2 Theo từ điển Luật học, “luật sư” có thể hiểu là “thành viên của một đoàn luật sư, làm nghề giúp đỡ về mặt pháp lí cho cá nhân hoặc tổ chức theo hợp đồng hoặc theo chỉ định của cơ quan
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ
Môn: Nghề Luật và Phương pháp học luật
Đề bài: Tìm hiểu thuật ngữ “luật gia” và “luật sư” Lịch sử và vai trò của nghề luật ở Việt Nam
Họ và tên: Tạ Thị Thiên Trang MSSV: 441347
Lớp: 4413
Hà Nội – 2019
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I – Giải thích thuật ngữ “luật gia” và “luật sư”: 1
1.Thuật ngữ “luật gia” 1
2.Thuật ngữ “luật sư” 1
3.Sự khác biệt giữa “luật gia” và “luật sư” 2
II– Lịch sử của nghề luật sư ở Việt Nam 3
1.Giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam 3
2.Giai đoạn Pháp thuộc và thời kỳ chế độ Ngụy Sài Gòn từ 1954 dến 1975 ở miền Nam Việt Nam 4
2.1.Thời kỳ Pháp thuộc 4
2.2.Thời kỳ chế độ ngụy Sài Gòn từ năm 1954 – 1975 ở miền Nam Việt Nam 5
3.Giai đoạn từ 1945 đến 1987 6
4.Giai đoạn từ 1987 đến 2001 7
5.Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006 7
6.Giai đoạn từ năm 2006 đến nay 8
III – Vai trò của nghề luật sư ở Việt Nam 9
1.Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị cáo và đương sự trước tòa 9
2.Vai trò của luật sư trong việc tư vấn pháp luật góp phần bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân 9
3.Vai trò của luật sư trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật 10
KẾT THÚC 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 31
MỞ ĐẦU
Nghề luật sư hình thành trên thế giới từ rất sớm Ở Việt Nam, hoạt động luật
sư đã hình thành từ trước Cách mạng tháng Tám, tuy nhiên những năm gần đây mới được chú trọng Bởi với một nước đang trên đà phát triển, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì việc bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải là một vấn đề tất yếu và chính đáng
Nghề luật sư không còn xa lạ đối với chúng ta nhưng lại có rất nhiều người bị nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ: luật gia và luật sư Vậy hai thuật ngữ này là gì? Lịch sử hình thành nghề luật sư ở Việt Nam như thế nào? Vai trò của nghề này ở nước ta ra sao? Để trả lời những câu hỏi này, em chọn đề tài: “Tìm hiểu thuật ngữ luật gia và luật sư? Lịch sử và vai trò của nghề luật sư ở Việt Nam?”
NỘI DUNG
I – Giải thích thuật ngữ “luật gia” và “luật sư”:
1 Thuật ngữ “luật gia”
Theo từ điển Tiếng Việt thì “luật gia” được định nghĩa là “người chuyên nghiên cứu về pháp luật”1
Theo từ điển Luật học, “luật gia” được hiểu là “người có kiến thức pháp lí, chuyên nghiên cứu về luật, luật học hoặc làm công tác pháp luật ở các cơ quan nhà nước, các tổ chức nghề nghiệp: luật gia tư vẫn, v.v.”2
2 Thuật ngữ “luật sư”
Theo từ điển Tiếng Việt, “luật sư là người chuyên dựa vào pháp luật để bào chữa cho đương sự trước tòa án”3
1 Viện Ngôn ngữ học, “Từ điển Tiếng Việt”, Nxb.Hồng Đức,2018, tr.747
2 “Từ điển Luật học”, Nxb.Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr.286
Trang 42
Theo từ điển Luật học, “luật sư” có thể hiểu là “thành viên của một đoàn luật
sư, làm nghề giúp đỡ về mặt pháp lí cho cá nhân hoặc tổ chức theo hợp đồng hoặc theo chỉ định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một số trường hợp, luật sư tham gia tố tụng để bào chữa cho bị can, để bệnh vực cho bị cáo, các đương sự, thay mặt cho người bị hại trước các tòa án, và có thể làm một
số dịch vụ pháp lí khác theo quy định của pháp luật Công dân Việt Nam có phẩm chất, đạo đức và đủ các điều kiện về kiến thức pháp lí theo quy định của pháp luật, được theo một đoàn luật sư kết nạp có thể trở thành luật sư sau một thời gian tập sự.”4
3 Sự khác biệt giữa “luật gia” và “luật sư”
Một trong những tiêu chuẩn quan trọng, không thể thiếu đối với luật sư là phải được đào tạo nghề sau khi đã có bằng cử nhân đại học luật Tại Việt Nam, Học viện Tư pháp là trường duy nhất đào tạo nghề Luật sư
