làm nghề khác, nhất là đội ngũ nhà giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới của tỉnh Sơn La v.v…

- Năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhiều nhà giáo còn hạn chế, chưa thực sự đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt là nhà giáo công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới ít có điều kiện nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức

Trang 3

- Còn một bộ phận không nhỏ chưa đạt yêu cầu về năng lực sư phạm, trình độ tin học và ngoại ngữ

- Thiếu cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, một số ít nhà giáo do chạy theo vật chất đơn thuần, đã ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục

- Do ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường, một số giáo viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm đạo đức nghề nghiệp

- Qui mô giáo dục phát triển nhanh, song các điều kiện đảm bảo như cơ sở vật chất kỹ thuật, ngân sách, đội ngũ giáo viên… còn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Công tác đào tạo nguồn nhân lực về cơ cấu, chất lượng còn nhiều bất cập, có nhiều chuyên ngành thừa, song cũng còn rất nhiều chuyên ngành thiếu và có sự chênh lệch giữa các dân tộc, các vùng, các ngành trong tỉnh Công tác đào tạo chưa đồng bộ từ khâu qui hoạch, bố trí sử dụng; nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao và các chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực còn thiếu nhiều Các Trung tâm học tập cộng đồng phát triển chậm Sự năng động tham gia của các cấp, các ngành và sự chủ động đầu tư cho các lĩnh vực giáo dục trong từng giai đoạn còn nhiều hạn chế; những quy định về chế độ chính sách đối với nhà giáo cần được Nhà nước và các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu, điều chỉnh

3 Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém

- Trước hết là do công tác quản lý, chỉ đạo ở một số địa phương trong tỉnh còn hạn chế

- Một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục chưa được đào tạo cơ bản và đồng bộ về kiến thức quản lý, lý luận chính trị và còn thiếu kinh nghiệm chậm đổi mới về tư duy

và phương thức quản lý; công tác tham mưu kém hiệu quả

- Một bộ phận giáo viên chậm đổi mới phương pháp giảng dạy; vẫn còn giáo viên vi phạm các tệ nạn xã hội; năng lực và trình độ tiếp thu của học sinh còn chậm;

Sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên chưa chặt chẽ

- Sự kết hợp giữa các cấp, các ngành, các lực lượng trong xã hội với ngành giáo dục - đào tạo chưa đồng bộ, khả năng đầu tư và đóng góp cho giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng đủ so với yêu cầu

II NHỮNG GIẢI PHÁP

1.Cần "Luật hoá" các quan điểm, chủ trương của Đảng về việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Cụ thể là:

- Tôn vinh nhà giáo và nghề dạy học, nâng cao vị trí xã hội của nhà giáo, ưu tiên giáo viên vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn

- Đào tạo đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo địa chỉ, xây dựng các trường sư phạm để bảo đảm chất lượng, đủ số lượng nhà giáo ở mọi cấp học, trình

độ đào tạo, các đối tượng đặc biệt trong xã hội

- Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Trang 4

- Quản lý, sử dụng đãi ngộ đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đặc biệt

ở vùng núi đặc biệt khó khăn

2 Các chế độ chính sách đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cần được luật hoá để bảo đảm giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành cao, bảo đảm điều chỉnh công bằng đối với tất cả đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

+ Về các chính sách, chế độ trong tuyển dụng, điều động, luân chuyển, sử dụng

và quản lý đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh cán bộ quản lý giáo dục; các chính sách, chế độ bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội), tiền thưởng, phúc lợi và các khoản thu nhập chính đáng khác (ngoài tiền lương) của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

+ Về tiền lương và thang, bảng lương nhà giáo; chế độ phụ cấp (phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thâm niên ) và bảo lưu chế độ cho nhà giáo khi được điều động công tác về các cơ quan quản lý giáo dục

+ Cần đặc biệt quan tâm về các chính sách, chế độ: đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các trường vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; vùng biên giới; chính sách đối với nhà giáo giảng dạy các chuyên ngành đào tạo, bộ môn đặc thù; chính sách kéo dài thời gian làm việc trước khi nghỉ hưu đối với các nhà giáo cốt cán, có học hàm/học vị cao; chính sách thu hút nhà giáo là người Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ )

+ Về phân cấp quản lý đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; chương trình, phương thức và hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục

+ Về đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác quốc tế trong phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; quỹ khuyến khích phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục

+ Về khen thưởng, xử lý vi phạm, khiếu tố và giải quyết yếu tố liên quan đến đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục

3 Phải trú trọng yếu tố hợp lý trong việc luân chuyển đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục lên công tác tại miền núi, các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Abstract

STATUS OF PLOLICIES FOR TEACHERS AND EDUCATIONAL LEADERS

IN SON LA PROVINCE

Med.Lo Mai Cuong Deputy Chief of Personnel management Office

Son La Education College

Trang 5

Although Son La is a mountainous and disadvantaged province in Vietnam, its provincial leaders have paid great attention on policies of recruiting, educating and using to develop teachers and educational managers Recently, the province has its all teachers and educational managers are educated and trained by standards However, the quality of teachers and educational managers is still low and the working conditions are not good enough Policies for enhancing living standards for them have not had good effects and their life is still difficult The policies of articulating teachers and educational managers create difficulties for them and other policies are limited that lead to the limitation in recruiting, using teachers and educational managers The author suggests three groups of measures for preparing, educating and using teachers and educational managers more effectively: 1) strengthen legal frameworks on these issues, 2) change payment form of teacher salary, paying great attention on mountainous educators and 3) policies for management mechanisms of mountainous teachers, managers

ghị quyết Trung ương hai khoá VIII xác định: giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội

N Trong giai đoạn cách mạng mới, chúng ta cần nhận thức đầy đủ yêu cầu của nhiệm vụ mới; vấn đề then chốt là chiến lược con người, xây dựng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu

Để giải quyết thành công nhiệm vụ xây dựng đất nước theo những mục tiêu to lớn mà các đại hội của Đảng đã đề ra, chúng ta phải phát huy cao độ truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc, đồng thời chúng ta rất cần trí tuệ khoa học và bản lĩnh chính trị vững vàng Do đó yếu tố quyết định hơn bao giờ hết là con người, con người được giáo dục, đào tạo công phu để trở thành những công dân tự chủ, có nhân cách, có năng lực nghề nghiệp Đó là nguồn nhân lực mà đất nước đang cần

Phát triển sự nghiệp giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xã hội, trong đó đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục

Trong những năm qua, Nhà nước quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, bảo đảm đủ về số lượng, đồng

bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là một bộ phận của đội ngũ viên chức và có số lượng lớn, chiếm tới 80% viên chức

cả nước Vì vậy, những quy định về chế độ chính sách đối với nhà giáo cần được Nhà nước và các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và toàn xã hội

I.Thực trạng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Sơn La

1 Nhận định chung:

Trang 6

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ đội ngũ nhà giáo và

cán bộ quản lý giáo dục đến công tác ở các vùng dân tộc và miền núi Sơn La nói riêng Những nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được điều động, biệt phái đến công tác ở

vùng dân tộc, miền núi đã đoàn kết sát cánh cùng với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục là người dân tộc thiểu số góp phần xây dựng sự nghiệp giáo dục tỉnh Sơn

La không ngừng phát triển, tạo nguồn nhân lực góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế

-xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo Sơn La trong những năm gần đây ngày càng phát triển và hoàn thiện: Giáo dục phổ thông cơ bản đã ổn định; Quy mô giáo dục được mở rộng, mạng lưới trường lớp ổn định và phát triển với nhiều loại hình; giáo dục vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa ngày càng được đẩy mạnh; chất lượng giáo dục - đào tạo từng bước được nâng lên; việc bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được quan tâm; cơ sở vật chất trang thiết bị trường học tiếp tục được bổ sung; công tác xã hội hoá bước đầu thu được kết quả đáng trân trọng; tạo nên phong trào học tập sôi nổi trong các tầng lớp xã hội

