1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Vọp - Mud clam potx

10 341 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 155,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn loài Geloina erosa có chiều dài 72,6mm, đây là loài có môi trường sống rộng, vì vậy sự xuất hiện và phát triển của đa dạng hơn loài Geloina expansa.. Tập tính Bachok và ctv 2003 ngh

Trang 1

Vọp - Mud clam

Tên Tiếng Anh:Mud clam

Tên Tiếng Việt:Vọp

Tên khác:Vọp sông, mangrove clam

Phân loại

Ngành: Molusca

Lớp: Bivalvia

Bộ: Veneroida

Họ: Corbiculidae

Giống: Geloina

Loài:Geloina coaxans Gmelin, 1791

Trang 2

Đặc điểm

Vỏ có dạng hình tròn trứng, lớn, ở cá thể trưởng thành vỏ cao

75 mm, dài 60mm, rộng 40mm Mặt ngoài của vỏ đường sinh

trưởng mịn sắp xếp khít nhau, da vỏ có màu rêu phát triển

thành phiến Ở cá thể già da vỏ thường mất đi để lộ tầng sừng

màu xanh đen bóng, mặt trong của vỏ màu trắng Mặt khớp

vỏ phải và vỏ trái đều có 3 răng giữa, 2 răng giữa sau đều chẻ

đôi răng giữa trước nhỏ, mỏng Răng bên phía trước của vỏ

Trang 3

phải nhô cao, răng trên phía trước vỏ trái thô Vết cơ khép vỏ sau lớn hình chữ nhật, vết mép màng áo không rõ ràng

(Nguyễn Chính, 1996)

Phân bố

Trên thế giới

Tan và Chou (2000) mô tả loài Geloina expansa với chiều dài

vỏ 70mm Họ Corbiculidae bao gồm những loài sống ở cửa sông và nước ngọt như giống Corbicula và Pisidium Giống Geloina trong họ này sống ở nền đáy bùn Chúng có khả năng chịu được khô hạn trong vài ngày Còn loài Geloina erosa có chiều dài 72,6mm, đây là loài có môi trường sống rộng, vì vậy sự xuất hiện và phát triển của đa dạng hơn loài Geloina expansa

Ở Việt Nam

Vọp phân bố ở các vùng bãi bồi ven biển, đặc biệt là khu vực rừng đước các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau Địa điểm loài hai mảnh vỏ này

Trang 4

sinh sống thường có nền đáy là bùn cát (70-90% bùn) Chúng thường vùi mình ở độ sâu 4-6cm dưới lớp mặt đáy, độ mặn nơi cư trú thường tương đối biến động (10-30%)

Tập tính

Bachok và ctv (2003) nghiên cứu khẩu phần ăn của Geloina coaxans và cho rằng loài động vật thân mềm này tiêu thụ cá sản phẩm mùn bã hữu cơ từ rừng đước đồng thời với các loại tảo khuê khác

Theo Nguyễn Đình Hùng et al,(2003) trên đối tượng nghêu Meretrix lyrata: Tốc độ sinh trưởng cao ở giai đoạn phù du (10,52%) và spat (11,89%); giai đoạn giống tốc độ sinh

trưởng giảm, tương ứng 2,8% ở giai đoạn giống nhỏ và

1,69% ở giai đoạn giống lớn

Sinh sản

Đặc điểm giới tính

Hiện tượng lưỡng tính thường xuất hiện ở những loài hai mảnh vỏ là đều khẳng định, tuyến sinh dục với nhiều phần

Trang 5

khác nhau và ở mỗi phần là các giai đoạn khác nhau của cùng một giai đoạn phát triển tế bào sinh dục

Broom(1998) phát hiện rằng 1/300 mẫu nghiên cứu ở sò

huyết Anadara granosa có hiện tượng lưỡng tính Trong khi Quayle và Newkirk (1998) phát biểu rằng đối với hàu

Crassostrea giới tính thay đổi giữa các mùa sinh sản hoăc giống Ostrea giới tính chỉ thay đổi 1 vài lần trong mùa sinh sản chủ yếu do điều kiện nhiệt độ và thức ăn chi phối Braley (1984) đưa ra một phát hiện độc đáo rằng trai Tridacnid đồng thời là lưỡng tính đực trước, đầu tiên trai thành thục sinh dục như là con đực, sau đó buồng trứng phát triển có chức năng đồng thời với tinh sào

Mỗi cá thể trai bắt đầu phóng tinh trùng và sau 30-60 phút trứng sẽ được phóng thích Hiện nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đề cập đến đặc điểm giới tính của vọp thuộc giống Geloina Tuy nhiên Rueda và Urban (1998) nghiên cứu

Trang 6

cho thấy rằng Polymesoda solida là loài lưỡng tính với đặc điểm là cơ quan sinh dục cái thành thục trước

