1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài sinh viên 2016 ( chuẩn ) (1)

59 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu của người cao tuổi tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Đỗ Thị Lâm, Nguyễn Thị Lan, Lê Thị Nhinh, Nguyễn Thị Vân, Hà Thị Hằng
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hương
Trường học Trường Đại học Hồng Đức
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 484,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1 Tên đề tài “Nhu cầu của người cao tuổi tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa” 2 Cấp dự thi Cấp trường 3 Nhóm s[.]

Trang 1

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Tên đề tài: “Nhu cầu của người cao tuổi tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa”

2 Cấp dự thi: Cấp trường.

3 Nhóm sinh viên thực hiện: Đề tài được thực hiện bởi nhóm sinh viên lớp

K16 Khoa Tâm lý-Giáo dục bao gồm:

- Đỗ Thị Lâm (Chủ nhiệm đề tài)

- Nguyễn Thị Lan

- Lê Thị Nhinh

- Hà Thị Hằng

- Nguyễn Thị Vân

4 Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hương.

5 Thời gian thực hiện: 9 tháng (Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016)

6 Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Hồng Đức.

7 Đơn vị chủ trì đề tài: Khoa Tâm lý-Giáo dục.

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

SĐT: 01696140230

2 Nguyễn Thị Lan K16 ĐH Tâm lý học Cộng tác viên

3 Lê Thị Nhinh K16 ĐH Tâm lý học Cộng tác viên

4 Nguyễn Thị Vân K16 ĐH Tâm lý học Cộng tác viên

5 Hà Thị Hằng K16 ĐH Tâm lý học Cộng tác viên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Cùng với sự nỗ lực, cố gắng của cả nhóm thì chúng em đã nhận được sự giúp

đỡ của các cô trong Khoa Tâm lý – Giáo dục, cùng sự giúp đỡ của chính quyền địaphương và các cụ ông cụ bà tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đểchúng em có thể hoàn thành đề tài này

Lời đầu tiên nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Hương

đã giúp đỡ và hướng dẫn chúng em trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài Nhờ sựgiúp đỡ của cô mà chúng em đã vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành đề tài này Qua đây, nhóm chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo khoa, cácthầy cô giáo trong khoa cùng nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng emhoàn thành tốt đề tài đúng thời gian quy định

Đồng thời nhóm chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, Hội ngườicao tuổi xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa dã tạo điều kiện giúp đỡchúng em trong việc tìm hiểu một số thông tin về người cao tuổi tại địa phươngnhằm phục vụ quá trình nghiên cứu

Đề tài này tuy đã hoàn thành nhưng do còn hạn chế về chuyên môn cũng nhưthời gian nghiên cứu có hạn nên khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp của quý thầy cô để đề tài này được hoàn thiện hơn!

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU i

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cái mới của đề tài 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU 4

CỦA NGƯỜI CAO TUỔI 4

1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Ở nước ngoài 4

1.1.2 Ở trong nước 5

1.2 Lý luận về nhu cầu 6

1.2.1 Nhu cầu 6

1.2.2 Người cao tuổi 12

1.2.3 Nhu cầu của người cao tuổi 17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của người cao tuổi 21

1.3.1 Yếu tố khách quan 21

1.3.2 Yếu tố chủ quan 22

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHU CẦU CỦA NGƯỜICAO TUỔI 25

TẠI XÃ ĐÔNG TIẾN, HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA 25

2.1 Địa bàn nghiên cứu 25

2.2 Vài nét về người cao tuổi trong nghiên cứu 25

2.3 Thực trạng nhu cầu của người cao tuổi tại Xã Đông Tiến, Huyện Đông Sơn, Tỉnh Thanh Hóa 26

2.3.1 Cách đánh giá 26

Trang 5

2.3.3 Mức độ hài lòng về các nhu cầu của người cao tuổi 30

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

1 Kết luận 42

2 Kiến nghị 44

PHỤ LỤC 1 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Bảng nhận thức về vai trò của nhu cầu 26 2.3.2 Một số nhu cầu của người cao tuổi tại Xã Đông Tiến – Huyện Đông Sơn – Tỉnh Thanh Hóa Error: Reference source not foundBảng 2: Bảng đánh giá mức độ quan trọng về một số nhu cầu của người cao tuổi

Error: Reference source not foundBảng 3: Người thường xuyên trò chuyện với người cao tuổi 32 Bảng 4 : Mức độ ảnh hưởng của các nhu cầu Error: Reference source not found2.3.3 Mức độ hài lòng về các nhu cầu của người cao tuổi 30 Bảng 5: Người giúp đỡ nhiều nhất khi đau ốm Error: Reference source not foundBảng 6 : Bảng đánh giá mức độ hài lòng Error: Reference source not found

Trang 7

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn củacon người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Nhu cầu là yếu tố thúcđẩy con người hoạt động, chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đếnhành vi của con người nói riêng Vì thế vấn đề nhu cầu được nhiều ngành khoa họcquan tâm nghiên cứu và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội Hiện tại nước ta đang trong thời kì dân số vàng nhưng tương lai chúng ta phải đốimặt với dân số già hóa nhanh chóng với tỉ lệ người cao tuổi chiếm đa số trong tổng

số dân, nên việc nghiên cứu về người cao tuổi, đặc biệt nghiên cứu về nhu cầu của

họ là rất cần thiết

Người cao tuổi hay người cao niên, hay người già là những người lớn tuổi,thường có độ tuổi khoảng từ 60 tuổi trở lên Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam(số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/04/2000) nhận định: “Người cao tuổi cócông sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai trò quantrọng trong gia đình và xã hội” Với tuổi đó, họ thường hạn chế những công việcnặng nhọc, không còn tiếp tục tham gia những hoạt động công sở, sức khoẻ yếu đi

và hay có bệnh tật như: mắt mờ, lãng tai, trí nhớ giảm, mau quên, các bệnh về hệthần kinh và hô hấp…Ngoài ra họ hay té ngã, hay đỗ bệnh vì hệ miễn dịch kém Ởtuổi này, có người tỏ ra sức yếu lực tàn, song có người vẫn còn nhanh nhẹn, khoẻmạnh về thể chất và minh mẫn về trí tuệ

Người cao tuổi là lớp người có uy tín và vai trò quan trọng trong gia đình và

xã hội, là người có công sinh thành, nuôi dạy con cháu, hình thành nhân cách, pháttriển giống nòi, giáo dục lý tưởng và truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dântộc cho thế hệ trẻ Mặc dù hoạt động chủ đạo của người già là nghỉ ngơi, an dưỡng,nhưng trên thực tế, phần lớn người cao tuổi vẫn rất lạc quan, có nhiều đóng góp vàocuộc sống cộng đồng Tuy nhiên, là đối tượng người cao tuổi, sức khỏe sút kém,đầu óc không còn nhiều minh mẫn,… họ cũng luôn mong muốn con cháu và cộngđồng có những quan tâm nhất định cả về vật chất và tinh thần để họ có thể “sốngvui, sống khỏe, sống có ích” Do đó, vấn đề nhu cầu của người cao tuổi là một vấn đềđáng được quan tâm của cả gia đình và xã hội

Trang 8

Tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện sống người cao tuổi ở vùng nông thônhay thành thị lại có những nhu cầu khác nhau Những người cao tuổi tại xã ĐôngTiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên concháu họ phải đi làm xa, một bộ phận người cao tuổi phải tự lo cho mình, những lúcđau ốm không ai trông nom, khi bị bệnh cũng không có điều kiện chạy chữa kịpthời, khi vào viện thì chỉ có một mình, nhờ sự quan tâm của các y bác sĩ, Điềunày cho thấy vấn đề đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi ở xã Đông Tiến, huyệnĐông Sơn, tỉnh Thanh Hóa còn những hạn chế cần được quan tâm nghiên cứu nhằmnâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi hiện nay.

