Dàn ý Cảm nhận bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên I Mở bài Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm II Thân bài Cảm nhận tác phẩm 1 Cảm nhận về hình ảnh ông đồ thời Nho học thịnh hành Thời gian Mùa xuân với[.]
Trang 1Dàn ý Cảm nhận bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
I Mở bài
- Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm
II Thân bài: Cảm nhận tác phẩm
1 Cảm nhận về hình ảnh ông đồ thời Nho học thịnh hành
- Thời gian: Mùa xuân với hoa đào nở
- Hành động: bày mực tàu, giấy đỏ - công cụ chủ yếu của các nhà nho
- Địa điểm: Bên phố đông người ⇒ sự đông vui, náo nhiệt lúc xuân về
⇒ Hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong mỗi dịp tết đến xuân về thuở xưa
- “Bao nhiêu người thuê viết khen tài”: Sự thịnh thế của Hán học, các nhà Nho khẳng định vị trí của mình trong lòng người, đó là những con người được ngưỡng
2 Cảm nhận về hình ảnh ông đồ khi Nho học lụi tàn
- “Nhưng mỗi năm mỗi vắng”: từ “nhưng” tạo bước ngoặt trong cảm xúc người đọc,
sự suy vi ngày càng rõ nét, người ta có thể cảm nhận một cách rõ ràng, day dứt nhất
- “Người thuê viết nay đâu?”: câu hỏi thời thế, cũng là câu hỏi tự vấn
⇒ Sự đối lập của khung cảnh với 2 khổ đầu ⇒ nỗi niềm day dứt, vẫn ông đồ xưa, vẫn tài năng ấy xuất hiện nhưng không cần ai thuê viết, ngợi khen
Trang 2- “Giấy đỏ nghiên sầu”: Hình ảnh nhân hoá, giấy bẽ bàng sầu tủi, mực buồn đọng trong nghiên hay chính tâm tình của người nghệ sĩ buồn đọng, không thể tan biến được
- “Lá bàng mưa bị bay”: Tả cảnh ngụ tình: nỗi lòng của ông đồ Đây là hai câu thơ đặc sắc nhất của bài thơ Lá vàng rơi gợi sự cô đơn, tàn tạ, buồn bã, mưa bụi bay gợi sự ảm đạm, lạnh lẽo ⇒ tâm trạng con người u buồn, cô đơn, tủi phận
3 Cảm nhận về tình cảm của nhà thơ:
- Thời gian: Mùa xuân với hoa đào nở (lại: sự lặp lại tuần hoàn của cảnh thiên nhiên)
- Hình ảnh: “Không thấy”, phủ nhận sự có mặt của một người đã từng trở thành niềm ngưỡng vọng
⇒ Kết cấu đầu cuối tương ứng làm nổi bật chủ đề bài thơ
- “Những người muôn năm cũ bây giờ?”: Câu hỏi đặt ra dường như không phải để tìm một câu trả lời, đó như một niềm than thân, thương phận mình
⇒ Câu hỏi tu từ nhằm bộc lộ niềm tiếc thương, day dứt hết sức chân thành của tác giả trước sự suy vi của Nho học đương thời
III Kết bài
- Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ: Khắc họa thành công hình ảnh ông đồ và câu chuyện về cuộc đời của người nghệ sĩ Nho học với kết cấu chặt chẽ, ngôn từ gợi cảm
- Liên hệ bài học hiện nay: Giữ gìn những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống
Trang 3Cảm nhận bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên - mẫu 1
Vũ Đình Liên (1913-1996) là nhà giáo từng viết văn và làm thơ Ông nổi tiếng
trong phong trào Thơ mới với bài "Ông đồ" viết theo thể ngũ ngôn trường thiên
gồm có 20 câu thơ Nó thuộc loại thi phẩm " từ cạn" mà "tứ sâu" biểu lộ một hồn
thơ nhân hậu, giàu tình thương người và mang niềm hoài cổ bâng khuâng
Ông đồ là những nhà nho, không đỗ đạt cao để đi làm quan, mà chỉ ngồi dạy hoc
"chữ nghĩa Thánh hiền" Ông đồ được nhà thơ nói đến là nhà nho tài hoa Ong xuất
hiện vào độ "hoa đào nở" "bên phố đông người qua" Ông đã có những tháng ngày
