NỘI DUNG ÔN TẬP 1 Xu hướng biến đổi của tự nhiên Việt Nam 2 Tài nguyên biển và sử dụng tài nguyên biển 3 Tình trạng mất cân bằng sinh thái 4 Tình trạng suy thoái tài nguyên 5 Phát triển kinh tế xanh C[.]
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP
1 Xu hướng biến đổi của tự nhiên Việt Nam
Trang 32 Tài nguyên biển và sử dụng tài nguyên biển
3 Tình trạng mất cân bằng sinh thái
4 Tình trạng suy thoái tài nguyên
5 Phát triển kinh tế xanh
Chủ đề 1: TÌNH TRẠNG MẤT CÂN BẰNG SINH THÁI
Trang 4Hệ sinh thái: Hệ sinh thái bao gồm quần xã sinh vật và môi trường sống của quần
xã (sinh cảnh), trong hệ sinh thái các sinh vật luôn luôn tác động lẫn nhau và tác động qua lại với các nhân tố vô sinh của môi trường trường tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh và tương đối ổn định
Cân bằng sinh thái: là trạng thái ổn định tự nhiên của hệ sinh thái, hướng tới sự
thích nghi cao nhất với điều kiện sống Trong điều kiện bình thường, tương quan giữa các thành phần của hệ sinh thái tự nhiên là cân bằng
Mất cân bằng sinh thái: Là khi sự xáo trộn tự nhiên hoặc do con người gây ra phá
vỡ sự cân bằng tự nhiên của một hệ sinh thái Một sự xáo trộn hoặc bất kỳ thay đổi nào gây ra sự gián đoạn trong sự cân bằng của một hệ sinh thái
Ví dụ về sự xáo trộn tự nhiên là:
+ Các vụ phun trào núi lửa
+ Lũ lụt
+ Cháy rừng
Ví dụ về các xáo trộn do con người gây ra là:
+ Sự ra đời của một loài mới
+ Khai thác rừng
+ Sự ô nhiễm
+ Phát triển quá mức của một loài
Trang 5Sau khi xáo trộn xảy ra, một hệ sinh thái có thể phục hồi trở lại trạng thái cân
bằng Nhưng nếu một hệ sinh thái có sự xáo trộn nghiêm trọng hoặc liên tục có những xáo trộn mới, nó có thể không bao giờ phục hồi trở lại trạng thái cân bằng sinh thái nha
2 Biểu hiện ( Thế giới liên hệ luôn VN)
• Gia tăng thiên tai
Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc (LHQ), ngày 1/9/2021 đưa ra cảnh báo rất đáng lo ngại về biến đổi khí hậu rằng số lượng các thảm họa thiên nhiên đã tăng gấp 5 lần trong nửa thế kỷ qua và gây thiệt hại gấp 7 lần so với những năm 1970
WMO đã nghiên cứu số liệu từ hơn 11.000 thảm họa thiên nhiên trong nửa thế kỷ qua Về mặt tích cực, số lượng người thương vong do các thảm họa thiên nhiên giảm đáng kể bất chấp thiên tai xảy ra ngày một thường xuyên và khốc liệt hơn, từ nắng nóng bất thường, lũ lụt, hạn hán hay những siêu bão trên khắp Trái đất
Những năm 1970, trung bình mỗi năm có hơn 700 hiện tượng thiên tai, trong khi từ năm 2000 đến 2009, mỗi năm ghi nhận hơn 3.500 vụ, tương đương với khoảng 10
vụ mỗi ngày Trong những năm 2010, trung bình mỗi năm ghi nhận 3.165 vụ thiên tai Trong những năm 1970 và 1980, thảm họa tự nhiên giết chết trung bình khoảng
170 người mỗi ngày trên toàn thế giới, trong khi con số này vào năm 2010 chỉ là 40 người
Các quan chức về khí hậu của LHQ cho rằng, mức độ tàn phá của các hiện tượng thời tiết cực đoan tăng dần theo thời gian là do ngày càng có nhiều người chuyển đến những khu vực có nguy cơ cao trong khi biến đổi khí hậu đang khiến thiên tai trở nên khốc liệt và diễn ra thường xuyên hơn
5 thảm họa thời tiết gây thiệt hại về tài sản lớn nhất kể từ năm 1970 đều là những cơn bão ở Mỹ, đứng đầu là cơn bão Katrina năm 2005 với thiệt hại tổng cộng lên đến 163 tỷ USD 5 thảm họa thời tiết gây ra nhiều thương vong nhất là ở châu Phi
và châu Á, trong đó, đứng đầu là hạn hán và nạn đói ở Ethiopia vào giữa những
Trang 6năm 1980 khiến 1,2 triệu người chết, và cơn bão Bhola ở Bangladesh vào năm 1970khiến hơn 500.000 người thiệt mạng
Báo cáo của WMO được đưa ra sau khi thế giới trải qua một mùa hè với quá nhiều thiên tai được ghi nhận ở nhiều nơi Một ví dụ điển hình là Mỹ khi nước này đồng thời hứng chịu siêu bão Ida ở khu vực Đông Nam trong khi miền Tây lại trải qua các trận cháy rừng lớn và dai dẳng do hạn hán Siêu bão Ida mạnh cấp 4 trên thang gồm 5 cấp, đã quét qua bang Louisiana và khiến ít nhất 1,3 triệu hộ gia đình tại bang này và một số khu vực lân cận mất điện, trong khi thiệt hại về tài sản chưa thể được kiểm kê do các thiết bị, đường sá bị hư hại do bão
Lũ lụt cũng trở thành nỗi ám ảnh đối với châu Âu và Trung Quốc trong thời gian qua Ngày
30/8/2021, mưa lớn đã dẫn đến lũ lụt trên 4 con sông ở Trùng Khánh, phía Tây NamTrung
Quốc, khiến 2.000 người phải sơ tán Hồi giữa tháng 7, nhiều tỉnh, thành của Trung Quốc đã trải qua đợt lũ lụt tồi tệ
Riêng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc có hơn 300 người chết và 50 người mất
tích kể từ đợt mưa bão và lũ lụt trong năm nay Việt Nam
Thực tế cho thấy, năm 2020, bão, lũ, dông lốc, hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra khắp cả năm, từ đồng bằng đến miền núi Thống kê của của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, trong năm 2020, ở nước ta đã xảy ra 16 loại hình thiên tai Trong đó, có 13 cơn bão trên Biển Đông; 264 trận dông, lốc, mưa lớn trên
49 tỉnh, thành phố; 120 trận lũ, lũ quét, sạt lở đất; đặc biệt là đợt mưa lũ lớn lịch sử
từ ngày 6 đến 22-10 tại khu vực Trung bộ; 86 trận động đất; hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng, sạt lở bờ sông, bờ biển, sụt lún đê biển tại Đồng bằng sông Cửu Long…
Không chỉ xuất hiện với tần suất ngày càng cao, thiên tai năm 2020 được đánh giá
là có nhiều yếu tố bất thường, thậm chí là dị thường, khó lường Đầu năm là hình thái thời tiết chịu ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, nhưng cuối năm lại chịu tác động của hiện tượng La Nina Hệ quả là nắng nóng gay gắt ngay từ đầu năm, còn bão và mưa lớn dồn dập vào cuối năm Đặc biệt, suốt nửa tháng 10/2020, gần như
Trang 7ngày nào ở miền Trung cũng xuất hiện mưa to đến rất to với lượng mưa vượt so mức trung bình từ 100 - 200%, thậm chí nhiều nơi vượt tới 300 - 400%
Năm 2021, thiên tai xảy ra khốc liệt, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản Tại Việt Nam, có 841 trận thiên tai, với 18 loại hình trên tổng số 22 loại hình thiên tai, trong đó, 12 cơn bão, áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông Gần đây nhất, đợt rét đậm, rét hại kéo dài tại miền Bắc diễn ra vào tháng 2/2022 cũng được đánh giá là 1 trong
5 năm có giá trị thấp nhất trong chuỗi số liệu quan trắc được cùng thời kỳ trong hơn
40 năm trở lại đây
Trong các khu vực trên cả nước, các tỉnh duyên hải miền Trung luôn là “điểm nóng” của thiên tai, bão lũ Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, riêng với khu vực miền Trung và Tây Nguyên nước ta, trong hơn 20 năm qua
(1999-2021) trung bình một năm có khoảng 12-13 đợt mưa lớn diện rộng xuất hiện