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Nhu cầu của người cao tuổi tại xã

Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa” với mong muốn đi sâu tìm hiểu về

nhu cầu, tìm ra những trở ngại, khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu của ngườicao tuổi, quan tâm, chăm sóc đối với người cao tuổi ở xã Đông Tiến nói riêng vàngười cao tuổi ở Việt Nam hiện nay nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnhhưởng đến nhu cầu của người cao tuổi tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnhThanh Hóa Từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm cải thiện, góp phần nâng cao chấtlượng cuộc sống của người cao tuổi tại đây

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng 3 nhóm phương pháp sau:

4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Bao gồm các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, nhằm khái quáthóa những vấn đề lý luận cơ bản của đề tài làm cơ sở nghiên cứu thực trạng nhu cầucủa người cao tuổi tại xã Đông Tiến, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Trang 9

4.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát

những biểu hiện hành vi, cử chỉ người già và người thân của họ, và cơ quan địaphương nơi sinh sống và của xã hội để thấy được thực trạng vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp điều tra: Xây dựng bộ câu hỏi điều tra gồm câu hỏi đóng, câu

hỏi mở, và phát phiếu điều tra cho 102 người cao tuổi tại xã Đông Tiến để khảo sátthực trạng vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi sử dụng một số câu hỏi liên quan để

trao đổi, trò chuyện với người cao tuổi, với cán bộ xã nhằm thu thập thêm thông tin

về nhu cầu của người cao tuổi

Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến nhu cầu, đặc biệt

là nhu cầu của người cao tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi

*Thực tiễn

Nghiên cứu nhu cầu của người cao tuổi góp phần làm rõ thực trạng nhu cầungười cao tuổi ở Việt Nam hiện nay Từ đó đề xuất một số kiến nghị giúp nâng caochất lượng cuộc sống

Trang 10

CHƯƠNG I.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Ở nước ngoài

- Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa họcnghiên cứu sinh học và xã hội Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầuđược tìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham,Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S.Herman Đó

là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật Sự hiện diện của nhucầu ở bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sốngphức tạp, là đặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh

Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu Alfred Marshall

viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn” Về vấn đề cơ bản của khoa

học kinh tế - vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhucầu không có giới hạn

Aristotle nghiên cứu về cấu trúc nhu cầu cá nhân Aristotle đã cho rằng conngười có hai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn Sự phân loại này mang tínhước lệ lớn nhưng nó ảnh hưởng đến tận thời nay và người ta quen với việc phân nhu

cầu thành "nhu cầu vật chất" và "nhu cầu tinh thần" Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểu

phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay tiêu chí nhất định

Từ đầu thế kỉ XX xuất hiện ý tường về các bậc nhu cầu Benfild viết: “Quan

điểm đầu tiên của luận thuyết về nhu cầu nói rằng sự thỏa mãn nhu cầu bậc thấp trong thang độ nhu cầu sẽ sinh ra mong muốn được thỏa mãn nhu cầu bậc cao hơn” Trong số các công trình nghiên cứu hiện đại có thể kể đến kết quả phân loại

như K Alderfer: tồn tại, quan hệ, nâng cao; D Mc Clelland chia: thành quả, tham

dự, quyền lực; V Podmarcow: đảm bảo, khuynh hướng, uy tín; V Tarasenko: tồntại, phát triển; A Maslow chia nhu cầu thành 5 loại: sinh lý, an toàn, tham dự,(được) công nhận, tự thể hiện

Năm cấp bậc nhu cầu theo phân loại của A.Maslow được xếp theo hình bậcthang hay hình chóp kim tự tháp với thứ tự liệt kê như trên thể hiện quan điểm rằng

Trang 11

sự thỏa mãn nhu cầu theo thứ tự từ dưới lên Người ta đã chỉ ra rằng thực tế sự thỏamãn nhu cầu không nhất thiết phải tuân theo quy luật đó Boris M Genkin chia nhucầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống Nhu cầu tồn tại gồmnhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự Trong nhu cầu đạt mục đích cóbốn nhóm: 1) giàu có về vật chất; 2) quyền lực và danh vọng; 3) kiến thức và sángtạo; 4) hoàn thiện tinh thần Tùy vào thiên hướng của từng cá nhân mà một trong sốbốn nhu cầu trên thể hiện nổi trội Có thể trong một người hiện diện cả bốn dạngnhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời.

Đề tài “Nghiên cứu về sở thích được sống trong trung tâm bảo trợ xã hội của

người già ở các nước EU” do Viện nghiên cứu dân số quốc gia Pháp thực hiện tại 9

nước thành viên liên minh Châu Âu (EU)

Từ những công trình trên cho thấy, vấn đề nhu cầu nói chung và nhu cầu củangười cao tuổi nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu và có những thành côngnhất định Bên cạnh việc cung cấp hệ thống lý luận về nhu cầu, các công trình cònchỉ ra những điểm chung về nhu cầu người cao tuổi trên thế giới Gắn liền với đặcđiểm tâm lý, sinh lý của người cao tuổi trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau

sẽ có những biểu hiện hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu không như nhau Tuy nhiên,

do phạm vi nghiên cứu quá rộng, nên lý luận của các công trình này được lấy làm

cơ sở cho thực trạng trong đề tài có phạm vi hẹp hơn

1.1.2 Ở trong nước

Một số công trình nghiên cứu về nhu cầu của người già trong nước như:

- Đề tài “Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn, không nơi nương tựa tại

Trung tâm bảo trợ xã hội và vai trò can thiệp của Nhân viên công tác xã hội” thực

hiện bởi nhóm sinh viên Trường Khoa học-Xã hội và Nhân văn- Đại học quốc gia

Hà Nội Tác giả đã tìm hiểu thực trạng nhu cầu về các mối quan hệ, sự tương táccủa nhân viên công tác xã hội với người già tại trung tâm này

- Đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn

(khảo sát tại Phường Nguyễn Văn Cừ - TP Quy Nhơn)” Tác giả đã tìm hiểu việc

đáp ứng các chính sách hỗ trợ xã hội đối với người già tại thành phố Quy Nhơn

- Đề tài “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống người cao tuổi và thử nghiệm giải

pháp can thiệp ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương” Đã tìm hiểu về thực trạng về

Trang 12

chất lượng cuộc sống của người già tại huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương và đề xuấtmột số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người già nơi đây.

- Đề tài “Nghiên cứu đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở

Việt Nam” do Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Khương

Anh Tuấn và cộng sự Viện Chiến lược và Chính sách Y tế thực hiện Đề tài nàynghiên cứu thực trạng sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam và các biện pháp chămsóc sức khỏe cho họ

Như vậy, vấn đề người cao tuổi và nhu cầu của họ đã nhận được sự quan tâm từtác giả và xã hội, bởi lẽ số lượng người cao tuổi và vai trò của họ trong xã hội là vôcùng to lớn Những đề tài trên đã nghiên cứu về nhu cầu quan hệ, các chính sách xãhội, các điều kiện để chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi và có những kiến nghị,giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Tuy nhiên, để tìmhiểu nhu cầu của người cao tuổi ở các mức tuổi khác nhau và trong điều kiện hoàncảnh tại địa phương cụ thể như chúng tôi thì chưa có công trình nào đề cập đến

1.2 Lý luận về nhu cầu

1.2.1 Nhu cầu

1.2.1.1 Khái niệm về nhu cầu

Theo Từ Điển Bách Khoa Toàn Thư Triết học (Liên Xô) thì “Nhu cầu là sự

cần hay thiếu hụt một cái gì đó thiết yếu để duy trì hoạt động sống của cơ thể một

cá nhân con người, một nhóm xã hội hoặc toàn bộ xã hội nói chung Nhu cầu là động cơ bên trong của tính tích cực”.