đẹp, những kỉ niệm đẹp:
Trang 4"Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay"
Hoa đào nở tươi đẹp Giấy đỏ đẹp, mực Tàu đen nhánh Nét chữ bay lượn tài hoa Còn gì vui sướng hơn:
"Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tâm tắc ngợi khen tài"
Thời thế đã đổi thay Hán học lụi tàn trong xã hội thực dân nửa phong kiến: "Thôi
có ra gì cái chữ Nho - Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co " (Tú Xương) Ông đồ già là một khách tài tử sinh bất phùng thời Xưa "phố đông người qua ", nay "mỗi năm mỗi vắng" Xưa kia "Bao nhiêu người thuê viết", bây giờ "Người thuê viết nay đâu?" Một câu hỏi cất lên nhiều ngơ ngác, cảm thương Nỗi sầu, nỗi tủi từ lòng ông
đồ như làm cho mực khô và đọng lại trong "nghiên sấu", như làm cho giấy đỏ nhạt nhòa "buồn không thắm" Giấy đỏ, nghiên mực được nhân hóa, thấm bao nỗi buồn
tê tái của nhân tình thế sự:
"Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu "
Cảnh vật buồn Lòng người buồn Vũ Đình Liên đã xuất thần viết nên hai câu thơ tuyệt bút lay động bao thương cảm trong lòng người
Nỗi buồn từ lòng người thấm sâu, tỏa rộng vào không gian cảnh vật Dưới trời mưa bụi "Ông đồ vần ngồi đáy" như bất động Lẻ loi và cô đơn: "Qua đường không
ai hay" Cái vàng của lá, cái nhạt nhòa của giấy, của mưa bụi đầy trời và cơn mưa trong lòng người Một nỗi buồn lê thê:
"Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay"
Thơ tả ít mà gợi nhiều Cảnh vật tàn tạ mênh mang Lòng người buồn thương thấm thía
Trang 5Khép lại bài thơ là một câu hỏi diễn tả một nỗi buồn trống vắng, thương tiếc, xót
xa Hoa đào lại nở Ông đồ già đi đâu về đâu
"Năm nay dào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?"
Thương ông đồ cũng là thương một lớp người đã vĩnh viễn lùi vào quá khứ Thương ông đồ cũng là xót thương một nền văn hóa lụi tàn dưới ách thống trị của ngoại bang Sự đồng cảm xót thương của Vũ Đình Liên đối với ông đồ đã trang trải
và thấm sâu vào từng câu thơ, vần thơ Thủ pháp tương phản, kết hợp với nhân hóa,
ẩn dụ, đã tạo nên nhiều hình ảnh gợi cảm, thể hiện một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, đậm đà
Bài thơ "Ông đồ" chứa chan tinh thần nhân đạo "Theo đuổi nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ Nghĩa là đủ lưu danh với người đời" (Hoài Thanh) Đó là những lời tốt đẹp nhất, trân trọng nhất mà tác giả "Thi nhân Việt Nam" dã dành cho Vũ Đình Liên và bài thơ kiệt tác "Ông đồ"
Cảm nhận bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên - mẫu 2
Trong nền văn hóa dân tộc, hình tượng những Ông Đồ trong dịp tết cổ truyền đã đi vào lòng người dân Một nét đẹp mang học thức,mang trí tưởng tượng dồi dào, mỗi con chữ các Ông Đồ viết dành cho người đi xin chữ đều mang một ý nghĩa khác nhau, nhưng quy chung lại người Việt ta vẫn quan niệm xin cái may mắn theo ước nguyện của họ cho một năm mới thuận buồm xuôi gió Nhưng dường như những
sự thay đổi đã làm cho nét đẹp ấy phai nhạt phần nào, hình ảnh Ông Đồ in trong tâm trí trong thơ của tác giả Vũ Đình Liên thật rõ ràng, sâu sắc Ông Đồ là những người có khả năng viết chữ Nho điêu luyện Chữ Nho là một loại chữ đầy hình tượng, giàu ý nghĩa Những người này được đào tạo, học hành tốt trong