ở các tỉnh ven biển Trung Bộ
Những năm xuất hiện La Nina số đợt mưa lớn không nhiều nhưng cường suất lại rấtlớn, cụ thể gần nhất là đợt La Nina 2020 đã xuất hiện nhiều đợt mưa lớn ở miền Trung gây lũ lớn, lũ quét và sạt lở đất gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng và tàisản của nhân dân
• Siêu bão
Siêu bão Goni nguồn gốc ở miền Trung Philippines, đổ bộ đất liền Việt Nam tuy đã suy yếu nhưng vẫn gây ra nhiều thiệt hại kéo theo đợt mưa to trên diện rộng, đổ bộ trực tiếp vào các tỉnh từ Đà Nẵng đến Phú Yên Vùng ảnh hưởng của bão trải dọc từQuảng Trị đến Khánh Hòa
Hoàn lưu bão Goni tiếp tục gây ra một đợt mưa lớn cho các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế đến
Quảng Ngãi trong các ngày 4-6/11/2020 Sau đó, vùng mưa mở rộng ra cả khu vực Bắc Trung
Bộ và Nam Trung BộLũ chồng lũ
Ở Quảng Ngãi: do ảnh hưởng của không khí lạnh kết hợp với nhiễu động trong đới gió đông nên từ đêm 30/11/2022 đến hết ngày 3/12, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xuất hiện đợt mưa lớn diện rộng và rải rác có dông Lượng mưa dự báo phổ biến
Trang 8150-300mm/đợt, có nơi trên 350mm/đợt Cơn lũ từ ngày 30-11 đến 3-12 vừa rút xuống thì chiều 5-12 mưa cấp tập trên địa bàn Quảng Ngãi xuất hiện tình trạng lũ chồng lên lũ Do tác động của mưa lớn có khả năng gây ra lũ, lũ ống, lũ quét ven các sông suối nhỏ; sạt lở, trượt lở đất ở các huyện miền núi Trà
Bồng, Ba Tơ, Sơn Tây, Sơn Hà, Minh Long
1780
• Liên hệ VN
Việc tăng hiệu ứng nhà kính của Trái Đất đã kéo theo sự biến đổi khí hậu và Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới gánh chịu hậu quả nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra Mấy năm gần đây, nước ta thường xuyên hứng chịu nhiều loại thiên tai như bão, lũ lụt, ngập úng, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét đậm, rét hại, băng giá, nhiễm mặn, lở đất, trượt đất… với cường độ, tần suất ngày một tăng, mỗi vùng miền chịu một kiểu khác nhau Điều đáng nói là tính chất thất thường của nó đã gâykhó khăn rất lớn cho con người trong công tác dự báo, phòng chống và đối phó Đơn cử như, năm 2010 miền Trung đã phải hứng chịu bão và lũ kép thật khủng khiếp Sở dĩ nơi đây (chủ yếu là Bắc Trung Bộ) hay bị bão và lũ kép là do nằm gần
“mắt bão” Phi-lip-pin Dưới sự tác động của lực côriôlit và trung tâm cao áp tây Thái Bình Dương bão thường có xu hướng di chuyển theo hướng Tây, Tây Bắc Bên cạnh đó, các yếu tố như địa hình nhỏ hẹp thấp dần ra biển Đông, rừng bị phá tàn phá nặng nề, thủy điện phân bố không hợp lý, sông ngòi ngắn dốc, thủy triều cao làm tăng thêm sức tàn phá của bão lũ khiến “khúc ruột” miền Trung vốn nghèo
Trang 9khó ngày càng khó nghèo hơn Cũng trong năm này, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên toàn miền Bắc đã trải qua những đợt nắng nóng kéo dài và những đợt rét đậm, rét hại gây thiệt hại rất lớn cho hoạt động sản xuất.Miền Tây Nam Bộ thì hiện tượng nhiễm mặn, thiếu nước sinh hoạt trong mùa khô ngày càng trầm trọng
Nguyên nhân chính là do mùa khô kéo dài, thủy triều dâng cao đẩy nước biển xâm nhập sâu hơn và nước nguồn cung cấp từ hệ thống sông Mê-kông rất yếu (việc Trung Quốc đắp đập ngăn sông làm thủy điện trên thượng nguồn ảnh hưởng không nhỏ đến lưu lượng nước cung cấp cho hạ lưu) Dịch bệnh cũng là một trong những vấn đề lớn do sự biến đổi khí hậu gây ra Các nghiên cứu đã chứng minh hàm lượngkhí cacbonic cao và nhiệt độ tăng đã làm cho thực vật ra hoa sớm hơn và toả ra không gian nhiều phấn hoa hơn, gây ra các bệnh về đường hô hấp Bên cạnh đó, nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn và các vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… phát triển truyền bệnh cho con người
Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Do mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sớm, dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông bị thiếu hụt, mực nước thấp nhất
trong vòng 90 năm qua nên xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn Cụ thể: Ở vụ Mùa
và Thu Đông năm 2015, có khoảng 90.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng suất, trong
đó thiệt hại nặng khoảng 50.000 ha (Kiên Giang 34.000 ha, Sóc Trăng 6.300 ha, Bạc Liêu 5.800 ha, )
Vụ Đông Xuân 2015-2016, có 104.000 ha lúa bị ảnh hưởng nặng đến năng suất (chiếm 11% diện tích gieo trồng 8 tỉnh ven biển - đang bị ảnh hưởng nặng của xâm
Trang 10nhập mặn) Diện tích gieo trồng bị ảnh hưởng khoảng 340.000 ha (chiếm 35,5% diện tích 8 tỉnh ven biển)
3 Tác động ( tới VN)
• Hệ sinh thái, Suy giảm đa dạng sinh học
- Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi
cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới
và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
-Theo kết quả điều tra sơ bộ tại Vườn quốc gia Hoàng Liên cho thấy, đang có sự dịch chuyển lên cao của một số loài cây đặc trưng thuộc các đai thực vật khác nhau.Hiện tượng này được gọi là hiện tượng “dịch chuyển vành đai nhiệt lên cao”.Trong
số đó, có loài thông Vân San Hoàng Liên (loài đặc hữu), trước đây chỉ sinh trưởng ở
độ cao từ 2.200 m đến 2.400 m, thì nay chỉ có thể gặp ở độ cao từ 2.400 m đến 2.700 m
• Số lượng và loài sinh vật
- Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế
xã hội, đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái Biến đổi khí hậu, với các hệ quả như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sạt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái đa dạng sinh học nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất
là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn, với sự xâm nhập của các loài ngoại lai, các loài sinh vật đang nguy cấp với số lượng cá thể ít, tăng nguy
cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm
- Các loài động vật sắp tuyệt chủng ở Việt Nam: bò tót, hổ, sao la, Hươu vàng, voọc mũi hếch (nhóm FFI (Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế) ước còn khoảng
110 cá thể đang sinh sống ở Việt Nam), voọc đầu trắng (hiệp hội bảo vệ tồn thiên nhiên thế giới thì trên toàn cầu chỉ còn khoảng 60 cá thể Voọc đầu trắng sinh sống, các cá thể này đều tập trung tại Việt Nam, đảo Cát Bà (Hải Phòng)), rùa hồ Gươm:
là loài rùa quý hiếm trên thế giới và ở Việt Nam chỉ có ở hồ Gươm, cụ rùa hồ
Gươm chết thì trên thế giới chỉ còn 3 cá thể Tình trạng bảo tồn:
Tuyệt chủng trong tự nhiên
Trang 11• Xuất hiện nhiều thiên tai, với số lượng ngày càng nhiều, mức độ ngày càng lớn, tác động trực tiếp đến sinh vật và con người
