Trong xu hướng đổi mới, tích cực hoạt động dạy học đó, môn Ngữ văn -"môn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường trung học cơ sở" được xây dựng chương trình trê
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN A : MỞ ĐẦU 2
I Lí do chọn đề tài 2
II Lịch sử vấn đề 3
III Mục đích và nhiệm vụ 4
1 Mục đích 4
2 Nhiệm vụ 4
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1 Đối tượng 5
2 Phạm vi nghiên cứu 5
V Phương pháp nghiên cứu 5
VI Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm 5
PHẦN B: NỘI DUNG 6
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
I CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1 Lí thuyết dạy học theo hướng tích cực, tích hợp 6
2 Dạy học Ngữ văn THCS theo quan điểm tích hợp 8
3 Về khái niệm và đặc điểm tục ngữ 11
II CƠ SỞ THỰC TIỄN 23
Chương II: TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 27
I.VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỤC NGỮ THEO HƯỚNG TÍCH CỰC, TÍCH HỢP 27
1 Tổ chức học sinh chủ động, tích cực chiếm lĩnh tri thức lí thuyết về khái niệm tục ngữ 27
2 Tổ chức học sinh tự khám phá ý nghĩa các câu tục ngữ, biết vận dụng kiến thức liên môn để lí giải khả năng vận dụng thực tế của tục ngữ 31
3 Hướng dẫn học sinh phát hiện biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ trong tục ngữ 43
4 Giáo viên củng cố bài dạy trên lớp bắng các phiếu bài tập về nhà …………42
II.GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 49
Chương III: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ……… 67
PHẦN C: KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 2PHẦN A : MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
1 Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế đi cùng với những bước phát triểnvượt bậc về công nghệ, khoa học kĩ thuật đã làm thay đổi nhiều quan niệm giáodục truyền thống Nhân loại đã có ý thức đầu tư cho giáo dục vì đó là sự đầu tư
có hiệu quả nhất cho tương lai Tuy nhiên sự đầu tư ấy chỉ thực sự có ý nghĩakhi bản thân giáo dục có sự tự vận động để đổi mới cho phù hợp với tốc độ bứtphá của thời đại
Ở các nước có nền kinh tế phát triển cao, lí thuyết dạy học hiện đại đãđược áp dụng vào thực tế, ít nhiều thu được kết quả khả quan Ở Việt Nam trongnhững năm gần đây, lí thuyết về các phương pháp dạy học mới như dạy học nêuvấn đề, dạy học lấy học sinh làm trung tâm… đã trở thành đề tài tranh luận sôinổi trong các nhà trường, các hội thảo đổi mới phương pháp dạy học được tổchức thường xuyên
Trong xu hướng đổi mới, tích cực hoạt động dạy học đó, môn Ngữ văn
-"môn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường trung học
cơ sở" được xây dựng chương trình trên cơ sở "lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy" Đây là một định hướng đúng đắn Tuy
nhiên nhiều khi sự tích hợp ba phân môn Văn- Tiếng Việt và Làm văn mới chỉ
dừng lại ở mức độ lí thuyết Ở nhiều giờ dạy văn vẫn tồn tại lối dạy "thày trò ghi", tách bạch kiến thức các phân môn Như thế nghĩa là về nội dung chương trình có thay đổi ít nhiều còn về phương pháp vẫn theo lối "bình mới, rượu cũ" Đổi mới phương pháp dạy học chưa thực sự được triển khai triệt để,
giảng-toàn diện trong tất cả các giờ dạy Thực trạng đó đặt ra yêu cầu phải có sự đổimới thống nhất, toàn diện, triệt để theo nghĩa tích cực nhất hoạt động của thày
và trò trong giờ dạy học văn nói riêng, giờ dạy các bộ môn khác nói chung
Bên cạnh đó vấn đề đặt ra cho dạy học hiện đại không chỉ là tích hợptrong bản thân các phân môn của môn Ngữ văn mà còn phải tích hợp liên môn.Đây là xu hướng tất yếu, đã rất nhiều nước tiên tiến với nền giáo dục tiến bộ đã
và đang thực hiện thành công Đó là thời cơ, cũng là thách thức đối với giáo dụcViệt Nam cũng như đối với bộ môn Ngữ văn
2 Văn bản tục ngữ là một trong những văn bản được lựa chọn để đưa vàophần Đọc hiểu của chương trình Ngữ văn 7 Đây là một phần kiến thức quantrọng, có giá trị đối với học sinh Nó một lần nữa củng cố kiến thức văn học dângian các em đã được tiếp xúc qua chương trình Ngữ văn 6 Cùng với truyện dângian thì ca dao, thành ngữ, tục ngữ cũng góp phần làm giàu thêm kho tàng văn
Trang 3học dân gian phong phú, đặc sắc của dân tộc Tục ngữ không chỉ là nghệ thuật
mà còn là trí tuệ, là một phần văn hóa Việt Việc đưa tục ngữ vào giảng dạytrong sách giáo khoa sẽ cho học sinh thấy cái hay của ngôn ngữ, cái thông minh,hóm hỉnh cùng chiều sâu triết lí của trí tuệ dân gian Qua đó, giáo viên giúp bồidưỡng lòng yêu nước, yêu văn hóa dân tộc cùng khả năng vận dụng linh hoạt cáihay cái đẹp của Tếng Việt ở các em Bên cạnh đó nếu thực hiện được tích hợpliên môn trong giờ dạy tục ngữ, giáo viên sẽ củng cố, mở rộng thêm các kiếnthức về tự nhiên, bồi dưỡng kĩ năng sống tích cực cho học sinh
3 Qua khảo sát thực tế dạy học tục ngữ ở nhà trường THCS, tôi thấy mộtthực trạng lãng phí kiến thức đang xảy ra Không ít giờ dạy học tục ngữ biếnthành giờ giảng đạo đức khô khan, áp đặt Trong đó thầy đóng vai trò chủ đạocung cấp giá trị nội dung, bài học kinh nghiệm của các câu tục ngữ còn trò dướilớp ghi chép thụ động; các em không tích cực, chủ động trong tiếp thu, mở rộngtri thức Với phương pháp dạy học đó, vô hình chung thầy và trò đã làm mất đigiá trị của tục ngữ Bởi vì tục ngữ không chỉ đẹp bởi tính trí tuệ, nhân văn của
nội dung được biểu đạt mà giá trị của tục ngữ còn là "cái hay cái đẹp của ngôn ngữ có tính văn chương", thể hiện "tài năng sáng tạo của nhân dân về mặt ngôn từ" (dẫn lời GS Hoàng Trinh) Do vậy, việc định hướng, tổ chức cho học sinh
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động khám phá trọn vẹncái đẹp của kho tàng tục ngữ Việt Nam không phải là điều dễ dàng Nó đòi hỏigiáo viên phải tìm ra một hướng dạy học mới để đọc hiểu văn bản tục ngữ thực
sự thu được kết quả giá trị
Vốn có nhiều tâm đắc với mảng tục ngữ, xuất phát từ những lí do trên,trong nhiều năm được phân công dạy chương trình Ngữ Văn 7, tôi quyết định
chọn đề tài : “Vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tích hợp vào bài tục ngữ trong chương trình Ngữ Văn 7” Tôi mong muốn qua những
bài học về tục ngữ, học sinh sẽ trân trọng hơn vốn ngôn ngữ của dân tộc cũngnhư hiểu được sự hữu dụng của việc học tiếng Việt đối với đời sống, cụ thể làtrong giao tiếp
II Lịch sử vấn đề
Tục ngữ là những câu nói dân gian tồn tại vĩnh cửu trong đời sống dântộc Nó giống như một thứ quặng quý càng lên nước thời gian càng sáng Ý thứcđược điều đó nhân dân ta đã cố công sưu tầm tục ngữ với rất nhiều cuốn có giá
trị như Phương ngôn tục ngữ, tục ngạn tạp biên – Khuyết danh; Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn- Huỳnh Tịnh Của; Tục ngữ phong dao- Nguyễn Văn Ngọc; Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam- Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ Việt Nam- Chu Xuân
Diên…
Trang 4Tục ngữ được đưa vào chương trình sách giáo khoa phổ thông ngay từ bậc
cơ sở Vấn đề đặt ra ở lúc này là có rất nhiều công trình sưu tập, nghiên cứu tụcngữ dưới các góc độ khác nhau từ khai thác nội dung đến tìm tòi về mặt thi phápnhưng chưa ai đề cập thật sâu sắc đến việc giảng dạy tục ngữ ở cấp THCS Đây
là một khoảng trống bởi lẽ từ các thành tựu của khoa học nghiên cứu đến việctruyền đạt tri thức hiểu biết cho học sinh còn có những khoảng cách nhất định
Nó yêu cầu phải được lấp đầy bằng những kiến thức tâm lí, sư phạm sao chophù hợp với trình độ nhận thức cũng như tâm lí của học sinh
Trong khi tích hợp ba phân môn Văn- Tiếng Việt- Làm văn là một xuhướng của dạy học hiện đại thì yêu cầu đặt ra là phải vận dụng kiến thức củatiếng Việt, Làm văn thậm chí là của liên môn các môn khoa học khác để đọchiểu văn bản Đây là quá trình tác động hai chiều, các phân môn sẽ bổ sung, hỗtrợ tích cực cho nhau Trên cơ sở đó cùng với thực tế khảo sát nên tôi đã tìmhiểu, nghiên cứu để rút ra một số kinh nghiệm dạy học tục ngữ theo hướng tíchcực, tích hợp
III Mục đích và nhiệm vụ
1 Mục đích
Trước hết, tôi hướng tới mục đích cơ bản là cung cấp tri thức nền cho họcsinh về một dạng thức tồn tại sơ giản mà vô cùng ý nghĩa của văn học – đó làtục ngữ Tôi muốn giúp học sinh nhận diện được tục ngữ trong lời ăn tiếng nóihàng ngày và trong các tác phẩm văn chương, từ đó làm giàu hơn cho vốn ngônngữ của các em
Từ đó, tôi mong muốn học sinh trân trọng hơn sự trong sáng và giàu đẹpcủa tiếng mẹ đẻ đồng thời nhận ra đặc trưng của đời sống Việt, tư duy Việt từngàn đời tích lũy lại trong các câu tục ngữ giản dị ấy