Nền văn hóa nho giáo, tiếp xúc với chữ Hán nhiều thi và đỗ đạt có bằng vị, được công nhận, những người này có thể làm thêm để kiếm sống bằng nghề viết thuê
Mỗi năm hoa đào nở
Trang 6Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Trên phố đông người qua
Có thể thấy được không khí Tết đã về qua những nhánh hoa đào nở cũng báo hiệu một mùa xuân mới lại về cùng với đất trời Tâm trạng con người dường như cũng khoan khoái, vui tươi, tấp nập chuẩn bị cho những ngày Tết m Lịch đặc biệt quan trọng của đất nước Vào chính khoảnh khắc này, Ông Đồ có thể thể hiện tài năng của mình qua công việc ý nghĩa, thoải mái, kiếm sống qua việc viết chữ theo yêu cầu của người hứng thú với con chữ, đồ nghề của ông đơn giản chỉ là "Mực tàu, giấy đỏ, cùng kiến thức" Hình ảnh Ông Đồ được tác giả nhắc đến với sự thân thương, gợi lại sự an lành, vui vẻ ngược lại với sự xô bồ của đường phố, ông bình
dị, điềm đạm mà vẫn , thu hút được rất đông người qua lại là tâm điểm của sự chú
ý của bức tranh này Bức tranh tác giả vẽ ra trong trí nhớ đầy tiếng động, hình ảnh,
cả nhân vật, có kí ức về thời gian đẹp nhất của mùa xuân tuyệt vời Mở ra cho ta một đoạn 4 câu thơ đầy ý nghĩa tiếp theo
Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài
"Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay"
Sự giản dị mang theo những phẩm chất quý báu của mình khiến ông thu hút được nhiều người Họ muốn xin chữ, xin cái đẹp từ ông Ông cũng rất ấm lòng khi nghe được những câu mang nghĩa "tấm tắc khen tài", sự trân trọng trong từng con chữ khiến cho "bao nhiêu người thuê viết" với ý nghĩa to lớn vừa học để có kiến thức, học chữ Nho để làm người quan trọng nhất là đề cao mối quan hệ của mỗi con người
và năm đức tính cần có thông qua việc học chữ, đó là: Nhân, Nghĩa, Lễ Trí, Tín, qua đó hướng con người đi theo một con đường tốt đẹp nhất Các câu thơ tiếp theo
để miêu tả rõ nhất sự tài năng của ông đồ Và người có nhiều hoa tay không chỉ viết chữ, mà họ còn tạo ra được cả một tác phẩm như một bức tranh mang nhiều ý nghĩa nghệ thuật
Trang 7Hình ảnh ông đồ ngồi khoan thai, bàn tay nhẹ nhàng múa lượn những nét bút đưa lên dứt khoát, điêu luyện đến từng chi tiết "nét thanh, nét đậm, nét xổ", thanh thoát theo từng chữ như "Rồng bay phượng múa" càng thấy sự phóng khoáng, nhưng không hề mất tính chính xác trong phong cách viết chữ Nho để treo tết, viết một tác phẩm để đời Dân gian ta có câu "Nét chữ nết người" là thể hiện được cái tài, cái tâm qua những nét bút tinh tế, chất chứa tâm hồn tinh hoa, khát vọng, lý tưởng phong cách sống đĩnh đạc của những Ông đồ Con chữ ông viết muôn hình muôn kiểu không lẫn, không trùng lặp là cả một sự sáng tạo không ngừng từ con người trí thức ấy Và đoạn thơ chưa dừng lại ở sự vui tươi, có một chút trầm lắng xuống ở đoạn 3 chính là tiếp nối dòng suy nghĩ giữa quá khứ với hiện tại
Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu
Từ nhưng báo hiệu một điều gì đó mang sự biến động dù ít hay nhiều, điệp từ mỗi mỗi làm cho câu thơ dài ra về thời gian,không gian, cái sự lắng xuống, kéo dài đó là sự tự an ủi cho thực tại về việc xin chữ Ông Đồ đã không được phổ biến như ngày xưa nữa Tác giả đã tự đặt ra cho mình một câu hỏi về những người thuê viết chữ đã vãng dần, phải chăng họ cũng đã mờ nhạt tình yêu theo năm tháng với con chữ Nho khi đã phát triển một nguồn chữ mới "chữ Quốc Ngữ", sự chảy trôi nhanh của thời đại Người không được thuê, vật không được sử dụng làm từng thứ trong mỗi câu trở nên thấm nỗi buồn cùng con người nhờ sử dungjt thành công biện pháp tu từ nhân hóa Giờ đây, sự xuất hiện của ông đồ trái ngược với sự vui tươi, lòng kính trọng, tin yêu từ người xin chữ bằng cả tấm lòng vốn có ban đầu, một nét đẹp rất riêng dành cho mùa xuân đã tạm thời lắng dần Mà với các ông đồ giờ này:
Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay
Ông "vẫn chờ, vẫn ngồi đây" vẫn là cái sự điềm đạm, cao quý như năm nào nhưng đáp lại bằng sự thờ ơ lạnh nhạt của người dân Tác giả như một người đứng từ xa trông vào và phải thốt lên sự ngậm ngùi cho sự nghiệp của những ông đồ, sự lãng
Trang 8quên, đẩy ra bên lề của những tờ thư pháp cổ, thờ ơ trước sự tồn tại của ông Đồ là những gì đáng để chúng ta đau đáu, suy nghĩ, đồng cảm
Việc xin chữ từ đó đã trở thành những ký ức ngọt ngào mà những thế hệ cũ đã được chứng kiến, thưởng thức Tác phẩm đã khắc họa chân thực nhất về Ông Đồ, đưa đến được thông điệp xin chữ Ông Đồ là một truyền thống rất hay, đáng phải giữ gìn cho thế hệ sau của dân tộc, góp phần giáo dục lối sống làm người cho người trẻ Hiện nay đã xuất hiện thêm tuy không nhiều "ông tiểu đồ" ở những khu vực có tính văn hóa, những khu giải trí trong dịp Tết Việt nhưng đã thỏa mãn niềm đam mê thư pháp ở người dân, họ góp phần tiếp nối bản sắc dân tộc, tô điểm cho thành phố như một nét đẹp ngày Xuân
Cảm nhận bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên - mẫu 3
Ông đồ, một hình ảnh rất quen thuộc trong xã hội Việt Nam thời xưa Đó chính là biểu tượng của những nhà nho không đỗ đạt làm quan, thường đi dạy học Sau khi chế độ khoa cử của Nho học bị bãi bỏ, ông đồ bị gạt ra ngoài xã hội đành phải đi viết chữ thuê trong những ngày tết đến Thời gian dần trôi, sự vật đổi thay, ông đồ cũng vắng bóng dần đến một chỉ còn là cái di tích tiều tuỵ đáng thương của một thời tàn Với ngòi bút tài hoa, sắc sảo Vũ Đình Liên đã bộc lộ niềm thương cảm của mình trước ngày tàn của nền Nho học qua bài thơ Ông đồ
Bài thơ được mở đầu bằng hình ảnh “ông đồ” quen thuộc
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực Tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua
Trong không khí tươi vui, nhộn nhịp của ngày Tết, ông đồ già với mực tàu, giấy đỏ lại ngồi bên góc đường để chờ có người đến thuê viết những câu thơ, câu đối Xưa nay người ta cho chữ, chứ có ai bán chữ bao giờ Vậy mà giờ đây ông đồ phải đem chữ ra bán Giọng thơ trầm trầm tạo không khí buồn buồn làm cho lòng người xao xuyến Nhưng lúc này, ông đồ cũng còn an ủi lắm bởi mọi người còn thích nét chữ hình tượng ấy để trang trí trong những ngày Tết Cho nên đã có:
Trang 9Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài
"Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay"
Với nghệ thuật so sánh tài tình, nhà thơ đã khái quát lên được sự khéo léo, tài hoa trên nét chữ của ông đồ Những nét thảo ấy cứ như phượng múa rồng bay Nó đẹp