- Biến đổi khí hậu sẽ tác động mạnh lên hai vùng đồng bằng lớn là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ sinh thái rừng trong cả nước BĐKH làm cho đa dạng sinh học vùng bờ cùng với nguồn lợi thủy hải sản giảm sút Các HST vùng bờ bị suy thoái và thu hẹp diện tích
- Khi mực nước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước
có tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng 36 khu bảo tồn, trong đó
có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập
- BÐKH cùng với sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn, sử dụng tài nguyên nước không hợp lý dẫn tới hiện tượng lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất… xảy ra ngày càng nhiều, hậu quả ngày càng nghiêm trọng đối với đời sống con người và môi trường Cùng với các hoạt động buôn bán, sự xâm nhập của các loài ngoại lai hiện nay đang là mối đe dọa lớn lên tính ổn định và đa dạng của các HST ở Việt Nam thời gian qua
4 Giải giáp
-Hạn chế sử dụng nguyên liệu hóa thách, nên sử dụng các năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, địa nhiệt, sinh khối)
-Xây dựng các khu bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam
-Xây dựng vành đai khu đô thị, làng bản
-Kiểm soát chặt chẽ những cây con biến đổi gen
-Lập danh sách và phân nhóm để quản lý theo mức độ quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng
Trang 12CHỦ ĐỀ TÀI NGUYÊN BIỂN VÀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN BIỂN
1 Ô nhiễm môi trường nước
1.1 Định nghĩa
Ô nhiễm môi trường nước là sự có mặt của một hay nhiều chất lạ trong môi trường nước (hóa chất, rác thải, chất hữu cơ, chất phong xạ, ) làm biến đổi chất lượng nước, gây tác đối với sức khỏe của con người khi sử dụng nước trong sinh hoạt, ở các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thể dục thể thao hoặc vui chơi, giải trí
1.2 Nguồn gốc ô nhiễm môi trường nước
1.2.1 Nguồn gốc tự nhiên
Nguồn gây ô nhiễm nước có thể do tự nhiên như núi lửa, động đất, gió bão, rửa trôi, xói mòn, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng
1.2 2 Nguồn gốc nhân tạo
Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thuốc trừ sâu, diệt cỏ trong nông nghiệp, vào môi trường nước
1.3 Phân loại ô nhiễm môi trường nước và hậu quả của nó
1.3.1 Ô nhiễm sinh học môi trường nước
Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau Bên cạnh cácsinh vật có ích, có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người
và sinh vật Những tác nhân sinh học chính làm ô nhiễm môi trường nước cóthể được chia thành 4 loại như sau: vi trùng gây bệnh, siêu vi khuẩn, ký sinhtrùng, các loại sinh vật khác (sinh vật gây trở ngại)
1.3.2 Ô nhiễm hóa học môi trường nước
a Ô nhiễm bởi hoạt động sản xuất công nghiệp
Kim loại nặng trong nước thường được bắt gặp trong các lưu vực nước gần cáckhu công nghiệp, các thành phố lớn và các khu vực khai thác khoáng sản Cáckim loại nặng này là những nguyên tố kim loại có tỷ trọng lớn (>5), chúngthường có mặt trong tự nhiên với hàm lượng nhỏ nhưng lại có độc tính cao đối
Trang 13với đời sống sinh vật và con người Ngoài ra trong chất thải của nhà máy cónhững chất axit, bazo làm thay đổi pH và ảnh hưởng đời sống thuỷ sinh vật Những kim loại nặng thường được nghiên cứu là
Chì (Pb), Thủy ngân (Hg), Asen (As), Photpho,Nitơ
Cadimi (Cd) b Ô nhiễm bởi hoạt động sản xuất nông
nghiệp
Hiện tượng này phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh trên thếgiới Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học,một lượng đáng kể thuốc và phẫn không được cây trồng tiếp nhận Chúng sẽlan truyền và tích lũy trong đất nước và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng
dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
Ví dụ: Trong phân bón có chứa đạm (nitrat) và photpho (P) cho nên khi rửa trôi gây hiện tượng phủ dưỡng hoá trong thuỷ vực Thuốc trừ sâu, diệt cỏ sau khi ra thuỷ vực có thể làm chết một số loài phiêu sinh vật và ngăn cản khả năng quang hợp của phiêu sinh vật Ngoài ra, còn có khả năng tích tụ sinh học của thuốc nàygây ngộ độc cho người
Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón là làm suy thoái
chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp như ô nhiễm đất, nước, giảm tính đa dạng sinh học của các khu vực nông thôn, suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật
Trang 14c. Ô nhiễm nước bởi các chất tẩy rửa, bột giặt, xà phòng
Bột giặt thường chứa TBS (tetrapzopylene benzene sulfonate) không bị phân hủy sinh học Chất STP (sodium tripolyphosphate) và ABS (alkyl benzen
sulfonat), khi thải ra ngoài thì chất STP gây ra hiện tượng phú dưỡng hoá do có photphat, còn chất ABS tập trung trên mặt nhiều quá nên gây cản trở lưu thông,
có nhiều bọt, làm giảm khả năng quang hợp của phiêu sinh thực vật, ngăn cản
sự trả oxy và thiếu oxy làm giảm đa dạng sinh học ở khu vực thủy vực
d. Ô nhiễm nguồn nước bởi dầu
Việc đổ nước cọ rửa hầm tàu xuống biển, các sự cố khi khoan giếng dầu và các
vụ đắm tàu làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển Dầu loang trên mặtnước làm giảm quá trình trao đổi oxy của lớp nước mặt và khả năng quang hợpcủa phiêu sinh thực vật, làm chết ngạt nhiều loài thủy sinh vật, phá vỡ sự cânbằng sinh học trong môi trường biển Ngoài ra, dầu thấm xuống đất nhanh hơnnước gấp 7 lần, gây ô nhiễm các mạch nước ngầm
Có đến 90% trứng cá bị tiêu diệt khu vực dầu và một số cá còn bị chiến
Ngoài ra một số chim biển có thể bị đầu độc (do ăn cả trong có chất dầu
Vi du: Ở cảng biển Thái Lan hàng năm có 50.000 chim biển chết do ngộ độc đầu, ở nước
Anh: 250.000 chim biển, dọc bờ biển Đại Tây Dương: 400.000 con
1.1.1 Ô nhiễm vật lý môi trường nước
Màu, mùi, vị nước tinh khiết không màu, không mùi, không vì Sự xuất hiệnmàu, mùi, vị của nước một mặt biểu thị thay đổi tính chất lý học của nước Tácđộng bất thường đến cảm quan, thẩm mỹ, mặt khác nó là dấu hiệu về sự thayđổi tính chất hóa học và sinh học của nước Cac yeu to nhu: Nhiệt độ
Độ trong, đục, chất rắn lơ lửng (SS)
Tổng chất rắn hoà tan (TDS), độ dẫn điện
Độ pH
Hậu quả ô nhiễm môi trường nước
Sự ô nhiễm môi trường nước thường gặp ở các nước đang phát triển và chậm phát triển trên thế giới Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1992 Nước ônhiễm gây ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900 triệu người mắc bệnh
Trang 15mỗi năm Cũng theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) trên toàn cầu có khoảng 1 tỷ người nhiễm giun đũa, 500 triệu người bị nhiễm giun tóc, 900 triệu người nhiễmgiun móc và khoảng 100.000 người chết hàng năm do các giun nói trên gây nên.