Ngoài ra, tôi cũng hi vọng, thông qua tiết học này, học sinh có thể có cáinhìn rộng hơn về mối quan hệ của tục ngữ và các môn khoa học khác Và hơnhết, tôi mong học sinh có được niềm phấn chấn khi chính các em là người tìmtòi, quan sát các ngữ liệu tục ngữ (dưới sự hướng dẫn của giáo viên) để từ đókhám phá ra chân dung tinh thần dân tộc Khi đã quen với hoạt động học thìchính yếu tố tích cực và chủ động lại có thể thúc đẩy học sinh tìm tòi sâu hơnvới các vấn đề khác trong chương trình Ngữ văn
2 Nhiệm vụ :
Hiện nay, dạy học môn Ngữ văn không đơn thuần dừng lại ở việc truyềnđạt kiến thức một chiều cho học sinh mà là một công việc phức tạp nhằm pháttriển cả năng lực tư duy, phẩm chất đạo đức và kĩ năng sống cho các em Để
Trang 5thực hiện hiệu quả các mục tiêu đã đề ra,tôi đã nghiên cứu đề tài này với nhiệm
vụ :
- Truyền đạt kiến thức về khái niệm, ý nghĩa và cách sử dụng tục ngữ
- Đặt tục ngữ trong mối quan hệ với các khoa học khác để học sinh nhậndiện cũng như lí giải được giá trị khi vận dụng thực tế của tục ngữ, khắc sâu đặctrưng tư duy và văn hóa của người Việt
- Tổ chức giờ học tích cực với hoạt động nhóm, việc tự chuẩn bị ở nhà kĩcàng của học sinh và các trò chơi của giáo viên
- Thống kê kết quả sau giờ học, đánh giá và rút kinh nghiệm
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng
Dựa trên sự phân công của Ban giám hiệu Trường THCS Trung Châu năm
học 2016 – 2017, tôi tiến hành nghiên cứu và ứng dụng đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tích hợp vào bài tục ngữ trong chương trình Ngữ Văn 7” Vì vậy, đối tượng phục vụ cho việc nghiên cứu đề
tài này là học sinh lớp 7A, 7C Năng lực học tập của học sinh ở tất cả các mức
độ : Giỏi – Khá – Trung bình
2 Phạm vi nghiên cứu
Ngoài những ngữ liệu về tục ngữ tiếng Việt nói chung, tôi cùng các học sinhtập trung đi sâu vào mảng tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất, tục ngữ
về con người và xã hội
V Phương pháp nghiên cứu
1 Tham khảo tài liệu, soạn giáo án, dặn dò học sinh chuẩn bị bài tập ứngdụng; tiến hành giảng dạy
2 Trao đổi, học hỏi từ đồng nghiệp và rút kinh nghiệm
3 Khảo sát, thống kê và phân tích hiệu quả học tập của học sinh
4 Sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu : thống kê phân loại, sosánh đối chiếu …
VI Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung sáng kiến kinh nghiệm có
3 phần :
Chương I : Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương II : Tiến hành thực nghiệm
Chương III : Kết quả thực nghiệm và các khuyến nghị
Trang 6PHẦN B: NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Lí thuyết dạy học theo hướng tích cực, tích hợp
1.1 Thực tiễn và đề xuất dạy- học tích cực
Như chúng ta đã biết, trong nền giáo dục nước ta đã từng tồn tại rất lâumột thực trạng xảy ra ngay từ các bậc học đầu tiên đến tất cả các cấp học caohơn: thầy giảng, trò ghi bài Khí đó hoạt động cơ bản trong giờ dạy học ngữ văn
là hoạt động của người thầy đóng vai trò chủ đạo, cung cấp các kiến thức sẵn có,được tích lũy qua nghiên cứu và qua kinh nghiệm nhiều năm đứng lớp Còn họcsinh đóng vai trò là những máy nghe, máy ghi bài một cách thụ động Lối dạyhọc cũ này tạo nên tình trạng thầy chán dạy, trò chán học Do đó các giờ dạy họcvăn trở thành các đường mòn, áp đặt, phiến diện Và kết quả là chất lượng mônvăn không cao Nguyên nhân chính của thực trạng này là do phương pháp dạyhọc cũ không ý thức được phải lấy học sinh làm chủ thể của giờ dạy học theođúng nghĩa của nó, không thấy được vai trò tích cực trong hoạt động của họcsinh, sự năng động sáng tạo của các em trong quá trình dạy học
Một vấn đề đặt ra gay gắt: phải phát huy tính chủ thể, khả năng tư duy,sáng tạo, độc lập và tính năng động của học sinh trong giờ dạy học
Trên thế giới, phương pháp tích cực có mầm mống từ cuối thế kỉ XIXđược phát triển từ những năm 20, đến thập kỉ 70 của thế kỉ XX thì phát triểnmạnh mẽ Ỏ Việt Nam, nhiều đề xuất hướng dạy học tích cực đã được đưa ra
Cụ thể như tác giả Trần Hồng Quân (Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong
bài "Cách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới cho giáo dục ở thời đại mới" in trên Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 1/1995 viết "Muốn đào tạo con
người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện, sáng tạo Người học tích cực học bằng hành động của mình Người học tự tìm hiểu, phân tích, tập xử lí tình huống và giải quyết vấn đề, khám phá ra cái chưa biết" Ông khẳng định : "nhiệm vụ của người thầy là chuẩn bị cho học sinh thật nhiều tình huống chứ không phải nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu"
Những đề xuất dạy học tích cực đều có cơ sở lí luận vững vàng (từ cơ sởsinh lí học, cơ sở triết học đến cơ sở giáo dục học, xã hội học) Đặc biệt phươngpháp dạy học tích cực là sự gặp gỡ của nhiều nguyên tắc dạy học hiện đại như:
- Đặt học sinh làm trung tâm của giờ dạy học, phát huy cao độ tính tựgiác, năng động, sáng tạo của người học, biến quá trình đào tạo thành quá trình
tự đào tạo
Trang 7- Học sinh tự tìm kiếm kiến thức, xử lí thông tin tự giác, chủ động trongviệc tiếp thu, mở rộng tri thức, tầm hiểu biết của bản thân.
- Học sinh không chỉ nắm vững tri thức mà còn biết cách tiếp cận, khámphá kiến thức cho mình bằng con đường ngắn nhất Từ vốn kiến thức đã có,người học biết vận dụng vào thực tế cuộc sống- học đi đôi với hành
Như vậy dạy học tích cực là một trọng tâm của nguyên tắc dạy học hiệnđại Có nhiều ý kiến bàn bạc về vấn đề này, nhưng giữa họ đều có sự thống nhất
về mặt bản chất khái niệm
1.2 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học theo hướng pháthuy tính tích cực, chủ động của người học Trong đó học sinh là chủ thể học tíchcực bằng hành động của chính mình Lớp học là cộng đồng các chủ thể Thàygiáo tự nguyện từ bỏ vai trò chủ thể, trở thành người thiết kế, tổ chức, cố vấn
Phương pháp dạy học tích cực yêu cầu tinh giảm phần trình bày của giáoviên, tăng cường công tác độc lập của học sinh, chuẩn bị cho học sinh dần dầnlàm chủ quá trình đào tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Phương pháp này nhằm mục đích phát triển nhân cách con người lao động
tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn, cónăng lực tự sáng tạo
1.3 Đặc điểm và bản chất phương pháp dạy học tích cực
a Về mặt đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực, người ta thấy đây
là phương pháp dạy học lấy việc tự học là trung tâm Nó có tác dụng tích cựchóa hoạt động của người học Người học được đặt vào các tình huống có vấn đềtrong đó nổi lên mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết Chính nhu cầu giảiquyết mâu thuẫn đó đã thúc đẩy hoạt động tự giác, chủ động của người học, qua
đó mà lĩnh hội kiến thức, tạo hứng thú của sự nhận thức tích cực, sáng tạo
Phương pháp dạy học tích cực đảm bảo kênh giao tiếp thường xuyên giữathày- trò, trò- trò, thiết lập lưới quan hệ đa chiều trong dạy học Nó đặt ra yêucầu cao cả phía thày và trò, trong đó tư duy độc lập sáng tạo là phương tiện, mụcđích của cả quá trình dạy học
Phương pháp dạy học tích cực có thể áp dụng cho nhiều môn học, nhiềubài học ở mức độ khác nhau Kết quả nó thu về sẽ là năng lực tư duy sáng tạotrong tiếp thu tri thức, vận dụng tri thức trong giải quyết thực tiễn Nói một cáchkhác, phương pháp dạy học tích cực góp phần đào tạo con người khi bước vàođời là con người tự chủ, năng động Nó phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập
và ý chí vươn lên
Trang 8b Về mặt bản chất, phương pháp dạy học tích cực thực chất là biến quátrình truyền thụ kiến thức của thày thành quá trình tự học của học trò Giáo viêntạo hứng thú cho học sinh bằng các tình huống có vấn đề, kích thích người học
tự tìm tòi, nghiên cứu, chủ động hợp tác dưới sự tổ chức, điều khiển, cố vấn củathày để tìm kiếm, mở rộng không ngừng tầm hiểu biết
- Phương pháp nghiên cứu
2 Dạy học Ngữ văn THCS theo quan điểm tích hợp
Trong những năm gần đây, để nâng cao hiệu quả giáo dục, việc đổi mớiphương pháp dạy học đã được quan tâm, nghiên cứu, bình luận sôi nổi Chúng ta
đã làm quen với những khuynh hướng, tư tưởng như tích hợp liên liên môn, …
hướng tới mục tiêu chấm dứt tình trạng "chia ô các bộ môn" xóa bỏ "những lãnh địa môn".
