1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LS-thegioi-CD

68 1,8K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử thế giới cổ đại
Tác giả Nguyễn Gia Phú
Trường học Trường Đại Học Đà Lạt
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Giáo trình
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 875,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lich sư the gioi can dai

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I XÃ HỘI NGUYÊN THỦY 4

I Bầy người nguyên thủy 4

II Công xã thị tộc 5

III Văn hóa nguyên thủy 9

PHẦN II LỊCH SỬ PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI 11

BÀI 1.AI CẬP CỔ ĐẠI 11

I Địa lý và cư dân 11

II Các thời kỳ lịch sử của Ai Cập cổ đại 11

III Tình hình kinh tế xã hội và bộ máy nhà nước 14

BÀI 2.LƯỠNGHÀCỔĐẠI 19

I Địa lý và cư dân 19

II Các quốc gia ở Lưỡng Hà cổ đại 19

BÀI 3.ẤNĐỘCỔĐẠI 23

I Địa lý và cư dân 23

II Văn hóa Haráppa 23

III THỜI KỲ VÊ ĐA 24

IV ẤN ĐỘ TỪ THẾ KỶ VI TCN ĐẾN THẾ KỶ III CN 26

BÀI 4.TRUNGQUỐCCỔĐẠI 33

I Địa lý và cư dân 33

II Các triều đại Hạ, Thương, Chu 33

III Tình hình kinh tế xã hội 37

PHẦN III LỊCH SỬ HY LẠP VÀ LA MÃ CỔ ĐẠI 42

BÀI 1.HY LẠP CỔ ĐẠI 42

I Địa lý và cư dân 42

II Văn hoá Crét Myxen và thời Hôme: 42

III Thời kì thành bang: ( Thế kỷ VIII – IV TCN ) 43

IV Sự thiết lập quyền bá chủ ở Hy Lạp và cuộc chinh phục phương Đông của Makêđônia: 49

BÀI 2.LAMÃCỔĐẠI 52

I Địa lý và dân cư: 52

II Thời kỳ cộng hòa 52

III Thời kỳ quân chủ 61

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Lịch sử thế giới cổ đại là lịch sử giai đọan có nhà nước đầu tiên trên thế giới Tuy nhiên trước khi giới thiệu lịch sử cổ đại các nước phải tìm hiểu giai đoạn đầu tiên của lịch sử loài người, đó là giai đoạn xã hội nguyên thủy Vì vậy, lịch sử xã hội nguyên thủy được ghép vào lịch sử cổ đại

1 Lịch sử thế giới cổ đại gồm hai phần: Lịch sử các nước Phương Đông cổ đại và lịch sử Hy Lạp, La Mã (Roma) cổ đại

a Lịch sử Hy Lạp La Mã cổ đại là lịch sử xã hội chiếm nô Đó là một xã hội trong đó có hai giai cấp đối kháng cơ bản là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ

Giai cấp chủ nô chiếm hữu hầu hết tư liệu sản xuất trong xã hội và chiếm hữu cả người nô lệ như một thứ tài sản Trên cơ sở đó, giai cấp chủ nô cưỡng bức nô lệ lao động sản xuất để chiếm đoạt thành quả lao động của họ

b Lịch sử Phương Đông cổ đại là lịch sử các nước Ai cập cổ đại, các quốc gia cổ đại vùng Lưỡng Hà, Aán Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại

Lịch sử Phương Đông cổ đại về mặt phương thức sản xuất không giống Hy Lạp và La Mã cổ đại Tuy vậy, có một số học giả nước ngoài vẫn cho xã hội Phương Đông cổ đại là xã hội chiếm nô song đó là một kiểu chiếm nô khác với chế độ chiếm nô ở Hy Lạp La Mã cổ đại

Sự thực xã hội phương Đông cổ đại không phải là xã hội chiếm nô Từ năm 1924, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “… Aán Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời trung cổ, cũng như thời cận đại…

Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử , nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu.Mà lịch sử châu Âu là gì ? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại

Mác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội phải trải qua ba giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản … Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không ? “ (1)

Tình hình cụ thể của xã hội phương Đông cổ đại là:

- Ngành kinh tế quan trọng nhất là nông nghiệp

Trang 4

- Tư liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp là ruộng đất, nhưng ở đây đại bộ phận ruộng đất thuộc quyần sỡ hữu của nhà nước

- Trong xã hội tuy cũng tồn tại giai cấp nô lệ, nhưng giai cấp đông đảo nhất là nông dân và nông dân là giai cấp giữ vai trò quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động sản xuất Hình thức bóc lột chủ yếu là thuế do nông dân nộp cho nhà nước

2 Về mặt thời gian, lịch sử Hy Lạp và La Mã cổ đại bắt đầu từ khi nhà nước ra đời đến năm 476 tức là năm đế quốc Tây La Mã diệt vong Sự kiện đó vừa đánh dấu chế độ chiếm nô chấm dứt vừa đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn lịch sử cổ đại ở phương Tây để chuyễn sang giai đoạn trung đại

Cò ở phương Đông, do phương thức sản xuất thời cổ đại và thời trung đại không khác nhau nhiều lắm nên không những không thể tìm một mốc lịch sử chung đánh dấu sự kết thúc thời cổ đại cho cả phương Đông mà tìm những mốc riêng cho từng nước cũng chỉ là một việc làm có tính chất quy ước Ví dụ

Khi nhận định về đặc điểm đó của xã hội Aán Độ Mác nói:

“ Dù những thay đổi về chính trị trong qúa khứ của Aán Độ có lớn lao đến như thế nào chăng nưã thì những điều kiện xã hội của Ấn Độ vẫn không hề thay đổi từ thời cổ đại hết sức xa xôi cho đến mười năm đầu tiên của thế kỷ XIX” ( 1 )

Như vậy dù hiện nay các học giả đều lấy năm 320 là năm vương triều Gupta thành lập làm mốc kết thúc lịch sử Aán Độ cổ đại, nhưng đó cũng chỉ là một quy ước chứ không phải trong giai đoạn trước và sau năm

320 ở Aán Độ có sự khác nhau rõ rệt về tình hình xã hội

*

* * Đây chỉ là bản tóm tắt Lịch sử thế giới cổ đại Bản tóm tắt này chỉ mới giới thiệu khái quát nội dung chủ yếu của thời kỳ lịch sử này, đồng thời chỉ mới nêu ra những vấn đề chính trong từng bài từng mục

Vì vậy, để nắm được tương đối rõ nội dung của phần lịch sử này, sau khi đọc các bài trong bảng tóm tắt, học viên phải đọc thêm quyển “Lịch sử Thế giới cổ đại” của các tác giả Lương Ninh (chủ biên) Đinh Ngọc Bảo, Đặng Quang Minh, Nguyễn Gia Phu, Nghiêm Đình Vỹ do Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản

1 C.Mác và Ph Aêngghen Toàn tập Tập 9.NXB Chính Trị Quốc Gia Sự Thật Hà Nội.1993 Trang 174

Trang 5

Phần I XÃHỘI NGUYÊN THỦY

Xã hội nguyên thủy là giai đoạn đầu tiên trong qúa trình phát triển của lịch sử loài người Giai đoạn này bắt đầu từ khi loài người xuất hiện cho đến khi nhà nước ra đời, dài hàng triệu năm

Xã hội nguyên thủy chia làm hai thời kỳ lớn là thời kỳ bầy người nguyên thủy và thời kỳ công xã thị tộc

I Bầy người nguyên thủy

1 Nguồn gốc loài người

Từ rất sớm, người ta đã muốn tìm hiểu về nguồn gốc của loài người nhưng vì chưa có ánh sáng khoa học dọi vào nên chưa giải thích được một cách đúng đắn

Đến thế kỷ XIX, nhà sinh vật học người Anh tên là Đác-uyn mới giải quyết được vấn đề đó Trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (1859) và

“Nguồn gốc loài người và sự chọn lọc giới tính” (1871), Đác-uyn đã nêu ra rằng loài người bắt nguồn từ một giống vượn hình người gọi là Vượn người Từ đó đến nay, giới khảo cổ học của nhiều nước đã phát hiện được xương hoá thạch của loài vượn người này ở nhiều nơi trên thế giới như ở Aùo, Aán Độ, Châu Phi…

2 Tác dụng của lao động trong việc chuyển biến từ vượn thành người

Nhờ lao động, các bộ phận của vượn người dần dần phát triển, do đó vượn người đã biến thành người Cụ thể là:

- Trước hết, hai tay ngày càng phát triển Tay không còn dùng để đi nữa mà dùng để lao động

- Thứ hai, trong qúa trình lao động, họng và thanh đới ngày càng phát triển Hơn nữa, trong qúa trình lao động tập thể, họ cần phải truyền tín hiệu cho nhau, do đó tiếng nói đã sinh ra

- Thứ ba, do lao động bộ óc của vượn ngày càng phát triển

3 Qúa trình tiến triển của loài người

Sau khi thoát khỏi giới động vật, trong qúa trình tiến triển, loài người đã trải qua các chặng đường sau đây :

- Người vượn: Đến nay giới khảo cổ học đã phát hiện được xương hóa thạch của người vượn ở nhiều nơi như Giava (Inđônêxia), Trung quốc, Châu Phi Ở Việt nam, tại hang Thẩm Khuyến, và Thẩm Hai ở Lạng Sơn cũng tìm thấy răng của người vượn Những xương hóa thạch của những người vượn đã phát hiện được có niên đại từ khoảng 40 vạn năm đến 4 triệu

Trang 6

Người vượn về mặt cơ thể còn giữ lại nhiều dấu vết của vượn

- Người cổ: Xương hóa thạch của loại người này tìm thấy lần đầu tiên vào năm 1856 tại hang Nêanđéctan ở Đức Người Nêanđéctan đã biết cách đập đá lấy lửa, từ đó loài người mới biết ăn thức ăn chín, do đó sinh lý người thay đổi và cơ thể người cũng hoàn thiện hơn một bước Tuy vậy người cổ vẫn chưa loại bỏ hết dấu vết của vượn Người Nêanđéctan có niên đại cách đây khoảng 10 vạn năm Ngoài Đức, người ta còn tìm thấy ở nhiều nơi khác như Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Trung Á, Trung quốc v.v…

- Người hiện đại: Đến khỏang 4 vạn năm trước đây, loài người mới hoàn toàn biến thành người hiện đại, còn gọi là người tinh khôn Xương hoá thạch của người tinh khôn tìm được ở nhiều nơi như Châu Âu, Châu Phi, Trung Á, Trung quốc…,trong đó người Crô-Manhông (Cro-Magnon) tìm thấy ở Pháp năm 1865 được coi là tiêu biểu