Riêng ở Việt Nam, theo Bộ Y tế, năm 2007 cả nước có 992.137 người dẫn nôngthôn bị bệnh tiêu chảy, 38.529 người mắc bệnh lỵ trực khuẩn, 3.021 người mắcbệnh thương hàn do sử dụng nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, trong đó88% trường hợp mắc bệnh là do thiếu nước sạch
Bên cạnh các bệnh về đường tiêu hóa như: tiêu chảy, lỵ ô nhiễm nguồn nướccòn gây bệnh thiếu máu, ung thư, bệnh về da Nguyên nhân chủ yếu do nguồnnước bị nhiễm kim loại nặng như chì, cadimi, asen, Hậu quả chung của tìnhtrạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người chết do các bệnh liên quan đến ô nhiễm nướcthu viêm màng kết tiêu chảy, ung thu ngày càng tăng lên Ngoài ra tỷ lệ trẻ em
từ vong tại các khu vực bị ô nhiễm nguồn nước là rất cao
Năm 2012, một kết quả nghiên cứu của Viện Blacksmith cho thấy những chốithái của việc khai khoáng, nấu cháy, chất thải công nghip và nhiều h chân độchai khác đi ảnh hưởng đến sức khỏe của 123 triệu nguồn ở 49 nước đang pháttriển
du lịch và đời sống sinh hoạt của ngư dân
Trang 162 Ô nhiễm môi trường không khí
2.1 Định nghĩa ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khi là kết quả đào thải vào khí quyển các loại khí, hơi, thu giọthay các chất khác thường không phải là thành phần của không khí hoặc có khi
là một loại khí thông thường những khi vượt khỏi nồng độ cho phép sẽ gây bấtlợi cho sinh vật và môi trường
2.2 Nguồn gốc ô nhiễm không khí
2.2.1 Nguồn gốc tự nhiên
- Núi lửa Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu sunfua, metan và những loại khí khác Không khi chứa bụi lan tỏa đi rất xa vì nóđược phun lên rất cao - Cháy rừng Các đám cháy rừng và đồng có bởi các quá trình tự nhiên xây ra do sấm chớp, cọ sát giữa thẩm thực vật khô như tre, cổ Các đám chảy này thường lan rộng, phát thải nhiều bụi và khí
- Bảo bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng
và gió thổi tung lên thành bụi Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bởi mang theo bụi muối lan truyền vào không khí
- Các quá trình phân hủy: thổi rửa xác động, thực vật tự nhiên cũng phái để gửi thải nhiều chất khi
- Các phản ứng hóa học giữa những khi tự nhiên: hình thành các sunfua, nitrit, các loại muối,
2.2.2 Nguồn gốc nhân tạo
Chủ yếu là do quá trình đốt cháy các nhiên liệu (gỗ củi, than đá, dầu mở khí đốt, ) sinh ra Nguồn gây ô nhiễm công nghiệp: Do hoạt động của các nhà máy nhiề điện, luyện kim, hóa chất, cơ khí, vật liệu xây dựng, công nghiệp dệt, giấy, chỉ biến thực phẩm Các chất thải ra có mức độ độc hại cao và tập trung
Nguồn gây ô nhiễm giao thông vận tải: Do hoạt động của các loại xe, tàu thuyền
có động cơ
Trang 17Các loại máy bay cũng gây ô nhiễm không khí đáng kể, đội biệt là các máy bay siêu âm còn gây hư hại tầng ozon
Nguồn gây ô nhiễm do hoạt động của con người Do hoạt động đun nấu sưởi ấmbằng than, củi, dầu hỏa hoặc khí đốt
Ngoài ra, không khí còn bị ô nhiễm do các chất phóng xạ, từ các cuộc thi vũ khí hạt nhân và sự rò rỉ chất phóng xạ của các nhà máy điện nguyên tử
2.3 Tác nhân gây ô nhiễm không khí
2.3.1 Dẫn xuất của C
CO2: xuất phát từ động cơ, các lò đốt nguyên liệu, lò sưởi
2.3.2 Dẫn xuất của S – SO2: nguồn gốc nhân tạo do đốt nhiên liệu, kỹ nghệ
cơ khí, khai thác dầu mỏ, động cơ,
- SO, là khí không màu, có vị cay, mùi khó chịu, dễ hòa tan trong nước
- Sinh ra bởi đốt các nhiên liệu hóa thạch có chứa lưu huỳnh
- Nguồn ô nhiễm SO, chủ yếu là đốt sinh khối thực vật (chảy rừng) - Trong
tự nhiên thì có nguồn gốc từ hoạt động núi lửa - H;S và R – SH: là chất gây mùi hôi khó chịu
- Chì (Pb): nguồn gốc từ Tetramethyl chỉ hay Tetramethyl chỉ pha vào
xăng để gây nổ lớn Khi thoát ra khỏi ống khói dù dưới dạng mây mù
gồm các hạt Oxit chì hay mubi chì
Trang 18- Thuỷ ngân (Hg): do kỹ nghệ khai thác quặng mỏ, thiêu đốt than (có chứa Thuỷ ngân là chất tạp), kỹ nghệ tạo chất kiềm, bảo quản hạt giống đã thải
ra một lượng lớn thuỷ ngân vào môi trường
2.3.5 Các chất lơ lỏng
- Trong thiên nhiên: bụi thực vật, bụi động vật, meo, mốc,
- Trong công nghiệp: bông vải, len, thuốc lá, mạt cưa, xi măng, - Các
2.4 Hậu quả và một số tác hại của ô nhiễm không khí
2.4.1 Đối với sức khỏe con người
Khi con người ở trong không khí có nồng độ CO khoảng 250 ppm sẽ bị th vong
vì CO kết hợp với hemoglobin làm giảm oxy trong máu
Khi hít phải khi SO2, thậm chí ở nồng độ thấp vẫn có thể gây ra co thắt, gây ratăng tiết nhầy ở thành đường hô hấp trên Ở nồng độ cao, SO, gây xuất hiệnnước nhầy và viêm tấy thành khí quán, làm tăng sức cẩn hai thông không khítrong hệ hô hấp và dẫn đến ngạt thở Khi SO, còn gây viêm, đục giác mạc.Nồng độ 50mg/1 gây họ, kích thích hô hấp; 130mg/1 gây nguy hiểm nếu hút 30phút 1000 mg/l Sẽ chết trong 30 phút
Khí NO, với nồng độ 100ppin có thể làm chết người chỉ vài phút Nồng độSppm có thể gây tác hại bộ máy hô hấp sau mấy phút tiếp xúc Nồng độ 15.50ppm gây nguy hiểm cho tim, phổi, gan Nồng độ 0,06 ppm gây bệnh phổicho người tiếp xúc lâu dài Đây là loại khí gây nguy hại cho nhiều người
Trang 19Bụi gây tổn thương cho mắt và hệ tiêu hóa Bụi ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân lao động trực tiếp và dân sống trong khu vực lân cận, làm giảm độ trong suốt của khí quyển gây tai nạn cho những phương tiện giao thông
Ozon gây tác động kích thích đường hô hấp và xâm nhập vào sâu hơn vào trong phổi so với SO, Ở người, khi hát phải Oy, có thể gặp vài dấu hiệu trong giai
đoạn đầu của viêm phế quản mãn tính Ở nồng độ cao, O, có thể gây phù phổi cấp
2.4.2 Đối với động vật và thực vật
Các chất ô nhiễm không khi xâm nhập vào cơ thể động vật qua hai con đường
là hô hấp và tiêu hóa – Khí SO, gây tổn thương mô trên bộ máy hô hấp, gây bệnh khí thũng và suy tim - Khí CO làm giảm khả năng trao đổi và vận
chuyển oxy của hồng cầu
- Khí HF gây viêm khí quản, viêm phổi ở chuột và thỏ
- NH, gây bệnh vàng xoắn lá ở cây
