1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

mô hình kim cương_basa.docx

35 4K 84
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô Hình Kim Cương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh quốc tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 98,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kinh te quan ly

Trang 1

I- Sơ lược lịch sử phát triển của ngành xuất khẩu cá Ba sa Việt Nam

II- Tình hình hiện nay về xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ

1 Tình hình xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam

2 Tình hình nhập khẩu cá ba sa của Hoa Kỳ

3 Tình hình giao thương xuất - nhập khẩu cá ba sa giữa Việt Nam và Hoa kỳ

III- Sử dụng mô hình Kim cương của Micheal Porter để phân tích lợi thế cạnh

tranh của Cá Basa Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ, so sánh với Thái Lan

1 Áp mô hình kim cương để phân tích cho Việt Nam

1.1 Các yếu tố về nguồn lực1.2 Yếu tố về nhu cầu 1.3 Yếu tố ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan 1.4 Chiến lược và cấu trúc của các xí nghiệp cạnh tranh 1.5 Các yếu tố ngoài mô hình có thể tác động đến lợi thế cạnh tranh của mặt hàng cá basa của Việt Nam xuất sang Hoa kỳ

2 Sử dụng mô hình Kim cương nói trên để phân tích cho cá Basa của Thái Lan (đối thủ cạnh tranh của Việt Nam)

1.1 Các yếu tố về nguồn lực 1.2 Yếu tố nhu cầu

1.3 Yếu tố ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan:

1.4 Chiến lược và cấu trúc của các xí nghiệp cạnh tranh 1.5 Các yếu tố ngoài mô hình

3 So sánh tổng hợp lợi thế về ngành này giữa Việt Nam và Thái Lan

IV- Kết luận chung

Trang 2

I- Sơ lược ịch sử phát triển của ngành xuất khẩu cá Ba sa Việt Nam:

Cá ba sa còn có tên khoa học là Pangasius, là một loại cá da trơn, có giá trị dinh dưỡng cao với hàm lượng mỡ lớn; sống chủ yếu trong nước ngọt có lưu lượng chảy mạnh Đây là loài có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, sống đáy ăn tạp thiên về động vật Trên thế giới, cá ba sa và cá tra (được gọi chung là cá da trơn) tập trung nhiều nhất ở vùng hạ lưu sông Mê kong, ở 4 nước thuộc Đông Nam Á là Lào, Việt Nam, Cămpuchia và Thái Lan

Trong đó, Việt Nam với sự ưu đãi từ thiên nhiên từ vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, đã phát triển một ngành sản xuất và xuất khẩu cá ba sa từ rất lâu đời

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có hệ thống sông rạch dày đặc với phù sa bồi đắp là nơi thích hợp nhất cho sự sinh sống và phát triển của cá da trơn như là cá tra và cá

ba sa Ngành nghề về hai loại cá này có ở hầu hết các tỉnh trong khu vực và tập trung ở các tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang,…

Ngoài việc đánh cá có từ thời cổ xưa, từ năm 1940 nghề nuôi cá nước ngọt bắt đầu phổ biến và phát triển, đa số được nuôi trong ao, đăng quầng, bãi bồi và lồng bè; ngoài ra

có nuôi thả lưới ở hầu hết các con sông trong toàn khu vực

Tiếp theo đó khi nguồn cung dư thừa cho việc tiêu dùng thì cá ba sa Việt Nam bắt đầu được xuất khẩu sang các nước lạnh hơn ở phía Tây khoảng vào năm 1990 Ngành xuất khẩu này tăng trưởng đều đặn cho đến khi thương mại Mỹ trở nên khắt khe và ta vấp phải các vụ kiện phá giá gần đây Năm 1995, ta nhân giống thành công giống cá tra sinh sản vô tính và kể từ đó, nguồn cung càng dồi dào cho xuất khẩu Từ khi Việt Nam mở rộng xuất khẩu và sản phẩm từ cá tra, cá ba sa tìm được thị trường thì ngành chế biến cá tra và ba sa như bước sang một trang mới Người dân có thêm thu nhập và lợi nhuận lớn từ nghề cá

Về sự phát triển của ngành này, có thể thấy tốc độ là vượt bậc, thể hiện ở sự tăng lên lớn về diện tích nuôi trồng,về sản lượng và giá trị xuất khẩu Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, tổng diện tích nuôi cá tra 10 tháng đầu năm 2010 ước đạt

Trang 3

quân 308 tấn/ha, năm 2010 là 255 tấn/ha) Ngoài ra còn có sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp đông lạnh trong chế biến thuỷ sản Hiên nay, số lượng nhà máy đông lạnh dung cho cá tra, cá ba sa ở vùng ĐB sông Cửu Long đã vào khoảng 90 nhà máy, tăng lên 40 nhà máy so với năm 2005 Năm 2007, xuất khẩu cá tra, cá ba sa đạt 1 tỷ USD, xuất khẩu gần 400.000 tấn phi lê (tương tương 1 triệu tấn cá nguyên liệu - chỉ tiêu được đặt ra cho năm 2010), tăng 34,4% so với năm 2006.

