Bài trình bày về "Các phương pháp phân tích acid amin trong thực phẩm"
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC -
TIỂU LUẬN MÔN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
CÔNG CỤ
amin trong thực phẩm”
HVTH: Mang Tấn Phong GVHD: TS Huỳnh Khánh Duy
TP HỒ CHÍ MINH – 12/201
Trang 2Mục lục
1 Giới thiệu về acid amin 3
1.1 Thành phần và cấu tạo của amino acid 3
1.2 Màu sắc và mùi vị của amino acid 6
1.3 Tính tan của amino acid 6
1.4 Tính quang học của amino acid 6
1.5 Tính lưỡng cực của amino acid 7
2 Thu nhận amino acid 8
2.1 Tinh sạch protein trước khi thu nhận acid amin 8
2.2 Thu nhận acid amin bằng thủy phân protein 9
3 Các phương pháp phân tích amino acid trong thực phẩm 10
3.1 Sắc ký giấy 10
3.2 Sắc ký bản mỏng 12
3.3 Sắc ký khí 12
3.4 Phương pháp điện di 13
3.5 Phương pháp quang phổ khối 13
3.6 Phương pháp đồng vị 14
3.7 Phương pháp enzyme 14
3.8 Phương pháp vi sinh vật 14
4 Một vài phương pháp cụ thể 14
4.1 Phân tích acid amin bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp sau phản ứng tạo dẫn xuất với 1-fluoro-2,4-dinitrophenyl-5-L-alanine amide (thuốc thử Marfey) 14
4.2 Xác định hàm lượng acid amin trong thực phẩm bằng phương pháp đảo pha trong phân tích sắc kí với chất dẫn xuất mới butylthiocarbamyl và benzylthiocarbamyl 19
Trang 31 Giới thiệu về acid amin
1.1.Thành phần và cấu tạo của amino acid
Amino acid là đơn vị cấu tạo protein Amino acid là chất hữu cơ, phân tử có chứa nhóm: carboxyl (-COOH) và nhóm amino (-NH2) gắn với carbon ở vị trí
Hầu hết amino acid thu nhận được khi thủy phân protein đều ở dạng L--amino acid Như vậy các protein chỉ khác nhau ở mạch nhánh, hay còn gọi là chuỗi bên (thường được ký hiệu: R) Dựa vào tính chất của gốc R các amino acid được chia làm 5 nhóm:
Nhóm 1: gồm 7 amino acid có R không phân cực, kỵ nước: glycine, alanine, proline,
valine, leucine, isoleucine và methionine
Nhóm 2: gồm 3 amino acid có gốc R chứa nhân thơm: phenylalanine, tyrosine tryptophan
Trang 4Nhóm 3: gồm 5 amino acid có gốc R phân cực, không tích điện: serine, threonine, cystein,
aspargine và glutamine
Nhóm 4: gồm 3 amino acid có R tích điện dương: lysine, histidine và arginine
Nhóm 5: gồm 2 amino acid có gốc R tích điện âm: aspartate và glutamate
Các amino acid thường gặp là những amino acid thường có mặt trong thành phần của các loại protein Chúng có khoảng 20 loại và được thu nhận khi thủy phân protein
Trang 5Bảng 1.1: Các amino acid thường gặp
Tên amino
acid Tên amino acid theo danh pháp hóa học
Tên viết tắt
Ký hiệu
Khối lượng (Mr – Dalton)
Tyrosine -amino--hydrogengenxyphenylpropionic Tyr Y 181
Threonine -amino--hydrogengenxybutiric Thr T 119
Trong phân tử protein có khoảng 20 loại amino acid, tuy nhiên trong cơ thể người và động vật không tổng hợp được tất cả các loại đó mà phải đưa từ ngoài vào qua thức ăn Những amino acid phải đưa từ ngoài vào đó gọi là các amino acid không thay thế Ngày nay người ta biết được
có khoảng 8-10 loại amino acid không thay thế bao gồm: methionine, valine, leucine, isoleucine, theonine, phenylalanine, tryptophan, lysine, arginine và histidine