- Khí SO, thâm nhập vào các mô của cây, tác dụng với nước tạo thànhH,SO, gây tổn thương tế bào và làm giảm khả năng quang hợp
–Bụi làm giảm độ truyền suốt của ánh sáng qua lá cây, làm giảm quá trình hô hấp của lá, ngăn cản quá trình thoát hơi nước ở lá cây
–Rất nhiều loại cây ăn trái rất mẫn cảm với khí Cl
2.4.3 Đối với các công trình
Khí ô nhiễm làm phai màu tác phẩm hội họa, ăn mòn các công trình kiến trúcnghệ thuật SO, gây ăn mòn kim loại: điều kiện không khí ẩm –> muối sufattrên bề mặt vật liệu —> hen gì các công trình kim loại
Bụi bám trên các thiết bị điện, công tắt, cầu dao, làm cho mạch không thông suốt khi đông điện Bụi chứa các hợp chất ăn mòn kim loại, khi gặp ẩm bụi có thể trở thành vật dẫn điện và gây ra hiện tượng phóng điện
2.5 Tác hại điển hình của ô nhiễm không khí 2.5 1 Hiệu ứng nhà kính
Hiệu ứng nhà kính trong trường hợp không khí bình thường không bị ô nhiễm
có vai trò quan trọng đối với đời sống sinh vật, vì nhờ đó ban đêm không khí mới được sưởi nóng để có nhiệt độ khoảng 15°C, nếu không có hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì nhiệt độ Trái đất vào ban đêm là -18°C
Trang 20Hiện nay, sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và tiếp theo là sản xuất côngnghiệp và các hoạt động khác của loài người đang làm cho nồng độ CCO củakhí quyển tăng lên Chính sự gia tăng khí CO, và các khí nhà kính khác (khíCFC và NO, gây ra hậu quả nhiều gấp 10 lần so với CO, hoặc CH, với cùngmột khối lượng) đã dẫn đến sự gia tăng hiệu ứng nhà kính Vai trò gây nên sựgia tăng hiệu ứng nhà kính của các chất khi được xếp theo thứ tự như sau: CO,(47%) CFC (19%), CH, (15%), NO, (12%) và O3
Sự gia tăng nhiệt độ Trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tớinhiều mặt của môi trường Trái đất Nhiệt độ Trái đất tăng sẽ làm băng tan, mựcnước biển dâng cao, gây ra lũ lụt cũng như hạn hán ở nhiều nơi Như vậy, nhiềuvùng sản xuất lương thực trù phủ, các khu đông dân cư, các đồng bằng lớn,nhiều đảo thấp sẽ bị chìm dưới nước biển
Sự nóng lên của Trái đất làm thay đổi điều kiện sống bình thường củacác sinh vật trên Trái đất Một số loài sinh vật thích nghi với điều kiện sốngmới sẽ thuận lợi phát triển Trong khi đó nhiều loài bị thu hẹp về diện tíchhoặc bị tiêu diệt
Khí hậu Trái đất sẽ bị biến đổi sâu sắc, các đới khí hậu có xu hướng thay đổi.Toàn bộ điều kiện sống của tất cả các quốc gia bị xáo động Hoạt động sảnxuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nhiềuloại bệnh tật mới đối với con người xuất hiện và các loại dịch bệnh lan tràn,sức khỏe của con người bị suy giảm
2.5.2 Mưa axit
Khi trời mưa các hạt này hòa tan vào trong nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hòa tan được một số bụi kim loại và oxit kim loại có trong không khi như oxyt chì, làm cho nước mưa trở nên độc hơn đối với cây trồng, vật nuôi và con người
2.5.3 Thủng tầng ozon
Các hoạt động của con người phá hủy tầng ozon chủ yếu là: sử dụng CFC, động
cơ phản lực siêu thanh và nổ vũ khí hạt nhân
Khí CFC dùng trong máy lạnh, tủ lạnh, máy điều hòa không khí và các bìnhxịt (keo xịt tóc, chống mùi) Khi CFC bị phân giải bởi tia cực tím (UV) trong
Trang 21tầng bình lưu, tạo ra gốc CI tự do Gốc C1 tự do có thể phản ứng với ozon,làm tầng ozon mỏng đi
Các máy bay phản lực siêu thanh và các vụ nổ hạt nhân thải ra oxyt nitric Khi này phản ứng với ozon để tạo ra dioxit nitrogen và oxygen
Ngoài ra phân đạm sử dụng trong nông nghiệp cũng có thể chuyển thành khi oxyt nitric thoát lên tầng bình lưu để phản ứng với phân tử ozon
2.6 Ví dụ
Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí đang là vấn đề nhức nhối của thế giới
và Việt Nam cũng không là ngoại lệ Theo Báo cáo thường niên về chỉ số môi trường (The Environmental Performance Index - EPI) do tổ chức Môi trường
Mỹ thực hiện, Việt Nam chúng ta là một trong 10 nước ô nhiễm môi trường không khí hàng đầu Châu Á Tiêu biểu là ô nhiễm bụi (PM 10, PM 2.5)
Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là nơi bị ô nhiễm không khínặng nhất của cả nước, có nhiều thời điểm bụi mịn (PM 2.5) bao phủ cả bầutrời làm hạn chế tầm nhìn, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người dân Tính đến tháng 2/2020, Việt Nam có gần 3,6 triệu xe ô tô và hơn 45 triệu xemáy Các phương tiện này là nguyên nhân lớn nhất gây ra ô nhiễm không khítại nước ta Từ năm 2010 - 2017, nồng độ bụi PM2.5 luôn có xu hướng tăngmạnh Từ năm 2019 đến nay, tình trạng cao điểm ô nhiễm khí xảy ra rất thườngxuyên tại các thành phố lớn cả nước Điển hình là Thành phố Hà Nội và Thànhphố Hồ Chí Minh Chỉ số báo cáo chất lượng không khí hàng ngày (Air QualityIndex - AQI) tại các thành phố này dao động trong mức 150 - 200, đây là mứcbáo động rất nguy hiểm
3 Ô nhiễm môi trường đất
3.1 Định nghĩa ô nhiễm
đất
Ô nhiễm đất là do con người thải vào môi trường đất các loại hóa chất trongnông nghiệp, hay các chất thải đa dạng khác Trong những chất thải mây, có
Trang 22những chất khó bị phân hủy hay không bị phân hủy bởi các vi sinh vật, đặc biệt
là những chất phóng xạ
3.2 Nguồn gốc ô nhiễm đất 3.2 1 Do hoạt động sản xuất nông nghiệp
Sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học độc, thuốc diệt cỏ, diệt nấm, (có chứacác kim loại và á kim)
Phân bón hóa học và thuốc kích thích sinh trưởng có khả năng tạo ra năng suấtcây trồng cao và gia tăng sản lượng lương thực và thực phẩm Theo tài liệu củaIFA (2012), giai đoạn từ 1961 đến 2011, khi dân số tăng từ 3 tỷ người lên gần 7
tỷ người thì sản lượng ngũ cốc cũng tăng từ khoảng 0,9 tỷ tấn lên trên 2,5 tỷ tấn
và sản lượng tiêu thụ phân bón cũng tăng từ 30 triệu tấn dinh dưỡng K,C lên 176 triệu tấn
N-P-O.-Lượng phân bón vô cơ được sử dụng trung bình trên 1 hạ năm 2010 tại Việt Nam vào khoảng 140-150 kg/ha, chỉ tương đương 34% so với Hàn Quốc và 50% so với Trung Quốc là các nước có nền nông nghiệp phát triển hơn Tuy nhiên, so với Thái Lan hay Indonesia, tỷ lệ sử dụng phân bốn bình quân/đơn vị diện tích của Việt Nam vẫn cao hơn khá nhiều