Cùng với sự hình thành người hiện đại, ba chủng tộc vàng, trắng, đen cũng xuất hiện

4 Đời sống của bầy người nguyên thủy

Trong qúa trình hình thành loài người, con người đã biết dùng công cụ đá thô sơ để lao động Về khảo cổ học thời kỳ này gọi là thời kỳ đồ đá cũ

Họ sống bằng những thức ăn nhặt được trong thiên nhiên Hình thức kinh tế ấy gọi là kinh tế hái lượm

Họ sống thành từng đàn trong các hang núi, nhưng chưa có những quy định về tổ chức xã hội, vì vậy những tập thể người ấy được gọi là bầy người nguyên thủy

Về quan hệ hôn nhân, nhiều người cho rằng lúc đầu chỉ có quan hệ tap giao, về sau thì có sự phân biệt theo lứa tuổi Tuy vậy có một số người qua việc quan sát đời sống của một số nhóm động vật cấp cao đã phản đối thuyết đó

II Công xã thị tộc

Từ khi người hiện đại xuất hiện thì xã hội loài người cũng bước vào giai đoạn có tổ chức Cơ sở của tổ chức ấy là cùng chung dòng máu, vì vậy những tổ chức xã hội đầu tiên ấy gọi là những công xã thị tộc

Công xã thị tộc trải qua hai giai đoạn phát triển: Thị tộc mẫu hệ và thị tộc phụ hệ

Trang 7

1 Thị tộc mẫu hệ

a Sự phát triển của sức sản xuất

Đồ đá là loại công cụ đầu tiên của loài người Trong qúa trình lao động, tuy chậm chạp, nhưng đồ đá cũng được cải tiến Căn cứ theo đặc điểm chế tác, đồ đá chia làm ba thời kỳ:

Đồ đá cũ

Đồ đá giữa

Đồ đá mới

Đồ đá cũ là đồ đá chưa được gia công, về thời gian của các thời kỳ này ở các nơi trên thế giới không đồng đều, nhưng đại thể là đến khoảng 14.000 năm trước công nguyên thì thời kỳ đồ đá cũ kết thúc

Đồ đá giữa (từ khoảng 14.000 – 8000 TCN) còn gọi là đồ đá nhỏ Đặc điểm của loại đồ đá này là có nhiều hình dạng, về cơ bản cũng chưa được gia công

Trong thời kỳ này, loài người có một số phát minh quan trọng:

b Tổ chức thị tộc mẫu hệ

Vào thời hậu kỳ đồ đá cũ, công xã thị tộc bắt đầu ra đời Trong điều kiện kinh tế lúc bấy giờ, vai trò người phụ nữ rất quan trọng, vì vậy khi xã hội thoát khỏi tình trạng bầy người nguyên thủy thì tế bào của xã hội có tổ chức đầu tiên là các thị tộc mẫu hệ

Hơn nữa, về quan hệ hôn nhân, nhiều người cho rằng, trong thời kỳ này đã tồn tại chế độ quần hôn tức một nhóm nữ thanh niên của thị tộc này kết hôn với một nhóm nam thanh niên của thị tộc kia Do vậy, con cái sinh

ra chỉ biết mẹ mà không biết cha, cho nên phải lấy theo họ mẹ

Trang 8

Trong thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ, mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt đều là của chung Do chưa có của riêng nên chưa có giai cấp, mọi người đều bình đẳng

Tuy người đứng đầu thị tộc là một phụ nữ, nhưng nam nữ đều bình đẳng và đều được tham dự đại hội toàn thị tộc

Dần dần do số người trong thị tộc tăng lên, thị tộc được chia thành hai

ba thị tộc mới Những thị tộc mới này vẫn giữ quan hệ với nhau và lập thành một tổ chức gọi là bào tộc Khi các thị tộc mới này qúa đông thì mỗi thị tộc lại trở thành một bào tộc mới Bào tộc cũ giờ đây trở thành bộ lạc Do những quyền lợi chung, nhiều bộ lạc gần nhau thường tổ chức thành liên minh bộ lạc

2 Thị tộc phụ hệ

a Sự phát triển của sức sản xuất

Vào khoảng 4000 TCN, đồ kim loại bắt đầu ra đời

Thời đại kim loại chia làm hai thời kỳ: đồ đồng và đồ sắt

Thời kỳ đồ đồng lại chia làm hai thời kỳ nhỏ: Thời kỳ đồng đá (thời kỳ đồng đỏ) và thời kỳ đồng thau Đồng thau tức là loại đồng pha thiếc, so với đồng đỏ có hai ưu điểm là cứng và độ nóng chảy thấp (700 – 900o )

Thời kỳ đồ sắt ra đời sớm nhất vào khoảng cuối thiên kỷ II TCN ở vùng Tây Á, Ai Cập

Sự tiến bộ về công cụ sản xuất đã làm cho các ngành nghề càng phát triển.đặc biệt là, trước kia, trong nông nghiệp chỉ mới dùng cuốc nên thích hợp với sức khỏe của phụ nữ, giờ đây chuyễn sang dùng cày do súc vật kéo, việc đó chỉ có đàn ông khỏe mạnh mới đảm nhiệm được Đồng thời nghề chăn nuôi các đàn gia súc lớn như cừu, bò, ngựa… cũng phát triển Đây cũng là một công việc đòi hỏi sức khỏe và sự dũng cảm

b Sự phân công lao động xã hội

Đến thời kỳ này, do sự phát triển của các ngành kinh tế, trong xã hội diễn ra ba lần phân công lao động lớn:

- Lần phân công lao động lớn thứ nhất là việc nghề chăn nuôi tách khỏi nghề nông

- Lần phân công lao động lớn thứ hai là thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp

- Lần phân công lao động lớn thứ ba là sự ra đời của thương nghiệp

Trang 9

c Công xã thị tộc phụ hệ

Do sự thay đổi trong đới sống kinh tế, giờ đây vai trò của phụ nữ trở thành thứ yếu, trái lại vai trò của đàn ông trong lao động sản xuất trở nên quan trọng nhất Chính vì thế chế độ mẫu quyền phải nhường chỗ cho chế độ phụ quyền

Đến đây,trong quan hệ hôn nhân cũng có sự thay đổi lớn Vào cuối thời công xã thị tộc mẫu hệ đã xuất hiện một hình thức hôn nhân gọi là hôn nhân đối ngẫu (hôn nhân từng cặp), trong đó chồng phải đến ở trong thị tộc của vợ Nay vợ phải sang ở bên nhà chồng và con cái sinh ra được tính theo họ cha Như vậy các gia đình phụ quyền đã xuất hiện Nhiều gia đình họp thành gia tộc, nhiều gia tộc họp thành thị tộc Đứng đầu thị tộc phụ hệ là một tộc trưởng nam giới Trong thị tộc phụ hệ, mọi sinh hoạt dân chủ vẫn được duy trì, nhưng trong các cuộc họp ấy chỉ có đàn ông được tham gia mà thôi

Thời kỳ thị tộc phụ hệ là thời kỳ tan rã của công xã nguyên thủy Trong thời kỳ này đã xuất hiện một số hiện tượng mới sau đây:

- Chế độ của riêng: Do nông nghiệp và chăn nuôi phát triển, người ta có khả năng sản xuất được nhiều tư liệu hơn so với số tư liệu cần thiết cho đời sống của họ Vì vậy trong xã hội đã có một số của cải dư thừa Ngoài ra, các chiến lợi phẩm thu được trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc càng làm tăng thêm số của cải dư thừa ấy Những của cải dư thừa thường thuộc những người đứng đầu các gia tộc, thị tộc và bộ lạc

- Nô lệ ra đời: Trước đây, tù binh bắt được trong các cuộc chiến tranh hoặc bị giết chết hoặc biến thành thành viên của thị tộc Giờ đây, do sức lao động của con người có khả năng sản xuất được nhiều hơn so với số tư liệu cần thiết cho đời sống của họ, vì vậy người ta đã biến tù binh thành nô lệ để làm việc cho những người đứng đầu thị tộc bộ lạc Như vậy, trong xã hội đã xuất hiện kẻ giàu người nghèo và đồng thời có sự phân biệt giữa người tự

do và nô lệ

- Công xã nông thôn xuất hiện: Do sự ra đời của các gia đình cá thể,

do sự phát triển của hiện tượng phân hóa giàu nghèo, do sự di cư của những gia đình nghèo khổ, công xã thị tộc được ràng buộc bằng quan hệ máu mủ tan rã Những gia đình cùng ở trên một khu vực đất đai do nhu cầu phải hợp tác với nhau để chinh phục thiên nhiên đã lập thành những công xã nông thôn

Công xã nông thôn khác công xã thị tộc ở hai điểm chủ yếu:

+ Cơ sở của công xã nông thôn là khu vực đất đai chứ không phải là

Trang 10

+ Có hai hình thức sở hữu tài sản là sở hữu chung và sở hữu riêng, trong đó đất đai là của chung Ruộng đất canh tác do công xã định kỳ phân chia cho các gia đình nông dân cày cấy Ngoài đất đai gồm ruộng đất canh tác, bãi cỏ, rừng núi ao hồ ra, những tài sản còn lại như vườn tược nhà cửa, thu hoạch trên các phần đất được chia v.v… đều thuộc quyền sở hữu riêng của nông dân công xã

Như vậy, công xã nông thôn là công xã cuối cùng của xã hội nguyên thủy, là thời kỳ qúa đo ätừ che áđộ công hữu sang chế độ tư hữu, đồng thời là hình thức qúa độ từ xã hội nguyên thủy sang xã hội có giai cấp

-Chế độ dân chủ quân sự xuất hiện: Đến giai đoạn cuối của xã hội thị tộc, các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc thường xẩy ra Để chỉ huy các cuộc chiến tranh ấy, các bộ lạc thường cử một người làm thủ lĩnh quân sự Tuy rằng thủ lĩnh quân sự đã trở thành một nhân vật có nhiều quyền hành, nhưng đồng thời các hình thức sinh hoạt dân chủ như đại hội nhân dân vẫn được duy trì Do thời kỳ này vừa có thủ lĩnh quân sự vừa duy trì sinh hoạt dân chủ nên chế độ ấy gọi là chế độ dân chủ quân sự

Chế độ dân chủ quân sự chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ở một số nơi trên thế giới mà thôi Tuy vậy chế độ dân chủ quân sự cũng là một hình thức qúa độ sang xã hội có nhà nước

Đến cuối thiên kỷ IV đầu thiên kỷ III TCN, do sự phát triển của hiện tượng phân hóa giai cấp, ở một số nơi như Ai Cập, Tây Á, Aán Độ, Đông Nam Âu, nhà nước đã ra đời Tại những nơi ấy, xã hội nguyên thủy đến đây đã kết thúc