Tuy nhiên, Sơn La là tỉnh miền núi cao biên giới, diện tích tự nhiên 14.174 km2,

có 250 km đường biên giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; gồm 11 huyện,

thành phố, 206 xã, phường, thị trấn, 3.174 bản, tiểu khu, tổ dân phố (trong đó có 88 xã,

1.119 bản đặc biệt khó khăn, được hưởng Chương trình 135 giai đoạn 2); dân số trên

một triệu người, gồm 12 dân tộc anh em cùng sinh sống; giáo dục - đào tạo Sơn La còn nhiều khó khăn, mâu thuẫn: Qui mô giáo dục phát triển nhanh, song các điều kiện đảm bảo như cơ sở vật chất kỹ thuật, ngân sách, đội ngũ giáo viên… còn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Công tác đào tạo nguồn nhân lực về cơ cấu, chất lượng còn nhiều bất cập, có nhiều chuyên ngành thừa, song cũng còn rất nhiều chuyên ngành thiếu và có sự chênh lệch giữa các dân tộc, các vùng, các ngành trong tỉnh Công tác đào tạo chưa đồng bộ từ khâu qui hoạch, bố trí sử dụng; nguồn cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao và các chuyên gia đầu ngành thuộc các lĩnh vực còn thiếu nhiều Các Trung tâm học tập cộng đồng phát triển chậm, chưa đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Sự năng động tham gia của các cấp, các ngành và sự chủ động đầu tư cho các lĩnh vực giáo dục trong từng giai đoạn còn nhiều hạn chế; những quy định về chế độ chính sách đối với nhà giáo cần được Nhà nước và các nhà hoạch định chính sách quan tâm nghiên cứu, điều chỉnh

2 Những vấn đề cụ thể về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh Sơn La

2.1 Về đội ngũ nhà giáo

a Về số lượng: Tính đến năm học 2007-2008, cả tỉnh có khoảng 15.702 nhà

giáo (bao gồm: 2652 giáo viên mầm non; 6028 giáo viên tiểu học; 841 giáo viên liên cấp I+II; 4857 Giáo viên cấp trung học cơ sở; 1087 giáo viên trung học phổ thông; 237 giáo viên các trường chuyên biệt (Trường PTDT nội trú tỉnh, huyện)

b Về chất lượng đội ngũ nhà giáo:

- Hầu hết nhà giáo có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn, số chưa đạt chuẩn giảm dần hàng năm

- Về nghiệp vụ sư phạm: phần lớn nhà giáo đều đã qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ

sư phạm Trình độ tin học và ngoại ngữ của đội ngũ nhà giáo đã được nâng lên (đặc biệt ở các cấp học cao và đối với giảng viên)

Trang 7

- Về cơ bản đội ngũ nhà giáo có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt; hầu hết đều tận tuỵ với nghề, cần cù chịu khó, có tinh thần trách nhiệm cao, sáng tạo

và quyết tâm tự bồi dưỡng nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

* Những khó khăn, bất cập:

- Năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhiều nhà giáo còn hạn chế, chưa thực sự đổi mới phương pháp giảng dạy, vẫn còn có những giáo viên xếp loại yếu

về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là nhà giáo công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới

ít có điều kiện nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức

- Còn một bộ phận không nhỏ chưa đạt yêu cầu về năng lực sư phạm, trình độ tin học

và ngoại ngữ Đây là nguyên nhân dẫn tới tình trạng nhà giáo gặp khó khăn trong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy tiên tiến, hạn chế khả năng nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế

- Thiếu cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, một số ít nhà giáo do chạy theo vật chất đơn thuần, đã ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục

- Do ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường, một số giáo viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, đã làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân và học sinh đối với ngành giáo dục Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) và Sở giáo dục đã chỉ đạo nghiêm túc, có biện pháp giáo dục, xử lý kịp thời, thậm chí đưa ra khỏi ngành những người vi phạm đạo đức, lối sống và chuẩn mực của người thầy