Chức năng của luật sư là cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức, bao gồm việc tham gia tố tụng để bào chữa hoặc biện hộ cho bị can, bị cáo, đương sự; tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức và làm các dịch vụ pháp lý khác
Sứ mệnh xã hội của luật sư là góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa
Luật sư độc lập, tự chịu trách nhiệm trong hành nghề, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất mà luật sư gây ra cho khách hàng; trách nhiệm vật chất của luật sư là trách nhiệm vô hạn
Ngoài việc phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật, luật sư còn phải tuân theo các quy tắc hành nghề, trong đó có các quy tắc đạo đức nghề nghiệp do tổ chức hiệp hội luật sư ban hành
3 Viện Ngôn ngữ học, “Từ điển Tiếng Việt”, Nxb.Hồng Đức,2018, tr.747
4 “Từ điển Luật học”, Nxb.Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 1999, tr.294
Trang 53
Nguồn thu nhập của luật sư là tiền thù lao do khách hàng trả
Như vậy, “luật gia” và “ luật sư” là hai thuật ngữ khác nhau, bởi lẽ đây vốn là hai chức danh khác nhau Chỉ khi đất nước có hệ thống pháp luật phát triển, người dân có kiến thức pháp luật cao thì hai thuật ngữ này mới được hiểu một cách rõ ràng và không bị nhầm lẫn như hiện nay
II – Lịch sử của nghề luật sư ở Việt Nam
Nghề luật sư phát triển cùng qua trình xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhà nước ta Dưới sự lãng đạo của Đảng, cùng trải qua những giai đoạn thăng trầm của đất nước, đội ngũ luật sư đã không ngừng phát triển và giành được những thắng lợi vẻ vang, từng bước khẳng định vị trí quan trọng của mình trong xã hội
1 Giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thời kì Bắc thuộc, khoảng hơn 1000 năm sau Công nguyên chỉ có thời kì độc lập rất ngắn, nước Vạn Xuân (541 – 602), thời kỳ này pháp luật chủ yếu là luật tục và tập quán5, việc xét xử là công việc của Triều đình phương Bắc, tội có tính áp đặt, pháp luật là của vua chúa, nước
ta chưa có chế định người bào chữa và biện hộ, nghề luật sư chưa xuất hiện Nổi bật qua một số thời đại, khi các Nhà nước phong kiến đang lên đã xây dựng một số quy định pháp luật tiến bộ với những nét đặc trưng riêng và nghề thầy cung, thầy kiện cũng nhen nhóm xuất hiện
Thời kỳ Triều Lý, nghề luật sư trong thời kỳ này không phát triển do pháp luật thời kì này không những không có chế định về bào chữa, mà còn có các quy định cấm và hạn chế nghề thầy cung, thầy kiện và việc khiếu kiện của
5 Đinh Gia Trinh, “Sơ thảo lịch sử Nhà nước và pháp quyền Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1968; Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hòa, “Lịch sử các định chết chính trị và pháp quyền Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, 1997, t1, tr.32
Trang 64
công dân: “không được xúi người khác đi kiện”, “án đã xử xong mà khiếu kiện thì tội sẽ nặng hơn”6
Thời kỳ nhà Trần, nghề luật sư cũng không phát triển, việc khiếu kiện của người dân là rất khó khăn, cho dù việc kiện là đúng lý nhưng cũng khó lấy lại được công bằng, nếu người đi kiện không gặp được bậc quan, vua chúa công minh
Thời kỳ nhà Lê, có thể nói triều đại nhà Lê có bước tiến quan trọng trong phát triển pháp luật Các quy định trong Bộ luật Hồng Đức đã ghi nhận nhiều quan điểm mới, tiến bộ về việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội, cho phép họ tự bào chữa và bảo đảm việc tranh luận, phản biện trở lại đối với các bên một cách kỹ lưỡng, đã góp phần đảm bảo cho hoạt động xét xử nói chung được thực hiện công bằng hơn và người dân được có cơ hội cung cấp chứng cứ và tranh biện với sự giúp đỡ của một số người có hiểu biết luật pháp trong xã hội Người có hiểu biết luật pháp trong xã hội có cơ hội để thực hiện một số công việc của nghề “thầy cung, thầy kiện” có tính chất như nghề luật sư hiện nay
2 Giai đoạn Pháp thuộc và thời kỳ chế độ Ngụy Sài Gòn từ 1954 dến 1975 ở miền Nam Việt Nam
2.1 Thời kỳ Pháp thuộc
Sau khi xâm lược Nam kỳ, thực dân Pháp đã ban hành sắc lệnh áp dụng Bộ luật Napoleon của Pháp, thừa nhận chế định luật sư của Pháp tại Đông Dương được thực hiện thống nhất theo Sắc lệnh ngày 25/7/1864 của Hoàng đế Napoleon III, tổ chức luật sư được thành lập theo khu vực: Hà Nội, Sài Gòn, Campuchia, Lào, đặt bên cạnh Tòa án thuộc địa
Ngày 30/01/1911, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Antony Waladislas Klobukowski ký Sắc lệnh thành lập Đoàn luật sư Sài Gòn và Hà Nội, thành viên là các luật sư đã tốt nghiệp trường Luật ở Pháp, có quốc tịch
6 Học viện Tư pháp, “Giáo trình Luật sư”, Nxb Tư pháp, 2018, tr.41
Trang 75
Pháp Chủ trương của Antony Waladislas Klobukowski là mở rộng nghề luật
sư theo hướng không hạn chế chỉ người Pháp và người Việt mang quốc tịch Pháp mới được làm luật sư, mà còn có cả người Việt mang quốc tịch Việt cũng được làm luật sư nếu hội đủ các điều kiện theo luật định Antony Waladislas Klobukowski cho phép mở trường Luật (École de Droit) với hai trụ sở tại Hà Nội và Sài Gòn, thời gian học là 02 năm Trường luật khai giảng tại Hà Nội ngày 15/4/1910
Ngày 25/5/1930, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Pierre Marie Antoine Pasquyer ký Sắc lệnh tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng Việc ký Sắc lệnh này thể hiện rõ sự chú trọng của Pháp đối với việc phát triển nghề luật sư tại Việt Nam bởi các quy định trong Sắc lệnh mở hơn
so với các Nghị định trước đó
Giai đoạn 1930 - 1945 là thời kỳ bùng nổ nghề luật sư ở Việt Nam khi các luật sư du học tại Pháp trở về nước, cùng với một số lượng đông đảo những người được đào tạo ngành luật tại Trường Đại học Đông Dương, Hà Nội Các luật sư tên tuổi thời kỳ này có thể kể đến là Phan Văn Trường (1876-1933), Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Phan Anh (1912-1990), Trần Công Tường (1915-1990), Trương Đình Dzu (1917-1991), Vũ Trọng Khánh (1912-1996), Nguyễn Hữu Thọ (1910-1996), Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), Nguyễn Văn Hưởng (1910-2001);…
2.2 Thời kỳ chế độ ngụy Sài Gòn từ năm 1954 – 1975 ở miền Nam Việt Nam
Luật về nghề luật sư ở chế độ ngụy Sài Gòn được ban hành theo Dụ 25 ngày 5/12/1952, được sửa đổi bởi Dụ số 41 ngày 15/11/1954 và hoàn chỉnh nhất là hai luật: Luật sư 01/62 ngày 8/1/1962 ấn định “Quy chế luật sư và tổ chức luật sư đoàn” được thi hành cho đến năm 1975; Luật số 025/66 ngày 7/7/1966 quy định các điều kiện trở thành luật sư và tổ chức Luật sư đoàn, quy định về việc phải qua được cuộc thi khả năng hành nghề luật sư trước khi hành nghề
Trang 86
3 Giai đoạn từ 1945 đến 1987
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy tư pháp được tổ chức lại Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 về tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh này đã quy định việc duy trì tổ chức luật sư trong
đó đã có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về luật
sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 (Điều 67)
đã khẳng định quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư bào chữa là quyền quan trọng của bị cáo, một trong những quyền cơ bản của công dân
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) năm 1954, Việt Nam bị chia cắt hai miền
Ở miền Nam, trường Đại học Luật khoa Huế, Đà Lạt, Sài Gòn của chế độ Việt Nam Cộng hòa đào tạo các cử nhân luật, một số sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật được đào tạo tiếp để trở thành luật sư Trong các tòa vi cảnh, tòa sơ thẩm, tòa đại hình, tòa thượng thẩm đều có công tố viên và có luật sư tranh luận, bào chữa bảo vệ thân chủ Luật sư có quyền tham gia tại giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử và tranh tụng tại phiên tòa
Hiến pháp 1959 đã thiết lập hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát, Bộ Tư pháp không còn tồn tại, công tác hành chính tư pháp được giao cho Tòa án tối cao đảm nhiệm, trong đó có công tác bào chữa Để bảo đảm quyền bào chữa của