III Văn hóa nguyên thủy

Trong giai đoạn nguyên thủy, loài người đã tích lũy được một số kiến thức về các mặt như y dược, số học, sinh học… và cũng đạt được một số thành tựu về văn học nghệ thuật, nhưng những thành tựu phong phú nhất là về mặt tôn giáo và nghệ thuật

1 Tôn giáo

Biểu hiện của quan niệm tôn giáo của người nguyên thủy gồm các mặt sau đây:

a Tô tem giáo:

Người nguyên thủy thường có quan niệm rằng người và một loại động vật hay thực vật nào đó vốn có quan hệ họ hàng với nhau, vật đó cùng sinh ra đồng thời với thị tộc Vật đó được gọi là vật tổ (tô tem) Người mới sinh ra tức là do vật tổ nhập vào thân thể của bà mẹ rồi sinh ra, người chết thì lại biến thành vật tổ Thị tộc thờ vật tổ nào thì kiêng giết hại hoạc ăn thịt

Trang 11

động vật ấy Về sau có một số động vật người ta chỉ kiêng ăn một bộ phận nào đó như đầu, gan… mà thôi

b Thờ linh hồn người chết:

Người nguyên thủy tin rằng con người có linh hồn, do đó sau khi chết, con người sẽ sống ở một thế giới khác Xuất phát từ quan niệm ấy, người nguyên thủy đã đặt ra nhiều nghi lễ trong việc mai táng, đồng thời còn chôn theo người chết nhiều đồ dùng hàng ngày

c Thờ các vật tự nhiên:

Xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, người nguyên thủy thờ nhiều thứ như mặt trời, nước, lửa, đá v.v… trong đó đặc biệt nhất là thờ các tảng đá lớn Ngày nay ở nhiều nơi vẫn còn những tảng đá xếp thành vòng tròn hoặc xếp thành hàng dài Ví dụ ở Pháp có một bãi đá gồm 2813 tảng đá lớn xếp thành 13 hàng dài, trong đó tảng đá lớn nhất cao 20 m, nặng 300 tấn Ngoài ra còn có những bàn đá hoặc nhà nhỏ làm bằng đá

Đến cuối thời nguyên thủy, nội dung và hình thức của tôn giáo càng phức tạp, qủy thần càng nhiều,do đó tầng lớp thầy cúng đã ra đời

2 Nghệ thuật:

Nghệ thuật thời nguyên thủy được bảøo tồn đến ngày nay gồm những tác phẩm thuộc hai lĩnh vực hội họa và điêu khắc Trên váchcác hang đá ở nhiều nơi nay còn giữ lại nhiều bức tranh khá sinh động vẽ các con vật, cảnh săn bắn, cảnh chiến tranh v.v…

Về điêu khắc, đề tài chủ yếu là các động vật và phụ nữ

*

* *

Đặc điểm của xã hội công xã nguyên thủy:

1 Quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, do đó sản phẩm làm ra cũng là của chung Bởi vậy thời kỳ này chưa có giai cấp, chưa có hiện tượng áp bức bóc lột, chưa có nhà nước

2 Lực lượng sản xuất của thời kỳ này còn rất thấp kém, đời sống của con người hết sức gian khổ, xã hội phát triển rất chậm chạp

Nội dung ôn tập

1/ Qúa trình hình thành loài người

2/ Tình hình công xã thị tộc mẫu hệ và thị tộc phụ hệ (chú ý những đặc đểm chính của công xã thị tộc và sự khác nhau giữa công xã thị tộc và công xã nông thôn)

Trang 12

Phần II L ỊCH SỬ PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI

Bài 1 Ai Cập cổ đại

I Địa lý và cư dân

Ai cập ở vùng Đông bắc Châu Phi, nằm dọc theo vùng hạ lưu của lưu vực sông Nin Sông Nin bắt nguồn từ vùng xích đạo của Châu Phi, dài 6700

Km, nhưng phần chảy qua Ai Cập chỉ dài 700 km Miền đất đai do sông Nin bồi đắp chỉ rộng từ 15-25 km, ở phí Bắc có nơi rộng đến 50 km vì ở đây sông Nin chia làm nhiều nhánh trước khi đổ ra biển

Hàng năm, từ tháng 6 đến tháng 11,nước sông Nin dâng cao đem theo một lượng phù sa rất phong bồi đắp cho vùng đồng bằng hai bên bờ ngày càng thêm màu mỡ Chính vì vậy nền kinh tế ở đây phát triển sớm tạo điều kiện cho Ai Cập có thể bước vào xã hội văn minh sớm nhất thế giới

Tuy vậy, về mặt địa hình, Ai Cập là một nước tương đối bị đóng kín: Phía Bắc giáp Địa Trung Hải, phía Đông giáp biển Đỏ, phiá Tây giáp sa mạc Xahara, phía Nam giáp một vùng núi hiểm trở khó qua lại của Nubi Chỉ có ở Đông Bắc, vùng kênh đào Xuyê sau này, người Ai Cập cổ đại mới có thể qua lại với vùng Tây Á

Ai Cập chia làm hai miền rõ rệt theo dòng chảy của sông Nin từ Nam lên Bắc: miền Thượng Ai Cập (miền Nam) là một dải lưu vực hẹp; miền Hạ

Ai Cập (miền Bắc) là một đồng bằng hình tam giác

Cư dân Ai Cập thời cổ đại là người Libi, người da đen và có thể có cả người Xêmít di cư từ châu Á tới nữa

II Các thời kỳ lịch sử của Ai Cập cổ đại

Theo Manêtông (Manéthon), một thầy tu kiêm sử gia Ai Cập sống vào thế kỷ III TCN, tác giả quyển “Lịch sử Ai Cập” nay đã thất truyền thì lịch sử Ai Cập cổ đại bao gồm 31 vương triều Trên cơ sở ấy, người ta chia lịch sử Ai Cập từ cuối thiên kỷ IV TCN đến cuối thiên kỷ I TCN thành 5 thời kỳ:

- Thời kỳ Tảo vương quốc (3200 – 3000 TCN) ( 1 )

- Thời kỳ Cổ vương quốc (3000 – 2200 TCN)

- Thời kỳ Trung vương quốc (2200 – 1570 TCN)

1 Về niên đại các thời kỳ lịch sử Ai Cập cổ đại, các tài liệu đưa ra những con số khác nhau, vì vậy những con số này

Trang 13

- Thời Hậu kỳ vương quốc (1090 – 332 TCN)

1 Thời kỳ Tảo Vương quốc

Cư dân đầu tiên ở Ai Cập cũng sống trong xã hội nguyên thủy Đến thiên kỷ thứ IV TCN, công xã thị tộc tan rã, công xã nông thôn xuất hiện Dần dần các công xã nông thôn liên hợp lại thành các châu Đó là những nhà nước đầu tiên ở Ai Cập Tiếp đó các châu lại liên hợp với nhau và hình thành hai miền gọi là Thượng Ai Cập và Hạ Ai Cập Đến cuối thế kỷ IV TCN, hai miền đã đấu tranh với nhau, kết qủa là Thượng Ai Cập đã thống nhất được Hạ Ai Cập

Sau khi thống nhất, lịch sử Ai Cập bước vào một thời kỳ gọi là Tảo

vương quốc gồm hai vương triều là Vương triều I và Vương triều II

2 Thời kỳ Cổ Vương quốc

Thời kỳ Cổ vương quốc bao gồm 8 vương triều từ vương triều III đến vương triều X Đây là thời kỳ lịch sử Ai Cập có một bước phát triển quan trọng Chính sự phát triển về kinh tế và sự tăng cường quyền lực của chính phủ trung ương đã cho phép các Pharaông (vua) thuộc các vương triều III và vương triều IV có` thể huy động sức người sức của để xây cho mình những Kim tự tháp nổi tiếng trong lịch sử Trước kia kinh đô của Ai Cập đóng ở Abiđốt nhưng bắt đầu từ vương triều III thì chuyển đến Memphít

Sự thống nhất hùng mạnh của Ai Cập chỉ duy trì được trong hai vương triều III và IV, tiếp đó Ai Cập bước vào thời kỳ hỗn loạn kéo dài trong

nhiều thế kỷ

3 Thời kỳ Trung Vương quốc

Sau một thời gian chia cắt, ở miền Bắc và miền Nam đã hình thành hai trung tâm của việc thống nhất đất nước là Hêraclêôpôlít và Tebơ (Thèbes) đến khỏang năm 2200 TCN, một lần nữa, miền Nam lại thống nhất được cả nước Vua Mentuhôtép của Tebơ trở thành vua của cả Ai Cập Vương triều XI bắt đầu được thành lập Thời kỳ Trung Vương quốc gồm 7 vương triều (từ vương triều XI đến vương triề XVII), nhưng trong đó thời kỳ ổn định nhất là dưới thời thống trị của vương triều XI và vương triề XII

Sau đó, thời Trung vương quốc có hai sự kiện nổi bật, đó là cuộc khởi nghĩa của dân ngèo và sự thống trị miền bắc Ai Cập của người Hích Xốt

- Đến năm 1750 TCN, do chính sách áp bức bóc lột tàn bạo của giai cấp thống trị, nhân dân ở kinh đô đã nổi dậy khởi nghĩa Quần chúng khởi nghĩa trước hết đến bắt vua, lật đổ chính quyền trung ương Cả bộ máy thống trị cũ bị sụp đổ, tất cả những người trong cung bị đuổi khỏi cung đình Ngay sau đó, quần chúng khởi nghĩa thành lập chính quyền mới, tự qủan lý

Trang 14

nghĩa này không tránh khỏi bị thất bại, giai cấp thống trị lại khôi phục được chính quyền của mình

- Sau khi dẹp tắt được ngọn lửa đấu tranh của quần chúng nhân không lâu, Ai Cập bị người HíchXốt,một bộ tộc ở vùng Palextin xâm nhập Kết qủa là năm 1710 TCN, người HíchXốt chinh phục được miền Bắc Ai Cập, lập nên ở đây một vương triều ngoại tộc rồi lấy miền Bắc làm địa bàn để khống chế cả miền Nam Người Hích Xốt thống trị Ai Cập trong vòng

140 năm, đến năm 1570 mới bị đánh đuổi

4 Thời kỳ Tân vương quốc

Thời kỳ Tân vương quốc bao gồm 3 vương triều từ vương triều XVIII đến vương triều XX

Chính sách thống trị của người Hích xốt làm cho nhân dân Ai Cập hết sức căm phẫn, vì vậy họ không ngừng nổi dậy đấu tranh Đến năm 1570, vua Aùtmét (Ahmès) ở miền Nam đã lãnh đạo nhân dân Ai Cập đánh đuổi được người Hích Xốt khôi phục nền độc lập và thống nhất cho đất nước Atmét là người sáng lập vương triều XVIII, từ đó lịch sử Ai Cập bước vào thời kỳ Tân vương quốc