Như vậy định nghĩa trên nhấn mạnh đặc trưng của nhu cầu như là trạng tháithiếu hụt cần bù đắp của cơ thể đảm bảo sự tồn tại và phát triển bình thường

Theo Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: “Nhu cầu là điều kiện cần thiết để bảo đảm

cho sự tồn tại và phát triển của con người” ( Được thỏa mãn thì dễ chịu, thiếu hụt

thì căng thẳng, ấm ức Có nhu cầu của con người, có nhu cầu chung của tập thể, cónhu cầu thứ yếu, có nhu cầu giả tạo Nhu cầu do trình độ phát triển của xã hội màbiến đổi )

Từ điển Tâm lý học do GS.TS Vũ Dũng ( chủ biên ): “ Nhu cầu là những đòi

hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định”.

Trang 13

Theo quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô Viết thì: “Nhu cầu là những đòi

hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định, đảm bảo cho

sự sống và sự phát triển của mình”

Như vậy, nhu cầu thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người nhằm thỏamãn những đòi hỏi của bản thân Nếu mục đích là đích cuối cùng mà con đườnghoạt động hướng tới thì nhu cầu là nguyên nhân thúc đẩy động cơ con người hoạtđộng Nhu cầu là những đòi hỏi, những mong muốn xuất phát từ bên trong cơ thểtrước sự hiện diện của các yếu tố khách quan của môi trường

Theo Phạm Minh Hạc thì “Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó.

Nhu cầu chỉ được chức năng hướng dẫn khi có sự gặp gỡ giữa chủ thể và khách thể”.

Nhu cầu luôn có đối tượng và nhu cầu chỉ xuất hiện khi đã có đối tượng Nhucầu nào cũng có đối tượng của nó Chính vì vậy mà những nhu cầu được phân biệtvới nhau Ở mức độ thấp đối tượng có thể còn là “mơ hồ”, chưa được xác định thật

cụ thể, mới chỉ xác định về loại Ở mức độ cao hơn đối tượng của nhu cầu đượcphản ánh trong đầu óc con người mang nhu cầu một cách cụ thể hơn Cuối cùng đốitượng của nhu cầu có thể được nhận thức về mặt đặc trưng của nó và về ý nghĩa của

nó đối với đời sống cá nhân Lúc đó nhu cầu có vai trò là hướng dẫn viên cho hànhđộng của mỗi cá nhân ở một môi trường nhất định

Theo tác gải Nguyễn Quang Uẩn: “Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu, cần được

thỏa mãn để tồn tại và phát triển”.

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Bởi vậy con người và thế giới– môi trường có mối quan hệ biện chứng Con người tồn tại phải lao động, tác độngvào đối tượng lao động, cải tạo thế giới xung quanh bắt nó phục vụ nhu cầu củamình, nhu cầu nói lên sự gắn bó của con người với thế giới xung quanh và sự phụthuộc của con người vào thế giới Sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội trong bảnthân mỗi người cụ thể có vai trò quyết định tới sự hình thành và phát triển nhu cầucủa cá nhân đó trong quá trình tồn tại Nhu cầu cũng đóng một vai trò quan trọngđối với quá trình hoạt động và quá trình hình thành và phát triển nhân cách

Thực tiễn xã hội luôn luôn vận động và biến đổi Nhu cầu của xã hội luôn biếnđổi, nó cải tạo nhu cầu của cá nhân, cuộc sống xã hội ngày càng phát triển thì hệthống nhu cầu của con người ngày càng được bổ sung và ngược lại Nhìn vào sự đa

Trang 14

dạng và phong phú của các nhu cầu thì có thể đánh giá được trình độ phát triển của

xã hội Khi nhu cầu của con người được đáp ứng tương đối thì có thể nói xã hội đãđạt được một trình độ phát triển nhất định Nếu nhu cầu được đáp ứng tối đa thì xãhội đã đạt được một trình độ phát triển khá cao Đúng như nhận định của C.Mác:

“Sự phát triển của xã hội xét đến cùng là sự phát triển các nhu cầu của con người”.

Như vậy, có thể hiểu nhu cầu là yếu tố tất yếu cần thiết cho sự tồn tại và pháttriển của cá nhân Nó định hướng và quyết định cho mọi hoạt động của con người.Nhu cầu tạo cảm giác thoải mái khi nó được thỏa mãn và cũng có thể gây ra nhữngcăng thẳng, thậm chí là hậu quả nghiêm trọng khi không được thỏa mãn Nhu cầu làmột cái gì đó nếu thiếu sẽ gây ra những hạn chế cho sự phát triển nhân cách của cánhân

Từ những quan điểm ở trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi quan

niệm: “Nhu cầu chính là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn

để tồn tại và phát triển, là sự biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa con người với những điều kiện cụ thể, luôn biến đổi của đời sống”.

1.2.1.2 Đặc điểm cơ bản của nhu cầu

+ Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng: Có nghĩa là nhu cầu bao giờ cũng là

nhu cầu về một cái gì đó cụ thể, cái gì đó chính là đối tượng của nhu cầu Đối tượngcủa nhu cầu càng được xác định cụ thể, ý nghĩa của nhu cầu đối với đời sống cánhân và đời sống xã hội càng được nhận thức sâu sắc thì nhu cầu càng nhanh chóngđược nảy sinh, của cố và phát triển Đối tượng của nhu cầu ở mỗi chủ thể là khácnhau Ngay trong một loại nhu cầu thì nhu cầu của người này cũng khác nhu cầucủa người khác Ví dụ cùng một nhu cầu của người cao tuổi nhưng có người thìmục đích là để được quan tâm chăm sóc, người thì mục đích để được quan tâm đếncác hoạt động…

+ Nội dung của nhu cầu do những phương thức, điều kiện thỏa mãn nó quy

định: Chính điều kiện sống đã quy định nội dung đối tượng của nhu cầu, hay nói

cách khác, mọi nhu cầu đều là hình thức đặc biệt của sự phản ánh những điều kiệnsống bên ngoài Xã hội càng phát triển, sản xuất càng phát triển thì nhu cầu càngphát triển Nhu cầu và sự phát triển nhu cầu của mỗi cá nhân phụ thuộc vào trình độcủa nền văn minh đương thời và sự tiếp thu nền văn minh đương thời đó của mỗi cánhân Nhu cầu được thỏa mãn thông qua hoạt động, chỉ có thông qua hoạt động thì

Trang 15

đối tượng của nhu cầu mới được bộc lộ và đáp ứng sự đòi hỏi của nhu cầu Phươngthức thỏa mãn nhu cầu cảu chủ thể phụ thuộc vào sự phát triển, phong tục, truyềnthống… của mỗi xã hội mà chủ thể sống, phụ thuộc vào trạng thái tâm lý riêng cũngnhư khả năng hoạt động của chủ thể Mỗi loại nhu cầu cụ thể được thỏa mãn trongquá trình chủ thể tiến hành hoạt động tương ứng.