ở màu sắc lẫn đường nét Mọi người ai cũng tấm tắc ngợi khen tài Lúc ấy, ai cũng thích trong nhà có câu đối đỏ để làm đẹp thêm trong những ngày xuân mới Nhưng rồi nền văn hoá phương Tây du nhập, sở thích của mọi người cũng dần thay đổi Những người thích nét chữ kia thưa dần, thưa dần và ông đồ từ từ bị lãng quên
Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu
Ông đồ giờ như một người nghệ sĩ hết được lòng công chúng, như một cô gái lỡ thì:
Còn duyên kẻ đón người đưa Hết duyên đi sớm về trưa một mình
Người thuê viết nay đâu? Câu hỏi được đặt ra cho ông đồ, cho tác giả lẫn cho người đọc gợi lên một niềm bâng khuâng hoài cảm Nỗi buồn vui sầu não của ông bắt đầu dâng lên theo thời gian và nó thấm vào cả những vật vô tri vô giác Tác giả đã khéo léo tài tình khi nhân hoá hình ảnh giấy đỏ và nghiên mực Những tờ giấy đỏ cứ phải phơi ra đấy, không được ai để ý nên bút lông chấm vào đã đọng lại thành nghiên sầu Trong cái nghiên sầu đó có sự đọng lại nỗi buồn của ông đồ lẫn tác giả Đau buồn, tủi nhục nhưng ông vẫn cứ ngồi đấy cố bám víu lấy cuộc đời như muốn kéo thời gian quay lại Não nề thay nào có ai hay đâu
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Trang 10Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay
Thật là một sự vô tình đến phũ phàng Nếu trước đây ông luôn là người tập trung
sự chú ý, sự ngưỡng mộ với những lời khen ngợi thì giờ đây chỉ còn lại hình ảnh một ông đồ trơ trọi lạc lõng giữa dòng đời nhộn nhịp Và trong dòng người tấp nập qua lại ấy, có ai bỗng vô tình nhìn lại để thương xót cho một ông đồ già? Ông vẫn ngồi đấy, lặng im chờ đợi để cuối cùng thì chẳng còn ai đến với ông Song, không hẳn thế, trong hàng loạt người đã quên kia còn có một người nhớ và quay lại thương xót cất lên hai câu thơ thể hiện niềm thương cảm
Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay
Chiếc lá vàng còn sót lại cũng bị cơn gió thổi lìa cành, đậu trên mặt giấy Nó nằm đấy như chấm dứt sự sinh sôi Ông đồ ngồi trầm ngâm đã không buồn nhặt Cộng hưởng với nỗi niềm của ông còn có cơn mưa bụi của đất trời Hình ảnh tả thực nhưng chất chứa nhiều tâm trạng Mưa bay ngoài trời, mưa trong lòng người Câu thơ tả cảnh hay tả tình? Bước cuối cùng của những ngày tàn buồn bã xiết bao! Lời thơ tuy nhẹ nhàng nhưng thấm thía kết hợp giọng thơ trầm buồn, uẩn đã gây cho người đọc nỗi buồn khó tả
Theo nhịp điệu của thời gian, hết đông tàn rồi đến xuân sang, và hoa đào lại nở Nhưng cảnh cũ còn đây mà người xưa không còn nữa
Năm nay hoa đào nở, Không thấy ông đồ xưa,
Hình ảnh ông đồ đã thật sự nhoà đi theo thời gian trong ký ức của con người Tết đến, không thấy ông đồ xưa, trên đường phố vẫn tấp nập người qua lại nhưng, ông
đồ với mực tàu giấy đỏ đã vắng bóng rồi Hình ảnh ông đồ đã đi vào quá khứ Trong
sự khắc nghiệt của thời gian con tạo xoay vần, vật đổi sao dời, ông đồ cố giơ đôi tay gầy guộc để bám lấy cuộc đời Nhưng một con én không tạo được mùa xuân thì một ông đồ già cũng không làm sao xoay lại nên cảnh đời Ông đã không còn kiên
Trang 11nhẫn để bám lấy cuộc sống phũ phàng ấy nữa Ông ra di để lại sau lưng quá khứ huy hoàng của một thời vang bóng Bài thơ kết thúc là lời tự vấn của nhà thơ với nỗi bâng khuâng thương tiếc ngậm ngùi
Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?