II- Tình hình hiện nay về xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam và nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ:

1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam:

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cá basa vẫn đang là mặt hàng chiếm

tỷ trọng giá trị xuất khẩu cao nhất trong nhóm thủy sản, nửa đầu năm 2009 đạt khối lượng xuất khẩu 206.000 tấn, kim ngạch 473,9 triệu USD

Từ đầu năm 2011, thị trường tiêu thụ sản phẩm cá tra, basa Việt Nam đã có mặt trên

163 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, chiếm khoảng 90% thị phần cá da trơn của thế giới Nổi bật là một số thị trường như: EU, Mỹ, Nga, Canada, Úc, Trung Đông, v.v Theo VASEP, trong năm 2011 thì Việt Nam đã xuất khẩu 360.000 tấn cá xuất khẩu trong đó thị trường châu Âu chiếm khoảng 210.000 tấn, thị trường Mỹ là 40.000 tấn và 110.000 tấn còn lại cho các thị trường khác

Đứng đầu trong cơ cấu xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam là thị trường EU với kim ngạch đạt 206 triệu USD trong 6 tháng đầu năm Người Châu Âu thích sản phẩm cá ba sa của Việt Nam với đặc điểm họ ưa chuộng là loại cá philê thịt trắng Kể từ khi cá basa được đưa vào tiêu thụ tại thị trường nhiều nước EU, thị phần của loại cá này tiếp tục được mở rộng Nhiều thị trường ở EU tăng nhập khẩu cá basa, cụ thể Tây Ban Nha tăng 16% so với năm 2010, Hà Lan 9% và Ba Lan 23% Ngoài ra còn một số nước mà Việt Nam đang đẩy mạnh xuất khẩu vào như Rumani, Bungari và Hungari Sở dĩ người tiêu dùng Châu Âu ưa chuộng cá basa là nhờ nguồn cung ổn định, chất lượng tốt và giá rẻ hơn các nước lạnh nội địa

Trang 4

Đứng thứ hai là thị trường Hoa Kỳ, cá basa của Việt Nam chiếm 90% tổng sản lượng nhập khẩu loài cá này vào thị trường này Xét về thị trường đơn lẻ, Mỹ là thị trường

có khối lượng và giá trị nhập khẩu cá tra lớn nhất của Việt Nam Trong bảy tháng đầu năm

2011, Việt Nam xuất khẩu cá da trơn Mỹ đạt 46.000 tấn với kim ngạch 161,2 triệu USD, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2010 Lợi thế hiện tại cho Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ là giá chào hàng cá tại thị trường Campuchia, Malayxia và Thái Lan tăng cao do khan hiếm nguồn cung nội địa

Bên cạnh các thị trường trọng điểm xuất khẩu cá basa của Việt Nam như EU, Mỹ, Nga và Australia cũng nằm trong số các thị trường xuất khẩu cá basa của Việt Nam Nga là thị trưởng nhập khẩu thủy sản lớn thứ 4 của Việt Nam, riêng cá basa thì Nga là một thị trường đầy tiềm năng vì có nhu cầu cao đối với mặt hàng này Tại thị trường Australia, cá basa là một trong hai mặt hàng đông lạnh chủ lực của Việt Nam tại đây (cùng với tôm đông lạnh)

2 Tình hình nhập khẩu cá ba sa của Hoa Kỳ:

Mỹ là nước xuất khẩu thuỷ sản thứ 4 thế giới nhưng cũng là nước nhập khẩu đứng thứ 2 thế giới (đạt 10,2 tỷ USD/ năm) Theo tổ chức FAO, 76% sản lượng thuỷ sản tiêu thụ tại Mỹ là thuỷ sản nhập khẩu Lý do là ở chỗ nghề cá ở Mỹ hiện đang trong bối cảnh sụt giảm sản lượng nghiêm trọng Cơ hội phát triển nuôi trồng thuỷ sản bị giới hạn do những điểm yếu về môi trường, chính trị, nhiệt độ, tài nguyên Hơn nữa, đặc điểm người tiêu dùng Mỹ sinh sống ở vùng lạnh rất thích các loại thực phẩm giàu calori như cá da trơn, trong đó có cá tra và cá ba sa được nhập khẩu từ Việt Nam, Thái Lan, Inđônêsia,…lại rất được người tiêu dùng ưa chuộng Vì thế để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng, ngành