Hiện nay, quan điểm tích hợp được xem như sự lựa chọn tối ưu của cácnước trên thế giới và trong khu vực như Mĩ, Úc, Pháp, Đức, Nhật Bả, HànQuốc…Ở các nước này, từ lâu quan niệm tích hợp đã được đưa vào trong giáodục và thu được nhiều thành tựu lớn Ở Việt Nam, quan niệm này đã được cácnhà giáo dục quan tâm, tranh luận, nghiên cứu và bước đầu không chỉ còn là lí
thuyết mà đã được ứng dụng vào thực tế Chúng ta đã lấy "quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, tổ chức chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy" Chương trình Ngữ văn ở bậc THCS trước
kia có ba phân môn tồn tại tách biệt in thành ba cuốn : sách văn học, sách tiếngViệt và sách Tập làm văn thì nay được kết hợp lại thành một cuốn sách duy nhất
có tên gọi là sách Ngữ văn
2.1 Xác định mục tiêu môn học:
Sách giáo viên Ngữ văn 6 có viết : "Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS: góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn PTCS, chuẩn bị cho họ ra đời hoặc tiếp tục học lên bậc cao hơn Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác Đó là những con người biết rèn luyện tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá
Trang 9trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Đó cũng là những con người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc " Như vậy có thể tóm lại mục tiêu chung
của môn học là đào tạo ra những con người mới phát triển toàn diện, hữu íchcho tiến bộ xã hội Mục tiêu đó được thực hiện trên tinh thần đổi mới phươngpháp dạy học theo quan điểm tích hợp
2.2 Quan điểm tích hợp môn Ngữ văn ở bậc THCS
Chương trình mới đã khẳng định lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắcchỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọnphương pháp giảng dạy
Câu hỏi đặt ra trước tiên: Tích hợp là gì? Giáo dục hiện đại quan niệmtích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình họctập riêng rẽ, các môn học, phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình,cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thểkhác nhau
Tích hợp là xu hướng giáo dục chung của thời đại, không riêng gì đối vớimôn Ngữ văn Tuy nhiên môn Ngữ văn có điều kiện thuận lợi để thực hiện trướcmột bước vì : Văn học, tiếng Việt, Tập làm văn đều có một yếu tố chung là tiếngViệt Dạy học văn, tiếng Việt hay tập làm văn đều do một giáo viên đảm nhiệm
và người giáo viên đó cũng do một khoa đào tạo
Mục tiêu chương trình tích hợp hướng tới là kết hợp được thật tốt việchình thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học vớiviệc hình thành bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết (hiểu theo nghĩa rộng) vốn làhai quá trình gắn bó hữu cơ, hỗ trợ nhau hết sức đắc lực Tích hợp là tinh thầnchủ đạo của giáo dục hiện đại nhằm phối hợp tối ưu các quá trình học tập riêng
rẽ các môn học, phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độkhác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khácnhau
Theo quan điểm tích hợp triệt để, ranh giới giữa ba phân môn Văn, TếngViệt, Tập làm văn không còn, "tam vị" phải hướng tới hòa vào "nhất thể" Vàtrong tương lai gần nhất chương trình giáo dục sẽ tiến tới liên môn, xóa nhòaranh giới giữa các môn học Tuy nhiên, như chương trình đã khẳng định quanđiểm tích hợp ở Việt Nam hiện nay chưa thể áp dụng một cách triệt để Nó yêucầu giáo viên và học sinh phải làm thế nào phối hợp các tri thức, kĩ năng thuộctừng phân môn thật nhuần nhuyễn nhằm đạt tới mục tiêu chung của giáo dụccũng như của mục tiêu cụ thể của bộ môn Không nên quan niệm tích hợp là rút
Trang 10bớt môn học hoặc như biện pháp nhằm giảm tải Trái lại phải xem đó là biệnpháp dạy học nhằm phát huy khả năng hỗ trợ đắc lực cho nhau giữa các mônhọc, các phân môn tạo nên một giờ học hiệu quả, hấp dẫn.
2.3 Vấn đề về phương pháp giảng dạy
Để dạy học Ngữ văn theo hướng tích cực, đáp ứng được yêu cầu, mục tiêuchương trình đề ra, người giáo viên đứng lớp phải biết xử lí các tình huống,truyền thụ các tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo mà mấu chốt của sự sáng tạo
đó là luôn suy nghĩ và định hướng của bộ môn Ngữ văn nói chung để tìm ranhững yếu tố đồng quy giữa ba phân môn tích hợp trong từng thời điểm, theotừng vấn đề
Tích hợp từng thời điểm (một tiết học, một bài học) là tích hợp ngang.Chẳng hạn khi dạy học tục ngữ ở sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập 2 cần khai tháctriệt để mối liên hệ mật thiết giữa đọc hiểu văn bản và 2 vấn đề đang dạy ở phần
Tiếng Việt và Tập làm văn là Rút gọn câu và Tìm hiểu văn bản nghị luận.
Giáo viên chỉ ra cho học sinh thấy tục ngữ dân gian đã lược bỏ các thành phầnkhông cần thiết để tạo thành các câu rút gọn tối đa, cô đọng, hàm súc Đồng thờinội dung câu tục ngữ nói tới có thể trở thành một vấn đề bàn luận cho kiểu bàivăn nghị luận Bằng cách này giáo viên có thể tổ chức các hoạt động cho họcsinh vừa khám phá nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn chương vừa có thểchiếm lĩnh những tri thức khác về ngôn ngữ học, nâng cao khả năng làm văn,bồi dưỡng tri thức lí luận, văn học sử
Tích hợp "theo từng vấn đề" bao hàm cả tích hợp dọc Ở đây, nội dungđang giảng dạy ở một phân môn còn có liên hệ đến các nội dung khác đã dạyhoặc sẽ dạy ở hai phân môn kia hoặc ở chính phân môn ấy Đối với kiến thức đãdạy thì đây là cơ hội để củng cố ôn tập, đồng thời qua đó rèn cho học sinh ý thức
và kĩ năng vận dụng kiến thức đã học Đó cũng là cách khơi gợi trí tò mò, tinhthần ham hiểu biết của học sinh, tạo hứng thú, khát khao tìm tòi của các em khihọc lên bậc cao hơn
Quan điểm tích hợp phải quán triệt trong mọi khâu, kể cả khâu đánh giá.Phải biết khuyến khích, đánh giá cao những học sinh biết cách vận dụng kiếnthức của cả ba phân môn vào giải quyết vấn đề của các phân môn khác Biểuhiện này của học sinh có thể được thể hiện ngay trên lớp trong tiết học và cũng
có thể được biểu hiện qua những bài viết
Đặc thù của dạy học theo quan điểm tích hợp là sự soi sáng lẫn nhau giữacác phân môn Dạy phân môn Văn có thể soi sáng cho các tri thức ở phân mônTiếng Việt và Làm văn Cho nên việc lấy văn bản học làm mẫu để phân tích, lígiải các tri thức của các phân môn khác cũng được xem là một hướng giải quyết
Trang 11vấn đề một cách khoa học, tích cực Mặt khác, giáo viên cần tăng cường tínhthực tiễn, tạo cho học sinh cơ hội vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộcsống như biết sưu tầm tư liệu, tham quan, tập xử lí thông tin để rút ra quy luật
Dạy học theo quan điểm tích hợp phải chú trọng đến tính tích hợp của chủthể học sinh, phải làm sao khai thác hết khả năng tiềm ẩn của học sinh, kíchthích họ chủ động, sáng tạo trong việc tìm kiếm, xử lý tri thức thông qua cách tổchức, điểu khiển, dẫn dắt của thầy
Vì vậy tôi đã cố gắng vận dụng quan điểm tích hợp, tích cực vào việc dạyhọc ngữ văn ở trung học cơ sở nói chung và dạy các văn bản tục ngữ trong mônNgữ Văn 7 nói riêng
3 Về khái niệm và đặc điểm tục ngữ
3.1 Khái niệm tục ngữ :
Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian ra đời từ rất sớm Nó không chỉ
là lời ăn tiếng nói của dân gian mà còn xứng đáng là một tác phẩm nghệ thuậthoàn chỉnh Các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực văn hóa, ngôn ngữ học,văn học…đã dành không ít giấy mực để nghiên cứu về tục ngữ ở các góc độkhác nhau
Đây là sáng tác tập thể truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời
xa xưa Văn học dân gian ở Việt Nam còn được gọi là văn chương bình dân, vănchương truyền khẩu hay văn nghệ dân gian, sáng tác dân gian
Trong tất cả các thể loại văn học dân gian, tục ngữ là thể loại gần với lời
ăn tiếng nói của nhân dân hơn cả Ở tục ngữ, trong khuôn hình ngắn gọn, hàmsúc, ta gặp sự nhịp nhàng, cân đối của ngôn ngữ Việt, chất triết lí sâu sắc mà dídỏm của dân gian Tục ngữ không đơn thuần là hiện tượng ngôn ngữ Nó có nộidung phản ánh một cách sinh động các hiện tượng tự nhiên và hiện tượng xã hội
Sự nhận thức của nhân dân bằng tục ngữ là sự nhận thức dựa trên cơ sở tư duyhình tượng, tư duy nghệ thuật Nói một cách khác đó là những câu nói dân gian
có nội dung hoàn chỉnh được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ nghệ thuật riêng
Tục ngữ có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều ngành khoahọc Vì vậy khi giảng dạy, giáo viên đưa ra một số định hướng về khái niệm tụcngữ dưới góc nhìn của các ngành khoa học khác nhau cũng là một cách tích hợpkiến thức liên môn :
- Dưới góc độ nghiên cứu văn học, tục ngữ là một thể loại văn học dângian đúc kết kinh nghiệm sống của nhân dân được diễn đạt bằng những câu nóivần, ngắn gọn, giàu hình ảnh, có nhịp điệu
- Dưới góc độ ngôn ngữ, tục ngữ được xem như là kết tinh của các ngôn
từ cô đọng, là sự biến tấu linh hoạt của vần và thanh điệu
Trang 12- Dưới góc độ xã hội học, tục ngữ là túi khôn của dân gian phản ánh tậpquán sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân ta với đặc trưng của một nền vănhóa nông nghiệp truyền thống.