Ngoài các amino acid thường gặp ở trên, trong phân tử protein đôi khi còn có một số amino acid khác, đó là những loại ít gặp Các amino acid này là dẫn xuất của những amino acid thường gặp như: trong phân tử colagen có chứa 4-hydrogenxyproline là dẫn xuất của proline, 5-hydrogenxylysine là dẫn xuất của lysine… Mặt khác, mặc dù không có trong cấu trúc protein, nhưng có hành trăm loại amino acid khác, chúng có thể tồn tại ở dạng tự do hoặc liên kết với hợp chất khác trong các mô và tế bào, chúng có thể là chất tiền thân hay là các sản phẩm trung gian của quá trình chuyển hóa trong cơ thể
Trang 61.2.Màu sắc và mùi vị của amino acid
Các amino acid thường không màu, nhiều loại có vị ngọt kiểu đường như glyxine, alanine, valine, serine histidine, triptophan; một số loại có vị đắng như isoleucine, arginine hoặc không có
vị như leucine Bột ngọt hay còn gọi là mì chính là muối của natri với acid glutamic (monosodium glutamte)
1.3.Tính tan của amino acid
Các amino acid thường dễ tan trong nước và khó tan trong alcohol, ether (trừ proline và hydrogenxyproline), chúng cũng dễ hòa tan trong acid và kiềm loãng (trừ tyrosine)
1.4.Tính quang học của amino acid
Các amino acid trong phân tử protein đều có ít nhất một carbon bất đối (trừ glycine) vì thế
nó đều có biểu hiện hoạt tính quang học, nghĩa là có thể làm quay mặt phẳng của ánh sáng phân cực sang phải hoặc sang trái Quay phải được k hiệu bằng dấu (+), quay trái được k hiệu bằng dấu (-) Góc quay đặc hiệu của amino acid phụ thuộc vào pH của môi trường
Tuỳ theo sự sắp xếp trong cấu trúc phân tử của các nhóm liên kết với carbon bất đối mà các amino acid có cấu trúc dạng D hay L, gọi là đồng phân lập thể Số đồng phân lập thể được tính theo 2n (n là số carbon bất đối)
Hình 1.1: Đồng phân lập thể của alanine
Hầu hết các amino acid khác hấp thụ tia cực tím ở bước sóng (λ) khoảng từ 220 - 280 nm Đặc biệt cùng nồng độ 10 -3M, trong bước sóng khoảng 280 nm tryptophan hấp thụ ánh sáng cực tím mạnh nhất, gấp 4 lần khả năng hấp thụ của tyrosine và phenylalanine là yếu nhất Phần lớn các protein đều chứa tyrosine nên người ta sử dụng tính chất này để định lượng protein
Trang 7
Hình 2: Phổ hấp thụ ánh sáng cực tím của tryptophan và tyrosine
1.5.Tính lưỡng cực của amino acid
Trong phân tử amino acid có nhóm carboxyl -COOH nên có khả năng nhường proton (H+) thể hiện tính acid, mặt khác có nhóm amin -NH2 nên có khả năng nhận proton nên thể hiện tính base Vì vậy amino acid có tính chất lưỡng tính
Trong môi trường acid, amino acid ở dạng cation (tích điện dương), nếu tăng dần pH amino acid lần lượt nhường proton thứ nhất chuyển qua dạng lưỡng cực (trung hoà về điện), và tiếp tục tăng pH amino acid sẽ nhường proton thứ hai chuyển thành dạng anion (tích điện âm) V vậy đôi khi người ta coi nó như một di-acid
Tương ứng với độ phân ly H+ của các nhóm COOH và NH3+ có các trị số pK1 và pK2 Từ
đó người ta xác định được pI = (pK1 + pK2)/2
Ví dụ: khi hoà tan glycine vào môi trường acid mạnh thì hầu như glycine đều ở dạng cation Nếu tăng dần lượng kiềm, thu được đường cong chuẩn độ Trên đường cong chuẩn độ thấy rằng: glycine lần lượt nhường 2 proton trước tiên chuyển sang dang lưỡng tính và sau cùng chuyển thành dạng anion
Trang 82 Thu nhận amino acid