Trang 5

thuỷ sản Mỹ bắt buộc phải nhập khẩu

Theo đánh giá chung trên bình diện thế giới, trong năm 2010 trong lượng thuỷ sản

Mỹ nhập khẩu có 23% từ Trung Quốc, Thái Lan 17%, Canađa 12% và Inđônêxia 6%, Việt Nam là nước cung cấp thủy sản lớn thứ 5 cho thị trường Mỹ, chiếm 5% Riêng về mặt hàng cá da trơn, quý 1 năm 2011, nhập khẩu cá da trơn của Hoa Kỳ tăng 20% so với cùng

kỳ năm 2010, trong đó cá basa chiếm 94% và cá ba sa Việt Nam chiếm đến 90%

Trang 6

Cá da trơn từ lâu đã là món đặc sản, được nói nhiều trong văn chương miền Nam nước Mỹ Văn hào Mark Twain ca ngợi nó trong ký sự dài “Cuộc sống trên dòng Mississippi” Một nhân vật trong tiểu thuyết “Chiếc lưới rộng” của nhà văn Eudora Welty, sau khi ních đầy bụng món cá da trơn, đã tuyên bố : “Không có món ăn nào ngon hơn!” Người dân Mỹ rất ưa chuộng sản phẩm cá tra, basa của Việt Nam vì ngon không kém các loại cá da trơn của Mỹ, mà giá lại rẻ chỉ bằng 1/5 lần (giá rẻ hơn từ 0,08 đến 1 USD/pound

và chất lượng không thua kém catfish Mỹ) Năm 2009 là năm đầu tiên cá tra, cá ba sa lọt vào danh sách thủy sản được ưa chuộng nhất tại Mỹ và xếp thứ mười với mức tiêu thụ bình quân 0,78kg/người, đã tăng lên 0,89kg/người vào năm 2010 Đáng chú ý là cá tra, cá ba sa

là một trong bốn loại thủy sản có mức tiêu thụ tăng so với năm trước đó (cùng với cá rô phi, cá ngừ, cá tuyết), trong khi sáu loại khác có mức tiêu thụ giảm

3 Tình hình giao thương xuất - nhập khẩu cá ba sa giữa Việt Nam và Hoa kỳ:

Với lợi thế là quốc gia đứng thứ 2 về sản lượng cá basa ở đồng bằng sông Mekong

và thị hiếu cư dân Hoa Kỳ như phân tích ở trên, có thể nói rằng, thị trường Hoa Kỳ là một điểm đến đầy tiềm năng cho nhà xuất khẩu cá da trơn nói riêng và ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nói chung

Từ những năm đầu của thế kỷ 21 cho đến nay, Việt Nam chiếm phần lớn trong tổng khối lượng sản phẩm nhập khẩu cá basa của Mỹ Năm 2002, Việt Nam chiếm 91% tổng sản lượng cá basa nhập khẩu vào thị trường này Năm 2003 tuy con số này có giảm nhưng vẫn chiếm ưu thế hơn so với các quốc gia khác cùng xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ như Brazil, Trung Quốc,

Những năm gần đây, mặt hàng cá basa xuất khẩu sang thị trường Hòa Kỳ phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh đang ngày càng lớn mạnh, từ Thái Lan, Campuchia và Indonesia Bất chấp những khó khăn khủng hoảng, trong đó thách thức nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu cá basa sang thị trường Hoa Kỳ vẫn có sự tăng trưởng vượt bậc, đạt 45.97 triệu USD, tăng 59.98% so với cùng kỳ năm 2008

Trang 7

Có một vấn đề lớn hiện nay là khi nhu cầu nhập khẩu ở Mỹ ngày càng tăng, khả năng cạnh tranh của cá da trơn nội địa yếu, đã làm cho chính phủ Mỹ cố gắng lần lượt dựng lên các rào cản về thuế, yêu cầu các doanh nghiệp nhập khẩu phải tuân thủ quy trình

an toàn sản xuất HACCP “từ ao nuôi đến bàn ăn”, liên tục tung ra các vụ kiện cá ba sa Việt Nam phá giá , gây không ít khó khăn cho phía nhà xuất khẩu của Việt Nam Ví dụ có một

số sự kiện tiêu biểu như sau:

• Ngày 28 tháng 6 năm 2002, Hiệp Hội chủ trại nuôi cá da trơn Mỹ (CFA) đã đệ đơn kiện một số doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam lên Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Ủy Ban Thương Mại Quốc tế Mỹ (ITC) là các sản phẩm

cá tra và basa philê đông lạnh được bán thấp hơn giá trị hợp lý tại thị trường Mỹ, gây thiệt hại về vật chất cho sản xuất nội địa

• Năm 2002, Quốc hội Hoa Kỳ đã ra đạo luật không cho phép gọi cá tra hay basa nhập khẩu từ Việt Nam là “catfish”, để sản phẩm catfish sản xuất ở nước được bán với giá cao hơn do tự coi là có phẩm chất tốt hơn

• Ngày 19/11/2010, sáu thành viên WWF ở châu Âu đưa cá tra Việt Nam vào danh mục đỏ trong cuốn cẩm nang Hướng dẫn tiêu dùng thủy sản năm 2010-2011

Tuy vậy, Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ gặp phải hàng rào chống bán phá giá hay những yêu cầu gắt gao về chất lượng nhưng Mỹ vẫn là một thị trường tiềm năng mà nhà xuất khẩu cá basa Việt Nam nhắm đến Có một câu hỏi đặt ra là tại sao như vậy?