3.2 2 Ô nhiễm đất do hoạt động sản xuất công nghiệp
Do thải vào đất các chất thải công nghiệp như: xỉ than, kim loại, nhựa dẻo, nylông, các hóa chất, chất hữu cơ trong nước thải công nghiệp
Hoạt động công nghiệp hiện nay là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất nghiêm trọng, thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Tạo ra các chất thải công nghiệp chứa nhiều tác nhân ô nhiễm như: kim loại nặng, các loại dầu mỡ bôi trơn, hóa chất độc hại, tác nhân phóng xạ
Ví dụ: nước thải của nhà máy pin Văn Điển chứa Zn, Hg, Cd gây ô nhiễm đất trồng rau khu vực xung quanh nhà máy
- Khí thải của các nhà máy công nghiệp và các tuyến giao thông chứa các bụi kim loại như Pb, SO, và các hóa chất độc hại cũng làm ô nhiễm đất
và các thành phần môi trường khác dọc theo tuyến giao thông và khu vực bao quanh nhà máy
Trang 233.2 3 Ô nhiễm đất do các vi sinh vật gây bệnh
Do các chất thải trong sinh hoạt và hoạt động nông nghiệp đi vào môi trườngđất thường mang theo nhiều vi khuẩn gây bệnh như trực khuẩn lỵ, thương hàn,phẩy khuẩn tả, hoặc bào tử nấm bệnh, trứng giun, sản,
3.3 Hậu quả của ô nhiễm đất
Đất được xem là nơi lưu giữ các mầm bệnh Các ký sinh trùng gây bệnh như giun, sán hay nấm bệnh được truyền vào cơ thể người và động vật qua môi trường đất
Những chất thải công nghiệp như nhựa dẻo, nylông, xỉ than, xỉ sắt, gây hậu quả nghiêm trọng cho đất, vì chúng chậm phân hủy hoặc không phân hủy Các chất hóa học, sau khi được sử dụng sẽ để lại trong đất các nguyên tố Cd,
Cu, Pb, Zn, tích tụ trên lớp đất mặt, làm cho đất bị thoái hóa, chai cứng, giảm diện tích đất canh tác
Đa số phân bón nitrat, phosphat đều chứa những chất do không thể bỏ hết vì muốn giữ giá thành sản phẩm thấp, do đó chúng ta thường gặp vết kim loại và hoá chất như: As, Cd, Cu, Pb, Zn, Do vậy, sau khi dùng phân hoá học một thời gian những chất này sẽ tích tụ trên lớp đất mặt làm đất bị chai xấu, thoái hoá, không canh tác tiếp tục được
Thuốc trừ sâu diệt cốc tuy thuốc trừ sâu diệt có đã mang lại lợi ích nhất định chocon người, nhưng nó đã làm ảnh hưởng bất lợi cho môi trường và một số thuốc trừ sâu không những chỉ tiêu diệt cả những loài không phải là đối tượng làm ảnhhưởng đến toàn hệ sinh thái, các hoá chất trừ sâu diệt cỏ còn tồn tại lâu trong đất
và gây tích tụ sinh học Một số chất còn bị nghi là nguyên nhân gây bệnh ung thư
3.4 Ví dụ
Theo báo cáo và đánh giá của Cục Môi trường Việt Nam, chất lượng đất đai tạicác khu vực đô thị của Việt Nam hầu hết đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.Nguyên nhân lý giải cho điều này là do lượng chất thải từ các hoạt động côngnghiệp, xây dựng và sinh hoạt bị xả bừa bãi ra ngoài môi trường
Trang 24Ô nhiễm đất ở Việt Nam giờ đây không chỉ diễn ra ở các khu vực thành thịđông dân cư mà còn lan rộng ra cả các vùng nông thôn, điển hình là 2 thànhphố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
Tại Hà Nội, ô nhiễm môi trường đất chủ yếu là do các hàm lượng kim loạinặng từ quá trình sản xuất công nghiệp, nhất là ở những khu vực đô thị và cáclàng nghề như An Khánh, Làng nghề dệt vải Hà Động, Khu đô thị Nam ThăngLong,
Tại TP Hồ Chí Minh, vấn đề ô nhiễm môi trường đất cũng không được mấytích cực hơn Hàm lượng chất thải từ sản xuất, sinh hoạt, nông nghiệp, vẫncòn rất khá cao Tại Hóc Môn, theo một khảo sát mà chúng tôi được biết thìtrong một vụ trồng rau, lượng thuốc bảo vệ thực vật được phun ra ngoài khoảng
10 - 25 lần
Theo tính toán như vậy, trong 1 năm thì lượng thuốc sử dụng cho khoảng 1 hađất sẽ có thể đạt tới mức 100 - 150 lít Ở các khu vực công nghiệp của TP HồChí Minh, lượng nước thải mỗi ngày xả ra ngoài môi trường có thể đạt tới600.000 m3
4 Ô nhiễm phóng xạ
4.1 Định nghĩa
Ô nhiễm phong xa là việc chất phóng xạ nằm trên các bề mặt, hoặc trong chấtrắn, chất lỏng hoặc chất khi (kể cả có thể con người), nơi mà sự hiện diện củachúng là ngoài ý muốn hoặc không mong muốn, hoặc quá trình gia tăng sựhiện diện của các chất phóng xạ ở những nơi như vậy
Công nghiệp ngày nay đang phát triển với một quy mô rộng lớn với một vận tốcvượt bậc Sau cuộc khủng hoảng đầu hoà năm 1970, các nước Châu Âu đangđẩy mạnh chương trình phát triển năng lượng hạt nhân, trong khi đó sự ô từ cácchất phóng xạ rất nguy hiểm mà sự phòng ngừa vẫn chưa bảo đảm Điều đặcbiệt là chất phóng xạ không bị tiêu huỷ hay vô hiệu hoá bởi người, mà nó tựphân huỷ theo thời gian, do đó không thể loại trừ chất phóng xạ khi bị nhiễm
4.2 Các nguồn phát sinh
Sự ô nhiễm chất phóng xạ có nguồn gốc chủ yếu từ các vụ thử vũ khí hạt nhân
và các công nghệ sử dụng năng lượng hạt nhân, hoặc sự rò rĩ phóng xạ từ các
Trang 25nhà máy hạt nhân Chẳng hạn như vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl ởUraina được coi là vụ tai nạn hạt nhân nghiêm trọng nhất trong lịch sử sử dụngnăng lượng hạt nhân Do không có tường chắn đám mây phóng xạ tung lên từnhà máy đã lan rộng nhiều vùng, dẫn đến việc sơ tán và tái định cư cho 336000người Nhà máy điện hạt nhân
Futushima Daiichi ở Nhật bị nổ ngày 14/3/2011 đã gây ra những thiệt hại rất lớn
về người và vật chất,
- Các cơ sở sản xuất chất phóng xạ như: mở Uran, nhà máy xử lý quặng Uran, nhà máy khai thác Uran, tách các đồng vị Uran, các lò phản ứng pin nguyên tử và các trung tâm nghiên cứu, các nhà máy sản xuất plutoni,các trung tâm điện lực hạt nhân, các nhà máy khai thác, phòng nghiên cứu hay xưởng sản xuất các nguyên tố phóng xạ từ các nhiên liệu phóng
xạ
- Trong công nghiệp: đo độ dày, tỉ trọng, độ ẩm, các kỹ thuật này sử dụng chủ yếu tính đâm xuyên của tia phóng xạ; chụp bằng tia gamma để xác định cấu trúc bên trong của một vật đặc bằng kim loại, gỗ, bê tông và phát hiện những bất thường về cấu trúc và các mối hàn; dùng phóng xạ làm chất chỉ thị
