1 Đôi nét về Nhật Bản trước thời kỳ 1952 – 1973 và lý do chọn đề tài Nói tới Nhật Bản, không ít nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng sự thành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản là kết quả của sự[.]
Trang 11 Đôi nét về Nhật Bản trước thời kỳ 1952 – 1973 và lý do chọn đề tài:
Nói tới Nhật Bản, không ít nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng sự thànhcông trong phát triển kinh tế của Nhật Bản là kết quả của sự kết hợp khéo léogiữa “công nghệ phương Tây” và “tính cách Nhật Bản” Trải qua những bướcthăng trầm trong lịch sử, sự lớn mạnh của nền kinh tế đã làm cho Nhật Bản trởthành một trong những trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới Tại sao nước
đi sau trên con đường tư bản chủ nghĩa - chìm đắm trong chế độ phong kiến lạivươn lên và phát triển mạnh mẽ đến vậy? Chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu phân tíchnhững đặc điểm dẫn tới sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản (1952-1973) Nhật Bản nằm ở phía đông đại lục Âu Á với tổng diện tích là 377815 km2.Dân số Nhật Bản: 122,2 triệu người (vào năm 1987) Trong đó 99% là ngườiNhật
Điều kiện tự nhiên của Nhật Bản rất khắc nghiệt: thiên tai, bão lũ, động đấtxảy ra thường xuyên Hơn 2/3 diện tích Nhật Bản là đồi núi trong đó có hơn 30ngọn núi lửa, đất đai trồng trọt ít, tài nguyên khoáng sản hầu như không có gì.Đặc biệt sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nền kinh tế bị lâm vàokhủng hoảng nhiêm trọng: 34% máy móc 25% công trình xây dựng, 81% tàu biển bịphá hủy, sản xuất công nghiệp tháng 8-1945 tụt xuống còn vài phần trăm so với một vàinăm trước đó, và chỉ bằng khoảng 10% mức trước chiến tranh (19344-1936), nănglượng thiếu, lạm phát nặng nề, 13,1 triệu người không có việc làm, đất nước bịquân đội Mỹ chiếm đóng Dù vậy, sau đó Nhật Bản vẫn vươn lên hàng cáccường quốc thế giới, đứng thứ hai sau Mỹ Đặc biệt là giai đoạn 1952 - 1973.Trong giai đoạn này nền kinh tế Nhật Bản phát triển với nhịp độ rất nhanh, tốc độtăng tổng sản phẩm quốc dân thực tế thường ở mức cao nhất trong các nước tưbản So với năm 1950, giá trị tổng sản phẩm trong nước năm 1973 tăng 20 lần( từ 20 tỷ USD lên 502 tỷ USD), vượt Anh, Pháp, CHLB Đức Nhật Bản đã dẫnđầu các nước tư bản về tàu biển, xe máy, máy ảnh, tivi, vận tải đường biển vànhanh chóng xây dựng nên các ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên kĩ thuật côngnghệ hiện đại Nhật Bản đã khẳng định vị trí của mình và duy trì hình ảnh mộtsiêu cường kinh tế khi bước vào thế kỷ XXI
Trang 2CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN
1952-1973
Bằng sự cố gắng nỗ lực của toàn thể nhân dân với những chính sách và
bước đi đúng đắn, Nhật Bản đã tạo nên một giai đoạn phát triển nhanh chóng với
những biến đổi có tính chất liên tục và tăng nhanh về chất lượng
Về tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân: Từ năm 1952 đến năm 1958 tăng
6,9% bình quân hàng năm, đến năm 1959 con số này là trên 10% và còn tăng liên
tục trong những năm tiếp theo Đến những năm 1970-1973, tốc độ tăng trưởng
trung bình giảm xuống chỉ còn 7,8% nhưng vẫn cao hơn tiêu chuẩn quốc tế
Cơ cấu trong các ngành sản xuất có nhiều biến đổi ( bảng 1)
BẢNG 1: Sản phẩm quốc dân thuần tuý của từng ngành sản xuất
(Thể hiện qua chi phí của các yếu tố)
(Đơn vị:Tỷ Yên.
Tỷ trọng cấu thành: %)
Ngành
Kim ngạch Tỉ trọng Kim ngạch Tỉ trọng Kim ngạch Tỉ trọng
Trang 3Năm 1952 tỉ trọng các ngành sản xuất thuộc khu vực I là 22,6% và có xu hướnggiảm xuống, đến năm 1968 chỉ còn 9,9% Ngược lại các ngành thuộc khu vực sảnxuất thứ II ngày càng tăng, từ 40% năm 1952 đến 47% năm 1968 Còn khu vựcsản xuất thứ III cũng tăng nhưng không nhiều: 39% (1952) lên 44% (1968).
I VỀ CÔNG NGHIỆP
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp thời kỳ 1950-1960 là 15,9% và trong thời
kỳ 1960 - 1969 là 13,5% Trong đó sự phát triển của các ngành công nghiệp chếtạo đóng vai trò hàng đầu trong sự phát triển kinh tế của Nhật Bản
1 Về cơ cấu:
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế cao độ, từ những năm 1955 cơ cấu côngnghiệp Nhật Bản tiến mạnh theo hướng công nghiệp hoá công nghiệp nặng vàhoá chất với sự tăng nhanh về tỉ trọng : 48% năm 1951 đến 70% năm 1970 Cùngvới đó là sự giảm mạnh của công nghiệp nhẹ : Từ khoảng 52% năm 1951 xuốngcòn 30% năm 1970 Chính sự công nghiệp hoá này là động lực cho sự tăngtrưởng kinh tế Nhật Bản
Ngay chính trong các ngành công nghiệp nặng và hoá chất cũng có những
sự biến đổi đáng kể Tỉ trọng của nhóm ngành thuộc hệ vật liệu trong tổng giá trịcủa ngành công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 26 - 27% (1951-1970) Mặt khác, tỉtrọng của nhóm ngành công nghiệp cơ khí tăng đáng kể từ 11% năm 1951 đến24% năm 1960 và 32% năm 1970 Vì vậy, có thể khẳng định sự phát triển củacông nghiệp nặng đạt được dựa trên cơ sở nòng cốt là phân ngành công nghiệp
cơ khí Bước vào thập kỉ 70, sự tăng trưởng cao độ đã bộc lộ những mâu thuẫngay gắt đồng thời công nghiệp nặng và hoá chất bắt đầu xây dựng nền tảng choviệc chuyển hướng sang cơ cấu công nghiệp theo mô hình tiết kiệm tài nguyên vànăng lượng
2 Về quy mô :
Đi đôi với sự thay đổi cơ cấu công nghiệp , quy mô của các công ty cũng
có sự thay đổi Từ năm 1955 đến 1970 tỉ trọng của các công ty vừa và nhỏ dưới
Trang 4300 nhân viên có xu hướng giảm Tuy nhiên, các công ty loại này vẫn chiếm tỉtrọng rất cao trong tổng số các loại công ty Kim ngạch của chúng năm 1955 là56,1% , năm 1965 là 49,9% và năm 1970 là 48,9% Qua đó, chúng ta thấy rõđược xu hướng tập trung sản xuất và lực lượng sản xuất vào các công ty lớn Đặcbiệt là loại công ty trên 1000 nhân viên có tỷ trọng liên tục gia tăng.Về tổng sốlượng lao động năm 1955 chiếm 14,6% , năm 1965 là 16,6% và năm 1970 là17,5% Về kim ngạch bán ra năm 1955 chiếm 23,5% , năm 1956 là 28,4% vànăm 1970 là 30% Xét riêng năm 1970 là năm co tỷ trọng công nghiệp nặng vàhoá chất đạt cao nhất Các công ty nhỏ chiếm 90% tổng số các công ty nhưng chỉchiếm 16% kim ngạch bán ra Ngược lại, các công ty khổng lồ chỉ chiếm 0.1%tổng số nhưng lại chiếm 17,5% tổng số nhân viên và 30% kim ngạch bán ra Điềunày cho thấy độ tập trung rất cao Cùng với đó là sự thống trị của một số ít cáccông ty khổng lồ về vốn và đầu tư Năm 1969 , loại công ty có tiền vốn trên 1 tỷYên chỉ chiếm 0.13% tổng số công ty nhưng lại chiếm 60,5% tổng số vốn Cáccông ty này kết hợp với nhau thành các tập đoàn tạo ra sức mạnh to lớn chi phốinền kinh tế
