1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CÂU HỎI ÔN TẬP CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

15 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa Việt Nam
Thể loại Ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 398,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÔN TẬP CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM 1 Những đặc trưng âm tính gốc nông nghiệp của văn hóa Việt Nam (Trang 22 24) Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư đ.

Trang 1

ÔN TẬP CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

1 Những đặc trưng âm tính gốc nông nghiệp của văn hóa Việt Nam (Trang 22-24)

- Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch

- Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp

với thiên nhiên Người Việt Nam mở miệng là nói: “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…

- Con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình Hàng xóm cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình Lối sống trọng tình cảm tất yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng người phụ nữ

- Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lí sống Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; Đi với Bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy…

2 Đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Việt Nam (Trang 22-24)

- Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch

- Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp

với thiên nhiên Người Việt Nam mở miệng là nói: “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…

- Vì nghề nông, nhất là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên (Trông trời, trông đất, trông mây; Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…) cho nên về mặt nhận thức, hình thành lối tư duy tổng hợp Tổng hợp kéo theo biện chứng- cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng Người Việt tích lũy được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống,…

- Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu Lối sống trọng tình cảm yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ

- Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lí sống: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài,…

- Sống tình cảm, con người còn phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí coi trọng cộng đồng, tập thể Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể đứng sau

- Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn giáo mà, ngược lại, mọi tôn giáo thế giới đều được tiếp nhận

- Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi khi thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, ông cha ta thường dừng lại chủ động cầu hòa, “trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự

3 Những biểu hiện của tính chất hòa hợp với thiên nhiên trong văn hóa gốc nông nghiệp Việt Nam

- Trong nhận thức, quan niệm: người Việt xem tự nhiên là một đấng tối cao Do sống phụ thuộc tự nhiên nên có

ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên Biểu hiện: người Việt thường nói “Trông trời, trông đất, trông mây/ Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm… Bằng chứng cụ thể: chọn nơi ở, lối kiến trúc, sản xuất theo mùa vụ, biết sống chung với các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt…

- Trong sản xuất vật chất: Nền sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Biểu hiện là tính thời vụ (Tháng một là tháng trồng khoai/ Tháng hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà/ Tháng Tư cày vỡ ruộng ra…)

- Trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng, lễ hội: Biểu hiện rõ rệt nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:

Trang 2

+ Tôn thờ các hiện tượng tự nhiên: các bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp, thần Không gian, thần Thời gian; (Trong các

vị thần: Thần Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông ,thì thần Mặt Trời là quan trọng nhất, có mặt trên tất cả các trống đồng)

+ Tôn thờ động vật và thực vật: Thờ các con vật hiền lành gần gũi với cuộc sống nông nghiệp như trâu, cóc, chim, rắn, cá sấu, (thậm chí đẩy lên thành mức biểu trưng như Tiên, Rồng: tổ tiên người Việt thuộc “họ Hồng Bàng”, có nghĩa làmột loài chim nước lớn, thuộc giống “Rồng Tiên” ); Thờ cây: Thần Lúa, Mẹ Lúa, Hồn Lúa; cây Đa, cây Cau, cây Gạo, cây Bầu…

+ Có các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té nước, lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa, lập Đàn Nam Giao (tế Trời), Đàn Xã Tắc (tế đất)

4 Chứng minh văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trồng trọt điển hình

- Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch Do sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp với thiên nhiên Người Việt Nam mở miệng là nói: “lạy trời”, “nhờ trời”,

“ơn trời”…

- Về mặt nhận thức, hình thành lối tư duy tổng hợp Tổng hợp kéo theo biện chứng- cái mà người nông nghiệp quan tâm không phải là các yếu tố riêng rẽ, mà là những mối quan hệ qua lại giữa chúng Người Việt tích lũy

được một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ này: Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Ráng

mỡ gà, ai có nhà phải chống,…

- Về mặt tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu Lối sống trọng tình cảm yếu dẫn đến thái độ trọng đức, trọng văn, trọng phụ nữ

- Lối tư duy tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo cân nhắc của người làm nông nghiệp cộng với nguyên tắc trọng tình đã dẫn đến lối sống linh hoạt, luôn biến báo cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, dẫn đến triết lí sống: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài,…

- Sống tình cảm, con người còn phải biết tôn trọng và cư xử bình đẳng, dân chủ với nhau Lối sống trọng tình và cách cư xử dân chủ dẫn đến tâm lí coi trọng cộng đồng, tập thể Người nông nghiệp làm gì cũng phải tính đến tập thể, luôn có tập thể đứng sau

- Trong lối ứng xử với môi trường xã hội, tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt còn quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận: ở Việt Nam không những không có chiến tranh tôn giáo mà, ngược lại, mọi tôn giáo thế giới đều được tiếp nhận

- Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết sức mềm dẻo, hiếu hòa Ví dụ: Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi khi thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, ông cha ta thường dừng lại chủ động cầu hòa, “trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự

5 Đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt (trang 155-158)

- Xét về thái độ đối với việc giao tiếp, có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè

- Xét về quan hệ giao tiếp, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình

cảm làm nguyên tắc ứng xử: Yêu nhau yêu cả đường đi, Ghét nhau, ghét cả tông ti họ hàng

- Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá, Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình là những vấn đề người Việt thường quan tâm