Hai câu thơ như một nén nhang tưởng niệm về một thời đại vàng son của nền Nho học vốn là truyền thống của nền văn hoá dân tộc Những người muôn năm cũ không còn nữa nhưng hương hồn họ, giá trị mà họ đã góp phần vào cuộc sống tinh thần của đất nước giờ đang ở đâu? Câu hỏi ấy vương vấn mãi trong lòng tác giả cũng như trong lòng người đọc
Ông đồ là hình tượng, là di tích tiều tuỵ đáng thương của một thời đã tàn Ông như ngọn đèn loé sáng làm đẹp cho đời rồi vụt tắt Cái hay của bài thơ là tuy viết theo thể ngũ ngôn, chỉ vẻn vẹn có năm khổ nhưng đã gói trọn một số phận, một lớp người, một thế hệ Bài thơ làm thức tỉnh bao con người bởi âm điệu trầm buồn, những câu hỏi gợi cảm xúc, ngôn ngữ trong sáng giản dị, câu thơ vừa có hình ảnh vừa có sức gợi cảm Nó đã khắc hoạ được cuộc đời tàn tạ của một thế hệ nho sĩ đồng thời xen lẫn nỗi niềm hoài cảm, luyến tiếc của nhà thơ Mấy ai không khỏi giật mình về sự hờ hững đến mức nhẫn tâm của mình đối với lớp trí thức Nho học ngày xưa để rồi ân hận nuối tiếc trong muộn màng mỗi khi đọc lại bài thơ
Bài thơ là một tác phẩm đặc sắc nhất của Vũ Đình Liên Nó là một trong những bài thơ hay mở đầu cho sự đổi mới sâu sắc của thơ ca Một trong những thành công của bài thơ là bộc lộ được tâm tư tình cảm của tác giả một cách chân thành Do vậy bài thơ đã đi sâu vào tâm khảm mỗi con người chúng ta Dẫu cho thời gian có trôi qua, nền nho học không còn nữa nhưng hình ảnh ông đồ trong bài thơ của Vũ Đình Liên
sẽ sống mãi với thời gian
Cảm nhận bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên - mẫu 4
Còn duyên kẻ đón người đưa Hết duyên đi sớm, về trưa mặc lòng
Không hiểu sao, đến với bài thơ ông đồ của Vũ Đình Liên tôi lại bị ám ảnh đến day dứt bởi câu hát xa xôi vùng quan họ Nhưng câu chuyện còn duyên, hết duyên ở
Trang 12đây lại là chuyện khác, chuyện còn và mất của một lớp người một thời đã qua đi không trở lại, thông qua hình tượng trung tâm: ông đồ, nói như chính tác giả thì đó
là di tích tiều tuỵ, đáng thương của một thời tàn
Bài thơ ngũ ngôn gồm 5 khổ, khắc hoạ trọn vẹn một chỉnh thể nghệ thuật: ông đồ, trên trục thời gian tuyến tính, từ quá khứ đến hiện tại, từ còn đến mất, từ thời khắc hoàng kim cho đến khi chỉ còn vang bóng
Nếu coi bài thơ là một bức hoạ về hình ảnh về chân dung ông đồ thì ở góc nhìn thứ nhất là ông đồ – người nghệ sỹ tài hoa thuở còn duyên
Sự xuất hiện của ông đồ gắn liền với vòng quay đều đặn của thời gian, cứ thế không thể khác:
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực Tàu, giấy đỏ Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài
"Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay"
Thời gian được tính bằng hoa đào nở y tín hiệu báo xuân, sắc màu được dệt nên bởi sắc đào tươi thắm, giấy đỏ rực rỡ, nhịp sống được tính bằng phố đông người qua, tình cảm của người đời được biểu hiện bằng hình ảnh: Bao nhiêu người thuê viết, tấm tắc ngợi khen tài
Nổi bật trên phông nền rực rỡ, tươi vui đó là chân dung ông đồ, người nghệ sỹ trong niềm thán phục, ngưỡng mộ của mọi người:
Hoa tay thảo những nét
Trang 13Như phượng múa, rồng bay