3 Về phân bố :
Từ năm 1955, việc phát triển với tốc độ cao đã được chú ý tới Theo kếhoạch tăng gấp đôi thu nhập sản xuất công nghiệp được bố trí dọc hai tuyếnTokai và Sanyo Các xí nghiệp nằm chủ yếu trên khu vực vành đai nhưng hạnchế những khu vực đã công nghiệp hoá Cũng do kế hoạch này sự chênh lệch thunhập giữa các vùng ngày càng tăng nên Nhật Bản đã đề ra những kế hoạch pháttriển trọng điểm nhằm hạn chế tình trạng trên Đó là những quy định về thànhphố công nghiệp mới, những vùng công nghiệp hoá đặc biệt
Các thành phố công nghiệp mới cũng rất khác nhau tuỳ theo từng khu vực.Vùng Okayama-Mitzushima có nhiều nhà máy đi vào hoạt động Ngược lại, vùngHyuga- Nobeoka lại không có mấy xí nghiệp hoạt động
II VỀ NÔNG NGHIỆP
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản đã có nhiều chính sách đểphục hồi nền nông nghiệp So với trước đây, nông nghiệp của Nhật Bản đã đạt
Trang 5được tốc độ phát triển chưa từng có Năng suất lao động tăng Từ năm 1952 đếnnăm 1972, tổng số thời gian lao động giảm 61% và năng suất lao động tăng4,22% Bên cạnh đó, cơ cấu sản phẩm nông nghiệp cũng có sự thay đổi: Chănnuôi tăng mạnh, hoa quả và rau màu tăng đáng kể, gạo tăng ổn định, nuôi tằmgiảm sút, các loại ngũ cốc khác và khoai giảm mạnh Từ đó đã làm ảnh hưởng ítnhiều đến quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp: năng suất và sản lượng lúagạo tăng làm cho gạo dư thừa, dẫn tới phải điều chỉnh sản xuất gạo; Việc sảnxuất các loại ngũ cốc không phải gạo, nhất là lúa mạch có xu hướng giảm mạnh.Sản xuất ngũ cốc bị thu hẹp và phương thức sản xuất kinh doanh nhỏ nên ngànhchăn nuôi dựa vào thức ăn nhập khẩu, không dựa vào sản phẩm của đất đai, đãbuộc trở thành ngành sản xuất mang tính gia công Từ ba đặc điểm trên, chúng ta
sự mất cân đối và đầy mâu thuẫn, có ngành dư thừa, có ngành suy thoái, cóngành chăn nuôi không dựa vào cơ sở trong nước lại phát triển mạnh
Xét toàn bộ sản xuất nông nghiệp, có thể nói mặc dù sản lượng và năngsuất lên cao nhưng tự túc lương thực giảm đi rõ rệt Chẳng hạn, năm 1960 mức tựtúc đạt 90% đến năm 1972 chỉ còn 73%
Về tình hình sản xuất nông nghiệp :
+ Về đất đai : Từ năm 1960 số hộ nông dân đã giảm 14.6% nên diện tích đất
canh tác bình quân nông hộ tăng từ 10% Nhưng tỉ lệ đất canh tác lại giảm mạnhnên qui mô kinh doanh của nông hộ đã thu nhỏ
+ Về sự biến đổi trong đầu tư vật tư và công cụ : lượng phân bón không giảmnhưng vị trí của nó giảm rõ rệt trong đầu tư, công cụ Tỉ trọng của thức ăn gia súc
và máy công nghiệp đã vượt chi phí cho phân bón
Sự thay đổi cơ cấu trong chi phí kinh doanh nông nghiệp sau chiến tranh