- Tính cộng đồng còn khiến người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự: Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch rách cho thơm Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh

sĩ diện

- Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận

- Người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú

6 Phân tích đặc điểm về văn hoá giao tiếp và cách thức giao tiếp của người Việt (Trang 155-158)

Trang 3

- Về thái độ đối với việc giao tiếp có thể thấy đặc điểm của người Việt Nam là vừa thích giao tiếp, lại vừa rất rụt rè:

+ Do người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và rất coi trọng việc giữ gìn các mối quan hệ tốt với mọi thành viên trong cộng đồng, ví dụ: “Áo năng may năng mới, người năng tới năng thân” là nguyên nhân khiến người Việt Nam đặc biệt coi trọng giao tiếp và do vậy, rất thích giao tiếp Việc giao tiếp thể hiện ở hai điểm

• Từ góc độ chủ thể giao tiếp, thì người Việt Nam có tính thích thăm viếng Đã thân với nhau, thì dù cho hàng ngày có gặp nhau bao nhiêu lần đi nữa, lúc rảnh rỗi, họ vẫn đến thăm nhau

• Với đối tượng giao tiếp thì người Việt Nam có tính hiếu khách Có khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ người Việt, dù nghèo khó đến đâu, cũng cố gắng đón tiếp chu đáo và tiếp đãi thịnh tình, dành cho

khách tiện nghi tốt nhất, đồ ăn ngon nhất: Khách đến nhà chẳng gà thì gỏi

+ Đồng thời với việc thích giao tiếp, người Việt Nam lại có đặc tính hầu như ngược lại là rất rụt rè- điều mà những người quan sát nước ngoài rất hay nhắc đến Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách trái ngược nhau (thích giao tiếp và rụt rè) này bắt nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự trị Hai tính cách tưởng như trái ngược nhau ấy không hề mâu thuẫn với nhau vì chúng bộc lộ trong những môi trường khác nhau, chúng chính là hai mặt của cùng một bản chất Là biểu hiện cho cách ứng xử linh hoạt của người Việt Nam

- Về quan hệ giao tiếp, văn hóa nông nghiệp với đặc điểm trọng tình đã dẫn người Việt Nam tới chỗ lấy tình

cảm làm nguyên tắc ứng xử: Yêu nhau yêu cả đường đi, Ghét nhau, ghét cả tông ti họ hàng

+ Nếu nói khái quát, người Việt Nam lấy sự hài hòa âm dương làm trọng nhưng vẫn thiên về âm hơn, thì trong

cuộc sống, người Việt Nam sống có lí có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn: Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình Người Việt Nam luôn coi trọng tình cảm hơn mọi thứ ở đời Ai giúp mình một chút đều phải nhớ ơn, ai

bảo ban một chút đều tôn làm thầy

- Với đối tượng giao tiếp, người Việt Nam có thói quen ưa tìm hiểu, quan sát, đánh giá, Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia đình là những vấn đề người Việt thường quan tâm Đặc tính này là một sản phẩm của tính cộng đồng làng xã mà ra

+ Do tính cộng đồng, người Việt Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác, mà muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh Mặt khác, do lối sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều có những cách xưng

hô riêng, nên nếu không có đủ thông tin thì không thể nào lựa chọn từ xưng hô cho thích hợp được Biết tính

cách, biết người để lựa chọn đối tượng giao tiếp thích hợp: Chọn mặt gửi vàng

- Tính cộng đồng còn khiến người Việt Nam, dưới góc độ chủ thể giao tiếp, có đặc điểm là trọng danh dự: Tốt danh hơn lành áo; Đói cho sạch rách cho thơm

+ Chính vì quá coi trọng danh dự nên người Việt Nam mắc bệnh sĩ diện: Ở đời muôn sự của chung, Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi Ở làng quê, thói sĩ diện thể hiện trầm trọng qua tục lệ ngôi thứ nơi đình trung và tục chia phần Do danh dự (sĩ diện), các cụ già bảy tám mươi vẫn có thể to tiếng vơi nhau vì miếng ăn: Một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp

+ Lối sống trọng danh dự dẫn đến cơ chế tin đồn, tạo nên dư luận như một thứ vũ khí lợi hại bậc nhất của cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã Người Việt Nam sợ dư luận đến mức, như có nhà văn đã viết “chỉ dám dựa theo dư luận mà sống chứ không ai dám dẫm lên dư luận mà đi theo ý mình”

- Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận

+ Tính tế nhị khiến người Việt Nam có thói quen trong giao tiếp “vòng vo tam quốc”, không bao giờ mờ đầu trực tiếp, đi thẳng vào vấn đề như ở phương Tây Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải vấn xá

cầu diền, hỏi thăm nhà cửa ruộng vườn Cũng để đưa đẩy tạo không khí là truyền thống miếng trầu làm đầu câu chuyện

Trang 4

+ Lối giao tiếp ưa tế nhị, ý tứ là sản phẩm của lối sống trọng tình và lối tư duy trong các mối quan hệ Nó tạo

nên thói quen đắn đo cân nhắc kĩ càng khi nói năng: Ăn có nhai, nói có nghĩ; Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe

Chính sự đắn đo cân nhắc này khiến cho người Việt Nam có nhược điểm là thiếu tính quyết đoán

+ Tâm lí ưa hòa thuận khiến người Việt Nam luôn chủ trương nhường nhịn: Một sự nhịn là chính sự lành