+ Nhu cầu có tính ổn định: Tính ổn định của nhu cầu được thể hiện bởi tần số

xuất hiện một cách thường xuyên, liên tục Tính ổn định của nhu cầu thể hiện cấp

độ cao của nhu cầu: cấp độ tâm lý, nhu cầu là một thuộc tính tâm lý Nhu cầu càngphát triển ở mức độ cao thì càng ổn định, càng bền vững Nhu cầu được thể hiệnqua ba mức độ là ý hướng, ý muốn, ý định Ở mức độ ý định – mức độ cao nhất củanhu cầu, khi chủ thể đã ý thức được đầy đủ cả về trạng thái đòi hỏi của bản thâncũng như về đối tượng và phương thức thỏa mãn nhu cầu

+ Nhu cầu mang tính chu kỳ: Có nghĩa là khi một nhu cầu chưa được thỏa

mãn, con người tìm mọi cách hoạt động để thỏa mãn nó Nhưng sau khi thỏa mãnnhu cầu đó dần dần triệt tiêu và thay thế vào đó là một nhu cầu mới Tính chu kỳcòn được thể hiện ở sự xuất hiện lặp đi lặp lại khi mà yêu cầu gây nên nhu cầu lạitái hiện, một yêu cầu về điều gì đó chỉ xảy ra một lần mang tính chất đơn lẻ vàkhông lặp lại nữa thì sẽ không biến thành nhu cầu và không đặc trưng cho đặc điểmtâm lý của cá nhân con người

+ Nhu cầu của con người mang tính chất xã hội: Cũng như các động vật khác,

con người cần phải ăn, uống và thỏa mãn nhiều nhu cầu khác nữa để duy trì và pháttriển sự sống của mình và của loài người Thoạt nhìn người ta thấy hình như có sựgiống nhau hoàn toàn giữa nhu cầu tự nhiên của con người và của con vật Nhưngthực ra nhu cầu của con người và con vật có sự khác nhau về bản chất Để thỏa mãnnhu cầu, động vật chỉ biết lấy những cái gì có sẵn trong tự nhiên Con người thìkhác hẳn, biết sáng tạo ra công cụ lao động, sử dụng công cụ lao động vào tự nhiên,bắt thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình Con người sáng tạo rađối tượng để thỏa mãn nhu cầu của mình

Một đặc trưng riêng biệt hoàn toàn khác với động vật, đó là chỉ ở con ngườimới có nhu cầu tinh thần như: nhu cầu lao động, nhu cầu học tập và nhận thức, nhucầu giao tiếp… mà ở động vật không bao giờ có Với sự phát triển của lịch sử xã

Trang 16

hội, những nhu cầu về tinh thần của con người ngày một thêm phong phú, phát triểnđến mức nó chi phối cả nhu cầu vật chất.

1.2.1.3 Các loại nhu cầu

Hệ thống nhu cầu của con người rất đa dạng Có nhiều cách phân loại nhu cầukhác nhau:

* Cách thứ nhất: Dựa vào hình thức tồn tại của đối tượng của nhu cầu, có thể

chia thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần

* Cách thứ hai: Dựa vào hình thức vận động của vật chất, có thể chia nhu cầu

thành nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội

* Cách thứ ba: Dựa vào chủ thể nhu cầu, có thể chia thành nhu cầu xã hội, nhu

cầu cá nhân

Cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối vì trong thực tế, không thểtìm ra một nhu cầu vật chất nào không có yếu tố tinh thần trong đó và ngược lại Cũng như vậy, không có một loại nhu cầu nào của con người lại không mang tính

xã hội Ở con người đều có ý nghĩa lớn nhất trong cuộc sống và hoạt động là nhucầu tâm lý, nhu cầu lao động, nhu cầu học tập, giao lưu, tự khẳng định

* Cách thứ tư: Theo A.H.Maslow, có 5 loại nhu cầu:

Nhu cầu sinh lý (Như nhu cầu thỏa mãn đói, khát, sinh dục, những nhu cầunày mang tính bản năng, có cả ở động vật);

Nhu cầu an toàn ( Nhu cầu về sự yên ổn, trật tự an ninh, nhu cầu yêuthương, nhu cầu lệ thuộc);

Nhu cầu tình cảm;

Nhu cầu được tôn trọng;

Nhu cầu tự khẳng định (như nhu cầu hiểu biết, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu trithức, nhu cầu nghệ thuật)

Trong đó nhu cầu tự khẳng định là nhu cầu cao nhất nhằm phát triển tiềmnăng cá nhân Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người bởi vì mỗi người đều có tiềmnăng riêng khác nhau Không phải ai cũng thực hiện được các nhu cầu này nếunhư các nhu cầu cấp dưới chưa được thực hiện

Trang 17

Ngoài ra, còn có rất nhiều cách phân chia khác nhau tùy thuộc vào những tiêuchí khác nhau.

1.2.1.4 Các mức độ nhu cầu

Mức độ nhu cầu được thể hiện tăng dần, từ ý hướng lên ý muốn và cuối cùng

là ý định Ý hướng, ý muốn, ý định là các mức độ cụ thể biểu hiện mức độ của nhucầu

+ Ý hướng:

Ý hướng là bước đầu của nhu cầu Ở mức độ này nhu cầu chưa được phản đầy

đủ rõ ràng vào trong ý thức con người Ở ý hướng vào chủ thể mới ý thức đượctrạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó chưa ý thức được trạng thái thiếuhụt của bản thân về một cái gì đó chưa ý thức được đối tượng và khả năng thỏa mãnnhu cầu Nói cách khác, lúc này chủ thể đang trải nghiệm sự thiếu hụt nhưng chưaxác định được đó là thiếu hụt về cái gì? Tức là chưa ý thức được đối tượng củatrạng thái thiếu hụt đó – đối tượng của nhu cầu Bởi vậy cũng chưa thúc đẩy chủ thểtìm kếm phương thức thõa mãn đó, chưa ý thức được phong thức thõa mãn nó

+ Ý muốn:

Ý muốn là mức độ cao hơn của nhu cầu so với ý hướng Ở đây chủ thể đã ýthức được đối tượng chứa đựng khả năng thõa mãn nhu cầu, mục đích của hànhđộng nhằm thỏa mãn nhu cầu Tuy nhiên, chủ thể vẫn tiếp tục tìm kiếm cách thức

và các điều kiện để thõa mãn nhu cầu Nghĩa là, chủ thể chưa ý thức được về cáchthõa mãn nhu cầu Ở mức độ này, chủ thể xuất hiện những trạng thái rung cảm khácnhau biểu hiện lòng ham muốn, niềm ao ước Ý muốn sẽ kết thúc và chuyển sangmức độ cao hơn khi chủ thể ý thức được đầy đủ về cách thức và phương tiện nhằmthõa mãn các nhu cầu đó

+ Ý định:

Ý định là mức độ cao nhất của nhu cầu, lúc này chủ thể đã ý thức được đầy đủ

cả về đối tượng cũng như cách thức điiều kiện nhằm thõa mãn nhu cầu, xác định rõkhuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hành động Ở đây, nhu cầu đã có hướng và

đã được “động cơ hóa” xuất hiện tâm thế, sẵn sàng hành động làm thõa mãn nhu

Trang 18

cầu Ở ý định, nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy chủ thể hoạt động nhằmthõa mãn nó Đồng thời lúc này chủ thể có khả năng hình dung về kết quả của hànhđộng Ở mức độ ý định, chủ thể không chỉ ý thức rõ về mục đích, động cơ mà còn

cả hành động dẫn tới mục đích đó

Tóm lại, ý hướng, ý muốn, ý định biểu hiện mức độ nhu cầu từ thấp đến cao, trên

cơ sở kế thừa và phát triển Ý hướng là cơ sở của ý muốn, ý muốn kế thừa và phát triển

ở mức độ cao hơn so với ý hướng Tương tự như vậy ở ý muốn và ý định Vì vậy, mức

độ ý định là sự chuyển tiếp của ý hướng lên ý muốn và từ ý muốn lên ý định

1.2.1.5 Sự hình thành và phát triển nhu cầu

- Nhu cầu chỉ có thể được hình thành và củng cố trong điều kiện được thỏa mãnmột cách có hệ thống hay được thực hiện trong một hoạt động nhất định

- Nhu cầu phát triển trong điều kiện “tái sản xuất mở rộng” Điều đó tạo điều kiện

để những phương tiện thỏa mãn nhu cầu trở nên phong phú và phát triển hơn Nhu cầuxuất hiện và phát triển trong quá trình hoạt động