Nhận xét về sản phẩm cá ba sa nhập khẩu từ thị trường Việt Nam, người tiêu dùng

Mỹ cho biết sản phẩm của Việt Nam có tính chất khá khác so với sản phẩm nội địa hay sản phẩm nhập khẩu từ các nước khác: “fifteen of eighteen of the interviewed domestic processors and six of seven of the interview importers reported that there are significant differences in product characteristics or sale conditions between domestic catfish and basa from Viet Nam” Có thể nói rằng đây là lý do đầu tiên giải thích tại sao Việt Nam chọn

Trang 8

Mỹ là thị trường xuất khẩu tiềm năng, là vì tính đặt thù của sản phẩm cùng với việc nhu cầu sản phẩm ở thị trường Mỹ.

Lý do thứ hai, về lực lượng lao động sản xuất, giá lao động ở Mỹ cao hơn nhiều so với giá lao động sản xuất trong ngành sản xuất thủy sản ở Việt Nam Thứ ba, trong khi Việt Nam có thể tận dụng diện tích mặt nước ở các tỉnh miền Tây, đồng bằng sông Cửu Long để nuôi cá basa, tiết kiệm phần lớn chi phí thì Mỹ phải đầu tư cho phần diện tích mặt nước cùng với những trang thiết bị cần thiết phục vụ cho chăn nuôi Hơn nữa, Mỹ phải tốn một chi phí khá lớn cho thức ăn chăn nuôi, trong khi các hộ chăn nuôi ở Việt Nam có nguồn thực phẩm cho cá basa tương đối rẻ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng

Như vậy với sự ưu đãi từ vùng sông Mê kông và một số lợi thế nêu trên có thể kết luận cuối cùng là, Mỹ vẫn là một thị trường chủ lực và tiềm năng mà ngành xuất khẩu cá

ba sa Việt Nam nhắm đến

III- Sử dụng mô hình Kim cương của Micheal Porter để phân tích lợi thế cạnh

tranh của Cá Basa Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa kỳ:

1 Áp mô hình kim cương để phân tích cho Việt Nam:

Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long nước ta được các nhà khoa học minh chứng là

“vùng nước vàng” của hành tinh, với diện tích phù sa và nguồn lợi nước ngọt, nước lợ rất lớn, hệ thống kênh rạch đan xen đã tạo nên một nơi nuôi cá da trơn cho năng suất cao nhất thế giới và không đâu trên thế giới việc sinh sản nhân tạo cá giống cho hiệu quả tốt hơn

Điều kiện tự nhiên ưu đãi trên Sông Tiền, Sông Hậu với khí hậu cận xích đạo, ôn hoà, dòng chảy mạnh và lưu lượng nước rất lớn hàng năm Cá có đủ oxi để thở và nuôi lớn

Trang 9

trong mật độ cao lại không tốn chi phí để quậy nước, tạo dòng chảy trong bè Trên 1m3 nước có thể đạt năng suất 120 – 170 kg cá thương phẩm Bên cạnh đó, nghề nuôi cũng đã

mở rộng từ nuôi bè sang nuôi ao và nuôi trong quầng đăng ở đuôi các cồn trên sông, tận dụng từng hecta mặt nước trong khu vực để phát triển ngành nuôi cá

Hơn nữa, vị trí hạ lưu sông Mê Kong cung cấp một lượng cá giống đáng kể cho nghề nuôi 2 loại cá tra và cá ba sa này, mặc dù lệnh cấm vớt cá tra bột đã được ban hành và

cá giống nhân tạo đã được sử dụng nhiều tuy nhiên, vị trí ở hạ lưu này vẫn đang đóng góp cho ngư dân một lượng cá giống tự nhiên lớn

Ở Việt Nam hiện có hơn 10.000 bè nuôi cá với hàng ngàn hécta mặt nước tại 7 tỉnh ĐBSCL là An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang và Thành phố

Hồ Chí Minh đang nuôi trồng cá tra, basa

Thứ hai là yếu tố nhân lực

Việt Nam được đặc trưng bởi lực lượng lao động dồi dào với chi phí nhân công rẻ, đặc biệt là lao động nuôi cá ở khu vực Đồng Bằng song Cửu Long, tạo điều kiện phát triển nuôi trồng cá tra, basa với chi phí lao động rất thấp

Thêm vào đó là đặc điểm của ngư dân nơi đây là rất cần cù, chịu khó và có kinh nghiệm nhiều năm trong nghề nuôi cá da trơn, và đặc biệt là rất sáng tạo, có thích ứng cao trong việc áp dụng nghề nuôi cá phù hợp với khí hậu có nhiều thiên tai của Việt Nam Nguồn lao động trong các xí nhiệp tập trung cũng tương đối dồi dào và nhạy bén, dễ thích nghi với công việc

b Yếu tố tăng cường:

Công nghệ phát triển rất nhanh, công nghệ tiên tiến được áp dụng vào nhiều khâu: như tạo giống mới, chế biến, lưu trữ, vận chuyển…Điều này giúp cho đầu tư vào ngành cá tra, basa tăng lên nhanh chóng (diện tích nuôi trồng liên tục tăng vượt bậc trong những