- Dưới góc độ khoa học, tục ngữ đúc rút những hiện tượng tự nhiên mangtính quy luật đầy thú vị
- Dưới góc độ văn hóa, tục ngữ thể hiện đời sống văn hóa tinh thần củanhân dân ta từ các tập tục, cách ứng xử, các nét sinh hoạt…
Đây là những quan niệm ngoài sách giáo khoa, giáo viên cung cấp chohọc sinh để các em có cơ sở đối chiếu so sánh với lí thuyết sách giáo khoa đưa
ra từ đó củng cố kiến thức đồng thời mở rộng tầm tri thức, hiểu biết của mình vềtục ngữ
3.2 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ
Thành ngữ là những đơn vị ngôn ngữ có nội dung giới thiệu, miêu tả mộthình ảnh, hình tượng, một tính cách, một trạng thái, về mặt hình thức, tuyệt đại
đa số chúng là những cụm từ cố định
Ví dụ: Gan cóc tía; Nhát như cáy; Nhanh như chớp…
Tục ngữ là các đơn vị ngôn ngữ có nội dung nói về các vấn đề triết học, tưtưởng đạo đức, chân lí, kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh xã hội và cách đối nhân
xử thế Những nội dung đó được biểu hiện bằng những câu hoàn chỉnh Ví dụ: Ở hiền gặp lành; Tốt gỗ hơn tốt nước sơn…
Như vậy, tục ngữ và thành ngữ đều là những đơn vị có sẵn, cố định, giầuhình ảnh, giàu sắc thái biểu hiện và được tái hiện trong giao tiếp Giữa thànhngữ và tục ngữ có sự thâm nhập và chuyển hóa cho nhau Ranh giới giữa chúngkhông phải là một đường kẻ thẳng băng, nhưng người ta vẫn có thể tìm ra nhữngđiểm khác biệt khá rõ trên các phương diện hình thức và nội dung Giáo viêngợi mở, hướng dẫn học sinh tìm ra những nét khác biệt này Từ đó hình thành tưduy so sánh logic biện chứng
Về ý nghĩa Miêu tả một hình ảnh, một hiện
tượng, một tính cách, một tháiđộ
Đi đến một nhận định cụ thể,một kết luận chắc chắn, mộtkinh nghiệm sâu sắc, một lờikhuyên răn, một bài học đạođức
Về ngữ pháp Là cụm từ, chưa phải câu hoàn
chỉnh
Có cấu trúc ngữ pháp của mộtđơn vị câu
Về chức năng Là đơn vị có sẵn, mang chức
năng định danh, dùng để gọi
Đảm nhận chức năng thôngbáo một cách hoàn hảo, thông
Trang 13Thường đứng độc lập với văncảnh, có khả năng đứng độclập trong chuỗi lời nói
Thương người như thể thương thân
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Trâu chậm uống nước đục
Còn phần lớn các câu tục ngữ đều có vần Như vậy, vần được xem là yếu
tố đặc trưng ngoại hình của tục ngữ so với các phát hiện có sẵn khác Vần giốngnhư chất keo kết dính các từ, các về lại với nhau góp phần làm cho câu tục ngữbền vững Đồng thời vần còn là yếu tố giữ nhịp tạo ra sự hài hòa âm thanh chocâu Nhờ vần, câu tục ngữ trở nên dễ nhớ, dễ thuộc, dễ vận dụng một cách tựnhiên trong giao tiếp sinh hoạt
Phần lớn tục ngữ Việt Nam đều có vần và cách gieo vần rất phong phú đa
dạng Có thể khái quát thành hai loại vần chính: Vần liền xuất hiện ở những câu tục ngữ có vần được láy ở vị trí giữa câu và giữa chúng không có âm tiết trung gian.
Đói cho sạch, rách cho thơm
Vần liền tạo cho câu tục ngữ có cấu trúc đối xứng mà trục đối xứng ẩn.Những câu tục ngữ có vần liền thì các vế đều đối xứng nhau
Vần cách:
- Cách một tiếng: Phần lớn các câu tục ngữ được học trong trương trìnhTHCS đều có loại cách vần này
Trang 14Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối Ráng mỡ gà có nhà thì giữ
Tháng bảy kiến bò chỉ lo lại hạt Một mặt người bằng mười mặt của
Mồng một tết cha, mùng hai tết mẹ, mùng ba tết thầy.
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng trống phất cờ mà lên.
mà nó xây dựng Lúc này, vần còn thực hiện chức năng từ vựng rất quan trọng
là làm nổi bật ý nghĩa câu tục ngữ Vì từ chứa nội dung nòng cốt của câu đồngthời là từ chứa vần nên nó tạo nhãn tự trong câu thu hút sự chú ý của người đọc
Trang 15vì tục ngữ ít xuất hiện các từ ấy nên trong nhiều trường hợp trục đối xứng ẩntrong nhịp và vần.
Chẳng hạn trục đối xứng nằm và ẩn giữa hai vế:
Tấc đất, tấc vàng Nhất thì, nhì thục Người sống đống của Đói cho sạch, rách cho thơm
Có công mài sắt, có ngày nên kim
Hai (ba) trục đối xứng ẩn trong một câu gồm ba (bốn) vế:
Học ăn, học nói, học gói, học mở Nhất canh trì, nhị canh viên, tam canh điền Đầu chép, mép trôi, môi mè
Chính cấu trúc đối xứng đã tạo nên khoảng ngắt câu cân đối giữa cá vế câu tục ngữ mà ta gọi là nhịp Nhịp của tục ngữ khá đa dạng và linh hoạt có nhịp2/2
Nhất thì/ nhì thục (Nhịp 3/3)
Đói cho sạch/ rách cho thơm (Nhịp 4/4)
Tôm đi chạng vạng/ cá đi rạng đông
Phần lớn nhịp trùng với ranh giới giữa các vế có số lượng âm tiết bằng nhau, lúc đó ta gọi nó là nhịp chẵn
Ví dụ: Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.
Trang 16Hai cách ngắt nhịp tạo ra hai nhận định khác hẳn nhau Và cách hiểu sau(nhịp ngắt 2/3, 2/3) có phần được chấp nhận nhiều hơn cả.
Nói một cách khác đi giữa nhịp (một biểu hiện của hình thức) và ý nghĩa(nội dung) câu tục ngữ có mối liên quan chặt chẽ với nhua Chỗ ngắt nhịp ngoàichức năng phân xuất thành phần cú pháp, còn phân xuất thành phần nghĩa củacâu Nhiều khi giáo viên chỉ chú ý đến chức năng thi pháp của nhịp (tạo sự uyểnchuyển, êm tai) mà ít chú ý đến chức năng biểu nghĩa của nhịp trong tục ngữ.Xét một cách toàn diện, nhịp vừa là phương tiện tổ chức câu vừa là phương tiệnbiểu ý của tục ngữ
* Thanh : Giá trị của thanh điệu dựa trên hai mặt đối lập.
Ở tục ngữ, nhạc tính được tạo ra trên cơ sở lồng ghép các cặp đôi vớinhau trên quy tắc đối thanh
Tấc đất, tấc vàng
Sắc Huyền
Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa
Nặng KhôngNhờ quy tắc đối thanh những câu tục ngữ có một âm điệu nhịp nhàng Từviệc phân tích ngữ liệu giáo viên có thể chỉ ra cho học sinh thấy các quy luậtthanh cuối mỗi vế câu tục ngữ thường có tính chất đối lập nhau Nó làm cho câutục ngữ như được khóa lại thành một mô hình hoàn chỉnh về nội dung, cân xứng
về nghệ thuật, vừa trầm bổng, vừa mềm mại, uyển chuyển Từ việc phân tích giátrị biểu cảm biểu đạt của nhịp, vần, thanh điệu, giáo viên khái quát mô hìnhchung trong việc lựa chọn sử dụng các phương tiện và biện pháp tu từ ngữ âmcủa tục ngữ Từ đó chuẩn bị cho các em định hướng tiếp cận với các câu tục ngữkhác nhau mà không phải bỡ ngỡ, lúng túng
b.Đặc điểm về phương diện ngữ nghĩa
Về phương diện nội dung ta thấy tục ngữ có hiện tượng đơn nghĩa vàcũng có hiện tượng đa nghĩa Tục ngữ không khái quát kinh nghiệm một cáchkhô khan Nó không chỉ tác động mạnh vào lí trí mà còn chiếm được tình cảm
Trang 17của người nghe bằng hình tượng nghệ thuật, lối nói nghệ thuật Những câu đơnnghĩa là những câu chỉ có thể hiểu theo nghĩa đen- nghĩa trực tiếp, nghĩa cụ thể.
Nó bao gồm những câu tổng kết kinh nghiệm dự báo thời tiết:
Trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa Tháng bảy kiến bò chỉ lo lại lụt
Những câu tổng kết kinh nghiệm làm ăn sản xuất:
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống Tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông
Những câu tổng kết kinh nghiệm ứng xử hợp với phong tục, tập quánViệt:
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn Thương người như thể thương thân
Đây là những câu tục ngữ một lớp nghĩa không gây khó khăn cho họcsinh khi tiếp nhận Nhưng bộ phận tiêu biểu hơn cả cho thể loại tục ngữ có tínhhàm súc cao, lời ít ý nhiều là những câu đa nghĩa Bản chất của tính đa nghĩatrong tục ngữ là việc tìm được và nêu ra nét tương đồng nào đó giữa hiện tượng,
sự vật và kinh nghiệm sống được khái quát bằng hình tượng
Chẳng hạn câu: Lạt mềm buộc chặt Xuất phát từ hiện tượng thực tế là lạt
càng tước mỏng càng mềm khi sử dụng càng dễ xoắn nút, buộc chặt Câu tụcngữ mang hàm ý ẩn chứa bài học kinh nghiệm ứng xử phải khéo léo, mềmmỏng
Hay câu : Có công mài sắt, có ngày nên kim
Nghĩa đen: nếu kiên trì mài sắt sẽ tạo thành cây kim Nghĩa phát sinh củacâu tục ngữ khuyên con người ta nếu kiên trì, nhẫn nại thì sẽ thu được thànhquả
Ở tục ngữ như thế nhiều khi lớp nghĩa phát sinh được sử dụng nhiều vàtrở thành lớp nghĩa chính
Như vậy là nhờ tính đa nghĩa mà chỉ với một số lượng ngôn từ rất ít, câutục ngữ đã bao hàm trong mình một dung lượng nghĩa lớn, rất giàu sức gợi cảm.Đây là hiện tượng ý tại ngôn ngoại, lời ít ý nhiều, ẩn chứa trong những câu nóigiản dị hàm súc ấy là những giá trị đạo đức đáng giá hàng ngàn pho sách
Trang 18Phương tiện so sánh đồng thời đóng vai trò của yếu tố so sánh: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
Phép so sánh đã cụ thể hóa những thuộc tính, tính chất vốn là những kháiniệm trừu tượng Ở đây so sánh đã kết hợp chặt chẽ với sự tương phản nghĩacùng lối phóng đại góp phần làm nổi bật nội dung câu tục ngữ phản ánh mặc dùtrọng tâm nghĩa không nằm ở chính cấu trúc so sánh
Khuyết từ so sánh: Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm.