- Sự tiến triển của nhu cầu sẽ dễ dàng hơn nếu hoạt động làm cho con người tíchcực Từ đó tạo điều kiện cho họ hoạt động và đạt được hiệu quả trong hoạt động

- Để phát triển nhu cầu cần có sự chuyển tiếp từ hoạt động tái tạo sang hoạt độngsáng tạo Điều đó làm cho con người có thái độ, xúc cảm tích cực đối với hoạt động,thấy được thiên hướng cơ bản của mình

- Nhu cầu sẽ được củng cố khi ta có ý thức về ý nghĩa xã hội của nó Nhờ giáodục và dư luận tập thể hỗ trợ quá trình hoạt động nhận thức thẩm mỹ, lao động và hoạtđộng xã hội sẽ chuyển hóa thành nhu cầu, những thuộc tính của nhân cách

1.2.2 Người cao tuổi

1.2.2.1 Khái niệm người cao tuổi

Có nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước đây, người ta thườngdùng thuật ngữ người già để chỉ những người cao tuổi, hiện nay thuật ngữ “ngườicao tuổi” ngày càng được sử dụng phổ biến hơn

Theo quan điểm y học: “Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền

với việc suy giảm các chức năng của cơ thể”

Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO: Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên Một

số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là những người

từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa

Trang 19

tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có

hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũngđược nâng cao Do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy,quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau

Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: “Tất cả các công dân Việt

Nam từ 60 tuổi trở lên”

Như vậy, trong đề tài này chúng tôi quan niệm: “ Người cao tuổi là tất cả

những công dân Việt Nam có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên Là độ tuổi xuất hiện những biểu hiện suy giảm các chức năng tâm sinh lý và các chức năng sinh hoạt, lao động trong cuộc sống”

1.2.2.2 Đặc điểm về sự phát triển cơ thể của người cao tuổi

Đặc điểm đặc trưng của người cao tuổi về sự phát triển cơ thể là xuất hiện quá

trình lão hóa Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống Lão hóa có thể đến sớm

hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng người Khi tuổi già các đáp ứng kém nhanhnhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thểchất và tinh thần giảm sút Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có nhữngthay đổi theo chiều hướng đi xuống Biểu hiện:

+ Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn Da trở nên khô

và thô hơn Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn Ở tuổi già cónhững nếp nhăn là do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tínhchất đàn hồi Các mạch máu mỏng vỡ ra, tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da + Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng, khô, dai

dù thức ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng Người cao tuổi thường chọn cácthức ăn mềm

+ Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng vớituổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả

+ Các cơ quan nội tạng: Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá caocùng với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơthể Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyênnhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến lão hoá Phổi của người già thường làmviệc ít hiệu quả khi hít vào và lượng ôxy giảm Khả năng dự phòng của tim, phổi và

Trang 20

các cơ quan khác cùng với cũng giảm sút Người già thích nghi với các điều kiệnthời tiết thay đổi thấp

1.2.2.3 Đặc điểm tâm lý

Đặc điểm về tâm lý của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực củabản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa -tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khi bước sang giai đoạn tuổigià, đặc điểm tâm lý của người cao tuổi có những đặc điểm đặc trưng sau:

*Hướng về quá khứ:

Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người caotuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựuchiến binh Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũngnhư hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…

*Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp: Đó là

chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Dovậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới Người ta dễ gặpphải “hội chứng về hưu”

* Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn: Con cháu thường

bận rộn với cuộc sống Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãngquên, bị bỏ rơi Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn đượcngười khác coi mình không phải là người vô dụng Họ rất muốn được nhiều ngườiquan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình

*Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe

vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình,hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng Nhưng cũng có một sốngười cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụthuộc vào con cháu Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự dằnvặt mình Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lạichậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân chorằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường

Trang 21

*Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con

cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi,nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu Với một bộ phận người caotuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe,khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thựchiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng có thể xuất hiện triệu chứng củabệnh trầm cảm Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vàocuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó

* Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy

người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết Cũng có những trường hợp các cụbàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu có những cụ không chấpnhận, lảng tránh điều đó và sợ chết Với những thay đổi chung về tâm lý của ngườicao tuổi đã trình bày ở trên dẫn đến việc một bộ phận người cao tuổi thường thayđổi tính nết Con cháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý để đón nhận thực tế này nhằm cónhững ứng xử phù hợp

1.2.2.4 Các giai đoạn phát triển tâm lý của người cao tuổi

* Giai đoạn đầu của người cao tuổi

Những người từ 60 – 69 tuổi Giai đoạn này kéo theo nó những biến đổi quantrọng trong đời sống con người Trong thời kỳ giữa những năm 60 và 70 tuổi, phầnlớn trong chúng ta tất yếu phải thích ứng với việc phân bổ các chức trách Nghỉ hưu,việc tự nguyện hay bắt buộc giảm số giờ lao động sẽ dẫn tới thu nhập Bạn bè vàmột số đồng nghiệp qua đời Những nhu cầu của xã hội giảm đi: những người tuổitrên 60 không còn sức khỏe, tính độc lập và tính sáng tạo như trước đây: Iren Becsaicho rằng sự phản ứng về mặt xã hội như thế có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi củanhững người cao tuổi còn khỏe mạnh, sung sức, làm ngã lòng họ Nhiều người 60tuổi buộc họ phải tiếp nhận luật chơi làm nhịp độ cuộc sống riêng chậm đi, và do đógián tiếp họ mong đời hy vọng vào xã hội Sức mạnh thể chất vào thời kỳ này cũnggiảm sút và điều đó tạo ra những vấn đề phụ thêm cho những người đang tiếp tụclàm việc trong ngành công nghiệp Trong khi đó nhiều người ở tuổi 60 sức lực cònsung mãn và còn đi tìm kiếm cho mình những loại hìnhhoạt động mới Nhiều nam,

nữ mới nghỉ hưu không lâu có sức khỏe tốt và trình độ học vấn cao Họ còn có thể

sử dụng thời gian nhàn rỗi của mình để tự hoàn thiện, củng cố sức khỏe, tham gia

Trang 22

hoạt động xã hội hoặc chính trị Một sốthường xuyên luyện tập thể dục thể thao tíchcực Một số người hưu trí có thể trở thành những nhà từ thiện, nhà sản xuất và nhàgiáo Họ là những nhà quản trị tự nguyện của các hãng thương mại nhỏ, nhữngngười trợ giúp trong các bệnh viện, những ông nội bà nội Trong nhóm tuổi đangxem xét này có những sự khác nhau quan trọng có liên quan đến độ tuổi về hưu.Phần lớn trong số họ về hưu ở tuổi 65, cũng có một số người nghỉ việc ở tuổi 55,còn số khác lao động tới tuổi 75 Việc quyết định nghỉ hưu vào một độ tuổi nhấtđịnh là phụ thuộc vào sức khỏe của từng người, vào nghị lực và vào loại công việc

mà họ làm Đồng thời, con người có thể tiếp tục (hoặc kết thúc) hoạt động lao độngcủa mình do hàng loạt nguyên nhân có liên quan tới những người xung quanh: Tìnhtrạng sức khỏe của chồng (vợ), bạn bè dọn đi ở nơi khác, các yếu tố “bên ngoài”chẳng hạn như tình hình tài chính của gia đình Một số người 68 tuổi có số tiền tiếtkiệm nhỏ buộc phải làm việc tiếp để bù đắp chi tiêu cho mình, trong khi nhữngngười khác có thể nghỉ ngơi với sốtiền hưu trí và thu nhập từ tiền tiết kiệm trước đó

và bằng những khoản bảo đảm xã hội và ưu đãi khác

* Giai đoạn giữa của người cao tuổi

Những người có độ tuổi từ 70 đến 79 tuổi Ở độ tuổi này con người thườnggặp phải những biến cố quan trọng nhiều hơn so với hai thập niên trước Nhiệm vụcủa người 70 tuổi là giữ gìn bản lĩnh cá nhân đã hình thành ở họ trong khoảng thờigian giữa 60 và 69 tuổi Nhiều người ở tuổi từ 70 đến 79 thường ốm đau và mấtngười thân Bạn bè và người quen biết ngày càng ra đi nhiều hơn Ngoài việc thuhẹp giao tiếp với xung quanh dần dần họ cũng bớt tham gia vào công tác của các tổchức xã hội Ở độ tuổi này, người già thường hay cáu giận, mất bình tĩnh Tìnhtrạng sức khỏe thường làm họ lo lắng Mặc dù có những mất mát đó nhiều người ởtuổi 70 còn có khả năng chống đỡ những hậu quả gây ra cho độ tuổi này Nhờ chấtlượng hỗ trợ y tế được cải thiện và có lối sống lành mạnh hơn, người đứng tuổithường vẫn chung sống với các bệnh ung thư và thoát khỏi hiểm nghèo sau nhữngcơn đau tim đột qụy