Trang 10

năm qua, các doanh nghiệp mạnh dạn mua lại máy móc dây chuyền hiện đại và nhận chuyển giao kĩ thuật từ các nước tiên tiến), thể hiện qua các mặt sau:

• Khai thác tự nhiên sang chủ động về giống

• Kĩ thuật nuôi đã có nhiều thay đổi, từ cải tiến lồng bè, thiết bị bơm quạt nước, đến cải tiến thiết bị chế biến

• Các doanh nghiệp Việt Nam luôn nỗ lực trong việc nâng cao năng lực chế biến cũng như phát huy công suất các phân xưởng nhà máy, đổi mới máy móc thiết bị Tiêu biểu, Afiex rất tích cực trong việc xây dựng kho lạnh và mở rộng phân xưởng Tháng 9 năm 2003, công ty đã đầu tư 6 tỷ đồng xây dựng phân xưởng chế biến sản phẩm từ cá basa để tiêu thụ nội địa với công suất chế biến là 2000 tấn/ năm Agifish đầu tư 20 tỉ cho phân xưởng mới có công suất 900 tấn thành phẩm/ năm

• Bên cạnh mặt hàng cá nguyên con (bỏ nội tạng) và cá phi lê (không

da, không xương) còn rất nhiều sản phẩm chế biến luôn được làm mới Các mặt hàng chế biến cao cấp gồm cá lột da, cá tẩm bột, chả cá, cá xiên que, cá kho tộ…Vào năm 1999, sản lượng cá bột nhân tạo đã vượt hơn hẳn cá vớt từ tự nhiên và tới nay cá tra bột vớt tự nhiên chỉ còn khoảng thấp hơn 25% giai đoạn 1975 -1980 (khi mà nguồn cá tra giống gần như phụ thuộc vào tự nhiên) và từ năm 1996 các cơ quan nghiên cứu như: Trường đại học An Giang, Viện nghiên cứu thủy sản II, công ty Agifish An Giang

đã nghiên cứu thành công về việc cho đẻ nhân tạo cá basa, từ đó chủ động về nguồn cung con giống

1.2 Yếu tố về nhu cầu:

Nghề nuôi cá basa là một trong những loại hình nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh nhất trên thế giới Việt Nam là nơi diễn ra 90% hoạt động nuôi cá ba sa Sự phát triển của ngành nuôi cá ba sa phần lớn là do nhu cầu tiêu thụ cá basa trên thị trường tăng lên đáng

kể Nhu cầu cá basa được thể hiện rõ nét qua khả năng tiêu thụ ở thị trường nội địa và thị trường nước ngoài

Trang 11

a Thị trường nội địa.

Các công ty đẳng cấp quốc tế bao giờ cũng phải trước tiên mạnh trên chính sân nhà của họ trước rồi mới mở rộng tiến ra thế giới Thế nhưng đối với các công ty ở ngành cá tra, basa Việt Nam thì lại đi ngược lại Họ chú trọng hơn đến thị trường xuất khẩu mà bỏ quên thị trường nội địa, đặc biệt là thị trường phía Bắc Ở thị trường này, các hoạt động nỗ lực xúc tiến hầu như không có Người dân hầu như không biết hay không mặn mà gì với loại cá mà chỉ được giới thiệu là cá da trơn này

Theo kết quả nghiên cứu, nhu cầu tiêu dùng cá da trơn nói chung và cá basa nói riêng phụ thuộc vào thu nhập, đặc điểm của từng địa phương, trình độ học vấn Có một điều đáng chú ý đó là vùng có số hộ nuôi cá basa càng nhiều thì thì người tiêu dùng có nhu cầu càng ít Ví dụ, nhu cầu mua cá basa giảm dần theo từng địa bàn như sau: Vĩnh Long 25%, Đồng Tháp 15% và An Giang 12.5 % Có thể nói rằng, 3 tiêu chí chủ yếu quyết định động cơ mua cá basa của người tiêu dùng nội địa đó là: giá bán, sự thuận tiện và cảm giác ngon miệng Động cơ mua cá basa cũng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của từng địa phương, mục đích mua và chủng loại sản phẩm Người tiêu dùng ở Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long cho rằng giá cả là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hành vi mua của họ, trong khi đó, ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ quan tâm đến tính thuận tiện khi mua và chất lượng sản phẩm chứ không quan trọng vấn đề giá cả

Nhu cầu nội địa đã có, tuy nhiên các doanh nghiệp chưa có sự đầu tư thực sự đúng đắn vào thị trường này Trước hết đó là chưa có sự đầu tư đúng mức vào chất lượng và hình thức sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, trong đó thu nhập của khách hàng là yếu tố quan trọng Cụ thể, sản phẩm có nguồn gốc cá sạch, bao bì vẻ bề ngoài bảo đảm sự tin cậy về chất lượng, có ghi thông tin đầy đủ về thành phần dinh dưỡng, để đáp ứng cho khách hàng có thu nhập cao Sản phẩm có hình thức đơn giản và

có giá rẻ để đáp ứng cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp Không chỉ có vậy, việc phát triển thị trường nội địa cũng phải những khó khăn trở ngại Sản phẩm cá basa không thể

Trang 12

vào các chợ (kênh tiêu thụ chủ yếu hiện nay) bởi chợ không được đầu tư phương tiện để bảo quản các sản phẩm đông lạnh

b Thị trường nước ngoài.