Những câu tục ngữ so sánh dạng này thường kết hợp chặt chẽ với tínhchất đối, tạo ra sự hài hòa về âm vận, nhịp điệu Nó làm cho câu tục ngữ ngắngọn mà vẫn cân đối, hài hòa với cấu trúc kiểu đối ngẫu, bền vững không gì cóthể phá vỡ
Khuyết phương diện so sánh: Người ta là hoa đất Có người gọi đây là
biện pháp so sánh chìm- nét giống nhau giữa hai đối tượng không được phô bàybằng những từ ngữ cụ thể mà ẩn vào bên trong hai vế kích thích tư duy, trí tưởngtượng của người đọc
Khuyết từ so sánh, khuyết phương diện so sánh: Lời nói gói vàng, tấc đất tấc vàng Ở dạng này cấu trúc tục ngữ thường có tính đối xứng cao Sự thiếu
vắng từ chỉ phương diện so sánh, từ so sánh cho phép trường liên tưởng được
mở rộng, tạo sự lôi cuốn từ những hình ảnh phong phú, cân xứng
Trong tục ngữ tồn tại hai kiểu so sánh:
- So sánh ngang bằng: Lời nói gói vàng, tấc đất tấc vàng…
- So sánh không ngang bằng: Nhất thì nhì thục, Tốt gỗ hơn tốt nước sơn…
Chỉ ra cấu trúc so sánh trong tục ngữ, giáo viên hướng dẫn học sinh tìmhiểu tác dụng của thủ pháp tu từ này So sánh là công cụ giúp ta nhận thức sâusắc hơn phương diện nào đó của sự vật, hiện tượng, của mối quan hệ người vớingười trong cuộc sống Các hình ảnh so sánh thường cụ thể hóa cái trừu tượng,tăng sức thuyết phục cho câu nói Hình ảnh so sánh mở rộng trường liên tưởngtạo sức gợi rất lớn Đồng thời so sánh trong tục ngữ là một biện pháp tạo hìnhlàm cho lời nói có hình ảnh, sinh động, hấp dẫn và giàu ý nghĩa
Ví dụ : Anh em như chân với tay
So sánh làm cho câu tục ngữ tưởng chừng khô khan, triết lí chỉ tác độngmạnh vào nhận thức, tư duy trở nên giàu giá trị biểu cảm Chẳng hạn : Khi yêu
thì dân gian nâng niu trân trọng: Tấc đất, tấc vàng Khi ghét thì: Con sâu làm rầu nồi canh Thái độ yêu ghét thể hiện rõ ràng trong chuẩn so sánh, những sự
vật phù hợp với tâm lý tiếp nhận của người Việt Nó thể hiện tính cách dân tộcvốn quý trọng con người, coi trọng tình nghĩa hơn của cải
Trang 19Có trường hợp một nội dung được diễn đạt bằng nhiều hình ảnh so sánhkhác nhau:
Người sống, đống vàng.
Một mặt người bằng mười mặt của
Từ đó thấy được tính sáng tạo của người dân lao động luôn tìm nhữnghình thức diễn đạt mới mẻ, sinh động Phép so sánh cũng có tác dụng làm chocâu tục ngữ có tính cô đọng, hàm súc bởi sự giản lược các yếu tố định ngữkhông cần thiết Câu tục ngữ gồm hai vế ngắn gọn nhưng vẫn đầy đủ cả vềnghĩa và về cú pháp Việc lược bớt từ so sánh, yếu tố so sánh làm cho hai vế củacâu tục ngữ đối xứng nhau tự tạo thành trục đối xứng ngầm ẩn, có mối quan hệkhăng khít, bổ sung ý nghĩa cho nhau
Như vậy có thể khái quát lại như sau: Cấu trúc so sánh trong tục ngữ là rất
đa dạng, hầu hết là đã được rút gọn, xu hướng chung của nó là tiến tới sự chắcgọn, hài hòa
Có thể mở rộng đối chiếu so sánh trong tục ngữ với so sánh trong thànhngữ và ca dao So sánh trong tục ngữ có cấu trúc hoàn chỉnh, gọn gàng hơn cả
Một thủ pháp nghệ thuật gần gũi với so sánh được tục ngữ sử dụng với tần
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Lá lành đùm lá rách
Khác với ẩn dụ trong ca dao, dân ca nhằm xây dựng hình tượng nghệthuật gắn liền với giá trị biểu cảm, gợi mở tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữtình:
Thuyền đi có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Phép ẩn dụ "mã hóa" đối tượng được thay thế Vì thế ẩn dụ trong ca dao,dân ca không có tính khái quát cao như mã hóa ẩn dụ trong tục ngữ Nó có khả
năng thay thế cho nhiều đối tượng khác nhau: Lá lành đùm lá rách Đối tượng
thay thế không xác định cụ thể là một ai, một cá nhân nào Vì thế câu tục ngữ cógiá trị khái quát, khả năng ứng dụng thực hành rộng rãi
Trang 20Bên cạnh đó có những ẩn dụ ngay từ khi ra đời nó không nhằm thay thếcho một đối tượng nào cả Nhưng trong quá trình tồn tại và phát triển gắn vớihoàn cảnh diễn xướng sinh hoạt, sản xuất người ta thấy câu tục ngữ ấy nói vềnhiều hiện tượng khác nhau trên cơ sở những nét tương đồng giữa chúng Khi ấynhững câu tục ngữ này được sử dụng ở cả hai tầng nghĩa (tầng nghĩa trực tiếp và
tầng nghĩa phát triển) Chẳng hạn: Lạt mềm buộc chặt ; Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo; Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ.
Ẩn dụ trong tục ngữ là kết quả của tư duy biện chứng sâu sắc Nó vừa lànghệ thuật đồng thời vừa là khoa học Nó còn lại đến ngày nay đều là kết tinh trítuệ ngàn năm của nhân dân Nó giống như vàng mười được thử thách qua lửa,không cần bất cứ ai vẫn tồn tại vững bền trong đời sống dân tộc
- Đối tượng nhân hóa là thực vật: Cây ngay không sợ chết đứng
- Đối tượng nhân hóa là đồ vật: Giấy rách phải giữ lấy lề
Ngoài ra còn nhân hóa một số đối tượng khác như: Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn, Đồng tiền đi sau là đồng tiền dại ; Cái khó ló cái khôn…
Nhân hóa trong tục ngữ có chức năng nhận thức Cùng với ẩn dụ, so sánh
nó làm cho câu tục ngữ linh hoạt, nhiều khi dí dỏm, đặc biệt là khi kết hợp với
lối nói ngược hoặc phóng đại kiểu: Chó chê mèo lắm lông; Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng.
Với thủ pháp nhân hóa, thi pháp tục ngữ tìm thấy điểm gặp gỡ với thipháp truyện ngụ ngôn Nhưng xét trên tương quan mọi mặt thì tục ngữ tươngứng với phần kết Nó có tính khái quát cao và có khả năng thực hành rộng rãitrong nhiều trường hợp cụ thể
c Đặc điểm về phương tiện và biện pháp tu từ cú pháp
* Tính gọn chắc
Các câu tục ngữ có số lượng âm tiết ít nhất như : Tham thì thâm ;May hơn khôn và những câu dài nhất thì cũng không quá nhiều âm tiết, khi đó nó xích lại
gần với ca dao :
Xưa nay thế thái nhân tình
Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
Bản thân những câu này cũng có thể rút gọn thành những câu tục ngữ
ngắn gọn chỉ gồm bốn tiếng "Văn mình, vợ người".