*Giai đoạn gần cuối của người cao tuổi

Những người từ 80 đến 90 tuổi Không nghi ngờ gì độ tuổi là một trong những

tiêu chí để chuyển nhóm “những người mới bước tuổi già” sang nhóm “những

người rất cao tuổi”, tuy nhiên đó không phải là tiêu chí duy nhất Iren Becsai cùng

Trang 23

với các đồng tác giả nhận xét rằng sự chuyển sang nhóm “những người rất cao

tuổi” – đó là “một quá trình được bắt đầu từ ngày mà con người sống bằng các ký

ức của mình” Phần lớn những người 80 đến 90 tuổi rất khó khăn trong việc thích

nghi với môi trường xung quanh mình và tác động qua lại với nó Nhiều ngườitrong số họ cần có lối sinh hoạt được tổ chức tốt, tránh những điều bất tiện bởi lẽsinh hoạt tốt tạo ra kích thích tốt, sinh hoạt bất tiện tạo ra sự đơn độc Họ cần đượcgiúp đỡ để duy trì các mối liên hệ xã hội và văn hoá

* Giai đoạn cuối của người cao tuổi

Những người 90 tuổi trở lên Số liệu về những người trên 90 tuổi không nhiều,rất ít so với những người 60, 70 hoặc 80 tuổi Vì vậy, việc thu thập thông tin chínhxác về tình hình sức khỏe và những sự tác động qua lại về mặt xã hội của nhữngngười thuộc nhóm tuổi này là rất khó khăn Mặc dù có khó khăn trong việc tìm hiểucác vấn đề sức khỏe ở nhóm tuổi này, song những người rất già có thể thay đổi cáchình thức hoạt động khác nhau một cách có kết quả khi họ biết sử dụng những khảnăng vốn có của họ hiệu quả nhất

1.2.3 Nhu cầu của người cao tuổi

1.2.3.1 Khái niệm nhu cầu của người cao tuổi

Trên cơ sở tiếp cận của khái niệm nhu cầu chúng tôi quan niệm nhu cầu của

người cao tuổi là: “Sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn

tại và phát triển, là sự biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa người cao tuổi luôn gắn với những điều kiện cụ thể, luôn biến đổi của đời sống Những nhu cầu đó chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung đến hành vi của người cao tuổi”.

Nhu cầu của người cao tuổi là những đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng củangười cao tuổi về vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng cuộc sông của họ.Những nhu cầu đó chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung đến hành vi củangười cao tuổi

1.2.3.2 Đặc điểm về nhu cầu của người cao tuổi

* Đối tượng về nhu cầu của người cao tuổi:

Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự

phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy vàkhông ngừng tiến đến gần khách thể Nhận thức có ảnh hưởng lớn đến hình thànhthái độ và thúc đẩy hành vi con người, do đó, để cá nhân có hành vi đúng đắn trước

Trang 24

hết cần trang bị cho họ nhận thức rõ ràng Ở người cao tuổi, khái niệm “Nhu cầu”đối với họ còn chưa được rõ ràng và đầy đủ Tuy nhiên sau quá trình diễn giải vàphân tích người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu đã hình thành nhận thức bản thân vềnhu cầu.

Khi người cao tuổi nhận thức được vai trò của các đối tượng sẽ là cơ sở hìnhthành thái độ tích cực hoặc tiêu cực về vấn đề đó, thúc đẩy người cao tuổi hànhđộng đạt được, thỏa mãn nhu cầu của mình

Các đối tượng đó bao gồm: được quan tâm chăm sóc, được tham gia các hoạtđộng văn nghệ, thể dục thể thao, được gần gũi con cái, được sống trong môi trườngthoáng mát, yên tĩnh, được chia sẻ, trò chuyện, được mọi người tôn trọng, đượckhám sức khỏe định kỳ, được hưởng các chính sách Khi người già xác định cụthể, rõ ràng về một đối tượng thì nhu cầu về đối tượng sẽ nảy sinh, củng cố và pháttriển Đối với mỗi đối tượng, khi người cao tuổi được đáp ứng, thỏa mãn sẽ giúp họ

có cảm giác dễ chịu, hài lòng, tích cực hơn trong cuộc sống Họ cảm thấy đượccông nhận, có ích, những nhu cầu của mình là có cơ sở và được mọi người quan tâmđến Ngược lại, khi một trong các nhu cầu không được thỏa mãn sẽ gây nên cảmgiác buồn phiền, ức chế, ưu tư đối với cuộc sống

Từ nhận thức một cách rõ ràng về đối tượng thỏa mãn nhu cầu, cụ thể: là cơ sở

để hình thành một thái độ đúng đắn về việc thỏa mãn các nhu cầu của bản thân.Người cao tuổi sẽ tự đánh giá mức độ hài lòng của mình đối với từng nhu cầu khácnhau và sau việc đánh giá đó họ xác định điều gì đang thiếu hụt để có phương pháp

bổ sung nhằm thỏa mãn nhu cầu ở mức độ cao nhất

* Nội dung về nhu cầu của người cao tuổi:

Theo Từ điển Bách Khoa Toàn Thư thì hành vi "là một chuỗi các hành động

lặp đi lặp lại Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của

cơ thể, có mục đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới" là hành động

hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tácđộng đến môi trường, xã hội Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, côngkhai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổiqua thời gian Trong nghiên cứu về nhu cầu của người cao tuổi, chúng tôi nhận rarằng để có thể thỏa mãn được một nhu cầu nào đó của bản thân thì người cao tuổiphải có những hành vi tương ứng nhằm thỏa mãn những nhu cầu đó Tuy nhiên, với

Trang 25

đa số người cao tuổi việc có những hành vi và bộc lộ những hành vi đó ra với ngườixung quanh là điều khá khó khăn, chỉ có một số hành vi khách quan được người caotuổi bộc lộ ra để mọi người biết, với những hành vi chủ quan với mục đích thỏamãn bản thân thì họ vẫn chưa bộ lộ rõ vì một số lí do khiến họ không thể cho mọingười biết mình cần gì và muốn gì.