- Trong sinh học và sinh hoá học, các nguyên tố phóng xạ được sử dụng Làm chất chỉ điểm để nghiên cứu các hiện tượng sinh lý động vật hay thực vật
- Trong y học nguyên tố phóng xạ được dùng trong 3 lĩnh vực chính: áp dụng phóng xa trong chẩn đoán, thăm dò chức năng; áp dụng tia phóng
xạ ngoại chiếu trong điều trị nhằm phá các tổ chức bệnh lý, đặc biệt là ung thư
- Trong nông nghiệp, dùng phóng xạ để nghiên cứu các hiện tượng sinh lý thực vật và sự sinh sản, các biến đổi thực vật, phân bón, hoá chất trừ sâu, diệt nấm
Trang 264.3 Tác hại của tia phóng xạ đối với cơ thể
Chất phóng xạ ngày càng được sử dụng trong y khoa, kỹ nghệ canh nông Nhàmáy điện nguyên tử, Bên cạnh những lợi ích đối với con người, chất phóng xạmột khi bị thải ra một cách ồ ạt sẽ có ảnh hưởng tai hại Tuy vào lượng chấtphóng xạ, tính chất lý học, thời gian tiếp xúc, tuổi sinh vật, vị trí phân loạisinh vật, Khi có sự tiếp xúc chất phóng xạ sẽ gây thiếu máu, loét da, giảmbạch cầu, rối loạn thần kinh, ung thư, biển dị di truyền,
Ảnh hưởng cấp tính
- Gây rối loạn hệ thần kinh trung ương đặc biệt là ở não, nhức đầu, buồn nôn, khó ngủ,
- Ở chỗ tia phóng xạ chiếu sẽ bị bỏng hoặc tấy đỏ
- Ảnh hưởng đến cơ quan tạo máu: gây thiếu máu, làm giảm khả năng chống bệnh nhiễm trùng
- Cơ thể gầy yếu, suy nhược cơ thể
Ảnh hưởng mãn tính - Gây suy nhược thần kinh, cơ thể,
rối loạn cơ quan tạo máu
- Có thể dẫn đến hiện tượng đục mắt, ung thư da, xương
- Xảy ra các bệnh ngẫu biến di truyền, các bệnh bẩm sinh cho thế hệ mai sau
4.4 Ví dụ
Sân bay A So, xã Đông Sơn huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế là
"điểm nóng" với mức độ ô nhiễm dioxin rất cao Theo Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnhThừa Thiên Huế, kết quả khảo sát của một số dự án cho thấy, diện tích ô nhiễmdioxin tại khu vực sân bay A So ước tính khoảng 5 ha, chiều sâu ô nhiễm trungbình 0,7 m, tổng khối lượng trầm tích cần xử lý 35.000 m3, trong đó 6.600 m3đất nhiễm có nồng độ ô nhiễm trên 200 ppt
Trang 27Nguyên nhân do trước đây, khu vực này quân đội Mỹ dùng làm sân bay dã chiến, tàng trữ, nạp chất diệt cỏ lên máy bay để đi phun rải và tẩy rửa máy bay sau khi phun Chất độc dioxin đã thấm sâu vào đất, làm nhiễm độc nguồn nước
Nỗ lực xử lý đất bị nhiễm đioxin để đem lại màu xanh cho vùng đất này đang được gấp rút triển khai
5 Ô nhiễm chất thải rắn
5.1 Định nghĩa
Chất thải rắn là rác do con người thải ra sau khi sử dụng những sản phẩm lấy từ thiên nhiên, hoặc đã qua quá trình chế biến, xử lý của con người
5.2 Tình hình rác thải sinh hoạt tại Việt Nam hiện nay
Theo Cục bảo vệ Môi trường (2008), Lượng chất thải sinh hoạt tại các độ hị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm ăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở ông, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các ở thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12.5%) Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh rác thải sinh hoạt tăng đồng đều hàng năm và với tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) Tổng lượng phát sinh rác thải sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một số
đô thị loại IV và các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên
cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó rác thải phát sinh từ các hộ gia đình nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Tỉnh theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế -
xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng rác thải phát sinh lớn nhất tới2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh rác thải các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh rác thải sinh hoạt đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc Bộ có lượng phát sinh rác thải sinh hoạt
đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07% ), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh rác thải sinh hoạt độ thị
là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%)
Trang 28Đô thị có lượng rác thải sinh hoạt phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh (5.500tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng rác thải sinh hoạt phát sinh
ít nhất là Bắc Kạn- 12,3 tấn/ngày; thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20tấn/ngày; thành phố Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; thành phố Yên Bái 33,4 tấn/ngày
Các đô thị có tỷ lệ phát sinh rác thải sinh hoạt tính bình quân đầu người thấp nhất là thành phố Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày, thị xã Gia Nghĩa
0,35kg/người/ngày; thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày; thị xã Cao Bằng0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính.trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg/người/ngày
Với kết quả điều tra thống kê như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh rác thải sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủythích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt gây ra
Trang 295.3 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
5.3.1 Rác thải sinh hoạt
Bao gồm rác thải từ các khu dân cư, xuất phát từ sinh hoạt của con người
5.3.2 Rác thải nông nghiệp
Là các chất hữu cơ trong nông nghiệp, chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số khối lượng rác thải Rác thải nông nghiệp bao gồm:
- Các sản phẩm thải bỏ trong nông nghiệp: lúa, bắp, khoai bị ủng, vỏ trấu, rơm rạ, phân, nước tiểu của gia súc,
- Các sản phẩm thải bỏ của những nhà máy thực phẩm, đồ hộp là những chấthữu cơ bản phân giải
5.3.3 Rác thải công nghiệp
Rác thải trở
Có thể tích lớn trong các loại rác thải Rác thái trợ bao gồm: rác thải ở vùng mỏ,
ở các công trình đá, ở những công trình xây dựng Rác thải trợ không gây độc hại, mà chỉ gây trở ngại cho sinh hoạt, giao thông, canh tác