- Xét về nghi thức lời nói, người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú

• Trước hết, đó là sự phong phú của hệ thống xưng hô Hệ thống xưng hô này có các đặc điểm:

+ Có tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), coi mọi người trong cộng đồng như bà con họ hàng trong một gia đình

+ Có tính chất cộng đồng hóa cao- trong hệ thống này, không có những từ xưng hô chung chung mà phụ thuộc vào tuổi tác, địa vị xã hội, thời gian, không gian giao tiếp cụ thể Cùng là hai người, nhưng cách xưng hô có khi đồng thời tổng hợp được hai quan hệ khác nhau: chú- con, ông- con, bác- em,…Lối gọi nhau bằng tên con, tên cháu, tên chồng, bằng cả thứ tự sinh (Cả, Hai, Ba, Tư, )

+ Thể hiện tính khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính) Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai đều cùng xưng em và cùng gọi nhau là chị

• Nghi thức trong các cách nói lịch sự cũng rất phong phú Do truyền thống tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung như của phương Tây Với mỗi trường hợp

có thể có một cách cảm ơn, xin lỗi khác nhau: Con xin chú (Cảm ơn khi nhận quà), Cháu được hôm nay

là nhờ cô đấy (Cảm ơn khi được giúp đỡ),…

7 Những biểu hiện của triết lí âm dương trên phương diện văn hóa ẩm thực của người Việt Nam

* Cơ sở triết lí của văn hóa ẩm thực người Việt: Quan niệm về ăn (Trang 187)

+ Người Việt rất coi trọng thức ăn, thức ăn đứng đầu trong các nhu cầu của con người như: ăn uống, ăn học, ăn chơi, ăn nói,…

+ Mọi hành vi của con người đều được ghép với ăn

+ Chú trọng đến quan hệ biện chứng âm dương

* Biểu hiện của triết lí hài hòa âm dương trong văn hóa ẩm thực

- Sự hài hòa âm dương của thức ăn: (Trang 197)

+ Để tạo nên những món ăn có sự cân bằng âm-dương, người Việt phân biệt thức ăn theo năm mức âm-dương, ứng với Ngũ hành: hàn (lạnh, âm nhiều=Thủy); nhiệt (nóng, dương nhiều = Hỏa); ôn (ấm, dương ít=Mộc); lương (mát, âm ít=Kim), và bình (trung tính= Thổ) Theo đó, người Việt tuân thủ nghiêm nhặt luật âm-dương

bù trừ và chuyển hóa khi chế biến Chẳng hạn: gừng đứng đầu vị nhiệt (dương) có tác dụng làm thanh hàn, giải cảm, cho nên được dùng làm gia vị đi kèm với những thực phẩm có tính hàn (âm) như bí đao, rau cải, cải bắp, cá…

- Sự hài hòa âm dương trong cơ thể: (Trang 197)

+ Để tạo nên sự quân bình dương trong cơ thể ngoài việc ăn các món chế biến có tính đến sự quân bình âm-dương, người Việt Nam còn sử dụng thức ăn như những vị thuốc để điều chỉnh sự mất quân bình âm-dương trong cơ thể Mọi bệnh tật do mất quân bình âm- dương; vì vậy, một người bị ốm do quá âm cần ăn đồ dương

và, ngược lại, ốm do quá dương cần ăn đồ âm để khôi phục lại sự thăng bằng đã mất Ví dụ: đau bụng nhiệt (dương) thì cần ăn những thứ hàn (âm) như chè đậu đen, nước sắc đậu đen (màu đen âm), trứng gà, lá mơ,…

- Sự hài hòa âm dương giữa con người với môi trường tự nhiên (Trang 198)

+ Việt Nam là xứ nóng (dương) cho nên phần lớn thức ăn đều thuộc loại bình, hàn (âm) Cơ cấu ăn truyền thống thiên về thức ăn thực vật (âm) và ít thức ăn động vật (dương) chính là góp phần quan trọng trong việc tạo nên

sự cân bằng giữa con người với môi trường Ví dụ: mùa hè nóng, người Việt thích ăn rau quả, tôm cá (là những thứ âm) hơn là mỡ thịt Khi chế biến, người ta thường luộc, nấu canh, làm nộm, làm dưa, tạo nên thức ăn có nhiều nước (âm) và vị chua (âm) vừa dễ ăn, dễ tiêu, vừa giải nhiệt

Trang 5

+ Xứ nóng (dương) phù hợp cho việc phát triển mạnh các loài thực vật và thủy sản (âm); xứ lạnh (âm) thì phù hợp cho việc phát triển chăn nuôi các loài động vật với lượng mỡ, bơ sữa phong phú (dương)- như vậy là tự thân thiên nhiên đã có sự cân bằng Do vậy, ăn theo mùa chính là đã tận dụng tối đa môi trường tự nhiên để phục vụ con người, là hòa mình vào thiên nhiên, tạo nên sự cân bằng giữa con người với môi trường

- Sự hài hòa âm dương giữa chủ thể với thời gian: (Trang 199)

+ Người Việt sành ăn còn phải biết chọn đúng thời điểm có giá trị (Cơm chín tới, cải vồng non, gái một con…)