Do những phương thức, điều kiện thỏa mãn nó quy định Tùy theo từng đốitượng của nhu cầu đã xác định ở trên, người cao tuổi sẽ có những phương thức đểthỏa mãn, đạt được các nhu cầu đó thông qua hoạt động và giao tiếp đối với ngườixung quanh Nhu cầu của người cao tuổi được thỏa mãn thông qua hoạt động, qua

đó đối tượng của nhu cầu mới được bộc lộ và đáp ứng Với mỗi đối tượng cụ thể sẽ

có những phương thức thỏa mãn được tiến hành trong hoạt động tương ứng, đây là

cơ sở để người cao tuổi đưa ra các bước hành động nhằm nâng cao chất lượng cuộcsống của bản thân

Các hành vi của người cao tuổi bao gồm: Thường xuyên dọn dẹp vệ sinh môitrường, trồng thêm rau xanh; ăn uống đúng giờ và đủ ba bữa mỗi ngày; cung cấpthêm vitamin, chất sơ trong sinh hoạt hàng ngày; trồng trọt, chăn nuôi nhằm cungcấp cho gia đình những thực phẩm sạch, an toàn; đóng bảo hiểm y tế hàng năm; thamgia các buổi văn nghệ, hội họp; nhieeht tình hưởng ứng các hoạt động chung như tậpdưỡng sinh, tập văn nghệ chào mừng các ngày lễ; bày tỏ cảm xúc, tâm tư, nguyệnvọng của mình trước mọi người; luôn là tấm gương sáng thể hiện sự mẫu mực chomọi người noi theo; chăn nuôi, trồng trọt để tạo thêm thu nhập cho gia đình; trôngnom con chúa, làm công việc nhà; tham gia thường xuyên các cuộc họp của Hộingười cao tuổi Ngoài ra còn có các hành vi như: câu cá, làm thơ, đánh cờ

* Sự ổn định trong nhu cầu của người cao tuổi:

Đối với từng đối tượng mà người cao tuổi quan tâm, tần số xuất hiện trong suynghĩ của họ sẽ liên tục và thường xuyên hơn, họ luôn mong muốn được thỏa mãnnhững nhu cầu đó Nếu những nhu cầu đó không được thỏa mãn sẽ dẫn đến có trạngthái hụt hẫng, nuối tiếc

* Tính chu kỳ về nhu cầu của người cao tuổi:

Khi người cao tuổi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó sẽ là cơ sở để thay thếbằng một nhu cầu mới cao hơn Các nhu cầu được lặp đi lặp lại khi yêu cầu gây nên

Trang 26

nhu cầu lại xuất hiện, người cao tuổi luôn có trạng thái khao khát, mong muốn đượcđáp ứng các nhu cầu này mỗi khi nó xuất hiện.

* Nhu cầu của người cao tuổi mang tính chất xã hội:

Cũng như những hiện tượng tâm lý khác, nhu cầu của người cao tuổi thể hiệntính chất xã hội sâu sắc và chịu sự chi phối của xã hội

Tuy ở độ tuổi này, sức khỏe cũng như sự nhanh nhạy của người cao tuổi bịhạn chế Nhưng họ vẫn luôn mong muốn được tham gia các hoạt động xã hội như:hoạt động lao động sản xuất, hoạt động giao tiếp với những người xung quanh, cốnghiến ít nhiều cho gia đình và địa phương… các nhu cầu tinh thần này chi phối đếncuộc sống của người cao tuổi cũng như trạng thái tâm lý của họ trong giai đoạn pháttriển nhất định

1.2.3.3 Các loại nhu cầu của người cao tuổi

Trên cơ sở tiếp cận các cách phân loại nhu cầu ở trên đặc biệt là tháp nhu cầucủa Maslow, chúng tôi cho rằng người cao tuổi có các loại nhu cầu sau: nhu cầusinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng

*Nhu cầu sinh lý:

Do ở độ tuổi này, người cao tuổi có những thay đổi trong cơ thể, vì vậy cácnhu cầu về thực phẩm, bổ sung chất dinh dưỡng trong bữa ăn là rất cần thiết Nhậnthấy chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ người cao tuổi vì vậy họ quantâm đến một chế độ ăn uống riêng, phù hợp với tuổi tác và một số bệnh tật Khôngchỉ vậy ở độ tuổi này, sự vận động của người cao tuổi cũng thường chậm chạp, kémphần nhanh nhẹn và linh hoạt, khuynh hướng muốn nghỉ ngơi của người cao tuổiđược đặt lên cao

Vì vậy, người thân trong gia đình nên quan tâm đến chế độ dinh dưỡng, chế độnghỉ ngơi, sắp xếp nơi ở phù hợp cho người cao tuổi, không nên ở những nơi ồn ào,nhà cao tầng yêu cầu phải vận động nhiều

*Nhu cầu an toàn:

Đây là nhu cầu rất quan trọng của người già Sự an toàn của người già khôngchỉ thể hiện ở việc cần được đảm bảo sức khoẻ thông qua chế độ chăm sóc sức khoẻđịnh kỳ, khám chữa khi ốm đau, bệnh tật, mà còn thể hiện ở việc cần có một môitrường sống lành mạnh, ít căng thẳng Vì vậy, con cháu không chỉ quan tâm về mặt

Trang 27

thể chất mà cần phải quan tâm về mặt tinh thần cho người già, tạo bầu không khívui vẻ, yên bình cho các cụ.

*Nhu cầu xã hội:

Ở độ tuổi này, do không còn tham gia hoạt động lao động thường xuyên nên mốiquan hệ, giao lưu của người già trở nên thu hẹp Bên cạnh đó, con cái trưởng thànhthường có cuộc sống riêng, độc lập, công việc bận rộn nên ít dành thời gian quan tâm.Nếu thiếu những mối quan hệ xã hội như quan hệ người thân, bạn bè và người xungquanh người cao tuổi thường cảm thấy cô đơn, trống vắng, thậm chí có thể ảnh hưởngthêm tới sức khoẻ Nếu thỏa mãn những nhu cầu này người cao tuổi sẽ cảm thấy hàilòng, thoải mái Vì vậy, người già rất cần sự quan tâm, chăm sóc thường xuyên củangười thân đồng thời cũng nên tìm một sự cân bằng thông qua những hoạt động xã hội,giao lưu tại các Câu lạc bộ Những hoạt động này giúp người già mở rộng mối quan hệ

xã hội và đảm bảo sức khoẻ cả về thể chất lẫn tinh thần

* Nhu cầu được tôn trọng:

Người cao tuổi cần được tôn trọng về nhân cách, về giá trị của họ Mặc dùngười cao tuổi có sự giảm sút về khả năng hoạt động, có phần thiếu minh mẫn Dùkhông còn trực tiếp tham gia hoạt động đóng góp cho xã hội, nhưng họ vẫn mongmuốn được sự công nhận những giá trị, những thành quả mà họ đã đạt được Do đó,

họ cần được khẳng định, không bị coi là người thừa, người vô ích mà ngược lại họvẫn là người có ích, là người quan trọng trong xã hội và trong gia đình Cho nên họrất mong muốn có được sự tôn trọng của mọi người xung quanh dành cho mình Vìvậy, các thành viên trong gia đình cũng cần khuyến khích, động viên ông bà cha mẹmình tham gia các hoạt động mang tính xã hội, đồng thời cũng thường xuyên ghinhận công lao của họ thông qua những hoạt động trong gia đình. 