c Công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ nhà giáo

Những năm qua, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã phối hợp với các bộ, ngành tập trung xây dựng và ban hành được một hệ thống văn bản chỉ đạo tương đối đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương và các cơ sở giáo dục thực hiện tốt chế độ chính sách đối với đội ngũ nhà giáo (như: chế độ chính sách đối với nhà giáo công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; chính sách miễn thu học phí đối với học sinh vào học ngành sư phạm.v.v ) Cùng với chính sách chung của Nhà nước, tùy vào điều kiện kinh tế của từng vùng, Bộ GD&ĐT đã tích cực tham mưu với các cấp chính quyền để có những chính sách riêng hỗ trợ cho đội ngũ nhà giáo (như: chế độ hỗ trợ tiền lương cho giáo viên mầm non ngoài công lập; chế độ

hỗ trợ cho giáo viên đi học tập nâng cao trình độ.v.v…)

Phần lớn các địa phương chưa thực hiện việc phân cấp tuyển dụng theo Quyết định số 62/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT

Công tác đánh giá phân loại nhà giáo đã có nhiều đổi mới, bước đầu phát huy tính tích cực, tạo động lực và khuyến khích nhà giáo phấn đấu vươn lên

*Những khó khăn, bất cập:

- Về chính sách phát triển giáo dục mầm non: biên chế giáo viên mầm non rất hạn chế, khó khăn; lương của giáo viên hợp đồng quá thấp, dẫn đến tình trạng nhiều nơi khó tuyển dụng giáo viên mầm non

- Chính sách luân chuyển nhà giáo và nghĩa vụ làm việc trong ngành giáo dục sau tốt nghiệp đối với sinh viên sư phạm còn thiếu cơ chế, chưa có biện pháp khả thi

để triển khai thực hiện có hiệu quả

- Nhận thức và trách nhiệm của một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đầy đủ, còn né tránh, nể nang; chưa ban hành kịp thời các tiêu chí đánh giá, thiếu các tiêu chí cụ thể, định lượng nên việc đánh giá chưa thật chính xác, khách quan, chưa phản ánh đúng thực chất về đội ngũ

- Chế độ chính sách cho đội ngũ nhà giáo hiện còn nhiều hạn chế, vướng mắc, như:

Trang 8

+ Nhiều quy định trong chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo

đã ban hành từ lâu, không còn phù hợp, song chậm được bổ sung, sửa đổi, như: chế độ cho giáo viên đi bồi dưỡng tập trung theo Quyết định số 291/CP ngày 30/12/1974 của Hội đồng Chính phủ; chế độ làm việc và định mức lao động của nhà giáo; Chế độ thanh toán tiền lương dạy thêm giờ và phụ cấp dạy lớp ghép; chính sách miễn học phí cho sinh viên sư phạm và chế độ cấp bù học phí sư phạm.v.v

+ Bất cập trong việc thực hiện các chính sách đãi ngộ đối với nhà giáo, cụ thể như: chưa giải quyết triệt để bất hợp lý trong hệ thống thang, bảng lương, chế độ phụ cấp cho nhà giáo, chính sách tiền lương đối với giáo viên mầm non và chế độ đối với giáo viên hợp đồng; đời sống của phần đông nhà giáo vẫn còn khó khăn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên bản thân họ chưa thực sự yên tâm công tác, đã có hiện tượng giáo viên xin nghỉ việc, chuyển chỗ, làm nghề khác, nhất là đội ngũ nhà giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới của tỉnh Sơn La v.v…

2.2 Về đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

a Tính đến năm học 2007-2008, cả tỉnh có khoảng 1591 cán bộ quản lý giáo dục (trong đó, giáo dục mầm non: 348 người;Giáo dục tiểu học 599 người giáo dục THCS: 541 người; Giáo dục TH phổ thông: 103 người)

b Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, cơ bản đã từng bước đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có nhận thức đúng đắn, phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn sư phạm cao, tâm huyết với nghề (phần đa là những nhà giáo được bổ nhiệm, điều động sang làm công tác quản lý), có kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục

*Những khó khăn, bất cập:

- Hiện tượng tiêu cực trong công tác quản lý vẫn còn, một số ít cán bộ quản lý giáo dục có biểu hiện chạy theo những tiêu cực của kinh tế thị trường, chưa tích cực, chủ động học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

- Khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản

lý còn yếu Đa số chưa được đào tạo có hệ thống về công tác quản lý, trình độ và năng lực điều hành quản lý chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tính chuyên nghiệp thấp, làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân nên chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao

- Công tác sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều khó khăn, bất cập, như: chưa có giải pháp giải quyết thoả đáng chế độ chính sách đối với những nhà giáo được điều động sang làm công tác quản lý; thu nhập của cán bộ quản

lý giáo dục ở các trường công lập và ngoài công lập có khác biệt lớn; đời sống của phần đông cán bộ quản lý giáo dục gặp khó khăn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên nhiều người chưa thực sự yên tâm công tác

3 Về những tồn tại yếu kém:

- Chất lượng giáo dục - đào tạo của ngành giáo dục tỉnh Sơn La so với toàn quốc

nhìn chung còn thấp, chưa đồng đều giữa các vùng Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các

trường đại học, cao đẳng chưa cao Quy mô đào tạo nghề còn nhỏ; cán bộ khoa học kỹ thuật trình độ cao, cán bộ là người dân tộc thiếu số còn thiếu nhiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp Cơ sở vật chất trường học vẫn còn thiếu thốn, số lượng phòng học tạm chiếm tỷ lệ cao Các phòng học bộ môn, phòng, chức năng, nhà hiệu bộ hầu như chưa có Công tác xã hội hoá giáo dục chuyến biến chưa mạnh mẽ, quá trình đa dạng hoá các loại hình giáo dục ngoài công lập còn chậm

- Mặt bằng chung về đời sống, đa số nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công

tác ở vùng dân tộc, miền núi Sơn La còn gặp không ít khó khăn trong công tác cũng như trong sinh hoạt, một trong những nguyên nhân là do đất nước còn nghèo, chính

Trang 9

sách đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thực sự hợp lý,

chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và đời sống Hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của Tỉnh Sơn La

* Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém

- Trước hết là do công tác quản lý, chỉ đạo ở một số địa phương trong tỉnh còn hạn chế

- Một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục chưa được đào tạo cơ bản và đồng bộ về kiến thức quản lý, lý luận chính trị và còn thiếu kinh nghiệm chậm đổi mới về tư duy

và phương thức quản lý; công tác tham mưu kém hiệu quả

- Một bộ phận giáo viên chậm đổi mới phương pháp giảng dạy; vẫn còn giáo viên vi phạm các tệ nạn xã hội; năng lực và trình độ tiếp thu của học sinh còn chậm;

Sự phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên chưa chặt chẽ

- Sự kết hợp giữa các cấp, các ngành, các lực lượng trong xã hội với ngành giáo dục - đào tạo chưa đồng bộ, khả năng đầu tư và đóng góp cho giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng đủ so với yêu cầu

Hiện nay, ngành giáo dục - đào tạo của chúng ta nói chung, ở Sơn La nói riêng đang có những yếu kém trầm trọng ở mọi cấp học và trình độ đào tạo, đặc biệt ở giáo dục nghề nghiệp và đại học Chúng ta chưa bằng lòng với trình độ dân trí của chúng ta

để xây dựng xã hội công bằng, giàu mạnh, dân chủ, văn minh Nguồn nhân lực được tạo ra, về quy mô, cơ cấu và chất lượng, nhìn chung không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nếu nói đến mục tiêu cao hơn mà Đại hội X của Đảng đã

đề ra là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nếu nói đến sự cạnh tranh quốc tế trong đó có cạnh tranh về giáo dục và nguồn nhân lực trong tiến trình toàn cầu hóa, thì tình trạng bất cập đó càng lớn hơn và gay gắt hơn rất nhiều

Để thực hiện được mục tiêu Đại hội X của Đảng đã đề ra, trước hết Đảng, Nhà nước và toàn dân ta phải thống nhất nhận thức về vai trò, vị trí cực kỳ quan trọng của giáo dục - đào tạo trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng đất nước, và phải có một quyết tâm thật cao để thực hiện cho bằng được quan điểm của Đảng: giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu

Theo dự báo, đến năm 2020 dân số nước ta khoảng 100 triệu người với khoảng 23,5 triệu học sinh và 4,5 triệu sinh viên Việc tăng tự nhiên quy mô học sinh, sinh viên hàng năm; việc thực hiện học 2 buổi/ngày ở phổ thông và việc giảm tỷ lệ học sinh, sinh viên/lớp, tỷ lệ sinh viên/giảng viên đòi hỏi quy mô đội ngũ phải tăng trung bình 5%/năm, đến năm 2020 cần có 1,25 triệu nhà giáo; trong đó số giảng viên phải tăng gấp 4 lần hiện nay với ít nhất 25% có trình độ tiến sĩ (riêng các trường đại học, cao đẳng sư phạm yêu cầu 100% giảng viên có trình độ tiến sĩ)

II Những giải pháp

Để bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp chấn hưng nền giáo dục, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, việc xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cần được thực hiện trên nền tảng pháp lý vững chắc, đó là các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao Vì vậy, cần nghiên cứu để đưa vào nội dung của Luật cán bộ Viên chức những vấn đề sau đây:

Thứ nhất, phải thực hiện việc "luật hoá" các quan điểm, chủ trương của Đảng

về việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Cụ thể là:

Trang 10

- Tôn vinh nhà giáo và nghề dạy học, nâng cao vị trí xã hội của nhà giáo, ưu tiên giáo viên vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn

- Đào tạo đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo địa chỉ, xây dựng các trường sư phạm để bảo đảm chất lượng, đủ số lượng nhà giáo ở mọi cấp học, trình

độ đào tạo, các đối tượng đặc biệt trong xã hội

- Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

- Quản lý, sử dụng đãi ngộ đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đặc biệt

ở vùng núi đặc biệt khó khăn

Thứ hai, “Luật hóa” một số quy định phải được điều chỉnh bởi các văn bản quy

phạm pháp luật và đưa luật vào hiện thực cuộc sống, cụ thể là:

Các chế độ chính sách đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cần được luật hoá để bảo đảm giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành cao, bảo đảm điều chỉnh công bằng đối với tất cả đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục ở vùng núi, vùng dân tộc thiểu số

+ Về các chính sách, chế độ trong tuyển dụng (xoá bỏ phân biệt “giáo viên trong biên chế” và “giáo viên hợp đồng”), điều động, luân chuyển, sử dụng và quản lý đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh cán bộ quản lý giáo dục; các chính sách, chế độ bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội), tiền thưởng, phúc lợi (phúc lợi tập thể, phúc lợi

xã hội, trợ cấp, nhà ở công vụ ) và các khoản thu nhập chính đáng khác (ngoài tiền lương) của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

+ Về tiền lương và thang, bảng lương nhà giáo (bảo đảm cho tiền lương nhà giáo, thực sự trở thành một động lực trong công việc của nhà giáo); chế độ phụ cấp (phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thâm niên ) và bảo lưu chế độ cho nhà giáo khi được điều động công tác về các cơ quan quản lý giáo dục

+ Cần đặc biệt quan tâm về các chính sách, chế độ: đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác ở các trường vùng núi, vùng dân tộc thiểu số, ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; vùng biên giới; chính sách đối với nhà giáo giảng dạy các chuyên ngành đào tạo, bộ môn đặc thù; chính sách kéo dài thời gian làm việc trước khi nghỉ hưu đối với các nhà giáo cốt cán, có học hàm/học vị cao; chính sách thu hút nhà giáo là người Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học - chuyển giao công nghệ )

+ Về phân cấp quản lý đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; chương trình, phương thức và hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục (tăng cường hơn nữa quyền tự chủ - tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục; tập trung đầu mối, tăng cường chức năng, nhiệm vụ cho các cơ quan quản lý giáo dục các cấp; xử lý hài hoà mối quan hệ giữa quản lý theo ngành và theo lãnh thổ)

+ Về đẩy mạnh xã hội hoá, hợp tác quốc tế trong phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; quỹ khuyến khích phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục

+ Về khen thưởng, xử lý vi phạm, khiếu tố và giải quyết yếu tố liên quan đến đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục

Ngày đăng: 18/01/2013, 17:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w