Trên thực tế giá hàng thủy sản xuất khẩu phần lớn đều cao hơn giá nội địa nên doanh nghiệp có xu hướng xuất khẩu nhiều hơn kinh doanh trong nước Và đặc biệt với cá

ba sa Việt Nam lại hướng chú tâm ra thị trường xuất khẩu hơn là thị trường nội địa

Cá Basa Việt Nam được nhiều thị trường ưa chuộng vì mầu sắc cơ thịt trắng, thịt cá thơm ngon hơn so với các loài cá catfish khác Khác với người dân vùng nhiệt đới chúng

ta, người dân vùng lạnh Bắc Mỹ và Châu Âu rất ưa chuộng sản phẩm cá ba sa vì hàm lượng calory lớn, giúp tạo năng lượng tốt cho cơ thể vùng lạnh Do đó, sự ăn khớp giữa nhu cầu thị trường nước ngoài với khả năng cung dồi dào của trong nước đã tạo nên mối giao thương xuất- nhập khẩu có giá trị lớn về ngành cá ba sa này

Hiện tại, EU và Mỹ vẫn là 2 khối thị trường lớn nhất nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam Sở dĩ cho tới nay, 2 thị trường này vẫn thích tiêu thụ cá tra, basa của Việt Nam

là vì có mức giá phù hợp, đáp ứng tốt an toàn vệ sinh thực phẩm Ngoài ra khi phân tích lợi thế cá Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ như trên, sự mở rộng của các nhà nhập khẩu Việt Nam nhắm đến thị trường này coá thể mang lợi nguồn lợi to lớn và lâu dài

1.3 Yếu tố ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan:

Nhìn chung, đối với Việt Nam lợi thế chủ yếu tạo ra do nguồn lợi về tự nhiên

và lao động, còn về yếu tố ngành công nghiệp thuộc đẳng cấp thế giới để làm tăng lợi thế cạnh tranh thì Việt nam không có vì trình độ công nghiệp hoá của nước ta đang còn thấp tương đối so với trình độ của thế giới Tuy nhiên có thể phân tích sự hỗ trợ và lợi ích hay hạn chế từ các ngành có liên quan trong chuỗi giá trị cá ba sa xuất khẩu như sau:

Quá trình sản xuất cá tra xuất khẩu và tên một số ngành CN liên quan

Trang 13

ng đoạn nguồn nguyên liệu lạnh g gói và

phân phối Yê

u cầu

Đảm bảo về

an toàn vệ sinh thực phẩm

Dụng cụ chuyên chở, thùng chứa.

Cắt ngâm-Lạng da- Định hình-rửa-Cân

tiết-Fille-và phân loại-Quay thuốc.

Dụng cụ làm cá

Máy móc: Tủ chờ đông, xe đẩy, phòng lạnh,

tủ cấp đông,tách đông, mạ băng

Công nghệ làm lạnh

Bao

bì đóng gói: túi

PE, thùng carton, …

Công nghệ vi

xử lý, kiểm tra và xử

lý cá

Ngành câu cá nước ngọt (=> CN đóng tàu

thuyền),nuôi trồng thuỷ sản

Ngành nghiên

cứ và phát triển giống nuôi trồng

Ngành CN sản xuất dụng cụ, thiết bị sản xuất công nghiệp

CN sản xuất hóa chất sản phẩm

CN sản xuất dụng cụ, thiết bị sản xuất công nghiệp

CN năng lương: điện, nước sạch.

CN sản xuất dụng cụ, thiết bị sản xuất công nghiệp

CN đông lạnh

CN năng lương điện

CN sản xuất bao bì và đóng gói sản phẩm

CN sản xuất máy móc

và thiết bị công nghiệp.

Ngà

nh marketing đầu ra và phân phối

a Thứ nhất là ngành cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào, bao gồm ngành câu cá nước ngọt (liên quan đến CN đóng tàu thuyền và CN thủy lợi), ngành nuôi trồng thuỷ sản Có thể thấy được khi phân tích về yếu tố tự nhiên của Việt Nam thì nguồn cá tự nhiên có thể nói là rất dồi dào và phong phú tạo nên một lợi thế cho

Trang 14

ngành cá ở Việt Nam so với Hoa Kì Ngành đánh bắt ở việt Nam cũng phát triển mạnh từ rất lâu đời Công nghiệp tàu thuyền và đánh bắt truyền thống ở Việt Nam

có sự bền vững nhưng năng suất thấp, và so với Thái Lan thì ta còn kém hơn nhiều

Ở ĐB sông Cửu Long, 83% các gia đình có thu nhập thấp là bắt cá trong các ruộng lúa, kênh mương và sông ngòi ( theo Vasep) Nhưng tình trạng đánh bắt đang còn phân tán ở quy mô hộ gia đình, làm tăng đáng kể chi phí thu mua.