Trang 21Như vậy có thể nói cấu trúc tục ngữ là sự cô đọng của ngôn ngữ vàngmười Chính sự gọn gàng của nó đã tạo thành một cấu trúc chắc chắn không gì
có thể phá vỡ được Trong ứng dụng thực tế, người ta có thể thêm vào câu tụcngữ những kết từ hoặc cụm từ có giá trị nối kết giữa hai vế của câu Chẳng hạn:
"Vỏ quýt dày, móng tay nhọn" được bổ sung thành biến thể: Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, Vỏ quýt dày ắt có móng tay nhọn…
Việc thêm từ vào câu tục ngữ là để tạo sự phù hợp với thái độ, tình cảmcủa người sử dụng câu tục ngữ Như thế câu tục ngữ có tính chất co duỗi nhịpnhàng
Người ta có thể lược bỏ một số thành phần của câu tạo thành câu rút gọn.Chẳng hạn lược bỏ cặp từ nối để tăng tính khái quát về ngữ nghĩa đồng thời làmcâu tục ngữ cô đọng, hàm súc Có thể lược các từ nối chỉ quan hệ ngang bằng
(là, như, bằng): Tấc đất, tấc vàng; Người ta hoa đất… Hoặc lược bỏ các từ nối chỉ quan hệ nhân quả (nếu- thì, thì): Tức nước vỡ bờ; Tre già măng mọc hay quan hệ tương phản, đối lập (tuy- nhưng, dẫu- nhưng ): Xấu như ma, vinh hoa cũng đẹp…Thậm chí lược cả thành phần chính của câu chỉ để lại cụm từ: Học
ăn, học nói, học gói, học mở…
Câu tục ngữ bản thân nó là một cấu trúc ngắn gọn, chặt chẽ không cótiếng thừa Mỗi từ, mỗi tiếng đều cần thiết và ở vị trí tối ưu của nó, do vậy nếu
có một sự chuyển dịch nào đó thì sẽ rất dễ phá vỡ cấu trúc câu tục ngữ Nói như
M Gorki việc sáng tạo tục ngữ có thể xem như việc "nắm chặt nắm tay lại thành quả đấm”
Như vậy về phương diện ngôn ngữ, tục ngữ là những câu, do đó nó có tất
cả những đặc điểm của câu tiếng Việt Bên cạnh đó, nó lại có những đặc điểm cúpháp ít thấy ở những câu thông thường Vì rằng đó là những câu mang tính kháiquát để phản ánh những quy luật, kinh nghiệm khái quát, phổ biến nên cấu trúc
cú pháp đặc thù cho tục ngữ có khả năng phản ánh một cách khách quan, kháiquát nhất
*Tính khái quát
Tính khái quát của câu tục ngữ thể hiện thông qua tính khái quát của phần
đề trong các câu Phần này thường là các danh từ không có các định tố, nghĩa là
không có các yếu tố đứng trước hoặc sau để cụ thể hóa danh từ đó: Con có cha như nhà có nóc Từ “Con, cha” được nhắc đến như những danh từ chung nhất,
có ý nghĩa bao quát rộng
Danh từ ở phần đề không có các số từ đứng trước hạn định nó Số từ,lượng từ chỉ xuất hiện thành cấp để nói về một quan hệ biểu trưng về tươngquan, số lượng, về sự tương ứng mà thôi
Trang 22Một mặt người bằng mười mặt của
Không thầy đố mày làm nên
Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo
Không có các từ hạn định về không gian, thời gian trong phần lớn các câutục ngữ Phần đề có thể là phiếm định, lúc này tục ngữ được cấu tạo theophương thức chất vấn để thể hiện ý tuyệt đối khái quát, khách quan:
Ớt nào mà ớt chẳng cay Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng.
Ai nắm tay đến tối, ai gối tay đến sáng
Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng.
Ai giàu ba họ ai khó ba đời.
Cặp đại từ phiếm định- xác định: Ai-ai, nào-ấy, đâu-đó tạo ra quan hệ hô
ứng giữa hai phần phiếm định – xác định trong một câu đó nó được dùng đểthực hiện các phân đoạn khái quát kiểu:
Rau nào sâu ấy.
Tiền nào của ấy.
Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.
Như thế ta nhận thấy một trong những đặc điểm quan trọng của cú pháptục ngữ là tính gọn chắc, cấu trúc cô đọng, bền vững đảm bảo tính khái quátkhách quan cao
* Tính đối xứng
Một trong những chất keo vô hình gắn kết các tiếng trong câu tục ngữ, lấpđầu khoảng trống của sự tinh giản ngôn từ là tính đối xứng về mặt cấu trúc Bảnthân tính đối xứng về mặt cấu trúc của câu tục ngữ đã tạo nên vẻ hài hòa, cânđối, nhịp nhàng về hình thức đồng thời có sức gợi mở về nội dung làm cho câutục ngữ cô đọng mà vẫn sâu sắc giàu ý nghĩa
Có thể chỉ ra cho học sinh thấy đây là đặc điểm phù hợp với tư duy củangười Việt từ xưa vốn ưa cái gì nhỏ nhắn cân đối, hài hòa Cấu trúc đối xứng làcấu trúc đặc trưng của tục ngữ Một câu tục ngữ bao giờ cũng được cấu tạo bởicác vế đối xứng với nhau có quan hệ chặt chẽ, logic ( có thể có nhiều vế đốixứng, thông thường là hai vế ) Giữa các vế có sự cân bằng về số tiếng, về từloại, và nhiều khi cả về nghĩa:
Trang 23Tấc đất, tấc vàng
Nhất thì, nhì thục
Cau phơi tái, gái một con, cải ngồng non, gà nhảy ổ
Chính sự đối xứng này làm cho câu tục ngữ một mặt có thể lược bỏ cácyếu tố rườm rà trở nên tinh lọc, cô đọng, mặt khác nó làm cho kết cấu câu vữngchãi, ngắn gọn không gì phá vỡ được
và trò tạo giờ học sôi nổi hiệu quả, tránh trường hợp thầy độc thoại, học sinhtiếp thu hoàn toàn thụ động
Hơn thế nữa, một động lực tích cực thúc đẩy tôi nghiên cứu, mạnh dạnđưa ra hướng dạy học này là mong muốn học sinh có được một mô hình, mộthướng khai thác cho riêng mình khi đứng trước một văn bản tục ngữ hay mộtvăn bản nghệ thuật bất kì Một giáo viên giỏi không chỉ đơn thuần chỉ cho họcsinh chân lý mà còn phải dạy cho học sinh con đường khám phá chân lý choriêng mình Bằng cách này giáo viên sẽ góp phần phát triển tư duy nghiên cứu,sáng tạo của học sinh, đồng thời thày và trò cùng có một giờ học thực sự sôiđộng, hiệu quả
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thực trạng dạy học tục ngữ ở nhà trường THCS
1.1 Về phía giáo viên:
Mặc dù nắm vững tinh thần dạy học tích hợp, tích cực trong tất cả các bàihọc song không phải giáo viên đã rũ bỏ được hoàn toàn tâm lí, cách dạy học cũ
Đó là khi cho học sinh đọc hiểu văn bản thì chỉ chú ý đến văn bản, tách nó rathành một phần riêng rẽ độc lập với các kiến thức về Tiếng Việt và Làm vănkhác Đặc biệt đối với văn bản tục ngữ, đây là thể loại văn học dân gian có bềdày lịch sử với thời gian tồn tại rất lâu, phạm vi sử dụng rộng, lời ít, ý nhiều,thoạt nhìn về hình thức không chau chuốt, giàu hình tượng nghệ thuật để khaithác như ca dao Có lẽ vì thế nên hầu hết tâm lí người dạy đều tập trung phân
Trang 24tích nội dung, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm cũng như khả năng ứng dụng thựchành của các câu tục ngữ hơn là tìm kiếm giá trị nghệ thuật ngay trong khuônhình cô đọng, tinh luyện của ngôn ngữ ấy Điều đó dẫn đến việc không thể tránhkhỏi những giờ học tục ngữ đơn điệu, tẻ nhạt Phần lớn thời gian giáo viên đểcho học sinh đọc bài, sau đó giải thích nghĩa của một số từ ngữ cổ, khá xa lạ vớicác em hoặc các từ ngữ mang nghĩa địa phương, thuật ngữ chuyên ngành để học
sinh hiểu câu tục ngữ nói gì Ví dụ trong giờ học Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất, giáo viên giảng bài đã tập trung khá nhiều thời gian vào việc giải
thích nghĩa của các từ "trì", "viên", "điền", "thì", "thục" sau đó diễn xuôi lại nộidung ý nghĩa của lần lượt các câu trong bài Bốn mươi lăm phút, một tiết họctrôi qua vẻn vẹn kiến thức học sinh thu được chỉ là khái niệm tục ngữ và cáchiện tượng, kinh nghiệm về thời tiết, lao động sản xuất mà tám câu tục ngữtrong sách giáo khoa đề cập tới Với cách dạy học như thế, bản thân khái niệmtục ngữ cũng chỉ được sáng tạo một nửa (tục ngữ thể hiện kinh nghiệm của nhândân về mọi mặt, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếngnói hàng ngày) Còn đặc điểm hình thức câu tục ngữ thì mới được nhắc tới chứchưa đi vào phân tích để tìm ra giá trị nghệ thuật đích thực
Chính việc chưa lưu tâm về hình thức nghệ thuật của câu tục ngữ mànhiều giáo viên đã biến giờ dạy học tục ngữ thành giờ giảng đạo đức học, xã hộihọc, kinh nghiệm lao động sản xuất…Đã đành chức năng đầu tiên của tục ngữ làchức năng ứng dụng thực hành đem các bài học chân lí mà nó đúc kết ứng dụngvào cuộc sống Nhưng với cách dạy học thiên lệch về nội dung đó vô hình chungchúng ta đã tự đánh mất một phần cái hay, cái lí thú độc đáo của một giờ đọc-hiểu tục ngữ, đọc hiểu một loại văn bản nghệ thuật như những viên ngọc quýcủa dân tộc được lưu giữ từ ngàn đời mà càng thêm nước thời gian càng tỏa
sáng Nói như giáo sư Hoàng Trinh, dạy học tục ngữ phải "chia để nhập, phân tích, triển khai, quy tụ để cuối cùng rút cho ra được ý nghĩa của tục ngữ qua cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ có tính văn chương, chỉ ra tài năng sáng tạo của nhân dân về mặt sử dụng ngôn ngữ để tái tạo hiện thực, tái tạo cuộc sống".