Rác tạp
Là những rác thải sinh hoạt: bao nylông, vài, cao su, giấy, bìa, da, kim loại,
thủy tinh, Rác thải đặc biệt của công nghiệp
Loại rác thải này đặc trưng bởi sự có mặt của các yếu tố độc hại, với những nồng độkhác nhau, bao gồm: những rác thải không bị phân hủy sinh học, chất nổ, chất dễ chảy, chất ăn mòn, bả phóng xạ các yếu tố truyền nhiễm hay độc hại với môi trường
5.3.4 Rác thải y tế
Là chất thải ra từ quá trình điều trị, chuẩn đoán, chăm sóc và sinh hoạt trong môi trường bệnh viên bao gồm các thùng thu chất thải rắn, lỏng, khí
Phân loại chất thải y tế:
- Chất thải sinh hoạt
- Chất thải lâm sàng không sắc họn
- Các vật dụng sắc nhọn, dụng cụ y tế
- Các chất thải hóa học, phóng xạ
Trang 30- Nước thải tại các bệnh viện, trạm y tế, buồng giặt tại bệnh viện, phòng thínghiệm
- Khí thải bệnh viện
Chất thải y tế có đặc tính lý học, hóa học, sinh học và là hãng chất thải vô cùng nguy hại vì nó vừa là nguồn gây ô nhiễm môi trường vừa là nguồn gây bệnh, có thể làm lây lan dịch bệnh
5.4 Tác hại của chất thải rắn
5.4.1 Tác hại của chất thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người
Ô nhiễm chất thải sinh hoạt dã đến mức báo động Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn do chất thải rắn gây ra Đội ngũ lao động của các đơn vị làm vệ sinh đô thị phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, ô nhiễm nặng, cụ thể: nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 1,9 lần, khi độc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 0,5 đến 0,9 lần, các loại vi trùng, siêu vi trùng, nhất là trứng giun, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của họ
5.4.2 Ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị
Ngoài việc gây nguy hại đến sức khỏe con người thì rác thải sinh hoạt còn ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị Nó mang lại những hình ảnh không đẹp giữa lòng thành phố văn minh và hiện đại
5.4.3 Ảnh hưởng đến môi trường sống
Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thái vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng Ô nhiễm môi trường khi quyểntạo nên sự ngột ngạt và bụi sương mù Nó còn tạo ra các cơn mưa axit làm hủy diệt các khu rừng và các cánh đồng Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc như: CO;, đã gây hiệu ứng nhà kính Theo
nghiên cứu thì chất khi quan trọng gây hiệu ứng nhà kính là CO2, nó đóng góp
Trang 3150% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, Chi là 13%, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3% Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ1,5– 3,5m
Khối lượng CTRSH tăng đáng kể ở các địa phương có tốc độ đô thị hóa,công nghiệp hóa cao và du lịch như Thành phố Hồ Chí Minh (9.400 tấn/ngày), thủ đô Hà Nội (6.500 tấn/ngày), Thanh Hoá (2.175 tấn/ngày), HảiPhòng (1.982 tấn/ngày), Bình Dương (2.661 tấn/ngày), Đồng Nai (1.885tấn/ngày), Quảng Ninh (1.539 tấn/ngày), Đà Nẵng (1.080 tấn/ ngày) và BìnhThuận (1.486 tấn/ngày)
6
Trang 327 Ô nhiễm nhiệt
7.1 Nguồn gốc ô nhiễm nhiệt
Nhiệt độ cũng là tác nhân gây ô nhiễm, chúng ta không thể phóng thích nhiệt độmột cách bừa bãi vào mỗi trường mà không tính toán hậu quả Nguồn gốc ô nhiễm nhiệt do con người làm thất thoát nhiệt trong quá trình đốt nhiên liệu ở lòhơi, lò nung hay thải nhiệt từ các quy trình công nghệ, như sản xuất điện Ngày nay, do sự phát triển các xí nghiệp nhiệt điện, nguyên tử và các hệ thống điều hoà không khí đã thải ra khí quyển một lượng lớn nhiệt, làm nóng khí quyển, gây ô nhiễm không khí, thủng tầng ozon,
Nhiệt sinh ra khi đốt nhiên liệu sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp thải vào môi trường, làm cho nước các dòng sông tăng lên do sự ô nhiễm nhiệt, khiến cho hàm lượng
O, trong nước giảm, sự hô hấp của sinh vật bị ảnh hưởng, phản ứng sinh hoá trong cơ thể sinh vật bị xáo trộn làm cho sinh vật không phát triển được hoặc bị chết
7.2 Tác động của ô nhiễm nhiệt 7.2.1 Ô
nhiễm nhiệt trong môi trường không khí
Chủ yếu tác động đến sức khỏe công nhân làm việc ở vùng nhiệt độ cao, nhưbên cạnh lò luyện kim, lò hơi, Nhiệt độ cao làm biến đổi sinh lý cơ thể conngười như: thải nhiều mồ hôi, mất nhiều muối khoáng và một số vitamin Nhiệt độ cao khiến cho tim làm việc nhiều hơn, chức năng của thận và hệthần kinh trung ương bị ảnh hưởng Gần nguồn nhiệt, công nhân còn chịu tácđộng của bức xạ nhiệt làm giảm sức khỏe
Hiện nay khi nền công nghiệp phát triển ngày càng cao kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng càng nhiều và hậu quả là nhiệt thải ra môi trường càng tăng Ônhiễm nhiệt làm thay đổi khí hậu của vùng nhất là vùng có đô thị, các khu công nghiệp phát triển
6.2 2 Ô nhiễm nhiệt trong môi trường nước
Nhiệt độ trong môi trường nước tăng lên gây tác hại cho các vùng sinh vật ở nước Khi nhiệt độ tăng, hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm Nhiệt độ quá 40C đe dọa đời sống sinh vật
Trang 337.3 Ví dụ
Năm 2016, người dân miền Trung và miền Nam Việt Nam đã trải qua đợthạn hán và xâm nhập mặn lớn nhất trong lịch sử 90 năm vừa qua, ảnh hưởng tớihơn 50 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó 18 tỉnh phải thông báo tình trạngkhẩn cấp Trong đợt nắng nóng năm 2019 ở Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh), nhiệt
độ đo được ngày 20 tháng 4 là 43,4°C, mức cao nhất trong lịch sử quan trắc củaViệt Nam đến nay Năm 2020, nền nhiệt độ trung bình tháng phổ biến cao hơntrung bình nhiều năm từ 0,5 - 1,5°C; đặc biệt, trong tháng 3 và tháng 4, nhiệt độtrung bình tháng cao hơn so với trung bình nhiều năm từ 1,6 - 3,0°C Trong đó,đợt nắng nóng đặc biệt gay gắt trên diện rộng gần đây nhất diễn ra từ ngày 20đến 21 tháng 5 với nhiệt độ phổ biến từ 38 - 40°C, có nơi cao hơn như tại HàĐông (Hà Nội) với nền nhiệt lên ngưỡng 40,