Phương thức sinh sản

Quan sát hoạt động sinh sản của nghêu, hoạt động đẻ của cá thể đực và cá thể cái tương tự nhau và diễn ra nhờ sự co giãn của cơ khép vỏ, vỏ mở ra và khép lại nhanh, mạnh, tạo thành lực ép đẩy tinh trùng hoặc trứng thoát ra ngoài, thông thường con đực phóng tinh trùng sớm hơn con cái ở cùng một thời gian kích thích (con đực thường đẻ 1-10 phút, con cái đẻ từ 10-20 phút sau khi kích thích) Trong mỗi đợt đẻ mỗi cá thể đực và cá thể cái có thể đẻ từ 4-6 lần trong thời gian từ 20-30 phút Rueda và Urban (1998) nhận thấy chu kỳ sinh sản

Polymesoda solida không ổn định với một vài đỉnh sinh sản trong năm và liên quan đến biến động độ muối

Các giai đoạn phát triển của ấu trùng

Theo Nguyễn Đình Hùng et al, sự phát triển ấu trùng của nghêu Meretrix lyrata trải qua các giai đoạn sau:

Trang 7

Ấu trùng quay

Xuất hiện 5-7 giờ sau khi thụ tinh Ấu trùng có dạng hình tròn hoặc hơi bầu dục Tiêm mao bao phủ kín Ấu trùng hoạt động tăng dần từ chậm đến nhanh và hoạt động xoay tròn xoắn ốc thường là ngược chiều kim đồng hồ

Ấu trùng chữ D

Ấu trùng có dạng hình chữ D, có nắp vỏ và vành tiêm mao nằm giữa hai nắp vỏ Ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của vành tiêm mao quanh miệng Ấu trùng Đỉnh vỏ Giai đoạn tiềm Umbo xuất hiện mầm cơ khép vỏ, trên kính hiển vi

có thể quan sát thấy cơ quan tiêu hoá Giai đoạn giữa Umbo, sau 4 ngày sinh xuất hiện đỉnh vỏ Giai đoạn cuối Umbo 8-9 ngày sau khi thụ tinh Chân bò hình thành ngày thứ 9 Đây cũng là dấu hiệu kết thúc giai đoạn bơi chuyển sang giai đoạn sống đáy của ấu trùng

Ấu trùng Sống đáy

Trang 8

Ngày thứ 9-11 sau khi thụ tinh, vành tiêm mao thoái hoá dần, hoạt động bơi của ấu trùng giảm, ấu trùng chuyến sang giai đoạn sống bò dưới đáy Đặc trưng của giai đoạn này là sự hình thành của chân mang màng áo có cơ khép vỏ Ấu trùng chuyển hoàn toàn từ đời sống bơi lội chuyển sang sống đáy Con giống

Khi ấu trùng hoàn thành biến thái trở thành nghêu giống với hình dạng tương tự nghêu trưởng thành

Hiện trạng

Có rất ít nghiên cứu về vọp được công bố ở Việt Nam trong thập niên vừa qua Nguyễn Chính (1996) mô tả 88 loài động vật thân mềm ở biển Việt Nam Trong đó vọp suma (Cyrena sumatrensis) được tìm thấy ở vùng Năm Căn (tỉnh Minh Hải

cũ, nay là Cà Mau) Tác giả quan sát thấy vọp suma sống ở vùng cao triều, nơi có chất đáy là bùn cát, có nồng độ muối thấp; nhất là nơi có rừng đước,sú, vẹt Là loài có sản lượng tương đối lớn, nên là món ăn rất quen thuộc của ngư dân ven

Trang 9

biển Hylleberg và Kiburn (2003) hiệu đính tên khoa học của vọp chính xác là Geloina coaxans (Gmelin,1791) tên thường gọi trong các tài liệu trước là Polymesoda coaxans

Tan và Chou (2000) mô tả các loài thuộc giống Geloina là một trong những loài hai mảnh vỏ có kích thước lớn nhất phân bố ở vùng rừng đước của Singapore với chiều dài vỏ có thể lên đến 8cm Theo Gimin et al.(2004) có loài Geloina erosa là một loài vọp lớn và có nhiều thịt đạt chiều dài đến 11cm Quần thể sống trong khu vực ven biển của Bắc

Australia được khai thác như là một nguồn thực phẩm quan trọng cho cộng đồng dân cư địa phương (Meehan 1982) Loài này dễ nuôi và là đối tượng cho nuôi động vật thân mềm ven biển

Các nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á- Thái Bình Dương thường tập trung vào đặc điểm sinh sản, phân bố và đặc điểm hình thái của Geloina erosa Morton (1985) nghiên cứu đặc điểm sinh sản và Gimin et al (2004)

Trang 10

nghiên cứu mối tương quan giữa kích thước vỏ và thể tích vỏ vọp với khối lượng tổng cộng và khối lượng mô cơ thể Trên thế giới nói chung và khu vực

Châu Á- Thái Bình Dương nói riêng chưa có công bố nghiên cứu về sinh sản vọp Geloina coaxans

Ngày đăng: 02/04/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN