MỤC LỤC Trang phụ bìa 1 Mục lục DẪN NHẬP 1 Chương 1 ĐÀO TẤN – CON NGƯỜI, THỜI ĐẠI VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 11 1 1 Con người và thời đại 11 1 1 1 Con người 11 1 1 2 Thời đại 24 1 2 Sự nghiệp sáng tác 29 1[.]
Con ng ười và thời đại
Con ng ười
1.1.1.1 Thân thế Đào Tấn tên thật là Đào Đăng Tấn, tự là Chỉ Thúc, hiệu là Mộng Mai và Tô Giang, tiểu hiệu là Mai Tăng Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ (1845) (năm Thiệu Trị thứ 5), mất ngày rằm tháng 7 năm Đinh Mùi tức ngày 28 tháng 8 năm
Năm 1907, ông qua đời ở tuổi 63 Dù nguyên quán tại làng Vinh Thạnh, xã Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nhưng từ nhỏ đến khi trưởng thành, ông đã gắn bó với vùng đất Tùng Giản (hay còn gọi là Gò), nơi gia đình ông trở về quê cha để mưu sinh và tránh khỏi nạn cường hào.
Đào Tấn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, có đạo đức và truyền thống yêu thương nhân nghĩa, là nền tảng giúp hình thành nhân cách cao đẹp của ông Thân phụ của ông, cụ Đào Đức Ngạc, là một nho sĩ nghèo, làm nghề thầy thuốc và coi tướng số, đã truyền lại những giá trị đạo đức và truyền thống văn hóa Sau khi kết hôn với cô thôn nữ Hà Thị Loan, con gái của một gia đình di dân từ Huế vào Bình Định, gia đình của ông chọn lập nghiệp tại vùng Gò Bồi, sống cuộc sống thanh bạch, yên bình trong căn nhà tranh nhỏ bên bờ đê, cạnh chợ Gò Bồi.
Gia đình cụ Đào Đức Ngạc gồm ba người con trai, trong đó ông Đào Tấn nổi bật với thành tích thi đỗ làm quan, giữ chức vụ cao và lập nhiều công trạng có ích cho dân và nước Người con cả là ông Đào Đức Hanh và người con út là ông Đào Tịnh Viễn đều không có thành tích nổi bật Đặc biệt, Đào Tấn còn đóng góp xuất sắc vào nền văn học nước nhà.
Đào Tấn sở hữu bản chất thông minh, lanh lẹ từ nhỏ, ông đã yêu thích văn chương và say mê tuồng hát bội Trong những lúc thư thái, ông thường cùng bạn bè bắt chước diễn trò tuồng hát để vui chơi Dù ham chơi và không chuyên tâm vào việc học cùng các thầy đồ quanh vùng Gò Bồi, nhưng Đào Tấn lại rất sáng dạ, học đâu nhớ đó, và đến 13-14 tuổi đã tinh thông ngôn ngữ sách vở và biết làm thơ.
Gò Bồi vẫn kể câu chuyện về cậu bé Đào Tấn làm thơ chế nhạo ba khách cao ngạo từng ghé quán Khi đó, có ba khách vào quán của bà cụ thân sinh Đào Tấn để uống nước trong ngày trưa nồm ẩm, trong không gian thoáng mát, họ đã làm thơ vui vẻ Tuy nhiên, họ lại tỏ ra kiêu căng, tự mãn và xem thường người xung quanh, gây cảm giác khó chịu Thấy điều đó, cậu bé Đào Tấn đang giúp mẹ quạt nước ở bên cạnh đã lấy cây quạt lửa rồi quạt lia trước mặt những khách ấy, phản ứng lại sự kiêu căng của họ Một trong số khách hàng đã hỏi lý do của hành động bất ngờ này, thể hiện rõ thái độ phản kháng trước sự tự cao của khách.
− Chú nhỏ biết làm thơ à? Đào Tấn đáp:
− Vậy hãy vịnh Bát nước chè Hễ hay thì thưởng tiền, dở thì đánh 10 cán quạt Đào Tấn nghĩ ngợi chốc lát rồi đọc:
Trên thời bọt nước lênh đênh nổi Dưới lại con rồng dấp dới bay
Ba ông khách đều kinh ngạc, đang định lấy tiền thưởng thì cậu bé họ Đào ngăn lại và đọc tiếp hai câu:
Mỗi chữ nghìn vàng cân mới xứng
Ba thầy một nhúm thấm chi khoe
Nói xong bỏ chạy mất
Đào Tấn thường sáng tác thơ và vè hài hước để phản ánh, chế nhạo những kẻ cường hào, hương thân hay bắt nạt, sách nhiễu dân lành Khi mới 18 tuổi, vua Tự Đức ban hành Thập điều nhằm cải thiện tư tưởng và tổ chức xã hội, bắt buộc nhân dân phải học tập nhưng gây ra sự bất mãn trong cộng đồng Hàng trăm người dân làng Tùng Giản bị bắt nghe những bài giảng vô nghĩa tại đình làng, khiến họ vừa mệt mỏi vừa cảm thấy oan ức nhưng không ai dám phản kháng Một ngày nọ, tại chợ Gò, những sự kiện này thể hiện rõ nét sự bất bình của người dân trước chính sách cứng nhắc và bất công.
Bồi xuất hiện một bài thơ giễu như sau:
Thập điều là cái chi chi?
Hàng đêm nói mãi ra gì mà nghe!
Hương thân giảng giải lè nhè,
Bắt dân tập hợp mà nghe thập điều
Cả làng đều sợ một hương thân, Ông cũng người ta không phải thần! Ông giảng thập điều không phải gián, Khác ông Văn Trọng gián hôn quân
Gò Bồi dân chúng đã kêu vang,
Hết việc quan gia đến việc làng,
Xâu thuế quanh năm lo muốn chết,
Mà đêm nằm ngủ cũng không an
Bài thơ của Đào Tấn nhanh chóng trở nên phổ biến trong nhân dân vùng Gò Bồi và lan truyền rộng rãi sang các khu vực lân cận Mọi người đều nhận thức rõ tác giả của tác phẩm là Đào Tấn, nhưng người dân trong làng yêu quý và phục tài chàng trai họ Đào bao nhiêu thì các thế lực cường hào lại càng ghét bỏ và gây khó dễ cho gia đình ông bấy nhiêu Trước sự ngang ngược và tàn bạo của lũ cầm quyền làng Gò Bồi, cụ Đào Đức Ngạc quyết định rút lui khỏi địa phương, đưa cả gia đình về sinh quán tại làng để tránh khỏi những rắc rối và hiểm họa.
Vinh Thạnh là nơi Đào Tấn đã theo học một trong bốn vị “tứ hiền” vùng Tuy Phước, tiêu biểu là cụ Tú Diêu (Nguyễn Diêu) Cụ Tú Diêu nổi bật với kiến thức sâu rộng về Nho học và Hán văn, góp phần quan trọng vào hành trình học tập và phát triển của Đào Tấn.
Quốc văn cùng khả năng sáng tác tuồng và làm thơ xuất sắc, đã góp phần thể hiện tài năng vượt trội của Cụ Tú Nhân tài tri kỷ gặp nhau, Cụ Tú đã tận tình truyền thụ tất cả kiến thức và đam mê cho người học trò yêu của mình Sau năm năm học tập chăm chỉ, cộng thêm tài năng thiên bẩm và sự tiếp thu nhanh nhạy của Đào Tấn, anh đã đạt thành tích xuất sắc tại kỳ thi Đinh Mão năm Tự Đức thứ 20 (1867), đỗ cử nhân hạng ưu tú.
Đào Tấn không tham gia thi Hội vì hoàn cảnh gia đình khó khăn và không mấy ham thích tranh danh, ông đã cáo bệnh để tránh thi cử Năm 1871, triều đình Huế mới xét duyệt danh sách cử nhân chưa được bổ nhiệm, và Đào Tấn được bổ vào Hàn Lâm Điển Tịch, đảm nhiệm chức Hiệu thư ở Nội Các Trong thời gian rảnh rỗi ở quê nhà, ông thường xuyên đi du ngoạn, mở rộng kiến thức về cảnh đẹp và văn chương, đồng thời kết bạn với các người có tài để học hỏi về nghệ thuật hát bội Nhờ việc giao lưu với các thầy học và ca công như ông bầu Thường, ông Mười Hiệp, Đào Tấn ngày càng nâng cao kiến thức văn chương và hiểu biết về tuồng hát, từ đó trở nên uyên thâm hơn trong nghệ thuật biểu diễn.
Khi còn ở Vinh Thạnh, lúc mới đậu cử nhân, Đào Tấn kết duyên cùng bà
Trong suốt thời gian Phạm Thị Trận đảm nhận chức vụ ở Kinh đô, bà quyết định ở lại quê nhà Bình Định để thay ông phụng dưỡng mẹ cha Sau đám tang của cụ Đào Đức Ngạc, dù Đào Tấn mong muốn đưa bà trở lại Huế để tận hưởng cuộc sống an nhàn, nhưng bà đã từ chối, thể hiện lòng trung thành và gắn bó với quê nhà Bà nguyện ở lại Bình Định để chăm sóc việc thờ cúng, giữ gìn phong tục truyền thống, không mơ ước về danh vọng hay vinh hoa phú quý.
Trong thời gian công tác tại Huế, Đào Tấn đã gặp gỡ hai người phụ nữ tài sắc là bà Tôn Nữ Ngọc Triêm và bà Tôn Nữ Nhuận Khanh (thường gọi là bà Diêu Tiên) Những câu chuyện về “Trai phong lưu Bình Định, Gái thanh lịch Thừa Thiên” nhanh chóng lan truyền, thể hiện nét đẹp và tài năng của những người phụ nữ nơi đây.
Ba sinh dù chẳng hương nguyền
Khuôn xanh sẵn mối lương duyên buộc ràng
Khi Đào Tấn được thăng chức Hiệp Biện Đại học sĩ và phong Tử Tước, theo lệ của triều đình, vợ ông cũng sẽ được phong tặng tước hiệu Tuy nhiên, do bà có những lý do đặc biệt, quá trình này gặp một số trở ngại, ảnh hưởng đến việc nhận tước hiệu của bà Việc phong tước cho vợ của các quan chức cao cấp phản ánh rõ nét thần thái của triều đình thời đó về quyền uy và lễ nghi xã hội Đến cuối cùng, tước vị của bà cũng đã được xác nhận, góp phần nâng cao danh tiếng và địa vị cho gia đình Đào Tấn trong dòng chảy lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Phạm Thị Trận từ chối nhận tước vị Nhất phẩm mệnh phụ với ý thức không phù hợp, nhường vinh dự này cho bà Tôn Nữ Ngọc Triêm Thời điểm đó, dư luận không hiểu rõ nội tình, dẫn đến việc phê phán Đào Tấn vì “đeo thói bạc của kẻ giàu sang” và phụ bạc người vợ trung thành của mình từ thuở hàn vi Các vị túc nho ở Bình Định cũng lên tiếng trách móc, phản ánh những hiểu lầm xung quanh chuyện này.
− Bụng Đào Tấn chứa thiên kinh vạn quyển nhưng bỏ sót câu nói của Tống
Hoằng chép trong Hậu Hán Thư: “Tào khang chi thê bất khả hạ đường”.
Sau này, khi bà Phạm Thị Trận mất, Đào Tấn bày tỏ sự tiếc thương vô hạn trong bài văn điếu thống thiết:
Tự cổ sinh ly túc cảm thương Tranh giao tử biệt tự tương vương
Hoàng pha hà xứ phần tam xích Lão nhãn tha hương lệ sổ hàng Đa sự xuân phong xuy mộng tán
Vô tình hàn nguyệt chiếu canh trường Hoàn gia nhật thị tân hàn tiết
Nhẫn kiến đường không chỉ quải tường
(Sinh ly lòng chịu lắm đau thương
Tử biệt thêm bao nỗi đoạn trường
Gò vắng chôn đâu tình cựu chẩm
Mắt già tuôn mối lệ tha hương Đìu hiu thổi gió xuân tàn mộng
Lạnh lẽo soi canh nguyệt gác rường
Hàn thực ngày về thăm chốn cũ Còn trơ lưng vách mảnh thê lương)
Những lời lẽ yêu thương chân thành ấy chắc chắn không thể xuất phát từ trái tim một con người bạc nghĩa, vong ân
Th ời đại
Nhìn lại chặng đường quá khứ của Đào Tấn, chúng ta có thể thấy ông trưởng thành trong một thời đại đầy biến động và bão tố Thời gian ông tham chính là giai đoạn đầy thử thách, đòi hỏi bản lĩnh và trí tuệ để vượt qua khó khăn Những trải nghiệm của Đào Tấn trong thời đại đầy biến động đã góp phần hình thành nên nhân cách và sự nghiệp của ông, góp phần vào sự phát triển của lịch sử đất nước.
Tháng 9 năm 1858, viện cớ triều đình nhà Nguyễn cản trở việc thông thương, cấm đoán Công giáo và tàn sát các giáo sĩ, thực dân Pháp chính thức mở cuộc tấn công vào cửa ngõ Đà Nẵng Sau khi vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của nhân dân và quân đội triều đình, đồng thời nhận thấy cảng biển này không phải là nơi thuận tiện để tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp quyết định Nam tiến, đặt mục tiêu chiếm đánh mới là Gia Định Hơn năm tháng sau, ngày 18 tháng 2 năm 1859, thành Gia Định rơi vào tay thực dân sau tám ngày liên tiếp bị chiến hạm Pháp pháo kích ác liệt Kể từ đây, kẻ thù nhanh chóng triển khai kế hoạch “tằm ăn dâu”, lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Sự bành trướng của con bạch tuộc chủ nghĩa thực dân không chỉ dừng lại ở đó Ít lâu sau, mượn cớ giúp đỡ chính quyền phong kiến dẹp loạn, chúng tiếp tục đánh ra Bắc Kỳ và sau cùng đổ bộ vào dải đất Trung Kỳ, chiếm trọn ba miền tổ quốc Đất nước, nhân dân Việt Nam lại một lần nữa rơi vào ách thống trị của ngoại bang
Dưới sự phản kháng quyết liệt của nhân dân cả nước trước hành động xâm lược của kẻ thù, các phong trào yêu nước như phong trào Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào nông dân khởi nghĩa liên tục diễn ra và kéo dài gần hết thế kỷ XIX Dù quân Pháp đã chiếm được đất nước, nhân dân vẫn không ngừng đấu tranh với các hoạt động nổi bật của các đạo quân nghĩa binh, phục kích và bao vây địch, gây cho quân Pháp nhiều khó khăn, mất tinh thần Trong bối cảnh đó, các phong trào kháng chiến rộng khắp thể hiện sự đồng lòng của nhân dân Việt Nam, mỗi người dân, thậm chí người nông dân đang làm ruộng, đều trở thành trung tâm kháng chiến, phản ánh tinh thần yêu nước sâu sắc Tuy nhiên, trong khi nhân dân kiên cường chống trả ngoại xâm, triều đình nhà Nguyễn lại dần đẩy phong trào đấu tranh yêu nước vào cảnh khó khăn và khốc liệt, cho thấy rõ sự đối lập giữa lòng yêu nước của nhân dân và sự khủng hoảng của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, làm lộ rõ truyền thống anh dũng của dân tộc cũng như sự yếu đuối, lúng túng của chính quyền trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp.
Sự khủng hoảng và rối ren đã tồn tại từ lâu, bắt nguồn từ cuộc phân tranh kéo dài hàng trăm năm giữa hai đàng Trịnh và Nguyễn Khi Gia Long Nguyễn Ánh thành công phản kích nhà Tây Sơn và thành lập một vương triều mới theo mô hình Mãn Thanh, tình hình trở nên ngày càng căng thẳng, gây ra hàng trăm cuộc khởi nghĩa của nông dân trong nước Đến thời Tự Đức, mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị và nhân dân bị trị vẫn ngày càng gay gắt, thể hiện rõ sự bất ổn và xung đột nội bộ trong xã hội.
Trước họa xâm lược của kẻ thù, triều đình Huế đã bộc lộ sự đối kháng quyết liệt với nhân dân, thể hiện rõ nét qua sự chia rẽ nội bộ về phương hướng đối phó Bộ phận đầu não của nhà nước ban đầu không có sự đồng lòng với quần chúng trong chiến đấu, chia làm hai phe chính: phe chủ hòa đề xuất giữ thế thủ nhằm làm tinh thần địch suy yếu, trong khi phe chủ chiến quyết tâm chiến đấu nhưng lại yếu thế và còn mang tư tưởng thủ cựu Ngoài ra, còn có phe trung lập do dự, như Tự Đức, không dám quyết đoán, thường xuyên giao trách nhiệm cho phái đoàn triều đình trong suốt quá trình đàm phán với kẻ thù Dù còn nhiều hạn chế, nhưng trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân, Tự Đức cùng triều đình còn thể hiện một phần ý chí và trách nhiệm trong công cuộc đấu tranh chống giặc.
Huế đã phần nào đứng cùng chiến tuyến với nhân dân, công kích kẻ thù, ngăn cản chúng đánh chiếm giang sơn
Sau khi thành Gia Định thất thủ, triều đình Huế đã rút lui, thể hiện sự yếu đuối, bạc nhược khi chủ động nghị hòa và đáp ứng hiệp ước Nhâm Tuất 1862 của Pháp, dâng hiến ba tỉnh miền Đông khiến kẻ thù ngạc nhiên trước sự dễ dàng này Trong khi nhân dân Nam Kỳ anh dũng chiến đấu chống lại thực dân, chính quyền phong kiến nhà Nguyễn lại bóc lột nhân dân để bồi thường chiến phí và thắt chặt truy lùng nghĩa quân, làm các phong trào kháng chiến tan rã Đến năm 1864, phái bộ triều đình do Phan Thanh Giản dẫn đầu ký tạm ước thừa nhận quyền “bảo hộ” của Pháp trên lục tỉnh Nam Kỳ, còn tiếp tục dâng tiếp ba tỉnh miền Tây cho giặc Lợi dụng việc triều đình nhờ quân đội nước ngoài giúp dẹp yên giặc biển ở Bắc Kỳ và dựa vào hiệp ước Giáp Thân, chính quyền Huế đã nhượng bộ, thể hiện sự yếu thế trước sức mạnh của thực dân Pháp.
Năm 1874, quân Pháp tấn công Hà Nội và nhanh chóng chiếm thành cũng như các tỉnh lân cận, gây ra sự thất vọng và phẫn nộ trong lòng dân tộc Trước hành động cướp nước trắng trợn của kẻ thù, triều đình Huế dường như đã tê liệt ý chí kháng cự và phản bội nhân dân, làm suy yếu cơ đồ nghìn năm do cha ông gây dựng Chính sách phản động của triều đình thể hiện rõ qua các hiệp ước Harmand 1883 và Patenôtre 1884, thừa nhận nước ta là thuộc địa của Pháp và xác định rõ vị thế mới của nhà Nguyễn là tay sai lệ thuộc vào thực dân Pháp, cả về đối nội lẫn đối ngoại Từ đó, triều đình phong kiến chính thức đứng ngoài trận tuyến chiến đấu của toàn dân tộc, trở thành đối tượng bị nhân dân chỉ trích là phản bội tổ quốc bên cạnh kẻ thù thực dân.
Những biến cố lớn lao của đất nước trong thời đại mà Phan Châu Trinh từng nuốt lệ thở than:
Một là vua việc quan chẳng biết Hai là quan chẳng biết chi dân
Ba là dân chỉ biết dân
Các câu chuyện về quân, quốc, thần, ai đã gây ra nhiều xáo trộn trong cấu trúc lực lượng các tầng lớp xã hội và làm phân hóa sâu sắc các giai cấp Sau khi bộ mặt thật của quan quân triều Nguyễn bị lật tẩy, nhân dân Việt Nam phải đối mặt với tình cảnh “một cổ hai tròng”, chịu đựng sự đàn áp và bóc lột tàn bạo của both triều đình Huế và thực dân Pháp Điều này góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc và chống thực dân mạnh mẽ hơn.
Nguyễn Trung Trực từng nói: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây,” thể hiện tinh thần bất khuất của nhân dân Việt Nam trước ách đô hộ Dưới áp lực và đàn áp ngày càng gia tăng, sức phản kháng và tinh thần quật khởi của nhân dân trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, góp phần trở thành linh hồn trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống lại triều đình Huế Chính giặc Pháp, kẻ thù trực tiếp của cuộc chiến, đã thừa nhận sức sống mãnh liệt của người Việt: “Nước Việt này có một sức sống vô cùng mạnh mẽ để chịu đựng và chiến đấu trong suốt nhiều năm dài thiếu thốn tất cả các phương tiện nhằm bảo vệ đất nước.” Tuy nhiên, triều đình nhà Nguyễn đã bỏ quên bài học “Phúc chu thủy tín dân do thủy” mà tổ tiên đã đúc kết từ xưa, dẫn đến sự lúng túng trong đấu tranh, cuối cùng rơi vào thế cầm chắc thất bại và để mất giang sơn vào tay giặc.
Trong bối cảnh xã hội hỗn loạn, đạo đức phẩm giá suy đồi, tầng lớp trí thức phong kiến ngày càng phân hóa sâu sắc về tư tưởng, không còn giữ được sự nhất quán như trước Nhiều trí thức đã theo những con đường khác nhau: có người khí khái đánh Tây cứu nước, có người chọn con đường xuất dương để tìm cách cứu quốc, trong khi số khác lại lui về ẩn dật, giữ gìn khí tiết kẻ sĩ và thể hiện cảm xúc qua văn chương Tuy nhiên, cũng không ít người lợi dụng thời cuộc để đầu cơ, bán nước, đàn áp các phong trào nổi dậy, gây tổn hại cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Những bài học đạo lý của Khổng Mạnh dần mất đi sức mạnh kiểm soát con người trong thời kỳ biến chuyển dữ dội, khiến lý tưởng trung quân của các thế hệ nhà nho trở nên không còn phù hợp với cuộc đời đầy biến động của đất nước và nhân dân.
Những biến động lớn lao của thời đại đã để lại những dư chấn mạnh mẽ trong tâm thức của Đào Tấn cũng như các sĩ phu đương thời Ban đầu, ông hăm hở nhập thế với lý tưởng “trí quân, trạch dân”, mong muốn cống hiến cho đất nước, nhưng sự ưu ái của Tự Đức và cuộc sống yên bình trong triều đình đã khiến ông bị “lạc lối” trong mê thuyết tôn quân, mù quáng không nhận thức rõ nguyên nhân sâu xa của các cuộc khởi nghĩa nông dân Khi chứng kiến quê hương đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, đào bị phản bội bởi những đấng “minh quân” triều Nguyễn, tư duy và niềm tin của ông về đức sáng của thiên tử đã bị sụp đổ, lòng trung thành và chí khí trung quân cũng vỡ vụn.
(Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan)
Bài hát mang đậm nỗi buồn về sự tan vỡ của hai chữ “trung quân”, khiến nhiều người cảm thấy bế tắc và mất phương hướng trong cuộc sống đầy khó khăn và thử thách Câu chuyện phản ánh những tâm trạng xót xa khi lòng trung nghĩa bị tổn thương, làm rối loạn nội tâm và khiến người nghe cảm nhận rõ nỗi đau của sự thất vọng và mất niềm tin Đây là biểu tượng của sự mất mát và những trăn trở trong hành trình đi qua những thử thách của cuộc đời.
Sau nhiều lần tiếp xúc với các sĩ phu yêu nước và gần gũi với đời sống, ông đã tìm ra con đường riêng cho mình để thể hiện lòng yêu nước Dù không đủ can đảm công khai tham gia trực tiếp vào phong trào đấu tranh, ông âm thầm hỗ trợ lãnh tụ và các nghĩa quân nhờ vào vị trí quan to của mình để giúp đỡ phong trào cách mạng Đồng thời, ông gửi gắm nỗi lòng yêu dân, những suy nghĩ, buồn phiền và tủi nhục vào trong tác phẩm văn học nghệ thuật, trở thành nguồn cổ vũ tinh thần cho phong trào yêu nước.
S ự nghiệp sáng tác
K ịch bản tuồng
Đào Tấn là nhà soạn tuồng Việt Nam xuất sắc nhất về tài năng và số lượng tác phẩm, bao gồm cả sáng tác và nhuận sắc Các kịch bản tuồng của ông phản ánh sâu sắc các vấn đề xã hội đương thời và thể hiện rõ tư tưởng cũng như những mâu thuẫn trong thế giới quan của nhà soạn tuồng Quan niệm về hai chữ “trung quân” và tấm lòng yêu nước, yêu dân là những đặc trưng nổi bật trong các tác phẩm của Đào Tấn.
Khi còn theo học cụ Tú Nguyễn Diêu, Đào Tấn đã tích lũy kiến thức và kỹ năng từ thầy, đồng thời phát huy tố chất thiên phú của bản thân Nhờ đó, khi mới 19 tuổi, ông đã sáng tác vở tuồng đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp nghệ thuật của mình.
Tân Dã đồn, còn gọi là Từ Thứ quy Tào hoặc Từ Thứ phân binh, dựa trên tích "Từ thứ quy Tào" trong Tam quốc diễn nghĩa để xây dựng cốt truyện Mặc dù không nổi bật như các vở tuồng sau này của Đào Tấn như Diễn võ đình, Trầm hương các, Hộ sinh đàn hay Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, Tân Dã đồn vẫn mang ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông Vở tuồng góp phần phản ánh sâu sắc tư tưởng về hai chữ trung, hiếu trong quá trình phát triển tư tưởng của Đào Tấn, đánh dấu bước tiến trong sự nghiệp nghệ thuật của ông.
Trong thời gian làm Hiệu thư tại kinh thành Huế, Đào Tấn đã phụng chỉ Tự Đức soạn thảo ba vở tuồng phản ánh tình hình thời sự, gồm Đãng khấu, Bình địch, Tam bảo thái giám thủ bửu Các vở tuồng này đều thể hiện các vấn đề nổi bật của đất nước như các cuộc nội chiến nông dân nổi dậy liên tiếp và mối đe dọa từ xâm lược Pháp, qua đó phản ánh tình hình chính trị – quân sự thời bấy giờ Trong đó, Đãng khấu và Bình địch nhằm phê phán và cổ vũ cho việc trấn áp các cuộc loạn lạc trong nước, gọi đó là "những cuộc làm loạn của bọn 'thảo khấu'" cần phải "đãng" và những kẻ xâm lăng Pháp là "địch" phải "bình" Vở Tam bảo thái giám thủ bửu kể lại câu chuyện Trịnh Hòa triều Minh—những ngoại giao quan trọng của vua Minh nhằm giữ vững đất nước trong thời kỳ bị ngoại bang đe dọa, qua đó thể hiện tinh thần tự lực tự cường của dân tộc trong lịch sử Việt Nam.
Trong ba tác phẩm, Đãng khấu và Tam bảo thái giám thủ bửu vẫn còn nhiều điều chưa rõ về lai lịch, khiến việc xác định chính xác giai đoạn Đào Tấn sáng tác theo đơn đặt hàng của Tự Đức trở nên khó khăn Các học giả thường lựa chọn cách đề cập các vở này một cách mơ hồ khi nghiên cứu về Đào Tấn và kịch bản của ông Theo "Thư mục tư liệu về Đào Tấn," Đãng khấu, Bình địch và Tam bảo thái giám thủ bửu chỉ được trình diễn trong cung đình dành cho vua quan nhà Nguyễn và ít ai biết đến ngoài hoàng cung Có thể chính Đào Tấn sau khi soạn xong các vở này cũng đã quên mất chúng, vì trong các hoạt động nghệ thuật sau này, ông không đề cập đến nữa Tuy nhiên, một hiện tượng trái ngược đáng chú ý là các tầng lớp gọi là “giặc cỏ” trong các vở này lại trở thành nguồn cảm hứng ca ngợi trong các kịch bản cuối đời của Đào Tấn.
Năm 1876, Đào Tấn vâng mệnh thiên tử về kinh và viết các vở: T ứ quốc lai vương, Quần trân hiến thụy, Vạn bửu trình tường
Nội dung và thời gian ra đời của vở tuồng "Quần trân hiến thụy" vẫn là điều chưa rõ ràng, gây nhiều tò mò cho các nhà nghiên cứu Trước Đào Tấn, Diên Khánh Vương 2 sáng tác vở dài 60 hồi "Quần phương tập khánh" với nhân vật dựa trên cây cỏ hoa trái Sau này, Tự Đức chỉ đạo Đào Tấn viết một vở mới lấy bảo vật trong thiên hạ làm nhân vật, hình thành nên "Quần trân hiến thụy", dù chủ yếu chỉ được trình diễn trong hoàng cung và ít phổ biến trong quần chúng Theo tác giả Quách Tấn, nội dung của vở không rõ ràng, chỉ biết rằng nhân vật chính là Vi Sĩ Châu, tượng trưng cho Đào Công thời thiếu niên, là một người nghèo nhưng ham học, kiên trì trong học tập và rèn luyện võ nghệ Khi thi đậu, Sỹ Châu được vua Tự Đức biết đến tài năng, còn Đào Tấn cũng được vua chú ý qua khả năng võ thuật và phẩm chất xuất sắc của mình.
Tấn nhiều tác giả đã lầm vở tuồng này với vở Qu ần phương tập khánh của Diên Khánh vương
Sau khi đọc Quần trần hiến thụy, vua Tự Đức đã ban chỉ cho Đào Tấn sáng tác thêm một vở tuồng mới mang tên Vạn bửu trình tường để thỏa mãn niềm đam mê hát bội của mình Các nhân vật trong vở tuồng này được xây dựng dựa trên các vị thuốc bắc, phản ánh sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật hát bội và yếu tố y học cổ truyền Vở tuồng Vạn bửu trình tường thể hiện sự sáng tạo vượt trội của Đào Tấn, góp phần làm phong phú thêm sân khấu cải lương Việt Nam, đồng thời phản ánh giá trị văn hóa sâu sắc của thời kỳ này.
Diên Khánh Vương, tên thật là Nguyễn Phúc Tấn hay Nguyễn Phúc Thản, là con trai thứ 7 của vua Gia Long, thân mẫu là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Điền Ông nổi tiếng với tính cách mực thước, trung thực và được nhiều đời vua tin yêu, phản ánh tính cách con người đúng như bản chất của ông Theo tác giả Quách Tấn và Quách Giao trong “Đào Tấn và hát bội Bình Định”, vở tuồng có 216 hồi, được biên soạn trong hai năm với công lớn của Ngô Quý Đồng, Vũ Đình Phương và Đào Tấn; trong đó Ngô Quý Đồng viết 28 hồi, Vũ Đình Phương 36 hồi, còn phần còn lại là sáng tác của Đào Tấn Tuy nhiên, một số tài liệu khác cho biết vở tuồng dài 108 hồi, trong đó Diên Khánh Vương viết 40 hồi đầu và Đào Tấn viết tiếp 68 hồi cuối, bắt đầu từ hồi thứ 41 với chủ đề “Hoa trì mộng” Khi trình lên thẩm duyệt, vua Tự Đức đã ca ngợi tác giả bằng lời khen “Thần hồ kỳ hỹ!”, thể hiện sự trân trọng và ngưỡng mộ đối với tài năng sáng tác của các soạn giả.
Trong giai đoạn 1889 – 1893, Đào Tấn đã nâng cao giá trị các vở tuồng dân gian như Tam nữ đồ vương (cải biên và đổi tên thành Khuê các anh hùng), Sơn hậu, Đào Phi Phụng, góp phần giữ gìn và phát huy nghệ thuật truyền thống Ông còn sáng tác tác phẩm mới mang tên Diễn võ đình, thể hiện sự sáng tạo và đóng góp to lớn vào nghệ thuật cải lương thời kỳ đầu.
Trong gia phả họ Đào, ông Đào Nhữ Tuyên cho biết Khuê Các Anh Hùng được Đào Tấn sáng tác và cải biên khi ông đảm nhận chức Tổng đốc An Tĩnh lần thứ nhất vào năm 1889.
Theo ông Quách Tấn, Đào Tấn viết vở Khuê các anh hùng trong thời gian quy y tại núi Linh Phong, đúng vào giai đoạn vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, khi văn thân và nghĩa sĩ trong nước nhiệt tình hưởng ứng phong trào yêu nước chống Pháp (1885 – 1887) Trong tác phẩm, Đào Tấn nhiều lần mượn lời nhân vật để thể hiện nỗi đau xót trước thời cuộc và bày tỏ lòng trung thành, lòng yêu nước đối với dân tộc.
Sau sự kiện vua Hàm Nghi bị bắt, nghĩa quân Phan Đình Phùng sắp tan rã, Đào Tấn đã sử dụng câu chuyện Triệu Khánh Sanh trong sách sử đời Tống để viết "Diễn võ đình", thể hiện niềm hy vọng phục quốc và giải phóng đất nước Câu chuyện kể về Thái sư Bàng Hồng muốn nắm trọn quyền lực, tiêu diệt trung thần nhà Tống, trong đó Triệu Khánh Sanh là một nhân vật dũng cảm, phải giả gái lánh nạn và rời xa quê hương để tránh sự truy đuổi Qua tác phẩm, Đào Tấn gửi gắm niềm tin vào lớp người trẻ như Cường Để, Phan Bội Châu sẽ tiếp nối tinh thần yêu nước, góp phần giải phóng giang sơn.
Từ năm 1894 đến năm 1902, Đào Tấn đã sáng tác các vở tuồng mang ý nghĩa sâu sắc, thể hiện rõ bản chất và tư tưởng của ông Những tác phẩm này được đánh giá là tiếng nói chân thành nhất của trái tim ông, phản ánh chân thực đời sống xã hội phong kiến đương thời Các vở tuồng của Đào Tấn không chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật mà còn là tấm gương phản chiếu những thay đổi và vấn đề của xã hội phong kiến Việt Nam.
Việt Nam cuối thế kỉ XIX” [15, 24]: Tr ầm hương các, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, C ổ Thành (còn gọi là Quan Công h ồi Cổ Thành ) và H ộ sinh đàn
Trong tác phẩm "Trầm hương các" gồm 16 lớp, tác giả mượn đề tài từ truyện Phong Thần để phản ánh thực tại đen tối và bẩn thỉu trong cung đình Nhà Thương, đặc biệt qua hình ảnh “hiện thực yêu quái” rùng rợn, thể hiện nét sắc nét về thời kỳ loạn lạc, đảo lộn của Đào Tấn Bài hát của Đát Kỷ rủ rê yêu quỷ ở động cáo giả làm tiên dự yến tiệc hoàng triều là một biểu tượng phản ánh cuộc sống phức tạp, hỗn loạn trong xã hội thời bấy giờ.
Bộ bộ vân trình vọng thúy vi Hành tàng hư thiệt tự gia tri
Lộc Đài lương dạ khai xuân yến
Chỉ thích đăng tiền quỷ xướng thi
(Nhẹ nhẹ đường mây ngóng khắp nơi
Thực hư, kín hở tự mình chơi
Tiệc xuân Đài Lộc vui đêm vắng
Chương trình "Chỉ thấy bên đèn quỷ hát thôi" dựa trên nguồn gốc từ vở tuồng cổ “Hoàng Phi Hổ phản Thương”, với phần lớn nội dung được chỉnh sửa và biên tập lại bởi Đào Tấn Theo “Thư mục tư liệu về Đào Tấn”, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan có nguồn gốc từ vở tuồng cũ, trong đó Đào Tấn đã sửa đổi các đoạn ở hồi 1 và 2, loại bỏ những chi tiết thừa, đồng thời viết lại hoàn toàn hồi 3 để phù hợp với phong cách sân khấu thời kỳ mới Vấn đề đề tài của vở tuồng này cũng đã lấy cảm hứng từ câu chuyện truyền thống, thể hiện nét đặc trưng của các tác phẩm cải lương cổ điển Việt Nam.
3 B ản dịch thơ trích từ Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 12
Th ơ và Từ khúc
Trong sự nghiệp văn chương của mình, Đào Tấn không chỉ sáng tác tuồng để thỏa mãn đam mê nghệ thuật và gửi gắm nỗi lòng, mà còn viết thơ và từ khúc Các tài liệu nghiên cứu cho thấy, thơ và từ của ông được sao chép rải rác trong nhiều tập, có tập chép riêng và có tập chép chung với thơ của nhiều tác giả khác Trong số đó, tập “Tiên nghiêm Mộng Mai” được xem là bản chép đáng tin cậy và có giá trị hơn cả.
Tập 12 của Tổng tập Văn học Việt Nam giới thiệu 4 bản dịch thơ trích từ tác phẩm “Ngâm Thảo,” do hai người con gái của Đào Tấn là bà Trúc Tiên và Chi Tiên ký lục Tác giả Tịnh Ba thực hiện các bản dịch vào năm 1964, tổng cộng gồm 107 bài thơ mang giá trị văn học và lịch sử sâu sắc.
Ngoài tập Tiên Nghiêm Mộng Mai Ngâm Thảo, các nhà nghiên cứu còn giới thiệu hai tập Mộng Mai Từ Lục gồm 59 bài và Mộng Mai Thi Tồn với 36 bài Bên cạnh đó, theo các tác giả sưu tầm, Đào Tấn còn có khoảng 45 bài thơ và từ không sắp xếp thành tập完整.
Tổng hợp các tập văn bản trên lại, số lượng thơ và từ sưu tập được của Đào
Tấn đã sáng tác 247 bài thơ, trong đó có 2 bài thơ Nôm được cho là của cụ Đào Tuy nhiên, theo Vũ Ngọc Liễn, so với hơn 1000 bài thơ và từ của Đào Tấn mà nhiều người từng kể lại, thì phần lớn các tác phẩm của ông đã bị thất lạc hoặc mất đi.
Năm 1987, tác giả Vũ Ngọc Liễn cùng nhóm biên soạn đã đối chiếu nhiều nguồn tài liệu để lựa chọn 110 tác phẩm của Đào Tấn, gồm 86 bài thơ và 24 bài từ Các tác phẩm này được xác nhận là của Đào Tấn và được giới thiệu tới độc giả trong tập sách, góp phần lưu giữ và truyền tải giá trị nghệ thuật của ông.
“Thơ và từ Đào Tấn”, Nxb Văn học
Năm 2003, tác giả Vũ Ngọc Liễn trong tập “Đào Tấn – Thơ và từ” (Vũ
Nxb Sân khấu đã bổ sung thêm 36 bài từ của Đào Tấn, nâng tổng số tác phẩm lên 60 bài Tuy nhiên, nghiên cứu mới từ viện Văn học cho thấy có nhiều điểm chưa chính xác trong các bài từ của Mộng Mai thuộc lục từ Các phát hiện này góp phần làm rõ hơn về giá trị và tính xác thực của các tác phẩm trong tuyển tập, đồng thời thúc đẩy các nghiên cứu nâng cao về văn học dân gian Việt Nam.
Trong tổng số 43 bài hát, phần lớn là tác phẩm của các từ gia Trung Quốc, phản ánh ảnh hưởng văn hóa đa dạng Trong số còn lại, chỉ có 17 bài, trong đó 11 bài thực sự được xác nhận là tác phẩm đích thực của Đào Tấn, đảm bảo giá trị lịch sử và nghệ thuật Tuy nhiên, còn 6 bài nữa cần phải cẩn thận khi giới thiệu và nghiên cứu, nhằm tránh nhầm lẫn và giữ gìn chính xác giá trị của tác phẩm Việc phân loại và xác thực các bài hát này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản nghệ thuật của Đào Tấn, giúp giới thiệu chính xác đến công chúng và các nhà nghiên cứu.
Theo gia phả họ Đào, Đào Tấn không chỉ nổi tiếng với các tuồng hát và thi từ mà còn sáng tác nhiều văn biểu, câu đối và âm nhạc Trong thời gian làm quan triều Nguyễn, ông được sắc chỉ giao nhiệm vụ soạn thảo nhiều nhạc chương và khúc điệu, thể hiện tài năng đa dạng trong lĩnh vực âm nhạc Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân lịch sử, những sáng tác âm nhạc của Đào Tấn hiện đã bị thất truyền, làm mất đi một phần giá trị văn hóa của ông.
5 Xem thêm “S ự thực nào cho “Mộng Mai từ lục” của Đào Tấn” và “Thêm ” của Phạm Văn Ánh, Th.S Vi ện Văn học
Chương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRONG NỘI DUNG
THƠ VÀ TỪ ĐÀO TẤN