bị cáo đã được Hiến pháp 1959 quy định (Điều 101), năm 1963, Văn phòng luật sư thí điểm được thành lập lấy tên Văn phòng luật sư Hà Nội
Sau khi thống nhất đất nước, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 ngoài việc khẳng định bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, còn quy định việc thành lập tổ chức luật sư để giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 97
Năm 1986, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp Trong bối cảnh
đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư đầu tiên được ban hành ngày 18/12/1987 Đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịch sử trong việc khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
4 Giai đoạn từ 1987 đến 2001
Ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh Tổ chức luật
sư Pháp lệnh cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về chế định luật sư, tạo cơ
sở cho việc hình thành và phát triển đội ngũ luật sư ở Việt Nam
Pháp lệnh luật sư năm 2001 được ban hành Nội dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật sư theo hướng chính quy hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò
tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam Với nội dung tiến bộ, phù hợp với yêu cầu khách quan, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã nhanh chóng
đi vào cuộc sống Chỉ sau 5 năm thi hành Pháp lệnh, đội ngũ luật sư đã tăng đáng kể cả về số lượng và chất lượng Trong tham gia tố tụng, nhiều luật sư
đã dần khẳng định trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp khi tham gia tranh tụng tại các phiên tòa Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư cũng đã
có bước phát triển đáng kể, đặc biệt là tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại ngày càng nhiều và ngày càng nâng cao
về chất lượng dịch vụ Có thể nói Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã tạo một bộ mặt mới với triển vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế – quốc tế ở Việt Nam
5 Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006
Nếu như Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 có vai trò rất quan trọng, tạo cơ
sở pháp lý cho việc hình thành đội ngũ luật sư ở nước ta thì Pháp lệnh luật sư
Trang 108
được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/7/2001 là bước tiên quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế luật sư ở nước ta, đưa chế định luật sư ở nước ta xích gần với thông lệ quốc tế Pháp lệnh luật sư không chỉ nâng cao vị thế của luật sư trong xã hội, mà còn đưa luật sư của nước ta lên ngang tầm với luật sư của các nước trong khu vực và trên thế giới Trong các năm 2005, 2006, 2007, Việt Nam đã ban hành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2007 thay thế Pháp lệnh luật sư năm 2001 Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Có thể nói, Luật Luật sư là mốc son đánh dấu một bước phát triển và hoàn thiện của
Hệ thống pháp luật ở Việt Nam, và qua đó mở ra nhiều triển vọng, vị thế mới cho nghề luật sư ở Việt Nam
6 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay
Sau 5 năm thi hành, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã góp phần tăng nhanh đội ngũ luật sư ở nước ta cả về số lượng và chất lượng, từng bước nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động hành nghề của luật sư Hoạt dộng luật sư không những đã đáp ứng kịp thời nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của
cá nhân, tổ chức, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, mà còn góp phần tạo lập môi trường pháp lí thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày 29/6/2006, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hôị khóa XI đã thông qua Luật Luật
sư gồm 9 chương, 94 điều và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế về luật sư ở nước ta