Thời điểm có giá trị là lúc thức ăn đang trong quá trình âm dương chuyển hóa, đang ở trạng thái cân bằng hơn

cả, và vì vậy cũng là những thứ rất giàu dinh dưỡng- đó là các món ăn dạng bao tử: động vật có trứng lộn, nhộng, lợn sữa, chim ra ràng, ong non,…

- Sự biểu hiện âm dương ở tính mực thước: (Trang 194)

+ Tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bình âm-dương Nó đòi hỏi người ăn đừng ăn quá nhanh, quá chậm; đừng ăn quá nhiều, quá ít; đừng ăn hết, đừng ăn còn Ăn nhanh là người vội vàng thô lỗ, ăn chậm khiến người ta phải chờ; ăn nhiều, ăn hết là tham lam; ăn ít, ăn còn là chê cơm không ngon Khi ăn cơm khách, một mặt phải ăn cho ngon miệng để tỏ lòng biết ơn và tôn trọng chủ nhà, nhưng mặt khác, lại phải để

chừa một ít trong các đĩa đồ ăn để tỏ rằng mình không chết đói, không tham ăn Ví dụ: Tục ngữ có câu: Ăn hết

bị đòn, ăn còn mất vợ

- Sự hài hòa âm dương ở đồ uống- hút (Trang 190)

+ Đồ uống-hút truyền thống thì có trầu cau, thuốc lào, rượu gạo, nước chè, nước vối…

+ Ăn trầu cau là phong tục cực kì lâu đời ở Việt Nam, nó cũng phổ biến khắp Đông Nam Á cổ đại Tục ăn trầu cau tiềm ẩn triết lí về sự tổng hợp nhiều chất khác nhau: cây cau vươn cao là biểu tượng của trời (dương), vôi chất đá là biểu tượng của đất (âm); dây trầu mọc từ đất quấn quýt lấy thân cây, biểu tượng cho sự trung gian hòa hợp Sự tổng hợp biện chứng của âm-dương, tam tài ấy tạo nên một sự kết hợp hết sức hài hòa

+ Trong khi ăn trầu là thú vui chủ yếu của phụ nữ thì hút thuốc lào là thú vui chủ yếu của nam giới Thú hút thuốc xuất phát từ phương Tây chỉ có lửa (duy dương) thì thú hút thuốc lào của ta là cả một sự tổng hợp biện chứng của âm-dương, thủy- hỏa: Cái điếu (dùng để hút thuốc lào) bên dưới chứa nước điếu, bên trên có nõ điếu đựng thuốc; lửa (hỏa) đốt thuốc ở trên được rít, kéo xuống gặp nước (thủy) ở dưới; khói thuốc (dương) đi qua nước (âm) mà tạo nên tiếng kêu và đến miệng người hút, thấm vào từng tế bào cơ thể con người

8 Đặc trưng văn hóa gốc nông nghiệp thể hiện trong văn hóa ẩm thực?

(Tr.188) - Cơ cấu bữa ăn của người Việt thiên về thực vật trong đó, lúa gạo đứng đầu bảng Tục ngữ có những

câu như: “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, “Đói thì thèm thịt thèm xôi, hễ no cơm té là thôi mọi đường” Sau lúa gạo thì đến rau quả Nằm ở trong những trung tâm trồng trọt Đối với người Việt Nam thì đói ăn rau, đau uống thuốc là điều tất nhiên Đứng thứ ba trong cơ cấu và đứng đầu hàng thức ăn động vật của người Việt Nam là thủy sản- sản phẩm của vùng sông nước Ở vị trí cuối cùng trong cơ cấu bữa ăn Việt Nam mới là thịt Phổ biến như thịt gà, lợn (heo), trâu,…

(Tr.190) - Đồ uống- hút truyền thống thì có trầu cau, thuốc lào, rượu gạo, nước chè, nước vối,…Chúng hầu hết

đều là những sản phẩm cổ truyền của nghề trồng trọt ở Đông Nam Á

(Tr.192-193) - Tính tổng hợp trong cách chế biến đồ ăn: có bao nhiêu món ăn, có bao nhiêu người ăn thì có bấy

nhiêu cách tổng hợp thức ăn Hầu hết các món ăn Việt Nam đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp: rau này với rau khác, rau với các loại gia vị, rau quả với cá tôm…

+ Tính tổng hợp còn thể hiện ngay trong cách ăn Mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời của nhiều món: cơm, canh, rau, dưa, cá thịt, xào, nấu, luộc, kho…Suốt bữa ăn là cả một quá trình tổng hợp các món ăn Bất kì bát cơm nào, miếng cơm cũng đã là kết quả tổng hợp: trong một miếng ăn đã có đủ cả cơm-canh-rau-thịt…

+ Cách ăn tổng hợp của người Việt tác động vào đủ mọi giác quan: mắt, mũi, tai, miệng,…

+ Cái ngon được tổng hợp từ nhiều yếu tố: thời tiết, vị trí, bạn bè,…

Trang 6

(Tr.194) - Tính tổng hợp kéo theo tính cộng đồng Ăn tổng hợp, ăn chung, cho nên các thành viên của bữa ăn

liên quan và phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Vì vậy mà trong lúc ăn uống, người Việt Nam rất thích chuyện trò Tính mực thước thể hiện khuynh hướng quân bình âm dương: Đừng ăn quá nhanh, đừng ăn quá chậm, đừng ăn quá nhiều, quá ít, đừng ăn hết, đừng ăn còn