Từ đây, Ai Cập trở thành một nước hùng mạnh Trên cơ sở ấy, Atmét và những người kế thừa ông đã thi hành chính sách xâm lược bên ngoài, do đó đã biến Ai Cập thành một đế quốc có lãnh thổ bao gồm Libi, Nubi ở Châu Phi và Xiri, Phênixi, Palextin ở Châu Á

Đến cuối thời vương triều XVIII, ở Ai Cập có một sự kiện quan trọng, đó là cuộc cải cách tôn giáo của Íchnatôn

Nguyên nhân của cuộc cải cách tôn giáo này là sau các cuộc chiến tranh thắng lợi, các Pharaông Ai Cập thường ban cấp nhiều của cải cho các đền thờ thần mặt trời Amôn, do đó đã làm cho thế lực của tầng lớp tăng lữ (những người hành nghề tôn giáo) đền thờ thần Amôn nhất là các tăng lữ ở kinh đô Tebơ mạnh hẳn lên Dựa vào thế lực kinh tế và uy lực tôn giáo, tầng lớp tăng lữ trở nên có vai trò quan trọng về chính trị, có thể cử người của mình làm Tể tướng, biến vua thành bù nhìn

Vì vậy, đến đầu thế kỷ XIV TCN, vua Amenhôtép IV đã tiến hành một cuộc cải cách nhằm làm yếu thế lực của tầng lớp tăng lữ đền thờ thần Amôn, lịch sử gọi là cuộc cải cách tôn giáo Íchnatôn

Để thực hiện mục đích của mình, Amenhôtép IV chủ trương thờ một thần mặt trời khác gọi là thần Atôn, cấm thờ cúng tất cả các thần khác Ông còn sai thợ đá đi xóa tên các thần khắc trên tường nhất là tên thần Amôn Bản thân ông cũng không dùng hiệu Amenhôtép nữa vì có mang tên thần Amôn mà đổi thành Íchnatôn nghĩa là “Người hầu của thần Atôn” Hơn nữa

Trang 15

Amenhôtép IV (Íchnatôn) còn bỏ kinh đô Tebơ, nơi thế lực tầng lớp tăng lữ thờ thần Amôn rất mạnh, xây dựng một kinh đô mới và đặt tên là Akhêtatôn có nghĩa là “Chân trời của thần Atôn”

Như vậy, về hình thức, cuộc cải cách của Amenhôtép IV là một cuộc cải cách tôn giáo, nhưng thực chất đó là một cuộc đấu tranh chính trị nhằm tăng cường quyền lực của vua và chính phủ trung ương

Những biện pháp cải cách của Amenhôtép IV chỉ được thực hiện trong thời gian trị vì của ông Sau khi ông chết, các vua nối ngôi dần dần xóa bỏ các nội dung cải cách, thậm chí thành Akhêtatôn cũng bị phá hủy

Trong khi đó, vùng Xiri, Palextin thuộc Ai Cập đang bị người Hítít, tấn công Cư dân ở đây liên minh với người Híttít để chống lại Ai Cập

Đến vương triều XX, chính quyền trung ương càng suy yếu, xu hướng chia cắt đất nước ngày càng gia tăng Đến khoảng năm 1090 TCN, thời kỳ Tân vương quốc kết thúc

5 Thời Hậu kỳ vương quốc

Từ vương triều XXI trở đi là thời Hậu kỳ vương quốc trong lịch sử Ai Cập Từ đây Ai Cập luôn bị chia cát trầm trọng, do vậy đã thành nơi thống trị của các thế lực bên ngoài

Vào giữa thế kỷ X TCN, một thủ lĩnh quân đội đánh thuê Libi đã dành được ngôi Pharaông lập ra một vương triều ngoại tộc

Đến thế kỷ VIII TCN, người Nubi ở phía Nam đã tấn công Ai Cập lật đổ vương triều của người Libi và thành lập một vương triều ngoại tộc mới vào năm 726 TCN Đó là vương triều XXV

- Năm 671 TCN, Ai Cập lại bị Aùtxiri thống trị

- Năm 654 TCN, một qúy tộc ở miền Bắc đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi được người Aùtxiri lập nên vương triều XXVI (654 – 525 TCN)

- Năm 525 TCN, Ai Cập bị BaTư xâm lược và thống trị (525 – 332 TCN)

- Năm 332 TCN, Ai Cập bị Alếchxăng Makêđônia chinh phục Sau khi Alếchxăng chết, Ai Cập thuộc quyền thống trị của tướng Ptôlêmê và tiếp đó là vương triều Ptôlêmê cho đến năm 30 TCN thì bị nhập vào đế quốc LaMã

III Tình hình kinh tế xã hội và bộ máy nhà nước

1 Các ngành kinh tế

a Công cụ sản xuất:

Trang 16

Thời Cổ vương quốc chỉ mới biết dùng đồng đỏ Thời Trung vương quốc đã dùng đồng pha thiếc nhưng tỉ lệ thiếc qúa cao nên chưa gọi là đồng thau, đồng thời đồng đỏ vẫn giữ vai trò chủ yếu

Đến thời Tân vương quốc, đồng thau mới được sử dụng rông rãi, về sau, sắt đã bắt đầu xuất hiện nhưng sắt còn rất hiếm nên được coi là một kim loại qúy

- Thủy lợi có vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp của nước này, vì vậy nhà nước rất quan tâm đến việc xây dựng các công trình thủy lợi Đến thời Tân vương quốc, việc tưới nước do quan Tể tướng quản lý

- Tuy công cụ còn thô sơ nhưng nhờ đất đai màu mỡ lại biết chú ý đến thủy lợi nên nền nông nghiệp của Ai Cập đã khá phát triển Từ thời Cổ vương quốc, Ai Cập đã biết trồng nhiều loại cây như lúa mì, đại mạch, đậu, rau, ôliu v.v…

c Thủ công nghiệp

Ai Cập có nhiều kim loại qúy như vàng, đồng, chì, kền… và nhiều loại đá trong đó có nhiều loại đá qúy như mã não, bích ngọc v.v… Đó là những nguyên liệu giúp cho các nghề thủ công như nghề luyện kim, nghề kim hoàn,nghề chế tác đá.v.v… phát triển

Ngoài ra, từ sớm Ai Cập còn có các nghề khác như nghề làm đồ gốm, nghề dệt, nghề thuộc da, nghề làm đồ thủy tinh Đến thời Tân vương quốc, người Ai Cập đã chế tạo được thủy tinh màu và đồ sứ

d Thương nghiệp

- Từ thời Cổ vương quốc đã có trao đổi nhưng chỉ mới tiến hành dưới hình thức lấy vật đổi vật Tuy vậy từ thời kỳ này đã có quan hệ trao đổi với nước Pun ở phía Nam và với Xiri ở phía Bắc

- Thời Trung và Tân vương quốc, thương nghiệp càng phát triển nhất là việc buôn bán với bên ngoài Hàng hóa qúy được đưa về Ai Cập ngày càng nhiều Thời kỳ này vàng và bạc được dùng làm vật môi giới trong việc trao đổi

Trang 17

Phần ruộng đất do vua và quan lại quản lý được tổ chức thành các nông trang

- Cuối thời Cổ vương quốc, một số công xã nông thôn tan rã Ruộng

tư bắt đầu xuất hiện

- Thời Trung và Tân vương quốc, công xã nông thôn càng tan rã nhiều, ruộng tư càng ngày càng phát triển Tuy vậy, quyền sở hữu tối cao về ruộng đất vẫn thuộc về nhà nước tức là thuộc về vua

3 Quan hệ giai cấp

Trong xã hội Ai Cập cổ đại có các giai cấp và tầng lớp sau đây:

a Giai cấp bóc lột:

Giai cấp này gồm hai bộ phận chính là vua quan và tăng lữ Tư liệu sản xuất chủ yếu của họ là ruộng đất mà nguồn ruộng đất chủ yếu là do nhà nước ban tặng

Để quản lý và canh tác ruộng đất của mình, các quan lại và các đền miếu tổ chức thành những nông trang rồi thuê nông dân nông trang sản xuất để thu hoạch toàn bộ hoặc giao đất cho nông dân nông trang cày cấy rồi thu địa tô

Ngoài ruộng đất, giai cấp này còn có rất nhiều nô lệ Một bộ phận nô lệ cũng có tham gia sản xuất nhưng phần lớn nô lệ bị sử dụng vào việc hầu hạ

b Giai cấp nông dân

Giai cấp nông dân là giai cấp đông đảo nhất và là giai cấp giữ vai trò quan trọng nhất trong đời sống kinh tế xã hội Do quyền sở hữu và quyền sử dụng ruộng đất có nhiều loại khác nhau nên giai cấp nông dân ở Ai Cập cổ đại bao gồm ba loại: nông dân công xã, nông dân nông trang và nông dân tự canh

Cùng với sự phát triển của lịch sử, tỷ lệ giữa ba loại nông dân đó tuy có thay đổi nhưng nói chung nông dân công xã là thành phần đông đảo nhất

Trang 18

Họ cày cấy ruộng đất của công xã chia cho nhưng họ là dân tự do và được gọi là “thần dân của Vua”

Nông dân tự canh là loại nông dân có một ít ruộng đất riêng Loại này đã xuất hiện từ thời Cổ vương quốc Về số lượng, loại này chiếm tỷ lệ rất nhỏ

Nông dân nông trang là loại nông dân không có ruộng đất Họ phải canh tác ruộng đất trong các nông trang của vua, quan, đền miếu

Nông dân công xã và nông dân tự canh có nghĩa vụ phải nộp thuế, đi phu và đi lính cho nhà nước, còn nông dân nông trang thì hoặc là làm việc rồi được nhận thù lao, hoặc là được giao cho một mảnh đất để canh tác rồi phải nộp địa tô

c Giai cấp nô lệ

Giai cấp nô lệ ở Ai Cập cổ đại tương đối đông Nguồn nô lệ chính là tù binh, những người bản xứ bị nô dịch và những người do các nước lệ thuộc cống nạp

Nô lệ thuộc quyền sở hữu của nhà nước, của vua, của qúy tộc quan lại, của đền miếu, của tăng lữ Ngoài ra, một số binh lính, thợ thủ công, nông dân khá giả cũng có nô lệ

Nô lệ phần lớn bị sử dụng vào những công việc phi sản xuất như hầu hạ chủ, làm các công việc trong nhà, xây dựng các công trình kiến trúc v.v… Có một số nô lệ cũng bị sử dụng vào việc sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, nói chung vai trò của giai cấp nô lệ trong nền kinh tế của Ai Cập cổ đại rất có hạn

4 Tầng lớp thợ thủ công:

Tầng lớp thợ thủ công ở Ai Cập cổ đại chia làm hai loại: Loại thợ thủ công làm việc trong các nông trang của quan lại và đền miếu, và loại thợ thủ công tự do

Loại thợ thủ công làm việc trong các nông trang bị quản lý rất chặt chẽ nên quyền tự do bị hạn chế

Loại thợ thủ công tự do phần lớn sống ở thành thị Họ làm các nghề như thợ giày, thợ mộc, thợ nề, thợ đá, thợ giặt, thợ cạo v.v… Nói chung họ phải làm việc rất vất vả nhưng đời sống rất khổ cực Tuy nhiên trong đó có một số ít có cuộc sống khá giả Đó là những thợ thủ công được làm việc cho nhà vua

Về tầng lớp buôn bán thì mãi đến thời Tân vương quốc mới xuất hiện, trong đó có một số chuyên bán các thứ như lương thực, bánh, rượu, thịt v.v… do các đền miếu giao cho Những người này đều bị lệ thuộc vào đền

Trang 19

miếu Ngoài ra còn có một số người buôn bán phục vụ cho tư nhân Nói chung tầng lớp buôn bán ở Ai Cập cổ đại chưa phát triển lắm

5 Bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước Ai Cập cổ đại được tổ chức theo chế độ quân chủ chuyên chế Đứng đầu bộ máy nhà nước ấy là vua được gọi là Pharaông có nghĩa là “cung điện” Pharaông là người có quyền lực vô cùng lớn, là người đứng đầu về chính trị và còn đứng đầu về tôn giáo Pharaông Ai Cập còn được thần thánh hóa, ví dụ vua sáng lập vương triều V được nói là con của một nữ tu sỹ với thần Ra Chính nhờ có uy quyền lớn như vậy nên nhiều Pharaông ở Ai Cập đã có thể xây cho mình những kim tự tháp nổi tiếng

Dưới vua là một bộ máy quan lại trung ương và địa phương mà người đứng đầu là Tể tướng Tể tướng có quyền quản lý các công việc về chính trị, tài chính, kinh tế Quan Tể tướng cũng là quan chánh án tối cao

Cấp hành chính địa phương dưới trung ương gọi là Châu Viên quan đứng đầu các Châu gọi là châu trưởng Chức quan này không những có quyền quản lý mọi công việc ở trong châu mà còn là người đứng đầu tôn giáo ở địa phương

Trang 20

Bài 2 LƯỠNG HÀ CỔ ĐẠI

I Địa lý và cư dân

Lưỡng Hà là miền nằm giữa hai sông: sông Tigrơ ở phía Đông và sông Ơphơrát ở phía Tây Cả hai sông này bắt nguồn từ miền rừng núi Acmêria chảy qua lãnh thổ nước Irắc ngày nay rồi đổ ra vịnh Ba Tư

Về mùa xuân, tuyết ở cao nguyên Acmêria tan làm nước hai sông Tigrơ và Ơphơrát dâng cao gây nên lũ lụt làm ngập cả một vùng rộng lớn Chính nhờ nước lụt, đất đai ở đây không ngừng được bồi đắp và trở nên màu mỡ Do lượng phù sa rất nhiều nên sau mấy nghìn năm bờ biển của vịnh Ba

Tư phải lùi xa gần 200 km Vì vậy, hai dòng sông Tigrơ và Ơphơrát vốn đổ

ra biển bằng hai cửa sông khác nhau đã nhập lại thành một dòng trước khi

ra biển

Về địa hình, Lưỡng Hà là một vùng mà khắp mọi phía không có núi non hiểm trở che chắn, vì vậy nơi này đã trở thành một địa bàn để nhiều tộc khác nhau đến thành lập quốc gia của mình

Cư dân xưa nhất ở Lưỡng Hà là người Xume Đến thiên niên kỷ III TCN, người Aùc cát thuộc tộc Xêmít cũng đến định cư ở Lưỡng Hà Cuối thiên kỷ III TCN một chi nhánh của người Xêmít là người Amôrít cũng tràn vào Lưỡng Hà Trong qúa trình ấy, các tộc này đã đồng hóa với nhau

II Các quốc gia ở Lưỡng Hà cổ đại

Từ khi bắt đầu xuất hiện nhà nước vào đầu thiên kỷ III TCN đến cuối thiên kỷ I TCN, ở Lưỡng Hà đã tồn tại các quốc gia sau đây:

1 Những thành bang của người Xume

Vào khoảng đầu thiên kỷ III TCN, ở miền Nam Lưỡng Hà, nơi cứ trú của người Xume, do sự phát triển cảu lực lượng sản xuất, do sự phân hóa giàu nghèo, đã xuất hiện nhiều nhà nước nhỏ lấy một thành thị làm trung tâm gọi là thành bang Người đứng đầu những thành bang ấy gọi là Patêxi (vua)

Giữa các thành bang ấy thường diễn ra những cuộc đấu tranh để dành đất đai và nguồn nước Đến giữa thiên kỷ III TCN, trong số các thành bang

ở miền Nam Lưỡng Hà nổi bật nhất Lagát Bằng nhiều cuộc chiến tranh liên tiếp, Lagát đã chinh phục được nhiều thành bang lân cận

Tuy vậy trong nội bộ Lagát, vì Patêxi chiếm đoạt tài sản của đền miếu và tăng cường áp bức bóc lột nhân dân nên đã diễn ra một cuộc đấu tranh do Urucaghina lãnh đạo Sau đó, Urucaghina được lên làm Patêxi

Trang 21

Urucaghina đã tiến hành một cuộc cải cách nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội, do đó Lagát càng hùng mạnh

Không lâu sau đó, Lagát bị thành bang Umma ở phía Bắc đánh bại Tiếp đó Umma còn chinh phục được nhiều thành bang khác và thống nhất toàn bộ miền Nam Lưỡng Hà

2 Aùccát thống nhất Lưỡng Hà

Thành bang Aùccát do người Xêmít thành lập ở phía bắc Xume Đến thời vua Xácgông (2369 – 2314 TCN), Aùccát trở htành một quốc gia hùnh mạnh Xácgông đã thi hành nhiều chính sách để phát triển kinh tế và lực lượng quân sự, Sau đó tấn công các thành bang ở phía Nam, chinh phục được vùng Xume và lần đầu tiên thống nhất được toàn bộ Lưỡng Hà

Tiếp đó Xácgông còn chiếm được các vùng xung quanh, lập thành một quốc gia lớn mạnh, Xácgông tự xưng là “vua của bốn phương”

Đến thời kỳ thốnh trị của Naramxin (2290 – 2254 TCN) Aùccát lại càng hùng mạnh Naramxin tiếp tục mở rộng lãnh thổ ra xung quanh và ngạo nghễ tự xưng là “Naramxin thần thánh, thần hùng cường của Aùccát”

Tuy vậy sau khi Naramxin chết, Aùccát bị suy yếu, toàn bộ Lưỡng Hà

bị người Guti chinh phục và thống trị trong một thời gian khá dài

3 Vương triều III của Ua (2132 – 2024 TCN)

Sau khi người Guti bị đánh đuổi, quyền thống trị ở Lưỡng Hà chuyển sang tay vương triều III của Ua, một thành bang cổ xưa của Xume Phạm vi thống trị của vương triều này cũng rất rộng

Ua đã ban bố một bộ luật mà ngày nay đã phát hiện được một số đoạn Đó là bộ luật cổ nhất trong lịch sử thấ giới

Như vậy, dưới thời vương triều III, Ua đã trở thành một nước lớn mạnh, nhưng đến cuối thế kỷ XXI TCN, Ua bị suy yếu và bị liên quân của Eâlam (một bộ tộc ở phía đông) và Mari (một thành bang ở phía bắc) đánh bại

4 Cổ Babilon

Babilon là một thành phố do người Amôrít (một chi nhánh của người Xêmít) thành lập ở miền trung Lưỡng Hà Trong thời kỳ đầu, Babilon còn tương đối yếu,nhưng đến nửa sau thế kỷ XVIII TCN, dưới thời vua Hammurabi (1792 – 1750 TCN), Babilon trở thành một quốc gia hùng mạnh nổi tiếng trong lịch sử Lưỡng Hà cổ đại

Hammurabi là một nhà chính trị rất khôn khéo, đã lần lượt đánh bại các thành bang xung quanh, thống nhất được hầu hết vùng Lưỡng Hà Trên

Trang 22

cơ sở đó Hammurabi đã xây dựng bộ máy nhà nước chuyên chế tập quyền trung ương

Đặc biệt Hammurabi đã ban hành bộ luật gọi là bộ luật Hammurabi Bộ luật này khắc trên một cột đá, được một nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện năm 1901 Đây là bộ luật cổ được giữ lại tương đối nguyên vẹn

Luật Hammurabi gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận

Phần mở đầu nói về sức mạnh thần thánh của Hammurabi và mục đích ban bố bộ luật

Phần nội dung bao gồm 282 điều luật về dân sự và hình sự, trong đó phần lớn đầ cập đến các mặt kinh tế xã hội như ruộng đất, nô lệ, địa tô, vay nợ, gia đình v.v…

Phần kết luận nhắc lại công đức của Hammurabi và yêu cầu đời sau phải nghiêm chỉnh thi hành bộ luật ( 1 )

5 Tân Babilon

Từ giữa thế kỷ VII TCN, Aùtxêri bắt đầu suy yếu Nhân tình hình ấy, năm 626 TCN, một tướng lĩnh người Canđê, một chi nhánh của người Xêmít tên là Nabôpôlaxa, người đã từng phục vụ chính quyền Aùtxiri và hình như được cử làm Tổng đốc của Aùtxiri ở miền Nam Babilon đã tuyên bố Babilon độc lập Để phân biệt với Cổ Babilon, quốc gia này đã được gọi là Tân Babilon

Ngay sau đó, Tân Babilon liên minh với nước Mêđi ở phía đông bắc cùng tấn công Aùtxiri Năm 605 TCN, Aùtxiri bị diệt vong Đất đai của Aùtxiri

bị chia làm hai phần: Nửa phía bắc thuộc về Mêđi, nửa phía Nam thuộc về Tân Babilon

Để tăng thêm tình hữu nghị giữa hai nước Nabôpôlaxa đã hỏi công chúa Mêđi cho con trai của mình là Nabusôđônôxo Năm 604 TCN, Nabôpôlaxa chết Nabusôđônôxo (604-562 TCN) lên nối ngôi Đây là thời kỳ thịnh vượng nhất của Tân Babilon