Mặc dù đánh cá là phát triển mạnh, nhưng sản lượng cá tự nhiên thay đổi thất thường và sự tăng trưởng ồ ạt của nhà máy chế biến thuỷ sản vượt công suất hiện đang bật tín hiệu thiếu hụt nguồn nguyên liệu nghiêm trọng Do đó, bên cạnh ngành đánh bắt cá tra

từ sông ngòi tự nhiên cần đầu tư phát triển ngành nuôi cá, và đặc biệt là ngành nghiên cứu

và phát triển giống nuôi trồng Muốn phát triển sản xuất phải chủ động về giống Hiện nay, đàn cá tra giống tại không ít cơ sở sản xuất chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng, có dấu hiệu thoái hóa, dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao trong quá trình nuôi cá tra thương phẩm Ở Việt Nam đã có một tín hiệu tốt là Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống thủy sản An Giang đã ứng dụng thành công công nghệ sản xuất hai loại giống cá này

b Thứ hai là ngành công nghiệp đông lạnh, vốn dĩ sự phát triển của ngành chế biến và xuất khẩu thuỷ sản nói chung và cá da trơn nói riệng bắt buộc phải có sự hỗ trợ của hệ thống kho đông lạnh Sự phát triển của ngành xuất khẩu cá ba sa nước ta hiện nay đồng dạng với

sự phát triển của ngành công nghiệp đông lạnh tương ứng

Ngành công nghiệp đông lạnh ở nước ta có lịch sư phát triển rất nhanh chóng: Năm

1975, cả nước có 11 nhà máy đông lạnh với năng lực cấp đông 45tấn/ ngày Từ 1976 đến

1990, ngành công gnhiệp này phát triển vượt bậc, riêng số nhà máy đông lạnh đã có 102 và năng lực cấp đông đã đạt 567 tấn/ ngày ( tăng hơn 10 lần so với 1975) Sau đó, nó tiếp tục phát triển mạnh mẽ đến cuối năm 2003, số nhà máy đông lạnh lên tới 305 với năng lực cấp đông là 1800tấn/ ngày Hiện nay, lĩnh vực cơ điện lạnh thuỷ sản đang trên đà phát triển và đóng góp đáng kể vào quá trình tăng trưởng năng lực chế biến thuỷ sản nói chung và cá da trơn nói riêng Theo thống kê chưa đầy đủ hiện nay nước ta có hơn 300 cơ sở chế biến thuỷ sản, và khoảng 220 nhà máy chuyên sản xuất các sản phẩm đông lạnh phục vụ xuất khẩu

có tổng công suất 200 tấn/ngày

Trang 15

Thời kỳ

Số nhà máy tăng thêm

Tổn

g số nhà máy cuối kỳ

Năng lực cấp đông(tấn/ngày

)

Tỷ lệ tăng trưởng(%)

Tuy nhiên, sự phát triển trên đây của Việt Nam cũng nằm trong dòng phát triển tương tự của các nước khác trong khu vực Trong đó, khi so với Thái Lan thì nước ta còn kém hơn về mặt kỹ thuật Máy móc ta đều phải nhập khẩu và lắp ráp từ Nhật Bản, Đa Mạch, Mỹ, NaUy Ý, Đài Loan và máy cũ cũng nhiều Các xí nghiệp cơ điện lạnh trong ngành chỉ mới sản xuất được phần đuôi hệ thống đông lạnh Trong khi đó, Thái Lan ít bị động về lĩnh vực này hơn với những nhà máy sản xuất dàn điều hoà và đông lạnh tương đối hiệu quả, gồm các dòng máy như water chiller, packaged, vrv, reetech, kasun, fusheng, kuenling,…

Do đó, để thực sự tạo ra lợi thế cạnh tranh trong ngành, ta phải nỗ lực đổi mới hơn nữa về mặt công nghệ cơ điện lạnh và công nghiệp sản xuất thiết bị sản xuất công nghiệp

Một mặt bất lợi nữa là sự bùng phát của các cơ sở chế biến mà không đi đôi với các ngành liên quan như đầu vào và ổn định dây chuyền sản xuất làm năng lực cấp đông ở việt

Trang 16

Nam hiện đang dư thừa quá cao Hệ số sử dụng năng lực cấp đông chỉ đạt 50%, làm giảm năng suất chế biến trong cả dây chuyền nói chung.