2.1.Tinh sạch protein trước khi thu nhận acid amin
Phân tích acid amin của protein là một trong những phương pháp tốt nhất và chính xác nhất
để định lượng protein Sự cần thiết của việc thu nhận mẫu ở nồng độ cao và không bị nhiễm là một vấn đề cần giải quyết để xác định cấu tạo protein Nhiều phương pháp hiện đại có thể loại bỏ chất đệm, muối ra khỏi protein như phương pháp kết tủa hoặc sắc ký lỏng cao áp đảo pha (RP-HPLC) gây thất thoát protein nhiều, làm việc đánh giá nồng độ thực trở nên khó khăn Sau đây là
ba phương pháp thường dùng để thu hổi protein từ chất đệm: phương pháp lọc gel, cột vi xoáy tốc độ cao và sự hấp thu vào màng poly vinylidene difluoride (PVDF) trong hộp chuẩn bị mẫu Prosorb
2.1.1 Chuẩn bị cột macrospin (mẫu 50-150 µL)
Cột macrospin cần được chuẩn bị cơ bản theo đề nghị của nhà sản xuất Lắp cột nhẹ nhàng
để thu hồi gel ở đáy cột Hydrate hóa gel với 500 µL nước HPLC trong 15 phút ở nhiệt độ phòng, sau đó ly tâm cột trong 4 phút ở 2000 g để làm cân bằng cột
Rửa cột 3 lần với 500 µL nước để đảm bảo sự cân bằng
Thấm khô phần ngoài cột để loại ẩm và đặt nó vào một ống mới Đối với cột macrospin, them 50-150 µL mẫu vào đỉnh, cẩn thận đặt mẫu vào giữa cột
Ly tâm ống 4 phút ở 2000 g, rửa cột với ít nhất 200 µL nước
Lấy mẫu đã tinh sạch và rút chân không ở tốc độ cao đến khô trước khi thủy phân
2.1.2 Cột vi xoáy (mẫu 5-25 µL)
Giống như đối với cột macro, rút gel khô đến đáy thùng Làm ướt với 50 µL nước và ly tâm
3 phút ở 1000 g để cân bằng cột Để có kết quả tốt nhất, rửa cột 3 lần với 200 µL nước Để ly tâm những cột này, đặt chúng trực tiếp vào một máy ly tâm vi mô hoặc dùng một ống ly tâm rỗng 1.7 mL
Sau khi cột đã cân bằng, thám khô để loại bỏ ẩm bám bên ngoài cột
Thêm 5-25 µL mẫu vào đỉnh cột, cẩn thận đặt mẫu vào giữa cột
Đặt cột vào một ống mới, xoáy ống 3 phút ở 1000 g Sau khi ly tâm, mẫu đã tinh sạch ở trong ống và sẵn sang để sử dụng
2.1.3 Chuẩn bị hộp mẫu ProSorb
Đảm bảo rằng mẫu đựng trong dung dịch 0.1 % trifluoroacetic acid (TFA) để đạt kết quả tốt nhất Acetonitrile (CAN) với nồng độ hơn 15 % cản trở mẫu dính vào PFVD, vì vậy những phần của HPLC nên pha loãng với nước cất hoặc 0.1 % TFA để giảm nồng độ của ACN xuống nhỏ hơn 15 %) Nếu thể tích ít hơn 100 µL, pha loãng mẫu thành 100 µL với 0.1 % TFA Nếu mẫu có chất tẩy, pha loãng để nồng độ chất tẩy thấp hơn giá trị trong bảng 1 vì chất tẩy có thể ảnh hưởng sâu sắc đến sự kết dính protein vào màng PVFD Bảng 1 tóm tắt nồng độ của chất tẩy có thể chứa trong mẫu trước khi kết dính vào màng Ngoài ra, nếu mẫu
Trang 9chứa lượng chất tẩy lớn hơn lương tối đa trong bảng 2.1, có thể them một lượng nhỏ methanol vào mẫu trước khi cho mẫu vào hộp mẫu ProSorb)
Bảng 2.1: Hàm lượng chất tẩy tối đa
Chất tẩy Nồng độ tối đa (V/V hoặc W/V)
Đặt thiết bị ProSorb vào một giá ống nghiệm thích hợp
Làm ướt màng PVDF trong hồ nhỏ với 10 µL methanol (hộp mẫu ProSorb nên được chuẩn bị
kỹ như chỉ dẫn của nhà sản xuất, dùng nước MiliQ cho mọi bước làm sạch để giảm lượng acid amin còn sót lại)