(Tr.195) Tính cộng đồng và tính mực thước trong bữa ăn thể hiện tập trung qua nồi cơm và chén nước mắm

Hai thứ đó là biểu tượng của tính cộng đồng trong bữa ăn, giống như sân đình và bến nước là biểu tượng cho tính cộng đồng nơi làng xã Nồi cơm ở đầu mâm và chén nước mắm ở giữa mâm còn là biểu tượng cho cái đơn giản thiết yếu: cơm gạo là tinh hoa của đất, mắm chiết xuất từ cá là tinh hoa của nước- chúng giống như hành Thủy và hành Thổ là cái khởi đầu và cái trung tâm trong Ngũ hành

(Tr.195-196) - Trong ăn uống của người Việt Nam, tính biện chứng thể hiện ở sự linh hoạt Tính linh hoạt của

người Việt Nam thể hiện rất rõ trong cách ăn Có bao nhiêu người ăn thì có bấy nhiêu cách tổng hợp khác nhau-

đó là cả một khuôn khổ rộng rãi đến kì lạ cho sự linh hoạt của con người Ví dụ nếu như trong một mâm cơm, ngoài nồi cơm và chén nước mắm ra, có 4 món ăn thì người ăn có thể có tất cả 14 khả năng lựa chọn cách ăn khác nhau: 1 cách ăn cả 4 món, 4 cách ăn 3 món,…

(Tr.196) + Tính linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn, người Việt Nam truyền thống chỉ dùng một thứ dụng

cụ là đôi đũa Đó là cách ăn đặc thù mô phỏng động tác của con chim nhặt hạt, xuất phát từ thói quen ăn những thứ không thể nào dùng tay bốc hoặc mó tay vào được (như cơm, cá, nước mắm,…) của cư dân Đông Nam Á, nơi có sẵn tre làm vật liệu

(Tr.199) + Tính biện chứng trong việc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải hợp thời tiết, phải đúng mùa,

mà người Việt Nam sành ăn còn phải biết chọn đúng bộ phận có giá trị (Chuối sau, cau trước; Đầu chép, mép trôi,…) đúng trạng thái có giá trị (Tôm nấu sống, bống để ươn…) đúng thời điểm có giá trị (Cơm chín tới, cải vồng non,…)

9 Tại sao nói văn hóa ẩm thực của người Việt mang đậm dấu ấn của văn hóa gốc nông nghiệp?

- Quan niệm về ăn và dấu ấn nông nghiệp trong cơ cấu bữa ăn của người Việt

+ Người Việt Nam nông nghiệp với tính thiết thực xem trọng việc ăn: Có thực mới vực được đạo Nó quan trọng tới mức Trời cũng không dám xâm phạm: Trời đánh tránh bữa ăn

+ Mọi hành động của người Việt đều lấy ăn làm đầu: ăn uống, ăn nói, ăn mặc, ăn học,…

+ Ngay cả khi tính thời gian cũng lấy ăn uống và cấy trồng làm đơn vị: làm việc gì nhanh thì trong khoảng giập

bã trầu, lâu hơn một chút là chín nồi cơm, còn kéo dài tới hàng năm thì là hai màu lúa,…

+ Cơ cấu bữa ăn của người việt bộc lộ rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước, thiên về thực vật Và trong thực vật thì lúa gạo đứng đầu bảng Tục ngữ có những câu như: “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, “Đói thì thèm thịt thèm xôi, hễ no cơm té là thôi mọi đường” Sau lúa gạo thì đến rau quả Nằm ở trong những trung tâm trồng trọt, Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức ấy, phong phú vô cùng Đối với người Việt Nam thì đói ăn rau, đau uống thuốc là điều tất nhiên Đứng thứ ba trong cơ cấu và đứng đầu hàng thức ăn động vật của người Việt Nam là thủy sản- sản phẩm của vùng sông nước Ở vị trí cuối cùng trong cơ cấu bữa ăn Việt Nam mới là thịt Phổ biến như thịt gà, lợn (heo), trâu,…

- Tính tổng hợp trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt:

+ Tính tổng hợp trong nghệ thuật ăn uống (ẩm thực) của người Việt trước hết thể hiện trong cách chế biến đồ

ăn Hầu hết các món ăn Việt Nam đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp: rau này với rau khác, rau với các loại gia vị, rau quả với cá tôm…Nói về cách chế biến tổng hợp, tục ngữ Việt Nam có một hình ảnh so sánh thật

dí dởm: Nấu canh suông ở truồng mà nấu!