Do một số nơi như Phênixi, Do Thái v.v… vốn nằm trong bản đồ Aùtxiri nhưng nay dựa vào Aicập không chịu khuất phục Tân Babilon nên Nabusôđônôxo đã mở nhiều cuộc tấn công và đã chiếm được những nước này Ở trong nước, Nabusôđônôxođã cho xây dựng nhiều công trình kiến trúc nguy nga như thành Babilon, đến miếu, tháp, đặc biệt là vườn hoa trên không Cũng như Kim tự tháp của Ai Cập, vườn hoa trên không của Babilon được coi là một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại

1 Xem luật Hammurabi ở phần phụ lục sách Lịch sử thế giới cổ đại

Trang 23

Năm 562 TCN, Nabusôđônôxo chết, từ đó tình hình nội bộ Tân Babilon không được ổn định Năm 538 TCN, Tân Babilon bị Batư tiêu diệt

6 Ba Tư

Trong khi Tân Babilon suy yếu, ở Iran bắt đầu xuất hiện nước Ba Tư Năm 550 TCN, Ba Tư đánh bại Mêđi, Babilon cũng trở thành mục tiêu chinh phục của Ba Tư

Năm 538 TCN, quân Ba Tư tấn công và chiếm được thành Babilon Babilon trở thành một bộ phận của đế quốc Ba Tư

Năm 328 TCN, đế quốc Ba Tư bị quân Alếchxăng Makêđônia tiêu diệt Từ đó Babilon và cả Tây Á bị nhập vào đế quốc Makêđônia Sau khi Alếcxăng chết, đế quốc Makêđônia bị phân chia, vùng Lưỡng Hà nằm trong bản đồ của vương triều Xêlơcút ở Tây Á

Trang 24

Bài 3 ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

I Địa lý và cư dân

Aán Độ là một bán đảo ở Nam Á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya nổi tiếng Aán Độ chia làm hai miền Nam Bắc lấy dãy núi Vin-đi-a làm ranh giới Miền bắc Aán Độ có hai con sông lớn là sông Aán (Indus) và sông Hằng (Gange) Sông Aán chia làm 5 nhánh, nên vùng đồng bằng ở 5 nhánh sông ấy được gọi là vùng Pungiáp (nghĩa là vùng Năm sông) Tên nước Aán Độ là gọi theo tên dòng sông này Sông Hằng ở phía đông được coi là một dòng sông thiêng Từ xưa nhân dân Aán Độ thường đến khúc sông ở thành phố Varanadi (Bênarét) để cử hành lễ tắm mang tính chất tôn giáo Cả hai dòng sông nàybồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ ở miền bắc Aán Độ, vì vậy nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh của đất nước này

Cư dân Aán Độ gồm hai thành phần chính: người Đraviđa chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư trú ở miền bắc

II Văn hóa Haráppa

Tài liệu lịch sử giúp chúng ta hiểu biết về thời kỳ này không phải là tài liệu thành văn mà là tài liệu khảo cổ học Vì vậy trước năm 1921, giai đoạn lịch sử này chưa được biết đến

Năm 1921 và 1922, các nhà khảo cổ học Aán Độ đã tìm thấy ở Haráppa và Môhengiô Đarô thuộc lưu vực sông Aán hai thành phố cùng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất Những hiện vật ấy là di tích của một thời kỳ lịch sử được gọi là văn hóa Haráppa hoặc nền văn minh lưu vực sông Aán

1 Các hiện vật đã tìm thấy

Haráppa và Môhengiô là hai thành phố rất lớn xây bằng gạch Xung quanh thành phố có thành và hào bao bọc Trong thành phố có các đường phố ngang dọc thẳng tắp Mỗi thành phố có hàng trăm nhà và cửa hiệu lớn nhỏ, trong đó phần nhiều là nhà hai tầng Trong nhà thường có đầy đủ tiện nghi như bếp, phòng tắm, ống dẫn nước…

Ở các di chỉ này, còn tìm thấy nhiều công cụ sản xuất, vũ khí, đồ dùng trong đời sống hàng ngày, đồ trang sức, đồ tế lễ và hơn 3000 con dấu có khắc chữ đồ họa Các dụng cụ đó, có thứ bằng đồng hoặc đồng thau, có thứ bằng đá

Trang 25

2 Tình hình xã hội

Những hiện vật phát hiện được cho biết rằng trong xã hội thời kỳ đó đã có sự phân hóa giàu nghèo rất rõ rệt Việc phát hiện ra chữ viết, hơn nữa trên một số con dấu có ghi những chữ như “người cầm quyền” (Sasa),

“người cai trị” (Pata), “vua của những ông vua” (Reja – reja) v.v… đã nói lên rằng xã hội thời văn hóa Haráppa là xã hội có nhà nước

Nền văn minh lưu vực sông Aán tồn tại từ khoảng đầu thiên kỷ III đến nửa đầu thiên kỷ II TCN thì bị hủy diệt Nguyên nhân của sự hủy diệt đó là nạn lụt do nước sông Aán dâng lên Cư dân ở đây phải di cư sang phía đông bỏ lại các thành phố của họ bị vùi dần xuống lòng đất

III THỜI KỲ VÊ ĐA

Từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN, Lịch sử Aán Độ được phản ánh trong các tác phẩm văn học gọi là Vêđa, vì vậy thời kỳ này được gọi là thời Vê đa

Vêđa vốn nghĩa là “hiểu biết” Vêđa có 4 tập là Rích Vêđa, Xama Vêđa, Atácva Vêđa và Yagiua Vêđa, trong đó Rích Vêđa là xưa nhất và quan trọng nhất Rích Vêđa gồm 1028 bài ca được sáng tác vào khoảng giữa thiên kỷ II đến cuối thiên kỷ II TCN, còn ba tập Vêđa khác thì được sáng tác vào khoảng đầu thiên kỷ I đến giữa thiên kỷ I TCN, vì vậy thời kỳ Vêđa có thể chia làm hai thời kỳ nhỏ là:

- Thời kỳ Rích Vêđa (khoảng năm 1500 – 1000 TCN)

- Thời kỳ Hậu Vêđa (khoảng năm 1000 – 600 TCN)

Chủ nhân của thời kỳ Vêđa là người Arya (nghĩa là “người cao qúy” ) mới từ trung Á di cư vào Aán Độ Địa bàn sinh sống của họ trong thời kỳ này chủ yếu là vùng lưu vự sông Hằng

1 Tình hình kinh tế

Trong thời Rích Vêđa, người Arya đang sống trong giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy Ngành kinh tế quan trọnh nhất là chăn nuôi Gia súc rất được coi trọng nhất là bò Bởi vậy, trong ngôn ngữ lúc bấy giờ “tù trưởng bộ lạc” có nghĩa là kẻ chiếm hữu bò cái”, “chiến sĩ” có nghĩa là “người chiến đấu vì bò cái”

Dần dần, do học tập được những kinh nghiệm sản xuất của dân bản địa, người Arya đã chuyển sang đời sống định cư lấy nông nghiệp làm nghề chính

2 Sự ra đời của nhà nước

Do kinh tế phát triển, sự phân hóa giai cấp cũng diễn ra rõ rệt, đến

Trang 26

nhiều quyền uy và chức vụ ấy trở thành cha truyền con nối Họ đã biến thành những ông vua Nhà nước đã ra đời

3 Chế độ Vácna (đẳng cấp)

Trong thời kỳ lịch sử này ở Aán Độ đã xuất hiện một chế độ đẳng cấp có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xã hội nước này, đó là chế độ Vácna

Chữ Vácna trong tiếng Xăng xkrít (một loại cổ ngữ của Aán Độ) có nghĩa là “màu sắc” (chỉ màu da) nhưng thực ra chế độ Vácna là chế độ chia

cư dân thành 4 đẳng cấp có quyền lợi, nghĩa vụ và địa vị xã hội khác nhau Bốn đẳng cấp đó là Braman (Bàlamôn), Ksatơria, Vaisya, Suđra

Đẳng cấp Bàlamôn gồm những người làm nghề tôn giáo

Đẳng cấp Ksatơrya gồm các chiến sĩ

Đẳng cấp Vaisya gồm những người chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán…

Đẳng cấp Suđra gồm thợ thủ công, đầy tớ Họ vốn là con cháu của những bộ lạc bị bại trận

Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của chế độ Vácna

- Theo truyền thuyết: các đẳng cấp Braman, Ksatơrya, Vaisya và Suđra được thần Brama tạo ra theo thứ tự từ miệng, tay, đùi và bàn chân của thần

- Sự thực, sự xuất hiện Vácna là do sự phân hóa giai cấp, sự phân công về nghề nghiệp và sự phân biệt về bộ tộc

Sự khác nhau giữa các đẳng cấp:

Giữa bốn đẳng cấp ấy có sự khác nhau về địa vị xã hội mà chủ yếu là về tôn giáo, hôn nhân và quyền lợi trước pháp luật

Về tôn giáo, chỉ có ba đẳng cấp trên mới được cúng thần và đọc kinh Vêđa, trong đó chỉ có Bàlamôn mới được giảng kinh Vêđa và phụ trách việc cúng lễ Do vậy, ba đẳng cấp trên được coi là sinh hai lần, còn Suđra không được tham dự các nghi lễ tôn giáo nên chỉ được coi là sinh một lần

Về hôn nhân, chế độ Vácna quy định chỉ nên kết hôn với người cùng đẳng cấp Tuy nhiên, nếu cần thiết thì đàn ông ở các đẳng cấp trên có thể lấy vợ ở các đẳng cấp dưới, nhưng phụ nữ các đẳng cấp dưới không được kết hôn với đàn ông các đẳng cấp dưới

Về quyền lợi trước pháp luật , Nếu cùng phạm tội như nhau thì các đẳng cấp trên được xét xử nhẹ hơn các đẳng cấp dưới; nếu là nạn nhân thì đẳng cấp càng cao thì được bồi thường càng nhiều

Trang 27

Trong bốn đẳng cấp ấy, đẳng cấp Bàlamôn được quan niệm là ưu tú nhất, thân thể họ được coi là bất khả xâm phạm

Ngược lại, Suđra là đẳng cấp thấp kém nhất Suđra không những không được dự việc tế lễ mà thậm chí họ cũng không được bê thi thể của Bàlamôn đặt lên giàn lửa khi làm lể hỏa táng

Dưới bốn đẳng cấp đó còn có những nhười tiện dân gọi là Paria Họ

bị coi là hạng người đê tiện, ô uế, đáng ghê tởm Vì vậy họ phải sống cách biệt với xã hội

Thân phận của những người trong các đẳng cấp ấy cứ cha truyền con nối và chế độ Vacùna tồn tại lâu dài trong lịch sử Aán Độ