Cho mẫu vào hồ nhỏ (100 đến 400 µL thể tích), để cho mẫu chảy qua màng Thao tác với mẫu nên cẩn thận vì protein và peptide có thể dính vào ống thủy tinh hoặc nhựa Nếu mẫu nhỏ, có thể giảm thiểu tổn thất ở cartridge bằng cách cho 100 µL dung dịch đệm vào màng ướt trước khi cho mẫu vào Mẫu có thể them trực tiếp vào dung dịch đệm
Đảm bảo rằng mẫu hồ nhỏ tiếp xúc hoàn toàn với chất hấp thụ và sự chuyển chất lỏng bắt đầu
Thêm những mẫu thửu thể tích nhỏ, nếu cần đổi chất hấp thụ sau mỗi 750 µL
Rửa màng với 100 µL 0.1 % TFA lần 2
Lấy mẫu và làm khô màng PVDF
2.2.Thu nhận acid amin bằng thủy phân protein
2.2.1 Thủy phân bằng acid
Để thu nhận acid amin, phương pháp thường được dùng nhất là thủy phân bằng dung dịch HCL 6N dư ở nhiệt độ 100-120 oC trong 24 giờ Sản phẩm thu được chủ yếu là các acid amin dưới dạng tự do hydrogenclorate Một số acid amin như serine và threonine bị phá hủy mọt phần, tryptophan bị phá hủy hoàn toàn, glutamine và asparagines bị phân hủy thành acis glutamic, acid aspartic và NH4+
2.2.2 Thủy phân bằng kiềm
Người ta còn có thể thu nhận acid amin bằng phương pháp thủy phân với dung dịch NaOH, bằng cách đun nóng trong nhiều giờ Sản phẩm thu được hầu hết là các acid amin nhưng đều bị racemic hóa, các acid amin cysteine, serine, threonine bị phá hủy nhưng tryptophan không bị phá hủy Vì vậy phương pháp thủy phân bằng kiềm thường chỉ dùng để xác định tryptophan
Thủy phân bằng enzyme
Trang 10Để thu nhận chế phẩm acid amin, ngày nay việc thủy phân bằng enzyme được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau do việc sử dụng enzyme có nhiều ưu điểm Các enzyme thủy phân protein thành các acid amin hay các peptide có phân tử lượng thấp được gọi chung là peptidhydrogenlase Có nhiều loại peptidhydrogenlase, chúng được phân biệt nhờ đặc hiệu khác nhau với liên kết peptide Một số loại cắt đứt liên kết peptide ở đầu tận cùng của chuỗi polypeptide được gọi là exopeptidase như carboxypeptidase phân giải liên kết peptide đầu
C tận cùng, aminopeptidase phân giải liên kết peptide đầu N tận cùng Một số khác chỉ cắt đứt ở giữa chuỗi polypeptide được gọi là các endopeptidase như pepsin, tripsin…
3 Các phương pháp phân tích amino acid trong thực phẩm
Đã từ lâu việc phân tích định tính và định lượng amino acid thường là sự kết hợp của nhiều phương pháp hoá lí và sắc ký Có thể dựa vào phổ hấp phụ các amino acid không giống nhau để phân tích Hoặc dựa vào cấu trúc của amino acid tự do sau khi chuỗi polypeptide đã bị thuỷ phân,
có thể định lượng amino acid đầu N tận cùng bằng phản ứng Sanger hoặc Edman Cũng như vậy,
có thể xác định amino acid đầu C tận cùng nhờ phản ứng khử nhóm carboxyl với tác nhân khử NaBH, hoặc sử dụng enzyme carboxypepitdase…
3.1.Sắc ký giấy
Trong đó: - a là khoảng cách chuyển dịch của chất phân tích
- b là khoảng cách chuyển dịch của dung môi
Trang 11Nguyên tắc: dựa vào sự phân bố giữa hai pha dung môi: dung môi cố định và dung
môi di động Dung môi cố định thường là nước giữ ở giấy sắc ký (trong điều kiện bão hoà hơi nước, giấy có thể giữ 15-22% nước tính theo trọng lượng giấy) Dung môi di động thường là một dung môi hữu cơ bão hoà nước di chuyển trên tờ giấy theo mao dẫn kéo theo các chất
trong dung dịch
Người ta mang lên một điểm ở đầu bản giấy sắc ký một giọt dung dịch cần phân tích rồi nhúng đầu giấy có mang dung dịch cần phân tích đó vào chậu dung môi hữu cơ linh động bão hòa nước (như rượu butilic)
Trong quá trình di chuyển chậm của dung môi qua ống mao dẫn của giấy, các cấu tử riêng biệt của hỗn hợp sẽ chuyển dịch theo với vận tốc khác nhau, nhờ vậy mà hỗn hợp được phân chia ra thành các cấu tử thành phần
Sự chuyển dịch của các chất trong khi tiến hành sắc lý có thể giải thích như sau: các sợi xenlulozo của giấy có ái lực lớn đối với nước và hấp phụ nước trong dung môi hữu cơ bão hòa nước (đóng vai trò là chất mang) Ở đây pha tĩnh là nước, còn dung môi hữu cơ là chất lỏng linh động khi dung môi chảy qua phần giấy có chứa dung dịch cần phân tích thì một phần các chất chuyển vào dung môi (pha động) Khi dung môi tới phần giấy không có chứa các chất phân tích thì ở đó lại xảy ra quá trình phân bố các chất giữa pha tĩnh là nước và pha động là dung môi hữu
cơ Lần này, các chất lại chuyển từ (dung môi) pha hữu cơ sang pha nước Như vậy, nếu cho dung môi chuyển dịch liên tục qua giấy, các chất phân tích sẽ được chuyển từ điểm mang ban đầu đến một điểm khác trên giấy theo hướng chảy của dung môi do kết quả của quá trình tách phân bố liên tục giữa hai pha tĩnh động
Quá trình phân tích này được tiến hành trong thiết bị kín bão hòa của dung môi và nước Khi tuyến dung môi đã đi được đoạn đường 30-40 cm, người ta lấy giấy ra sấy khô và phun thuốc nhuộm màu, nhờ đó xác định được vị trí của các cấu tử trên dải giấy Dải giấy sau khi hiện màu gọi là sắc kí đồ
Trong thực tiễn, hệ số vận tốc chuyển dịch (ký hiệu là Rf) có ý nghĩa rất lớn Hệ số vận tốc chuyển dịch Rf là tỉ số giữa quãng đường đi được của chất so với quãng đường chuyển dịch của dung môi Rf là đại lượng đặc trưng và không đổi đối với mỗi chất trong những điều kiện xác định
Các kiểu sắc ký giấy: Tùy thuộc vào hướng hoặc chiều chuyển dịch của dung môi, người
ta phân biệt một số dạng sắc ký như sau:
Sắc ký nghịch: khi dung môi chảy dịch từ dưới lên trên
Sắc ký thuận: khi dung môi chảy từ trên xuống
Sắc ký vòng tròn: khi dung môi chuyển dịch từ tâm ra xung quanh
Ngoài ra người ta còn phân biệt: sắc ký một chiều khi cho dung môi chuyển dịch theo một hướng nhất định Sắc ký hai chiều khi cho dung môi chuyển dịch theo một chiều nào đó, sau đó sấy khô và cho dung môi chảy theo một chiều khác vuông góc với chiều ban đầu
Phương pháp sắc ký giấy một chiều (có thể thuận hoặc nghịch) là phương pháp đơn giản nhất, chỉ dùng một hệ dung môi nào đó, khả năng phân tích kém hơn sắc ký hai chiều
Trang 12Trong sắc ký thuận, hệ số vận tốc chuyển dịch Rf lớn, nhưng các vết màu thu được không gọn, còn trong sắc ký nghịch đại lượng Rf nhỏ hơn, nhưng vết màu lại gọn hơn
Để định lượng các acid amin người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
So sánh bằng mắt thường cường độ màu và diện tích các vết màu của hợp chất đã cho với cường độ màu và diện tích các vết màu của hỗn hợp đối chứng đã biết rõ nồng độ
Đo chiết suất của dịch chiết chất màu từ sắc ký đồ bằng một dung môi thích hợp Sai số của phương pháp này khoảng 3÷6%
Dùng densitomet đo mật độ màu của các vết trong khi cho ánh sáng xuyên qua Độ chính xác của phép đo tăng lên đến 10÷15%
3.2.Sắc ký bản mỏng