có thể nói là do sự phát triển của cơ giới hoá nông nghiệp và sự gia tăng nhậpkhẩu thức ăn gia súc Sự cơ giới hoá nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng trongviệc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp Năm 1955 có hai triệu máy tuốt hạt Máylàm đất năm 1955 có 90.000 đến năm 1960 lên 520.000 năm 1965 vọt lên2.520.000 Đến năm 1970 đã hoàn thiện kỹ thuật cơ giới hoá toàn bộ việc trồng
và thu hoạch lúa
Trang 6Nhưng khi quá trình cơ giới hoá bước vào giai đoạn qui mô lớn, rồi đếnđồng bộ hoá, thì kiểu kinh doanh tiểu nông đã không còn thích ứng nữa, việc cơgiới hoá đã tiết kiệm được lao động và làm tăng sản lượng trong điều kiện có sự
ra đi của lực lượng lao động, nhưng chính nó cũng gây ra những khó khăn to lớntrong phương thức kinh doanh tiểu nông Nó chèn ép kinh tế tiểu nông và giảm tỉxuất thu nhập nông nghiệp Riêng về mặt sản xuất, nó phá hoại hợp lý của kỹthuật tiểu nông lám đảo lộn trật tự môi trường giữ tự nhiên và sản xuất nôngnghiệp
+ Về cơ cấu nông nghiệp: Cơ cấu nông nghiệp không có gì thay đổi mặc dù có sựbiến đổi ghê gớm của phương thức kinh doanh nông nghiệp cũng như của kinh tếnông nghiệp nói chung
+ Về tình hình kinh doanh nông nghiệp sau chiến tranh: đã có sự biến đổi Sảnxuất hàng hoá tăng từ 57,9% năm 1951 lên 85,6% năm 1971 Có hai xu hướngtrong các lĩnh vực sản xuất là lúa gạo và sản xuất rau, hoa quả, chăn nuôi Trongthời gian từ năm 1965 đến năm 1970 các lĩnh vực này đã có sự chuyên môn hoá
Sự phát triển của ngành nông nghiệp đã kéo theo nhiều sự biến đổi trong
xã hội Đó là sự xuất hiện của nhiều loại người mới trong quá trình sản xuất nôngnghiệp, sự ra đời của nhiều kiểu tổ chức sản xuất trên cơ sở kết hợp giữa cácnông dân Các tổ chức này rất đa dạng về hình thức do chúng ra đời ở các thời kỳkhác nhau
Năm 1972 có sự biến động lớn trong tình hình cung cấp lương thực thếgiới, giá ngũ cốc tăng vọt Điều này đã làm cho nền sản xuất lương thực trongnước đã được chú ý nhiều hơn
III VỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế nhu cầu về giao thôngvận tải cũng tăng nhanh Các phương tiện vận chuyển trong thời kỳ này cũngphát triển nhanh về số lượng Đặc biệt, do Nhật Bản là một quần đảo lớn nêngiao thông đường biển rất phát triển Đến những năm 70, Nhật Bản đứng đầu cácnước tư bản về vận tải đường biển
Trang 8IV.VỀ NGOẠI THƯƠNG:
Đây được coi là nhịp thở của nền kinh tế Nhật Bản Từ năm 1950 đén năm 1971,
kim ngạch ngoại thương tăng 25 lần từ 1,7 tỉ USD lên 43,6 tỉ USD Trong đó
xuất khẩu tăng lên 30 lần, nhập khẩu tăng 21 lần Khối lượng xuất khẩu của
ngành công nghiệp nặng và hoá chất tăng thêm 10% từ 62,4% năm 1965 lên
73% năm 1970 Đặc biệt là sự tăng nhanh của phân ngành cơ khí
Bảng 2 : Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
(Nguồn “Tình hình ngoại thương nước ta” của Bộ Tài chính Nhật Bản )
1 Về thanh toán quốc tế:
Trải qua nhiều bước thăng trầm, đó là những biến đổi có tính chất chu kỳ
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, thanh toán quốc tế đã trở thành vấn đề quan
trọng đối với nhiều nước và đặc biệt nó đã trở thành nguyên nhân quan trọng ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nhật Bản