4 Đạo Bàlamôn

Dầu thời Vê đa, cư dân Aán Độ thờ rất nhiều thần: đá, cây, cư dân, các động vật, người chết, sông, núi… Đến những thế kỷ đầu thiên kỷ I TCN, các quan niệm tôn giáo ấy được gọi chung là đạo Bàlamôn, đồng thời một hệ thống giáo lý tương đối hoàn chỉnh cũng được hình thành

Đối tượng thờ cúng cao nhất của đạo Bàlamôn là thần Brama Đó là linh hồn vũ trụ, là đấng Hoàn hảo sáng tạo ra thế giới và muôn loài, là vị thần cao nhất, là chúa tể của các thần

Tuy nhiên thần Brama có phần trừu tượng đối với nhân dân, nên có nơi người ta thờ thần Visnu, thần nhân ái làm cho ruộng đồng tươi tốt như là

vị thần cao nhất; Có nơi lại thờ thần Siva, thần ác, thần phá hoại mọi lực lượng tự nhiên là vị thần cao nhất Ngoài ra đạo Bàlamôn còn thờ nhiều loại thần động vật như voi, khỉ, và nhất là bò

Về sau, để thống nhất đối tượng thờ cúng của đạo Bàlamôn, người ta quan niệm thần Brama, thần Visnu và thần Siva là một bộ ba thể hiện một qúa trình: sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt

Về mặt xã hội, đạo Bàlamôn là công cụ đắc lực để bảo vệ sự phân chia đẳng cấp Cũng chính vì vậy, đến giữa thiên kỷ I TCN, đạo Bàlamôn bị suy thoái và nhường chỗ cho một tôn giáo mới là đạo Phật

1 Tình hình chính trị

a Các quốc gia ở miền Bắc Aán Độ và sự xâm lược của Alếchxăng Makêđônia

Bắt đầu từ thế kỷ VI-TCN, Aán Độ mới có các tác phẩm lịch sử ghi chép về tình hình chính trị của đất nước mình Lúc bấy giờ ở miền Bắc Aán Độ có 16 nước, trong đó mạnh nhất là nước Magađa

Trang 28

Nước Magađa ở hạ lưu sông Hằng Đây là nơi đất đai màu mỡ thích hợp với việc phát triển nông nghiệp, đồng thời là nơi có nhiều thuận lợi trong việc buôn bán bằng đường biển, do vậy Magađa đã lớn mạnh nhanh chóng Trên cơ sở ấy, Magađa không ngừng chinh phục các nước khác, mở rộng phạm vi thống trị của mình đến tận miền Đông Bắc và miền Trung Aán Độ

Cũng thời gian ấy, ở miền Tây Bắc Aán Độ cũng chia thành nhiều nước nhỏ, trong đó chỉ có nước Po là tương đối lớn

Lúc bấy giờ, ở Tây Á có nước Ba Tư hùng mạnh một thời, nhưng đến năm 328 TCN, Ba Tư bị Makêđônia tiêu diệt

Nhân đà thắng lợi ấy, năm 327 TCN, quân Makêđônia tấn công vào miền Tây Bắc của Aán Độ Quân đội của nước Po đã chiến đấu rất dũng cảm nhung cuối cùng bị thất bại Alếchxăng định tiến sang phía đông tấn công nước Magađa nhưng quân sĩ không ủng hộ kế hoạch đó vì họ đã qúa mệt mỏi sau một cuộc trường chinh nhiều năm Alếchxăng phải ra lệnh rút quân chỉ để lại một số quân chiếm đóng hai cứ điểm Buxêphan và Nikêa mà thôi Những vùng bị Alếchxăng chinh phục ở Aán Độ vẫn được giữ nguyên chính quyền cũ nhưng phải lệ thuộc vào những kẻ đứng đầu hai cứ đểm đó

b Vương triều Môrya (321 – 187 TCN)

Ngay sau khi quân Alếchxăng rút lui, ở Aán Độâ đã dấy lên phong trào đấu tranh giải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân Makêđônia Thủ lĩnh của phong trào này là Sanđragúpta, biệt hiệu là Môrya (nghĩa là chim công) Quân chiếm đóng Makêđônia bị đuổi khỏi Aán Độ, Sanđragúpta làm chủ được cả vùng Pungiáp Tiếp đó, ông tiến quân về phía đông giành được ngôi vua ở Magađa, lập nên một triều đại mới gọi là Vương triều Môrya, Đó là triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Aán Độ cổ đại Theo truyền thuyết đến khoảng năm 300TCN, Sanđragúpta theo đạo Giaina và sau đó nhịn ăn tự tử theo tập quán của tôn giáo này

Đến thời cháu của Sanđragúpta là Axôca (273 –236 TCN), nước Magađa đạt đến giai đoạïn cường thịnh nhất Axôta là ông vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Aán Độ cổ đại Axôca không ngừng tấn công các nước khác, do đó cương giới Magađa càng được mở rộng Các mặt kinh tế, văn hoá của Magađa thời kỳ này cũng phát triển rõ rệt Ở kinh đô Pataliputơra và một số thành phố khác đã xây dựng nhiều cung điện, đền chùa, nhà cửa, bệnh viện, phòng phát thuốc v.v… Đạo Phật ra đời từ khoảng thế kỷ VI TCN đến thời kỳ này được chấn chỉnh và trở thành quốc giáo

Như vậy, thời Axôca là thời kỳ ổn định, hùng mạnh của vương triều Môrya, nhưng sau khi ông chết, vương triều này suy sụp nhanh chóng và nước Magađa thống nhất dần dần tan rã

Trang 29

c Aán Độ từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ III CN

Năm 187 TCN, vương triều Môrya bị một viên tướng của mình lật đổ Từ đó nước Magađa suy yếu nhanh chóng và đến năm 28 TCN thì diệt vong

Đến thế kỷ I, người Cusan (cùng một huyết thống với người Tuyếc) từ Trung Á tràn sang chiếm được miền Tây Bắc Aán Độ lập thành một nước tương đối lớn Vua nước Cusan lúc bấy giờ là Canísca (78 – 123) cũng là một người rất tôn sùng đạo Phật nên dưới thời thống trị của ông, Phật giáo rất hưng thịnh

Theo truyền thuyết, đến năm 123, Canisca bị nhân dân khởi nghĩa bóp chết Từ đó, nước Cusan ngày càng suy yếu, lãnh thổ chỉ còn lại vùng Pungiáp và tồn tại đến thế kỷ V thì diệt vong

2 Giai cấp nô lệ và công xã nông thôn

a Giai cấp nô lệ

Vấn đề nô lệ ở Aán Độ, từ thời cổ đại đã có hai ý kiến:

Mêgaxten, sứ thần của Xêlơcút thường trú ở cung đình vương triều Môrya khẳng định rằng ở Aán Độ không có nô lệ Ông nói: “Ở Aán Độ có một điểm đáng chú ý nhất là tất cả mọi người Aán Độ đều là người tự do, không có một người Aán Độ nào là nô lệ”

Sở dĩ Magaxten có ý kiến như vậy vì ông là một người Hy Lạp, do đó ông đã dùng tiêu chuẩn của người nô lệ ở Hy Lạp để xem xét tình hình nô lệ ở Ấn Độ

- Cautalia, tác giả sách “Bàn về việc chính trị” (Arthasastra) cho rằng

ở Aán Độ có đến 15 loại đaxa, mà đaxa có nghĩa là tôi tớ, nô lệ

- Sự thực, không phải ở Aán Độ cổ đại không có nô lệ, đồng thời cũng không phải có nhiều loại nô lệ như Cautalia đã nói

Nguồn gốc nô lệ ở Aán Độ cũng là tù binh, người phá sản, người phạm tội… Thân phận của nô lệ cũng rất thấp kém, họ bị coi là tài sản của chủ và

bị gọi là “tài sản hai chân” để phân biệt với gia súc được gọi là “tài sản bốn chân” Do vậy nô lệ cũng bị đem bán, cầm, biếu, trao đổi, làm giải thưởng trong các cuộc thi đấu v.v…

Theo tác phẩm “Bàn về việc chính trị”, giá một nô lệ so với ngựa đắt hơn ¼ so với trâu hoặc bò cái đắt hơn một lần rưỡi, so với dê thì bằng 20 lần

Đối với những người nô lệ mà chủ cho là phạm tội thì chủ có quyền trừng phạt mà hình thức thông thường nhất là đánh đập, xiềng xích, đóng

Trang 30

Tuy vậy, phần đông nô lệ ở Aán Độ cổ đại là người đồng tộc, hơn nữa họ lại xuất thân từ những đẳng cấp khác nhau, nên khi đối xử với nô lệ, chủ không thể không suy nghĩ đến những vấn đề ấy Do đặc điểm đó, một số nô lệ ở Aán Độ có gia đình riêng, có tài sản riêng và có quyền truyền tài sản lại cho con cháu

Tóm lại, quan hệ nô lệ ở Aán Độ cổ đại không phát triển lắm Nô lệ giữ vai trò rất phụ trong đời sống kinh tế của xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ

b Công xã nông thôn

Trong số các nước Phương Đông, Aán Độ là nơi công xã nông thôn tồn vững chắc và lâu dài nhất

Cơ sở của sự tồn tại vững chắc của công xã nông thôn gồm hai mặt chủ yếu:

- Ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước

- Nền kinh tế tự cấp tự túc (cũng gọi là kinh tế tự nhiên), trong đó chủ yếu là sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp

Trên cơ sở toàn bộ ruộng đất thuộc về nhà nước, ở các địa phương ruộng đất được giao cho các làng quản lý Như vậy, các làng có quyền chiếm hữu tập thể ruộng đất của làng Ngoài phần đất đai như bãi cỏ, rừng,

ao hồ v.v… mọi người trong làng được sử dụng chung, đất canh tác được định kỳ (thường là ba năm) chia cho các hộ nông dân cày cấy

Một đặc điểm khác rất nổi bật làm cho công xã nông thôn tồn tại vững chắc là sự tự cấp tự túc về kinh tế Sự tự cấp tự túc ấy biểu hiện ở hai mặt:

+ Trong từng gia đình, có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghề nông và nghề dệt vải Do vậy hai nhu cầu cơ bản của người nông dân là ăn và mặc đều tự túc được

+ Trong công xã có một số thợ thủ công như thợ rèn, thợ mộc, thợ gốm v.v…chuyên sản xuất các sản phẩm thuộc nghề của mình để thõa mản các nhu cầu của mọi thành viên trong công xã

Do vậy, công xã hầu như hoàn toàn đóng kín, sự trao đổi hàng hoá giữa công xã này với công xã khác và giữa nông thôn với thành thị không đáng kể, có chăng chỉ là một số thứ mà công xã không thể sản xuất được như muối, sắt v.v… mà thôi