Hoa đào đến đây đã nhường chỗ cho hoa tay y bàn tay tài hoa của ông đồ đưa đến đâu mà như gấm hoa nở ra đến đó Nét chữ từ bàn tay như có phép tiên của ông được so sánh như phượng múa rồng bay Đây là hình ảnh so sánh đẹp, giàu giá trị tạo hình, nét thăng hoa trong ngôn ngữ của Vũ Đình Liên gợi tả nét chữ mềm mại
mà linh thiêng, phóng khoáng mà cao nhã, có hồn như phượng múa, rồng bay Nét chữ ấy dường như cũng chấp chới bay lên giữa hào quang của trời xuân, của sắc đào tươi thắm Đây là một nét vẽ đẹp, ngợi ca ông đồ, một tài năng nghệ thuật
Ta nhớ tới cây bút thần của Lê Mã Lương trong một câu chuyện cổ Trung Quốc, nét bút đưa đến đâu, vạn vật như có thần sống dậy, sinh sôi đến đó, vẽ chim, chim cất cánh bay, vẽ công, công xoè ra múa lượn Bao nhiêu tài năng, tâm huyết của ông đồ được gửi gắm trong nét chữ tài hoa đó Đây là thời kỳ đắc ý nhất của ông: cái đẹp lên ngôi, tài năng được trân trọng
Nhưng thời kỳ hoàng kim đó của ông chỉ thoáng qua như một ảo ảnh, theo dòng hồi tưởng của nhà thơ, một hiện thực đau lòng đã xảy ra:
Nhưng mỗi năm, mỗi vắng Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm!
Mực đọng trong nghiên sầu
Ông đồ vẫn ngồi đấy, Qua đường không ai hay,
Lá vàng rơi trên giấy!
Ngoài giời mưa bụi bay
Góc nhìn thứ hai, ông đồ – người sinh bất phùng thời, lúc hết duyên
Hai khổ ba, bốn với giọng kể và lời thơ miêu tả hiện lên ảnh hình ông đồ vẫn ngồi đấy nhưng cảnh vật quanh ông đã khác xưa:
Trang 14Ngày xuân trước, là phố đông với bao nhiêu người thuê viết thì nay đã vắng, đông giờ đã vắng Ngày trước, họ tấm tắc ngợi khen tài thì bây giờ vẫn những con người
đó nhưng qua đường không ai hay; thân quen thành xa lạ Ngày trước, họ trầm trồ thán phục nay họ dửng dưng lạnh nhạt, tình thế đã đảo ngược, tình đời đã đổi thay Ông đồ bỗng trở nên đơn côi, lạc lõng đến tội nghiệp giữa cái xô bồ, ồn ào của nền văn minh lạnh lùng kiểu đô thị dù ông vẫn muốn có mặt với đời Ông đồ vẫn ngồi đấy, ông vẫn kiên gan bám lấy cuộc đời, ông càng lẻ loi, lạc bước: nên đã trở thành người sinh bất phùng thời
Xót xa thay, nét chữ như phượng múa, rồng bay ngày trước, giờ ngậm ngùi vì bị chôn vùi trong lãng quên nên:
Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu
Giấy đỏ, nghiên mực, hành trang gắn liền với kẻ sĩ trên hành trình sáng tạo ra cái đẹp nhưng giờ đây cũng lặng lẽ, ủ ê trong nỗi buồn ế khách của ông đồ
Giấy bẽ bàng, buồn tủi, đỏ mà cứ phai dần, nhạt nhẽo không thắm lên được, mực không được bút lòng chấm vào, mực cũng đọng lại như giọt lệ khóc
Với thủ pháp nhân hoá giàu sức gợi, Vũ Đình Liên đã diễn tả thật tinh tế nỗi buồn không nói không cất lên được, từ lòng người đã thấm cả vào những vật vô tri khiến mực tàu, giấy đỏ cùng trĩu nặng nỗi buồn
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Người buồn, cảnh cũng buồn theo Nỗi buồn của ông đồ không chỉ chiếu lên nghiên mực, giấy đỏ mà còn lan toả, mênh mang khắp không gian, khiến bức tranh xuân năm ấy mang gam màu xám lạnh, u buồn:
Lá vàng rơi trên giấy!
Ngoài trời mưa bụi bay
Lá vàng rơi không nghe tiếng, mưa bụi bay không ướt áo ai, mà nghe như có từng thu chết, từng thu chết cuốn ra đi theo hình bóng một lớp người