Nghĩa là phải đi từ hình thức đến nội dung, giải quyết trọn vẹn quan hệ hữu cơgiữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Đây là điều không đơn giản, mà thực tếdạy học tục ngữ ở THCS ở nhiều nơi chưa làm được Đồng thời với hạn chế này,giáo viên chưa thực sự tích hợp được ba phân môn Tiếng Việt – Văn bản - Làmvăn như tinh thần sách giáo khoa đưa ra trong bài dạy học tục ngữ
1.2 Về phía học sinh:
Mặc dù đã có những thay đổi nhất định trong phương pháp dạy học mớinhằm phát huy tính tích cực, chủ động của các em song nếu giáo viên không tạo
Trang 25được một giờ học sôi động, lí thú, hiệu quả thực sự thì học sinh sẽ rất dễ rơi vàotình trạng bị động Đặc biệt với các em đang ở lứa tuổi THCS khi mới qua giaiđoạn bỡ ngỡ của sự chuyển cấp ít nhiều ảnh hưởng tâm lí của học sinh bậc Tiểuhọc - cô vừa dạy, vừa dỗ Các em không biết làm việc một cách tự lực thực sự,không thể đặt ra những câu hỏi nếu không có người hướng dẫn, không biết nêulên những câu hỏi nếu không có người hướng dẫn, không biết nêu lên những câuhỏi làm mình băn khoăn
Riêng với giờ học tục ngữ- do đặc trưng của thể loại nên tục ngữ kháchoàn toàn với các thể loại văn học dân gian mà các em đã được học từ trước nhưtruyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn…Thay vì cảm giác tò mò, muốnkhám phá cái hay, cái đẹp, cái mới lạ của văn bản thì trong chính tâm lí nhậnthức của các em đã có ý nghĩ tục ngữ là khô khan giáo điều Nếu ngay từ đầugiáo viên không chủ động tích cực thay đổi quan niệm này ở các em thì giờ dạyhọc tục ngữ với học sinh sẽ mang tính đối phó, giảm hiệu quả, chỉ thiên về khai
thác giá trị nội dung, đạo đức của tục ngữ mà không thấy được "cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ có tính văn chương", "tài năng sáng tạo của nhân dân về mặt ngôn từ" (Dẫn lời giáo sư Hoàng Trinh)
Qua khảo sát chúng tôi thấy học sinh chưa thực sự chủ động tiếp thu và tự
mở rộng vốn tục ngữ cho mình Hầu hết khái niệm ngoài sách giáo khoa các emđều không nắm vững 66% học sinh trong diện khảo sát không phân biệt đượcchính xác thành ngữ và tục ngữ Từ đó việc phân biệt các câu tục ngữ, thành ngữhoàn toàn do suy đoán cảm tính mà không hề nắm vững cơ sở khoa học
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi yêu cầu học sinh phân tích giá trị củamột số câu tục ngữ không nằm trong sách giáo khoa, các em không tránh khỏicảm giác bỡ ngỡ, lúng túng Và sau đó hầu hết học sinh đều đi phân tích giá trịnội dung, bài học kinh nghiệm mà câu tục ngữ đã nêu ra Như vậy trong nhậnthức của các em đã vô tình hình thành một đường mòn, một khuôn mẫu thiênlệch trong việc nghiên cứu tìm hiểu tục ngữ Với cách nghĩ, cách làm đó, các em
sẽ không thấy hết được giá trị trọn vẹn của một câu tục ngữ
Bên cạnh đó, học sinh chưa chủ động tích cực, nên các em chỉ nắm đượcphần kiến thức trong sách giáo khoa, còn phần kiến thức mở rộng của các emcòn nông Đây cũng là lí do làm cho giờ học không sôi nổi, học sinh ít phát biểu.Thầy hỏi gì, trò trả lời nấy, không biết tự đặt câu hỏi hay có những băn khoăn,nêu ý kiến cần tranh luận với giáo viên và các bạn
1.3 Về phía sách giáo khoa
Người biên soạn đã rất nỗ lực trong việc định hướng giờ dạy học tục ngữtheo hướng tích hợp vận dụng kiến thức Tiếng việt để đọc hiểu văn bản Với hệ
Trang 26thống câu hỏi trong phần đọc hiểu Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất, đọc hiểu Tục ngữ về con người và xã hội, sách giáo khoa đã đặt ra yêu
cầu phải khai thác giá trị tục ngữ trên cả hai phương diện nội dung và nghệthuật Đây là một hướng dạy học đúng đắn
Tuy nhiên tôi nhận thấy ở câu hỏi 3 và 4 (trang 4, 5 sách giáo khoa Ngữvăn 7, tập 2), câu hỏi 2 và 4 (trang 12, 13 sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2) đãtách bạch riêng rẽ hai phần hỏi về nội dung và đặc điểm hình thức câu tục ngữ.Như thế sẽ khó cho giáo viên và học sinh hệ thống được bài giảng đặt trong mốiquan hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức của một văn bản nghệ thuật Vì thế
có lẽ nếu kết hợp được phân tích nội dung và hình thức của tục ngữ trong mộtcâu hỏi chung là phân tích giá trị của câu tục ngữ sẽ giúp học sinh có cái nhìntổng quát, toàn diện hơn, từ đó rèn luyện và phát triển tư duy khái quát, logic ởcác em
Như thế về cơ bản việc dạy học tục ngữ ở THCS đã có những kết quả nhấtđịnh, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về tục ngữ, giúp các
em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của một thể loại văn học dân gian giàu tínhnghệ thuật, đậm đà màu sắc văn hóa Tuy nhiên, chưa đưa học sinh đến tận cùngchân giá trị của tục ngữ, chưa chỉ cho các em định hướng con đường tìm đến vớicái đẹp hoàn mĩ của những câu nói dân gian lời ít, ý nhiều Giờ học tục ngữ còn
ít nhiều khoảng trống Chính những khoảng trống ấy đã khiến tôi trăn trở vàmong muốn thay vào đó khả năng gợi mở học sinh đào sâu, mở rộng hơn nữanhững tri thức của mình Từ đó, tôi bước đầu áp dụng hướng dạy học mới tụcngữ ở trường THCS: Dạy học tục ngữ theo hướng tích cực, tích hợp Tôi mongmuốn có thể hướng dẫn học sinh khám phá cho hết, cho sâu tục ngữ- cội nguồnvăn hóa dân tộc, trí tuệ của dân gian
Trang 27Chương II: TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM
I VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỤC NGỮ THEO HƯỚNG TÍCH CỰC, TÍCH HỢP
1 Tổ chức học sinh chủ động, tích cực chiếm lĩnh tri thức lí thuyết về khái niệm tục ngữ
Việc dạy học tục ngữ cũng giống như việc dạy học các thể loại văn họcdân gian như truyền thuyết, cổ tích , truyện ngụ ngôn, truyện cười đã học trongchương trình Ngữ văn 6, tập I, tức là đều phải bắt nguồn từ việc tổ chức cho họcsinh chiếm lĩnh tri thức lí thuyết về khái niệm Bởi lẽ tục ngữ cũng như truyệntruyền thuyết, truyện cổ tích…đó không đơn thuần là một văn bản nghệ thuậtthông thường Bản thân nó mang dấu ấn chung của thể loại văn học dân gian vàthêm vào đó là những đặc điểm riêng chỉ có ở tục ngữ Vì vậy việc nắm vữngkhái niệm sẽ giúp học sinh đắc lực trong việc tìm hiểu giá trị của tục ngữ vốn
được "đánh giá là hàng ngàn pho sách" (M Gorki)
Tổ chức học sinh chiếm lĩnh tri thức lí thuyết về khái niệm tục ngữ, giáoviên và học sinh phải dựa trên cơ sở kiến thức sách giáo khoa cung cấp (trang 3,ngữ văn 7, tập 2) Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thôi thì sẽ không phát huy đượctính tích cực, chủ động của học sinh, không đòi hỏi các em phải tự mở rộng, tựtìm hiểu thêm tri thức bên ngoài để cùng đóng góp ý kiến trong tiết dạy họcđúng với vai trò chủ thể Bởi vậy giáo viên trong quá trình tổ chức học sinhchiếm lĩnh tri thức lí thuyết về khái niệm tục ngữ phải không ngừng mở rộngkiến thức, hiểu biết về khái niệm này đồng thời đòi hỏi học sinh cũng phải chủđộng tiếp nhận và tìm kiếm thêm vốn hiểu biết về tục ngữ Có như thế giờ dạyhọc mới thực sự tích cực, hiệu quả Hoạt động của thày và trò sẽ củng cố, mởrộng tri thức lí luận vốn có trong sách giáo khoa
Đề xuất một số cách thức giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh khái niệmtục ngữ thông qua tổ chức các trò chơi :
a Trò chơi ô chữ :
Trò chơi này có thể áp dụng ở phần mở đầu bài dạy, các tiết ôn tập phầnvăn, hoặc ở phần củng cố kiến thức sau bài học
* Cách tiến hành :
- Trò chơi này có thể tiến hành chung cho cả lớp hoặc chia học sinh thành
nhiều nhóm nhỏ để các nhóm thi với nhau
- Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý để học sinh giải từng ô chữ hàng ngang theothứ tự từ trên xuống
Trang 28- Học sinh nào hoặc nhóm nào giải được trước sẽ ghi điểm (giải mỗi ô chữhàng ngang được 10 điểm, giải ô chữ hàng dọc được 30 điểm) Kết thúctrò chơi, ai hoặc nhóm nào ghi được nhiều điểm, nhóm đó sẽ thắng
- Giáo viên chuẩn bị các câu hỏi và gợi ý cho câu trả lời
- Học sinh học thuộc các câu tục ngữ trong SGK Ngữ văn 7 và sưu tầmđọc thêm các tài liệu khác
- Giáo viên thiết kế ô chữ:
Trang 29Sau khi giải xong ô chữ hàng ngang thì hoc sinh giải ô chữ hàng dọc: Học
sinh sẽ sắp xếp lại các chữ cái tìm được từ ô hàng dọc để thành một ô chữ đúng
có nội dung liên quan đến tục ngữ
Trang 30Đáp án ô chữ hàng dọc : Gồm 17 chữ cái : Kinh nghiệm dân gian
b Trò chơi phân biệt thành ngữ và tục ngữ
Bài tập: Cho các ngữ liệu sau, hãy chọn và điền vào bảng theo yêu cầu:
Trang 312 Tổ chức học sinh tự khám phá ý nghĩa các câu tục ngữ, biết vận dụng kiến thức liên môn để lí giải khả năng vận dụng thực tế của tục ngữ
Thay vì giáo viên giải thích các lớp nghĩa đen, nghĩa bóng của câu tục
ngữ theo kiểu giảng dạy truyền thống, tôi xin đưa ra một số cách giáo viên cóthể hướng dẫn học sinh chủ động, tích cực khám phá nội dung của các câu tụcngữ như sau:
a Trò chơi : ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ ( NHÌN HÌNH ĐOÁN TỤC NGỮ)
Đây là cách đơn giản hóa và làm sinh động các tục ngữ thông qua cáchình ảnh trực quan Học sinh vừa phát huy trí nhớ của mình về các tục ngữ vừarèn sự quan sát và phản ứng nhanh nhẹn của mình Có thể dẫn các ví dụ sau:
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Trang 32b Trò chơi : ĐOÁN TỤC NGỮ
Học sinh lắng nghe đồng đội của mình gợi ý giải nghĩa và phát hiện nhanh đó
là ý nghĩa của câu tục ngữ nào Với trò chơi này, cần lưu ý học sinh phải đọcchuẩn xác câu tục ngữ, không được thêm bớt từ ngữ Nếu có nhiều câu tục ngữ
có ý nghĩa tương tự câu đáp án thì học sinh có thể tìm câu ngữ đồng nghĩa hoặcgần nghĩa với đáp án
Ví dụ 1: Câu tục ngữ khuyên con người ta không nên nản chí: Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo, Có công mài sắt có ngày nên kim…
Ví dụ 2: Câu tục ngữ ca ngợi giá trị của con người: Một mặt người bằng mười mặt của;Người ta là hoa đất…
c Trò chơi vận dụng hiểu biết để chứng minh tính đúng đắn của các câu tục ngữ :
Đối với cách thức tổ chức dạy học này học sinh sẽ rất hào hứng vì đượcthể hiện các kiến thức về tự nhiên, xã hội, các kĩ năng sống của mình để lí giảitính chất đúng, sai của các câu tục ngữ Đây cũng là cách củng cố vốn sống,giúp học sinh thấy ý nghĩa ứng dụng của các câu tục ngữ, đồng thời khắc sâutrong trí nhớ các câu tục ngữ kiểu không chỉ có lí thuyết mà đã đưa tục ngữ vềđúng chức năng thực hành sinh hoạt Chẳng hạn:
Vận dụng kiến thức khoa học tự nhiên (về thiên văn, thời tiết) ở các mônđịa lí, công nghệ để lí giải các câu tục ngữ về thiên nhiên :
Ví dụ câu 1 : “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng.
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.”
Câu tục ngữ nêu lên nhận xét về thời gian đêm ngày trong tháng năm (âmlịch) và tháng mười (âm lịch) Tháng năm đêm ngắn, ngày dài; tháng mười ngày
Trang 33ngắn, đêm dài Hiện tượng đêm dài, ngày ngắn và ngược lại không chỉ xảy ratrong hai tháng nói trên mà đó còn là hiện tượng chung của cả hai mùa đông, hè.Mùa hè được chiếu sáng nhiều hơn mùa đông (mùa hè ngày dài, mùa đông ngàyngắn) Câu tục ngữ giúp con người có ý thức về thời gian làm việc theo mùa Ápdụng kinh nghiệm này, người ta chú ý phân bổ thời gian biểu làm việc cho phùhợp, chú ý khẩn trương khi làm việc, bố trí giấc ngủ hợp lí
- Giáo viên vận dụng kiến thức bộ môn Địa lí :
Trước hết giáo viên hỏi : Hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau theomùa các em đã được học ở môn địa lí Vậy hãy cho cô biết đó là kiến thức lớpmấy ?
Học sinh trả lời, giáo viên nhắc lại : Kiến thức môn Địa lí lớp 6, tiết 10, bài
9 "Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa" đã cho chúng ta biết: Hiện tượng
ngày, đêm dài ngắn theo mùa là hệ quả sự chuyển động của Trái Đất quanh mặttrời Quỹ đạo chuyển động của Trái Đất quanh mặt trời là hình e líp gần tròn,trong quá trình chuyển động trục của trái đất luôn giữ một độ nghiêng không đổi
và hướng về Trái Đất Vào giữa mùa hạ (22/6), Trái Đất đến gần mút của quỹđạo, lú này nửa cầu Bắc ngả về phía mặt trời, thời gian chiếu sáng nhiều hơnthời gian khuất trong bóng tối nên thời kì này nửa cầu Bắc có ngày dài đêm
ngắn “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng” Vào giữa mùa đông (22/12) nửa
cầu Nam ngả về phía mặt trời nhiều hơn nên nửa cầu Bắc thời gian được chiếu
sáng ít hơn thời gian khuất trong bóng tối, đêm dài hơn ngày “Ngày tháng mười chưa cười đã tối.”
Nhờ việc tích hợp liên môn như vậy tôi đã giúp học sinh hiểu hơn về nộidung câu tục ngữ trên cơ sở thực tiễn của cuộc sống Qua đó tôi nhắc nhở các
em cần phải biết sắp xếp thời gian học tập, làm việc giúp đỡ gia đình, nghỉ ngơitrong ngày một cách khoa học để tận dụng thời gian sống có ích nhất; biết cách
Trang 34chủ động trong giao thông đi lại (nhất là đi xa) Về mùa hè, biết sắp xếp thờigian biểu học tập và làm việc vào những lúc mát mẻ, nghỉ ngơi lúc nắng gắt đểđạt hỉệu quả công việc được cao, giữ gìn sức khỏe bản thân Về mùa đông ,chúng ta phải tranh thủ thời gian ngắn ngủi trong ngày để học tập, làm việc đượcnhiều
Câu 2: "Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa"
- Câu tục ngữ phản ánh hiện tượng trong tự nhiên, khi trời nhiều sao (mau
sao) thì biết trời trong, hơi nước ít, độ ẩm không khí thấp biết rằng ngày hômsau sẽ nắng; khi trời không có hoặc ít sao (vắng sao) thì mưa Đây là hiện tượng
tự nhiên liên quan đến quy luật khí tượng được cha ông đúc kết thành kinhnghiệm để đoán mưa nắng, phục vụ trực tiếp đến công việc sản xuất nôngnghiệp và mùa màng Câu tục ngữ giúp con người nhìn sao có thể đoán trướcđược thời tiết ngày mai để sắp xếp công việc hợp lí
- Giáo viên vận dụng kiến thức bộ môn Địa lí : Giáo viên cũng đặt câuhỏi để học sinh nhớ lại bài học giống như câu tục ngữ trên
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhắc lại kiến thức liên quan đến câu tục
ngữ: Ở tiết 24, bài 20 "Hơi nước trong không khí Mưa" sách Địa lí lớp 6, các
em đã biết khi hơi nước bốc lên cao, bị lạnh dần, hơi nước sẽ ngưng tụ tạo thànhmây Và khi gặp điều kiện thuận lợi, hơi nước tiếp tục ngưng tụ, làm cho hạtnước to dần, rồi rơi xuống đất tạo thành mưa Khi trời ít mây thì ít có khả năng
Trang 35mưa nên nhìn thấy nhiều sao; khi trời nhiều mây thì khả năng mưa sẽ có nhiềunên nhìn thấy ít sao
Từ đó giáo viên đưa ra những câu hỏi để học sinh có thể rút ra kinhnghiệm cho bản thân thông qua cái nhìn của một bộ môn khoa học : biết quansát trời sao để sắp xếp, chủ động trong công việc ngày mai, tránh được nhữngvất vả do bất trắc về thời tiết xảy ra Các em có thể dựa vào kinh nghiệm trên đểsắp xếp cho mình tư trang cần thiết để bảo vệ sức khoẻ, hoặc bố trí thời giansớm hơn khi đến trường trong những ngày mưa để không bị nhỡ nhàng hoặc gặpkhó khăn gì trong sinh hoạt cũng như trong học tập
Câu 3: "Ráng mỡ gà có nhà thì giữ"
Câu tục ngữ nêu lên một kinh nghiệm quan sát hiện tượng tự nhiên, khi trời
có ráng mỡ gà, sẽ có mưa bão lớn Ráng mỡ gà là những đám mây màu vànggiống như mỡ gà, khi đám mây này xuất hiện trên đỉnh đầu thì có bão, vì vậyphải chú ý chống bão cho nhà cửa Câu tục ngữ nhắc nhở con người ý thứcphòng chống bão lụt
- Giáo viên vận dụng kiến thức bộ môn Vật lí: Giáo viên nêu câu hỏi :Hãy cho biết nguyên nhân xuất hiện những ráng mây vàng giống như mỡ gà ởchân trời vào sáng sớm hay hoàng hôn ? Kiến thức đó em đã được học ở mônnào, lớp mấy ?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và củng cố lại kiến thức liên
môn: Ở môn Vật lí 7, tiết 2, bài 2 "Sự truyền ánh sáng",các em đã biết được
nguyên nhân xuất hiện những áng mây vàng giống như mỡ gà ở chân trời vàosáng sớm hay hoàng hôn là: Khi bão tới gần, không khí ở trong bão xáo độngmạnh làm gia tăng những hạt hơi nước nhỏ trong không khí Ánh mặt trời chiếuqua lớp không khí này sẽ bị tán xạ mạnh hơn, khiến các tia sáng có bước sóng
Trang 36ngắn tán xạ ra hết xung quanh, chỉ còn lại ánh sáng màu vàng chiếu xuống cho
có bão; nhất là ở những vùng sâu, vùng xa khi phương tiện thông tin bị hạn chế
Từ đó con người có thể dựa vào việc quan sát sự xuất hiện của những đám mâynày để chủ động thu hoạch rau màu, che chắn nhà cửa, tránh những thiệt hại dobão gây ra
Câu 4: "Tháng bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt"
Câu tục ngữ cho thấy: Vào tháng bảy, nếu thấy kiến di chuyển theo hàng đàn
từ vị trí thấp lên vị trí cao thì khả năng sắp có mưa lớn và lụt lội xảy ra Cha ông
ta đã dựa vào sự quan sát hiên tượng này qua nhiều thế hệ để rút ra kinh nghiêm
và dự đoán thời tiết sắp xảy ra Câu tục ngữ được đúc kết từ quan sát thực tế, nónhắc nhở về ý thức phòng chống thiên tai bão lụt ở nước ta
- Giáo viên vận dụng kiến thức của bộ môn Sinh học:
Giáo viên nêu câu hỏi: Trong môn sinh học, kiến thuộc loại côn trùngngành nào? Chúng có đặc điểm cơ thể như thế nào mà lại dự báo được thời tiết ?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và tích hợp kiến thức môn sinh
học 7, tiết 30, bài 27 "Đặc điểm chung và vai trò của ngành chân khớp" nhắc
lại cho học sinh nhớ kiến là loại côn trùng có hệ cảm biến rất nhạy cảm với sựthay đổi khí hậu, thời tiết, sợ nước Khi độ ẩm không khí thay đổi ắt trời sẽ có