Năm 1952, khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, cuộc chạy đua vũ trang
chậm lại Vì thế, xuất khẩu của Nhật Bản giảm sút cả về chất lượng và giá cả
Còn nhập khẩu thì vẫn tăng do đầu tư và tiêu dùng không giảm Cán cân ngoại
thương thâm hụt lớn Chính phủ buộc phải trở lại chính sách thắt chặt tiền tệ vào
Trang 9tháng 10/1953 Đến năm 1954, nhập khẩu đã giảm, xuất khẩu được mở mộng,cán cân thanh toán dư thừa Đến những năm 1956-1960, xuất khẩu tăng liên tụclàm cho dự trữ ngoại tệ tăng lên, đạt 1,8 tỷ USD năm 1960 Từ đó sản xuất vàtiêu dùng cũng được đẩy mạnh Bước vào năm 1961, nhờ chính sách tăng trưởngkinh tế cao độ, hoạt động đầu tư trở nên sôi nổi Vì thế, nhập khẩu tăng, bên cạnh
đó xuất khẩu gặp khó khăn, cán cân thương mại lại thâm hụt lớn Qua nhiều lầnbiến đổi đến năm 1969 bắt đầu có xu hướng dư thừa ổn định Từ năm 1970, hoạtđộng xuất khẩu đựơc đẩy mạnh, đặc biệt là sang Mỹ đạt tốc độ trên 20% ĐồngYên được tăng giá từ chỗ 1USD=360Yên đến 1USD=308Yên Tuy nhiên, sựtăng giá này không đem lại nhiều hiệu quả
2 Về đầu tư ra nước ngoài
Khoảng năm 1953-1954, Nhật Bản đã phục hồi nền kinh tế, đạt mức trướcchiến tranh Cũng từ đó đến khoảng đầu thập kỷ 60, kinh tế Nhật Bản luôn phảiđương đầu với nạn thâm hụt kinh niên trong cán cân buôn bán, thất nghiệp, lạmphát cao Do đó, không có tiền để đầu tư ra nước ngoài Bước vào thập kỷ 60,đầu tư ra nước ngoài liên tục phát triển, từ bình quân hàng năm 130 triệu đôla(1963-1965), 90triệu đôla năm 1970 đã tăng lên 3,5 tỉ đôla năm 1973
Thị trường đầu tư cũng có sự thay đổi Trước đây, Nhật Bản chỉ chú trọngđầu tư vào Mỹ nhưng về sau đã chú trọng hơn đến các thị trường khác như Châu
Á Trong tổng số tiền đầu tư giai đoạn 1951-1960, khu vực Bắc Mỹ chiếm 40%,khu vực Trung Nam Mỹ 37%, Châu Á 21%, Châu Âu 1,5% và châu Đại Dươngchiếm 0,9% Trong thời kỳ 1961-1965, đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản vàokhu vức Trung Nam Mỹ và châu Á tăng nhanh chiếm 28%, Mỹ chiếm 26% vàchâu Âu chiếm 4%
Tóm lại, thời kỳ 1952-1973 là thời kỳ phát triển rất nhanh của nền kinh tế NhậtBản Tuy nhiên, sự phát triển này cũng gặp khó khăn và biến động Từ năm 1951đến năm 1973 đã có tất cả 7 thời kỳ ổn định và 8 lần suy thoái Sự tăng trưởngcao độ luôn đi liền với lạm phát kéo dài Nhưng dù sao đây cũng là giai đoạnNhật Bản phát triển thần kỳ với tốc độ chưa từng có Nó đã góp phần khôi phục
Trang 10I PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN TỐ CON NGƯỜI
Trước hết, chế độ giáo dục ở Nhật bản khá phát triển và hoàn thiện Kế thừa nềngiáo dục của thời kỳ trước, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã khổcập giáo dục hệ 9 năm Người Nhật rất chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lànhnghề, có đủ khả năng nắm bắt và sử dụng những kỹ thuật, công nghệ mới Côngnhân được đào tạo không chỉ trong các trường dạy nghề mà có thể đào tạo ngaytrong các xí nghiệp
Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật của Nhật Bản khá đông đảo, chất lượngcao đã góp phần vào sự phát triển nhảy vọt về kinh tế và công nghệ của đất nước.Giới quản lý và kinh doanh của Nhật được đánh giá là những người sắc xảo,nhạy bén trong việc nẵm bắt thị trường, đổi mới phương pháp kinh doanh, đemlại thắng lợi cho các công ty Nhật Bản trên thị trường quốc tế
Từ lâu, người Nhật được giáo dục theo đạo lý của đạo Khổng Trong thời
kỳ hiện đại, những đức tính cần kiệm, kiên trì, trung thành, tính phục tùng vẫnđược đề cao Nghiên cứu “tính cách Nhật Bản”, các nhà nghiên cứu phương Tâyđánh giá đây là một nhân tố chủ yếu dẫn đến sự thành công trong sự phát triểnkinh tế của Nhật Bản
1/ Tính truyền thống:
Truyền thống Nhật Bản luôn luôn được kế thừa và phát triển cả trong nếpnghĩ, hành vi của mỗi công dân Họ trân trọng những di sản tinh thần được gìngiữ từ ngàn xưa Truyền thống đã hình thành, ổn định và càng củng cố trên cơ sởthừa kế và phát triển Trân trọng các di sản văn hoá của quá khứ, người Nhật bảolưu những tinh hoa của mình đã bám rễ trong cuộc sống
2/ Tinh thần cộng đồng:
Trang 11Tinh thần cộng đồng ở Nhật Bản có đặc điểm là nó tạo ra một trật tự thứbậc Ý thức tôn trọng thứ bậc đã có từ lâu trong đời sống người Nhật Sự phụthuộc vào thủ lĩnh, lòng kính trọng các bậc cao niên gần như một biểu tượng tôngiáo.
Tâm lý cộng đồng được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ và được thể hiện nhưmột triết lý của con người trong lao động và trong sinh hoạt Tập thể đóng vai tròquan trọng trong đời sống người Nhật Để đạt đến sự nhất trí trong công việcngười Nhật thường gạt bỏ cái tôi lại để đề cao cái chung, tìm sự hoà hợp giữamình và những thành viên khác trong một tập thể Tinh thần cộng đồng còn đượcthể hiện ở sự bình đẳng, chan hoà giữa những người quản lý và các nhân viêncông ty Tinh thần cộng đồng đã và đang là tiềm năng to lớn của dân tộc NhậtBản
3/ Lòng trung thành:
Người Nhật Bản luôn đề cao tuyệt đối lòng trung thành.Trong quá trìnhsản xuất, lòng trung thành đã phát huy tác dụng mạnh mẽ, góp phần không nhỏvào sự phát triển kỳ diệu của nền kinh tế Nhật Bản ngày nay
Lòng trung thành được thể hiện ở các mặt sau:
+ Thái độ làm việc: Mọi người dốc sức dốc lòng, nghiên cứu lao động để đạtđược kết quả cao nhất Họ luôn lấy mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước đặtlên hàng đầu
+ Tính nhẫn nại: Mặc dù tính nhẫn nại không phải của riêng nhân dân Nhật Bảnsong dường như nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi con người nơi đây Người tacho rằng khả năng học tập và quyết tâm làm việc của người Nhật là do đặc tínhnày
+ Tính tiết kiệm: Đầu những năm 60, khi thu nhập theo đầu người ở Nhật Bảncòn thấp, họ đã có ý thức tiết kiệm dù là những cái nhỏ nhất trong đời sống đểtăng thêm phần tiết kiệm cho đất nước
+ Người lao động luôn sẵn sàng gắn bó cả cuộc đời với công việc, với xí nghiệp.Người Nhật nổi tiếng làm việc cần mẫn, xem công ty như gia đình của mình Họ