c Một số ngành khác nhưng gây ảnh hưởng bất lợi cho sự phát triển bền vững của công nghiệp chế biến và xuất khẩu cá ba sa Việt Nam đó là: sự hạn chế trong việc xử lý chất thải chế biến gây ô nhiễm môi trường sống của các hộ dân xung quanh nhà máy; hay sự bất ổn định hiện nay của CN năng lương về điện, nước sạch Điều kiện ngành công nghiệp điện của Việt Nam hiện nay đang còn thấp như tình trạng hay mất điện xảy ra gây khó khăn cho công tác sản xuất và chế biến và còn ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp đông lạnh,…Ngoài ra, một số ngành nhỏ khác như hoá chất và thuốc thuỷ sản, khi so sánh với các nước khác trong khu vực ( Thái Lan) thì Việt Nam còn yếu Hiện tượng cá bị nhiễm dư lượng kháng sinh hay cặn hoá học bị kiện đang còn nhiều

Áp dụng một ý tưởng nữa từ mô hình Diamond của M.Porter là để có thể nâng cao năng suất, hiệu quả và lợi thế cạnh tranh của ngành công nghiệp thuỷ sản, trong đó có cá

ba sa thì nên hình thành những cụm công nghiệp chuyên sản xuất cá ba sa Trong một cụm

sẽ bao gồm sự tụ họp gần nhau của tất cả các ngành có liên quan trong hệ thống dây chuyền giá trị tạo nên cá ba sa xuất khẩu Ví dụ các nhà máy sản xuất nên được đặt ở các vùng nguyên liệu tập trung ở ĐB sông Cửu Long và gần hơn với các nhà máy và hệ thống kho đông lạnh

1.4 Chiến lược và cấu trúc của các xí nghiệp cạnh tranh:

a Xuất khẩu cá tra, basa là hoàn toàn phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng như định hướng phát triển của nhà nước.

Từ lâu Việt Nam đã trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu khu vực, cùng với Indonesia và Thái Lan Xuất khẩu thủy sản trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế

Với các lợi thế về tự nhiên kể trên, có thể nói trong những năm gần đây, cá tra, cá basa trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của thuỷ sản Việt Nam, góp phần vào sự tăng

trưởng và phát triển của xuất khẩu thuỷ sản nói riêng và tăng trưởng Việt Nam nói chung

Được nuôi chủ yếu ở “vùng nước vàng” ĐBSCL hiếm hoi của hành tinh, nơi nuôi cá da

Trang 17

trơn cho năng suất cao nhất thế giới và không đâu trên thế giới việc sinh sản nhân tạo cá giống cho hiệu quả tốt hơn nên cá tra, cá basa Việt Nam là loại thịt cá trắng, rẻ, giàu chất dinh dưỡng và omega-3, có lợi cho sức khoẻ, thịt cá thơm ngon hơn các loại cá da trơn khác và thậm chí là hơn cả chất lượng cá ở các nước khác Hiện nay cá tra xuất khẩu sang

163 nước (năm 2006 chỉ có 65 nước), chiếm khoảng 95% thị trường cá phile trên thế giới, sản lượng 1.5 triệu tấn mỗi năm GS Michael Porter, chiến lược gia số 1 thế giới về cạnh tranh, từng nhận xét rằng: Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam chính là sự khác biệt dựa trên nền nông nghiệp Có thể coi cá tra là một sự khác biệt mang tính lợi thế tối ưu, khi nhiều nước có đặc điểm khí hậu tương tự, nhưng không thể nhân giống và xuất khẩu thành công như Việt Nam

b Các chiến lược của ngành nuôi trồng cá tra, cá basa tạo nên lợi thế cạnh tranh xuất khẩu cá tra, cá basa:

b.1 Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm

Về xuất khẩu cá da trơn Việt nam, lấy mốc thời điểm công ty xuất khẩu Agifish xuất khẩu lô hàng đầu tiên sang Úc năm 1987 thì mãi đến năm 1997, cá tra và basa mới thực sự xâm nhập thị trường quốc tế Giai đoạn này chủ yếu xuất khẩu sang Mỹ và đã chiếm gần hết thị trường cá da trơn nhập khẩu ở Mỹ Giai đoạn đầu, việc xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên là chính Thế nhưng khi các đơn đặt hàng xuất khẩu ngày càng tăng thì việc khai thác tự nhiên không còn hiệu quả Để duy trì phát triển lâu dài bền vững, đòi hỏi các công ty xuất khẩu thuỷ sản phải tính đến việc sinh sản nhân tạo để bảo đảm sản lượng Việc sinh sản nhân tạo này đã giúp nghề nuôi các loại cá này từ phụ thuộc nguồn cá giống trong tự nhiên, sang chủ động hơn về giống, chi phí giống thấp mà chất lượng và số lượng giống lại đảm bảo

Hơn nữa để tạo thế cạnh tranh về sản lượng lẫn chất lượng, kỹ thuật nuôi cá cũng được cải tiến như thiết bị lồng bè, thiết bị bơm quạt, thiết bị chế biến, mở rộng từ nuôi bè sang nuôi quầng đăng ở đuôi các cồn trên sông, tận dụng từng hecta mặt nước để phát triển ngành nuôi cá

Ngày đăng: 25/12/2012, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w