Nguyên tắc: dựa trên sự phân bố các chất giữa hai pha: chất hấp phụ được tráng rộng trên
một phiến kính tạo thành một lớp mỏng và pha di động là dung môi thích hợp Dung môi di chuyển làm dịch chuyển các chất trong mẫu thử
Các chất hấp phụ thường dùng: silicagel, alumin oxit, sephadex,… được kết hợp với
thạch cao để dán vào phiến kính
3.3.Sắc ký khí
Nguyên tắc: dựa vào tính chất khó bay hơi của các amino acid nên có thể sử dụng nhiệt
để chuyển chúng thành các dẫn xuất (thường là N-acetyl-amin) Cho tác dụng amino acid với cồn amylic và HBr khan, sau đó cho tác dụng hỗn hợp này với anhydric acetic
Cột thường dung là loại Chromosorb W (60-80 mesh) có một lớp polyetylenglycol 1% (carbowax 1564 hoặc 6000) Thông số nhiệt độ: 125 oC – 155 oC, tốc độ dòng chảy 60-240 ml/phút
Trang 133.4.Phương pháp điện di
Nguyên tắc: dựa vào tính chất tích điện của các amino acid trong môi trường có pH nhất định Dưới tác dụng của điện trường các amino acid tích điện dương (+) sẽ chạy về phía cực (-), các amino acid tích điện âm (-) sẽ chạy về cực (+) Do khả năng tích điện không giống nhau trong điện trường giữa các amino acid vì vậy tốc độ di chuyển của các amino acid không giống nhau trong điện trường Kết quả các mino acid phân bố trải ra trên giá thể (giấy hoặc polyamide)
3.5.Phương pháp quang phổ khối
Nguyên tắc: dùng một chum tia electron bắn vào một lượng chất thử rất nhỏ, các phân tử
chất thử trước hết được phá thành nhiều mảnh ion mang điện dương trong điều kiện chân không Các mảnh ion nhờ một bộ phận phát hiện và ghi thành peak với cường độ khác nhau tương ứng với khối lượng của mỗi ion, đó là khối phổ
Trang 14Có nhiều loại máy quang phổ khối với mức độ phân giải khác nhau, máy có độ phân giải cao là máy có khả năng tách được hai mảnh ion có khối lượng chỉ chênh nhau phần trăm đơn vị khối lượng
3.6.Phương pháp đồng vị
Nguyên tắc: dựa vào hoạt tính phóng xạ của amino acid cùng một loại đã đánh dấu để xác
định vị trí và số lượng của amino acid đó trong chuỗi polypeptide
Ứng dụng: xác định một hoặc một vài amino acid trong hỗn hợp có nhiều loại amino acid khác nhau, hay một amino acid cần được xác định trong nhiều mẫu của một loại thí nghiệm
3.7.Phương pháp enzyme
Có thể các định amino acid bằng phương pháp enzyme dựa trên nguyên tắc mỗi một loại enzyme có khả năng phân giải đặc hiệu một loại L-amino acid nhất định Xác định sản phẩm tạo thành sau phản ứng với enzyme tương ứng có thể biết được amino acid trong hỗn hợp
3.8.Phương pháp vi sinh vật
Một số vi khuẩn sinh trưởng trong một điều kiện thích hợp, chúng rất nhạy cảm với pH để sản xuất ra các enzyme L-amino acid decarboxylase đặc hiệu với từng loại amino acid và hoạt động của chúng giải phóng CO2 trong môi trường Xác định nồng độ CO2 bằng áp kế Warburg
để suy ra thành phần của amino acid
Phần lớn trường hợp điều kiện pH thích hợp thường nằm trong vùng acid
Ví dụ: Ở pH 4.5 tạo ra L-glutamate 1-carboxylyase (glutamate decarboxylase _ EC 4.1.1.15), EC
4.1.1.15 xúc tác chuyển hóa L-glutamic → 4- aminobutanoate (-aminobutyrate) + CO2
Ở pH 5.5 tạo ra L-tyrosine carboxylyase (EC 4.1.1.25), EC 4.1.1.25 xúc tác chuyển hóa L-tyrosine →Tyramine + CO2