Về mặt hành chính, đứng đầu mỗi công xã là một thôn trưởng Dưới thôn trưởng là một số người chức trách giữ những công việc khác nhau như quản lý việc sản xuất nông nghiệp, trông nom các công trình thủy lợi, phụ trách việc tuần tra canh gác, dạy con trẻ, xem thiên văn v.v…

Trang 31

Nông dân sống trong công xã là những người nông dân tự do Tuy vậy, cày cấy ruộng đất công, nông dân công xã phải nộp thuế cho nhà nước Mức thuế dao động từ 1/12 đến 1/6 thu hoạch Ngoài ra nông dân công xã còn phải làm các tạp dịnh như đắp đê, làm đường, đào kênh v.v…

Sự tồn tại lâu dài và vững chắc của công xã nông thôn đã bảo đảm cho nông dân Aán Độ ai cũng có ruộng đất để canh tác, do đó đã hạn chế sự phá sản của nông dân, hạn chế sự phát triển của quan hệ nô lệ

Sự tồn tại của công xã nông thôn còn làm cho nông dân sống gắn bó với nhau, tối lửa tắt đèn có nhau, tình làng nghĩa xóm đậm đà

Nhưng mặt khác, công xã nông thôn cũng có nhiều hạn chế;

- Nền kinh tế tự cấp tự túc của công xã nông thôn đã làm cho kinh tế hàng hóa chậm phát triển, hệ thống đường giao thông hầu như không cần thiết Nhu vậy sự tồn tại của công xã nông thôn đã kìm hãm sự phát triển nhanh chóng của xã hội

- Cuộc sống biệt lập của các công xã làm cho nông dân không biết gì hơn ngoài xóm làng nhỏ bé của mình, do đó họ thờ ơ với tình hình chính trị của đất nước

- Do sự hiểu biết hạn chế ở trong các công xã, những tập tục cổ hủ, những thói mê tín dị đoan càng có điều kiện duy trì và nảy nở

Bàn về những hạn chế của công xã nông thôn ở Aán Độ, Mác Viết:

“… Chúng ta cũng không được quên rằng những công xã nông thôn thơ mộng ấy, dù cho chúng có vẻ vô hại như thế nào đi chăng nữa, bao giờ cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế phương Đông, rằng những công xã ấy đã hạn chế lý trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp nhất làm cho nó trở thành một công cụ ngoan ngoãn của mê tín, trói buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của cái quy tắc cổ truyền, tước đoạt nó mọi sự vĩ đại, mọi tính chủ động lịch sử

Chúng ta không được quên lòng ích kỷ của những con người man rợ, họ đã tập trung mọi lợi ích của mình trên một mảnh đất nhỏ bé đáng thương, bình thản nhìn những đế quốc lớn sụp đổ, nhìn những hành động tàn bạo không thể tưởng tượng được xảy ra, nhìn dân cư của những thành phố lớn bị tàn sát, - họ đã bình thản nhìn tất cả những cái đó mà chẳng hề suy nghĩ gì hơn là nhìn những hiện tượng tự nhiên, và bản thân họ đã trở thành miếng mồi yếu đuối của bất kỳ một kẻ đi xâm chiếm nào khi kẻ ấy đoái nhìn đến họ

Chúng ta không được quên rằng những công xã nhỏ bé ấy mang dấu ấn của những sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ, rằng những công

Trang 32

không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy, rằng những công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một số phận bất di bất dịch do thiên nhiên quyết định trước, và do đó, đã tạo ra sự sùng bái thiên nhiên một cách thô lỗ, mà sự thoái hóa thể hiện đặc biệt ở chỗ con người, kẻ làm chủ thiên nhiên, lại phải thành kính qùy gối trước con khỉ Hanuman và trước con bò Sápbala” ( 1 )

Chế độ công xã nông thôn này tồn tại suốt thời cổ trung đại ở Aán Độ, về sau đến thời thống trị của Anh mới bị nền kinh tế hàng hóa phá vỡ

3 Sự ra đời và phát triển của đạo Phật

a Truyền thuyết về Phật Thích Ca

Người sáng lập đạo Phật là Xitđácta Gôtama (siddharta Gautama), thái tử của nước Capilavastu ở chân núi dãy Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần ở Đông Bắc Aán Độ Năm 29 tuổi, vị thái tử này bắt đầu rời khỏi cung điện của vua cha để tìm con đường cứu khổ cho chúng sinh Đến năm 35 tuổi, ông đắc đạo, từ đó được gọi là Bútđa (Buddha) nghĩa là người đã giác ngộ, và được tín đồ gọi là Xakyamuni (sakyamuni) nghĩa là “Thánh nhân của họ Xakya”, ta quen gọi là Phật Thích Ca Mâu Ni

Về niên đại của Phật, có người nói Phật sinh năm 563 TCN và mất năm 483 TCN, có người lại cho rằng Phật sinh năm 624 TCN và mất năm

544 TCN Ngày nay, tín đồ đạo Phật lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu kỳ nguyên Phật giáo

b Học thuyết của Phật giáo

Mục đích của Phật giáo là lý giải và nêu ra cái chân lý về nỗi khổ đau và cách cứu vớt thoát khỏi nỗi đau khổ

Vì vậy nội dung chủ yếu của đạo Phật được thể hiện trong thuyết tứ đế (còn gọi là tứ thánh đế) có nghĩa là “bốn chân lý”

Tứ đế gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế, và đạo đế

- Khổ đế nói về các nỗi khổ của con người

- Tập đế nói về nguyên nhân của các nỗi khổ ấy

- Diệt đế nói về sự dập tắt các nỗi khổ

- Đạo đế chỉ ra con đường để thực hiện việc diệt khổ

1 C Mác và Ph Aêng-ghen Toàn tập Tập 9 NXB Chính Trị Quốc Gia-Sự thật Hà Nội 1993 Trang 178 – 179

Trang 33

Đạo Phật ban đầu chỉ nhấn mạnh sự tu hành của mỗi người chứ không thừa nhận có một đấng tối cao và các vị thần bảo hộ, do đó không cần nghi thức cúng bái

Về mặt xã hội, đạo Phật phủ nhận chế độ Vácna, vì đạo Phật cho rằng nguồn gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để được cứu vớt

c Sự phát triển của đạo Phật ở Aán Độ

Do đạo Phật ban đầu là một tôn giáo từ bi, đơn giản và không công nhận chế độ đẳng cấp nên được quần chúng hoan nghênh và được giai cấp thống trị ủng hộ

Đến thế kỷ III TCN, với sự giúp đỡ của vua Axôca, đại hội Phật giáo lần thứ ba được triệu tập Tại đại hội này, đạo Phật được chấn chỉnh về tổ chức, giáo lý Đồng thời Axôca còn cho xây dựng nhiều chùa tháp Cũng bắt đầu từ đây, đạo Phật được truyền ra bên ngoài mà trước hết là sang Srilanca

Đến khoảng năm 100, tại đại hội Phật giáo lần thứ IV họp ở Casmia thuộc nước Cusan, đạo Phật chính thức chia thành hai phái là Tiểu thừa và Đại thừa

Tiểu thừa là phái phật giáo nguyên thủy, cho rằng:

- Chỉ những người xuất gia đi tu mới được cứu vớt

- Chỉ thờ Phật Thích Ca

- Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt

Phái Đại thừa cho rằng:

- Ngoài những người tu hành, những người trần tục quy y theo Phật giáo cũng được cứu vớt

- Phật Thích Ca là vị Phật cao nhất của đạo Phật,nhưng ngoài Phật Thích Ca còn có các vị Phật khác và các vị Bồ Tát

- Niết bàn là thế giới của các vị Phật

- Điạ ngục là nơi đày đoạ linh hồn những kẻ có tội

- Canisca cũng cho xây chùa, tạc tượng và khuyến khích các nhà sư

ra nước ngoài truyền đạo

Trang 34

Bài 4 TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

I Địa lý và cư dân

Trung Quốc là một nước lớn ở Đông Á Trên lãnh thổ Trung Quốc có hai dòng sông lớn chảy qua, đó là sông Hoàng Hà (dài 5464 Km) ở phía Bắc và Trường Giang (dài 6300 Km) ở phía Nam

Khi mới thành lập nước vào khoảng thế kỷ thứ XXI TCN địa bàn của Trung Quốc chỉ mới là một vùng nhỏ ở trung lưu lưu vực Hoàng Hà Từ đó, lãnh thổ Trung Quốc được mở rộng dần nhưng đến thế kỷ III TCN tức là đến cuối thời cổ đại, cương giới phía Bắc của Trung Quốc chưa vượt qúa dãy Vạn lý trường thành ngày nay, phía Tây mới đến đông Nam tỉnh Cam Túc và phía Nam chỉ bao gồm một dãy đất nằm dọc theo hữu ngạn Trường Giang mà thôi

Trung Quốc là một trong những nơi từ sớm đã có loài người cư trú Về mặt chủng tộc, cư dân ở lưu vực Hoàng Hà thuộc giống Mông Cổ, đến thời Xuân Thu được gọi là Hoa Hạ, nói tắt là Hoa hoặc Hạ Đó là tiền thân của dân tộc Hán sau này Còn cư dân ở phía Nam Trường Giang thì khác hẳn cư dân vùng Hoàng Hà về ngôn ngữ và phong tục tập quán, ví dụ cư dân các nước Ngô, Việt có tục cắt tóc, xăm mình, đi chân đất Đến thời Xuân Thu, các tộc này bị Hoa Hạ đồng hoá

II Các triều đại Hạ, Thương, Chu

1 Hạ, Thương và Tây Chu

a Vài nét về xã hội nguyên thủy

Trung Quốc đã trải qua xã hội nguyên thủy Hiện nay rất nhiều nơi trên lãnh thổ Trung Quốc đã phát hiện được nhiều di chỉ thuộc thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá giữa và đồ đá mới

Bên cạnh các hiện vật khảo cổ học, các thư tịch Trung Quốc cũng ghi chép nhiều truyền thuyết về thời kỳ nguyên thủy

Theo truyền thuyết, đến thiên kỷ III TCN, ở lưu vực Hoàng Hà có nhiều bộ lạc cư trú Thủ lĩnh nổi tiếng nhất của các bộ lạc đó là Hoàng đế Nhân vật này được coi là thủy tổ của người Trung Quốc

Đến cuối thiên kỷ III TCN, các hậu duệ của hoàng đế là Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ nối tiếp nhau làm thủ lĩnh Nghiêu và Thuấn là hai thủ lĩnh của liên minh bộ lạc, nhưng về sau hai ông được coi là hai vị Hoàng Đế tốt nhất trong lịch sử Trung Quốc

Ngày đăng: 07/01/2013, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w