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của người cao tuổi

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu của người cao tuổi, có những yếu tốkhách quan và những yếu tố chủ quan:

1.3.1 Yếu tố khách quan

* Nhóm các yếu tố về môi trường tự nhiên:

Trang 28

Có rất nhiều yếu tố thuộc môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến nhu cầu củangười cao tuổi Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy yếu tố thời tiết có sự ảnh hưởng lớnnhất đến nhu cầu của người cao tuổi Cụ thể, thời tiết thay đổi thất thường như mấynăm gần đây cũng đã gây khó khăn cho người cao tuổi trong quá trình tham gia cáchoạt động của hội Mặt khác thời tiết thay đổi thất thường, cộng thêm với sức đềkháng kém đẫn đến họ thường mắc phải các bệnh liên quan đến đường hô hấp…

* Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường xã hội:

- Các chính sách, chương trình của địa phương đối với người cao tuổi:

Đa số người cao tuổi rất muốn tham gia các hoạt động để tạo ra niềm vui tuổigià và nâng cao sức khoẻ Thực tế do điều kiện còn hạn chế nên địa phương cònchưa có nhiều hoạt động dành cho người cao tuổi Việc thường xuyên tổ chức cáchoạt động như: văn nghệ, thể dục thể thao, làm thơ, đánh cờ dành cho người caotuổi giúp họ cảm thấy vui vẻ, phấn khởi, cảm thấy có ích hơn, tránh buồn tẻ Tuynhiên, nếu không được tổ chức thường xuyên các hoạt động sẽ dẫn đến người caotuổi không có môi trường để giao lưu, cảm thấy thiếu hụt trong thỏa mãn nhu cầu,đặc biệt là nhu cầu xã hội

- Điều kiện gia đình:

Địa bàn nghiên cứu là vùng nông thôn, đa số các gia đình đều là nông dân,sống chủ yếu là làm nghề nông nên kinh tế gia đình khó khăn Những nhu cầu thiếtyếu như ăn, ở, mặc, khám sức khoẻ định kì không được đáp ứng chứ chưa nói đếnnhững nhu cầu cao hơn Vì thế nhu cầu thoả mãn các yêu cầu thiết yếu sẽ cao hơn

so với các nhu cầu tôn trọng hay tự khẳng định mình

1.3.2 Yếu tố chủ quan

- Nhận thức của người cao tuổi về nhu cầu: khi người cao tuổi có nhận thức vềmột nhu cầu ở mức độ quan trọng học sẽ có những hành vi tương ứng để thỏa mãncác nhu cầu đó Tùy thuộc và từng cá nhân người cao tuổi, ở họ sẽ hình thànhnhững nhu cầu ở các mức độ khác nhau Ngược lại, khi nhận thức về nhu cầu củangười cao tuổi ở mức không quan trọng, người cao tuổi sẽ không chú tâm và mongmuốn bằng mọi cách phải đạt được nhu cầu đó

- Nghề nghiệp: Với những cụ không có lương hưu và phục cấp thì về việchướng đến và thoả mãn các nhu cầu cao như tôn trọng, được chấp nhận sẽ thấp vàngược lại họ sẽ hướng đến thoả mãn các như cấp thấp như ăn, ở, khám sức khoẻ…

Trang 29

Với những cụ có lương và phụ cấp thì họ sẽ hướng đến thoả mãn các như cầu tôntrọng, được chấp nhận của người khác.

- Mối quan hệ xã hội: Do sự thân thiết, gắn bó giữa người cao tuổi với nhau sẽlàm họ có động lực để thoả mãn các nhu cầu khác

- Xu hướng hoạt động: Đặc điểm tâm lý của mỗi người sẽ khác nhau Ngườihướng nội, người hướng ngoại Với cụ hướng ngoại thì các nhu cầu liên quan đếnnhư: tham gia các hoạt động, giao lưu kết bạn sẽ được quan tâm và chú trọng Với

cụ có nhân cách hướng nội thì sẽ quan tâm đến việc ăn uống, và chăm sóc con cháu,

ít tham gia các hoạt động

- Giới tính: Mỗi giới tính đều được có các nhu cầu và cách thoả mãn khácnhau, mang bản sắc riêng biệt của mỗi giới cụ thể như: với người cao tuổi là nữ thìnhu cầu chủ yếu của họ là thiên về trò chuyện, còn đối với người cao tuổi là nam thìnhu cầu của họ thiên về các hoạt động bên ngoài xã hội

- Tình trạng sức khỏe: Đây là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việcthoả mãn nhu cầu Khi sức khoẻ tốt thì họ có thể tự mình thoả mãn các nhu cầu thiếtyếu như: ăn, ở, mặc… Nhưng nếu sức khoẻ quá yếu thì họ không thể tự mình thoảmãn được

- Các chính sách của địa phương: Tùy thuộc vào đặc điểm của địa phương đã cónhững chính sách phù hợp với nhu cầu của người cao tuổi hay chưa, sẽ hình thànhcho họ những nhu cầu còn thiếu hụt Cụ thể, khi địa phương thường xuyên có cácchính sách về chăm sóc sức khỏe định kỳ, hỗ trợ kinh tế cho người cao tuổi sẽ hìnhthành ở họ cảm giác yên tâm hơn trong cuộc sống Ngược lại, khi chưa được quantâm, hỗ trợ thì người cao tuổi sẽ cảm thấy bất an, lo lắng, ức chế, không hài lòng

Ngày đăng: 16/03/2023, 18:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích. Tâm lý học nhân cách – Một số vấn đề về lý luận ( 1998 ), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách – Một số vấn đề về lý luận
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Bộ Tư pháp: Luật người cao tuổi (2010), NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người cao tuổi
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2010
3. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Gia đình tuổi trung niên (Tài liệu giáo dục đời sống gia đình), 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình tuổi trung niên (Tài liệu giáo dục đời sống gia đình)
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Nhà XB: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2009
4. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: Gia đình với người cao tuổi (Tài liệu giáo dục đời sống gia đình), 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình với người cao tuổi (Tài liệu giáo dục đời sống gia đình)
Nhà XB: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Năm: 2010
5. Chu Vĩnh Bình. Cuộc sống người cao tuổi, (2006), NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống người cao tuổi
Tác giả: Chu Vĩnh Bình
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
6. C. L. Zard. Những cảm xúc của con người ( 1992 ) NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cảm xúc của con người
Tác giả: C. L. Zard
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
7. “Công tác xã hội lý thuyết và thực hành Công tác xã hội trực tiếp” (2007) NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội lý thuyết và thực hành Công tác xã hội trực tiếp
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2007
8. Nguyễn Văn Đồng. “Tâm lý học phát triển, giai đoạn thanh niên đến tuổi già”, (2007) NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển, giai đoạn thanh niên đến tuổi già
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
9. Nguyễn Ý Đức “Vấn đề người cao tuổi”, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề người cao tuổi
Tác giả: Nguyễn Ý Đức
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
10. Trần Thị Minh Đức (2009), “Giáo trình tham vấn tâm lý”, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
11. “Giáo trình Công tác xã hội nhóm” (2010), NXB LĐ-XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Công tác xã hội nhóm” (2010)
Tác giả: “Giáo trình Công tác xã hội nhóm”
Nhà XB: NXB LĐ-XH
Năm: 2010
12. “Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình” ( 2010 ), NXB LĐ-XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình” ( 2010 )
Nhà XB: NXB LĐ-XH
13. Grace J.Craig, Don Baucum. Tâm lý học phát triển (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Grace J. Craig, Don Baucum
Năm: 2004
14. Nguyễn Thế Huệ. Người cao tuổi và già làng trong phát triển bền vững Tây Nguyên, (2008,) NXB Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và già làng trong phát triển bền vững Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thế Huệ
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2008
15. Phạm Minh Hạc. Tâm lý học đại cương ( 1995 ), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
16. Nicky Hayes. Nền tảng tâm lý học ( 2005 ), NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền tảng tâm lý học
Tác giả: Nicky Hayes
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2005
17. Nguyễn Quang Uẩn ( Chủ biên ). Tâm lý học đại cương ( 1995 ), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
18. B. Phlomov. Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học ( 2000 ), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và phương pháp luận tâm lý học
Tác giả: B. Phlomov
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
Năm: 2000
19. L. X. XoLovaytrich. Từ hứng thú đến tài năng ( 1975 ), NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hứng thú đến tài năng
Tác giả: L. X. XoLovaytrich
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1975
20. A. A. Xmiecnov ( Chủ biên ). Tâm lý học, tập 2, ( 1975 ), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: A. A. Xmiecnov
Nhà XB: NXB Giáo dục, Hà Nội
Năm: 1975

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w