+ Tính tổng hợp còn thể hiện ngay trong cách ăn Mâm cơm của người Việt Nam dọn ra bao giờ cũng có đồng thời của nhiều món: cơm, canh, rau, dưa, cá thịt, xào, nấu, luộc, kho…Suốt bữa ăn là cả một quá trình tổng hợp các món ăn Bất kì bát cơm nào, miếng cơm cũng đã là kết quả tổng hợp: trong một miếng ăn đã có đủ cả cơm-canh-rau-thịt

Trang 7

+ Cái ngon của bữa ăn người Việt tác động vào đủ mọi giác quan: mắt, mũi, tai, miệng,…Được tổng hợp từ nhiều yếu tố: thời tiết, vị trí, bạn bè,…

- Tính cộng đồng và tính mực thước trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt:

+ Tính tổng hợp kéo theo tính cộng đồng Ăn tổng hợp, ăn chung, cho nên các thành viên của bữa ăn liên quan

và phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Vì vậy mà trong lúc ăn uống, người Việt Nam rất thích chuyện trò

+ Tính cộng động đòi hỏi con người một thứ văn hóa cao trong ăn uống (ăn trông nồi, ngồi trong hướng): Vì

mọi người đều phụ thuộc lẫn nhau nên phải ý tứ khi ngồi và mực thước khi ăn Tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bình âm-dương Nó đòi hỏi người ăn đừng ăn quá nhanh, quá chậm; đừng ăn quá nhiều, quá ít; đừng ăn hết, ăn còn

- Tính linh hoạt, biện chứng trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt

+ Tính linh hoạt của người Việt Nam thể hiện rất rõ trong cách ăn Có bao nhiêu người ăn thì có bấy nhiêu cách tổng hợp khác nhau- đó là cả một khuôn khổ rộng rãi đến kì lạ cho sự linh hoạt của con người Ví dụ nếu như trong một mâm cơm, ngoài nồi cơm và chén nước mắm ra, có 4 món ăn thì người ăn có thể có tất cả 14 khả năng lựa chọn cách ăn khác nhau: 1 cách ăn cả 4 món, 4 cách ăn 3 món,…

+ Tính linh hoạt còn thể hiện trong dụng cụ ăn, người Việt Nam truyền thống chỉ dùng một thứ dụng cụ là đôi đũa Đó là cách ăn đặc thù mô phỏng động tác của con chim nhặt hạt, xuất phát từ thói quen ăn những thứ không thể nào dùng tay bốc hoặc mó tay vào được (như cơm, cá, nước mắm,…) của cư dân Đông Nam Á, nơi

có sẵn tre làm vật liệu

+ Biểu hiện quan trọng hơn cả của tính biện chứng trong việc ăn là ở chỗ người Việt Nam đặc biệt chú trọng đến quan hệ biện chứng âm-dương, bao gồm:

• Sự hài hòa âm dương của thức ăn:

Người Việt phân biệt thức ăn theo năm mức âm-dương, ứng với Ngũ hành: hàn (lạnh, âm nhiều=Thủy); nhiệt (nóng, dương nhiều = Hỏa); ôn (ấm, dương ít=Mộc); lương (mát, âm ít=Kim), và bình (trung tính= Thổ) Chẳng hạn: gừng đứng đầu vị nhiệt (dương) có tác dụng làm thanh hàn, giải cảm, cho nên được dùng làm gia vị đi kèm với những thực phẩm có tính hàn (âm) như bí đao, rau cải, cải bắp, cá…

• Sự quân bình âm dương trong cơ thể:

Để tạo nên sự quân bình dương trong cơ thể ngoài việc ăn các món chế biến có tính đến sự quân bình âm-dương, người Việt Nam còn sử dụng thức ăn như những vị thuốc để điều chỉnh sự mất quân bình âm-dương trong cơ thể Mọi bệnh tật do mất quân bình âm- dương; vì vậy, một người bị ốm do quá âm cần ăn đồ dương

và, ngược lại, ốm do quá dương cần ăn đồ âm để khôi phục lại sự thăng bằng đã mất Ví dụ: đau bụng nhiệt (dương) thì cần ăn những thứ hàn (âm) như chè đậu đen, nước sắc đậu đen (màu đen âm), trứng gà, lá mơ,…

• Sự quân bình âm dương giữa con người với môi trường tự nhiên

Việt Nam là xứ nóng (dương) cho nên phần lớn thức ăn đều thuộc loại bình, hàn (âm) Cơ cấu ăn truyền thống thiên về thức ăn thực vật (âm) và ít thức ăn động vật (dương) chính là góp phần quan trọng trong việc tạo nên

sự cân bằng giữa con người với môi trường Ví dụ: mùa hè nóng, người Việt thích ăn rau quả, tôm cá (là những thứ âm) hơn là mỡ thịt Khi chế biến, người ta thường luộc, nấu canh, làm nộm, làm dưa, tạo nên thức ăn có nhiều nước (âm) và vị chua (âm) vừa dễ ăn, dễ tiêu, vừa giải nhiệt

• Sự quân bình âm dương giữa cơ thể và mùa, tiết:

Tính biện chứng trong việc ăn uống không chỉ thể hiện ở việc ăn phải hợp thời tiết, phải đúng mùa, mà người Việt Nam sành ăn còn phải biết chọn đúng bộ phận có giá trị (Chuối sau, cau trước; Đầu chép, mép trôi,…) đúng trạng thái có giá trị (Tôm nấu sống, bống để ươn…) đúng thời điểm có giá trị (Cơm chín tới, cải vồng non,…)

10 Cấu trúc, bản chất và giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội cổ truyền người Việt?

* Cấu trúc lễ hội: Gồm 2 thành phần chính lễ và hội Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú

Trang 8

* Bản chất chung của lễ hội:

- Là tính chất thiêng do vậy nó thuộc thế giới thần linh, thiêng liêng, đối lập với đời sống trần gian, trần tục Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình

- Là sự sùng bái nhân vật lịch sử hoặc một vị thần thánh, qua đó giáo dục cách ứng xử có văn hóa của con người với thiên nhiên môi trường, với cội nguồn quá khứ, với con người

- Là nhu cầu trở về nguồn cội:

+ Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hoá Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”,

“ăn quả nhớ người trồng cây”

- Là sự giải thiêng

* Giá trị văn hóa tiêu biểu:

- Tính cộng đồng và sự cố kết cộng đồng:

+ Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề), cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ), cộng đồng dân tộc (hội Đền Hùng - quôc tế) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng

- Tính chất tự quản, tinh thần dân chủ, nội dung nhân bản:

+ Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh, do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong “thời điểm mạnh” của lễ hội, khi mà tất cả mọi người chan hoà trong không khí thiêng liêng, hứng khởi thì các cách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như được xoá nhoà, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá của mình

* Liên hệ (tích cực và tiêu cực)

- Tích cực:

+ Góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, củng cố niềm tin và tín ngưỡng dân gian, ý thức cộng đồng, hạn chế các tôn giáo ngoại lai làm mất bản sắc văn hoá dân tộc

+ Có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế ở nước ta

+ Tạo sự cân bằng trong đời sống tinh thần của cộng đồng trước xã hội hiện đại, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, lành mạnh

+ Nhiều yếu tố văn hóa tinh thần được lễ hội bảo lưu và trao truyền từ đời này sang đời khác, trở thành di sản văn hóa vô giá của dân tộc

- Tiêu cực:

+ Mê tín, dị đoan, rượu chè, cờ bạc , lợi dụng lễ hội để thu nhập không chính đáng

+ Là dịp làm ăn kiếm tiền cho nên tranh giành khách, nâng giá dịch vụ

+ Tình trạng ùn tắc giao thông, mất trật tự ở nhiều lễ hội lớn, gây nên cảnh chen lấn, trộm cắp, tệ nạn ăn xin đang gia tăng và biến tướng quậy phá, đeo bám khách du lịch Tình trạng xả rác bừa bãi ngay trong khu vực diễn ra lễ hội vẫn phổ biến

+ Một số lễ hội có xu hướng trần tục hóa, không còn giữ được tính thiêng của lễ hội

+ Việc dâng hương, đốt nhiều vàng mã gây tốn kém và ô nhiễm môi trường

11 Trình bày phong tục lễ Tết của người Việt (Trang 150-152)

Trang 9

- Chữ “Tết” biến âm từ chữ “Tiết” mà ra Các ngày lễ tết được phân bố theo thời gian trong năm, xen vào các khoảng trống trong lịch thời vụ

- Lễ tết gồm hai phần: phần cúng tổ tiên, thần linh (gọi là phần lễ) và ăn chơi bù lại cho những lúc làm lụng vất

vả Cho nên gọi là ăn tết

- Tết Nguyên Đán là quan trọng nhất Nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sáng Nó còn gọi là tết ra hoặc tết cả Đặc trưng văn hóa điển hình nhất của Tết Nguyên Đán là nếp sống cộng đồng Ví dụ: Nếp sống cộng đồng thể hiện

ở chỗ Tết là dịp duy nhất trong năm có sự sum họp đầy đủ của tập thể gia đình, gia tiên và gia thần

- Tết Nguyên Tiêu hay Tết Thượng Nguyên (Rằm tháng Giêng): là ngày Thiên Quan Tiếp Phước Trước đây, người Việt còn làm lễ vía Trời ngày Mồng 9 tháng Giêng và vía Đất ngày Mồng 10 tháng Giêng

- Tết Hàn Thực (Mồng 3 tháng 3): Ảnh hưởng của Trung Hoa Tết này người ta làm bánh trôi, bánh chay để cúng tổ tiên

- Tết Đoan Ngọ (Mồng 5 tháng 5): Tết nửa năm, đây là thời điểm nóng nực, nhiều bệnh tật phát sinh nên dân ta còn gọi ngày này là Tết giết sâu bọ

- Tết Trung Nguyên (Rằm tháng 7): Địa quan xá tội vong nhân, người dân làm lễ cúng tế cô hồn Những người theo đạo Phật thì mừng lễ Vu Lan

- Tết Trung Thu (Rằm tháng 8): Vốn là Tết chung của mọi người, đánh dấu ngày có trăng tròn nhất trong năm, thời tiết mát mẻ, người ta thường tổ chức thả diều, hát trống quân Sau này Trung thu trở thành Tết thiếu nhi

- Tết Hạ Nguyên (Rằm tháng 10): Thủy quan giải ách, cũng là ngày Tết cơm mới

- Tết Ông Táo (23 tháng Chạp): Lễ đưa Ông Táo về chầu Trời Đến chiều 30 tháng Chạp, mọi gia đình làm lễ rước ông bà và Ông Táo về ăn Tết

➔ Hệ thống lễ Tết làm thành một chu kỳ khép kín, âm dương chuyển hóa cho nhau

12 Trình bày phong tục lễ hội của người Việt? (Trang 153, 154)

- Lễ hội là một hệ thống phân bố theo không gian: Vào mùa xuân và mùa thu, khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác, mỗi vùng có lễ hội riêng của mình

- Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình Có 3 nhóm lễ hội

+ Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường tự nhiên (lễ hội cầu mưa, lễ hội xuống đồng, hội đâm trâu, hội cơm mới, hội cốm, hội đua thuyền, hội đua ghe Ngo,…)

+ Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường xã hội (kỉ niệm các anh hùng dựng nước và giữ nước- hội Đền Hùng, hội Gióng, hội Đền An Dương Vương, hội đền Hai Bà Trưng,…)

+ Lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng (các lễ hội tôn giáo và văn hóa- hội chùa Hương, hội chùa Tây Phương, hội chùa Thầy,…)

- Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú

- Xét về nguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp:

+ Xuất phát từ ước vọng cầu mưa là các trò chơi tạo ra tiếng nổ mô phỏng tiếng sấm vào các hội mùa xuân để nhắc nhở Trời làm mưa như thi đốt pháo, đi thuyền đốt pháo, ném pháo, đánh pháo đất,…

+ Xuất phát từ ước vọng cầu cạn là các trò thi thả diều vào các hội mùa hè mong gió lên, nắng lên để nước lụt màu rút xuống

+ Xuất phát từ ước vọng phồn thực là các trò cướp cầu thả lỗ, đánh đáo, ném còn, nhún đu, bắt chạch trong chum…

+ Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo là các trò thi thổi cơm, vừa gánh vừa thổi cơm, vừa giữ trẻ vừa thổi cơm, vừa bơi thuyền vừa thổi cơm; thi luộc gà, thi dọn cổ, thi bắt lợn, thi bắt vịt… + Xuất phát từ ước vọng rèn luyện sức khỏe và khả năng chiến đấu là các trò đấu vật, kéo co, chọi gà, chọi trâu, chọi cá, chọi dế…

13 Phong tục hôn nhân của người Việt truyền thống

Trang 10

- Hôn nhân phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc

+ Xác lập mối quan hệ giữa hai gia tộc: Hai gia đình phải môn đăng hộ đối

+ Hôn nhân là công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực

+ Không chỉ duy trì nòi giống, người con tương lai còn có trách nhiệm làm lợi cho gia đình

- Hôn nhân phải đáp ứng quyền lợi của làng xã

+ Hôn nhân phải đảm bảo sự ổn định của làng xã, vì vậy mà có truyền thống khinh rẻ dân ngụ cư Cũng nhằm tạo sự ổn định, đã hình thành quan niệm chọn vợ chọn chồng cùng làng: Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng; Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng; Lấy chồng khó giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ;…

+ Nộp cheo đóng vai trò phương tiện kinh tế: Khi lấy vợ, nhà trai phải nộp cho làng xã bên gái một khoản “lệ phí” gọi là “cheo” thì đám cưới mới được công nhận là hợp pháp Ca dao, tục ngữ có những câu: Nuôi lợn thì phải với bèo, Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; Lấy vợ mười heo, không cheo cũng mất,…

+ Nhìn chung, lịch sử hôn nhân Việt Nam luôn là lịch sử hôn nhân vì lợi ích của cộng đồng, tập thể: từ các cuộc hôn nhân vô danh của thường dân đến những cuộc hôn nhân nổi danh như Mị Châu với Trọng Thủy, công chúa Huyền Trân với vua Chàm Chế Mân, công chúa Ngọc Hân với Nguyễn Huệ

- Hôn nhân phải đáp ứng được quyền lợi của đôi nam, nữ

+ Xem tuổi đôi nam nữ có phù hợp hay không

+ Sính lễ trong hôn nhân: trong lễ vật dẫn cưới luôn có một loại bánh đặc biệt rất có ý nghĩa là bánh su sê (tên đọc chệch đi của phu thê)

+ Quan hệ mẹ chồng- nàng dâu cũng rất được chú ý: Giã cối đón dâu, mẹ chồng cầm bình vôi lánh sang nhà hàng xóm lúc rước dâu về

- Một số kiêng kỵ trong hôn nhân xưa:

+ Không được lấy người cùng họ

+ Kiêng lấy người hợp tuổi

+ Không cưới vào năm kim lâu

+ Không cưới khi nhà có tang

+ Nhà gái kiêng mời cưới khi chưa tổ chức lễ ăn hỏi

+ Kiêng cưới vào ngày không tốt

+ Kiêng làm bể đồ vật trong ngày cưới

+ Chọn người đạo đức, đông con trải chiếu cho giường cưới

+ Kiêng cưới vào năm tuổi

- Quan điểm riêng về phong tục hôn nhân xưa: Gò bó, trói buộc như so với hôn nhân ngày nay như con gái chỉ được lấy chồng trong cùng một làng,…

- Hôn nhân xưa có 6 lễ: nạp tài, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân nghỉnh Hôn nhân ngày nay còn 3 lễ: lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới

14 Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam Vai trò của Phật giáo Việt Nam (Tr.248-255)

• Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam

* Tính tổng hợp:

- Phật giáo đã tiếp xúc và kết hợp chặt chẽ với tín ngưỡng truyền thống của dân tộc (Thờ các thần tự nhiên, chùa theo kiến trúc “Tiền phật hậu Thần”)

- Tổng hợp các tông phái với nhau

- Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác: Nho giáo, Đạo giáo

- Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với đời

* Khuynh hướng thiên về nữ tính:

- Các vị Phật Ấn Độ vốn là đàn ông, sang Việt Nam biến thành Phật Ông, Phật Bà

Ngày đăng: 01/02/2023, 21:22