Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Trang 1A Đặt vấn đề Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa đang ngày càng được hoàn thiện Thực tiễn những nămđổi mới vừa qua cho thấy Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường là hoàn toànđúng đắn Nhờ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chúng ta đã bướcđầu khai thác được tiềm năng trong nước và thu hút được vốn, kỹ thuật, công nghệnước ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất góp phần quyết định vào việc đảm bảotăng trưởng kinh tế với nhịp độ tương đối cao và ổn định trong thời gian qua
Tuy nhiên nền kinh tế thị trường của nước ta vẫn còn nhiều vấn đề phải lưu ý Mộttrong những vấn đề đó là sự hình thành và phát triển các loại thị trường Trong giaiđoạn hội nhập hiện nay, một số vấn đề đặt ra là muốn hội nhập sâu rộng vào nền kinh
tế thế giới thì việc phát triển các loại thị trường nói chung và một trong những thịtrường trọng điểm nói riêng là thị trường hàng hoá và dịch vụ đang là một yêu cầuhết sức cấp thiết Thị trường hàng hoá và dịch vụ là bộ phận cơ bản của thị trường đầu
ra của nền kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống kinh tế- xã hội Đây
là một điều kiện cơ bản để xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Với đề tài “ Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” tôi xin được đề cập đễn một số
khía cạnh của vấn đề này
Trang 2B Nội dung
I.Khái niệm về thị trường và kinh tế thị trường :
1.1 Khái niệm về thị trường :
Thị trường là một phạm trù của sản xuất và lưu thông hàng hoá, phản ánh toàn bộquan hệ trao đổi giữa người mua và người bán đã được thể chế hoá nhằm xác định giá
cả và khối lượng hàng hóa Như vậy thị trường chứa đựng tổng cung tổng cầu mốiquan hệ cung - cầu, mức giá và những yếu tố không gian, thời gian, xã hội đối vớimột loại sản phẩm nào đó của nền sản xuất hàng hóa Mức độ phát triển của thịtrường phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế
1.2 Khái niệm về kinh tế thị trường :
Kinh tế thị trường là sản phẩm của sự phát triển xã hội loài người, nó là hình thứcphát triên cao của kinh tế hàng hoá Nếu kinh tế hàng hoá giản đơn chỉ dừng lại ở sựtrao đổi thì kinh tế thị trường đã có những bước tiến vượt bậc về bản chất Kinh tế thịtrường thực hiện phân bố các nguồn lực của xã hội thông qua cơ chế thị trường đượcchi phối bởi các quy luật cơ bản là quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnhtranh Các quan hệ mang tính áp đặt, cống nạp, cưỡng đoạt của kinh tế tự nhiên đãđược thay bằng quan hệ thị trường ngang gía, trao đổi hàng hoá - tiền tệ Lực lượngsản xuất phát triển được hỗ trợ bởi một hệ thống các thể chế thị trường nhằm đảm bảocho nền kinh tế vận hành một cách có hiệu quả nhất
1.3 Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường :
Thứ nhất, kinh tế thị trường là một sự phát triển mang tính tất yếu.Sự hiện diện của
kinh tế thị trường tại tất cả các quổc gia trên thế giới cho thấy kinh tế thị trường cósức sống mãnh liệt và là bước phát triển tự nhiên mang tính quy luật trong lịch sửnhân loại Từ những mầm mống phát sinh trong nền kinh tế phong kiến, sự phát triểncủa lực lượng sản xuất đã phá vỡ những kết cấu phong kiến, thúc đẩy tự do hóa kinh
tế và thiết lập vững chắc quan hệ hàng hóa tiền tệ Tích lũy tư bản, quá trình côngnghiệp hóa đã biến mọi yếu tố của sản xuất thành hàng hóa Kinh tế thị trường luôntồn tại và phát triển ngay cả khi một quốc gia nào đó không thừa nhận nó Nhữngđộng lực phát triển mang tính nội sinh đã giúp cho kinh tế thị trường trở thành tất yếu
Thứ hai, kinh tế thị trường có khả năng thích ứng với các hình thái xã hội khác
nhau Có thể nhận thấy tính đa dạng của các nền kinh tế thị trường hiện nay tại cácquốc gia với những sự khác biệt về cơ cấu sở hữu xã hội Quá trình phát triển kinh tếthị trường có thể phát huy tác dụng tích cực của nó với những chủ thể kinh tế khácnhau: cá thể, tiểu chủ, tư bản hay nhà nước Điều quan trọng là các chủ thể kinh tếnày cần có khă năng độc lập và cạnh tranh một cách bình đẳng, các quy luật của thịtrường phải được tôn trọng Nói cách khác, kinh tế thị trường gắn liền với sự pháttriển của sản xuất hàng hóa và hoàn toàn có thể được xây dựng tại những quốc gia cónhững chế độ chính trị xã hội khác nhau, vì bản chất của kinh tế thị trường là sử dụngnguồn lực khan hiếm có hiệu quả của quá trình sản xuất và dịch vụ
Trang 3Thứ ba, sự đa dạng trong mô hình của kinh tế thị trường,các nền kinh tế đang phát
triển hiện nay hoàn toàn có khă năng rút ngắn thời gian phát triển Ngày nay, các quốcgia với những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau đã có những phương thức tiến trìnhxây dựng kinh tế thị trường hoàn toàn khác nhau Những khác biệt to lớn có thể tìmthấy trong sự phát triển của các nước NIEs so với Anh, Mỹ hay Nhật Bản Với lợi thếcủa những nước đi sau, áp dụng thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ, các quốcgia này có thể tiến hành xây dựng một nền kinh tế thị trường phát triển trong vòng 15-
20 năm so với hàng trăm năm của nước Anh hay 50 năm của Nhật
II Thị trường hàng hoá và dịch vụ :
2.1 Khái quát thị trường hàng hoá và dịch vụ :
Thị trường hàng hoá và dịch vụ là bộ phận cơ bản của thị trường đầu ra của nềnkinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống kinh tế- xã hội Theo nghĩa hẹp,thị trường hàng hoá và dịch vụ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại hànghoá và dịch vụ Mặt khác, khi nói đến thị trường hàng hoá và dịch vụ, chủ yếu đề cậpđến các loại hàng hoá và dịch vụ là sản phẩm cuối cùng và phục vụ tiêu dùng.Các loạihàng hoá và dịch vụ phục vụ sản xuất thưòng được phân tích sâu hơn trong thị trườngcác yếu tố sản xuất thị trường hàng hoá dịch vụ giữa các chủ thễ tham gia thị trường
đã được thể chế hoá
2.2 Đặc trưng của thị trường hàng hoá và dịch vụ :
Đặc trưng của thị trường hàng hoá và dịch vụ là sự đa dạng của các chủng loại vàhàng hóa trên thị trường, của các thành phần tham gia, các hình thức và các cấp trênthị trường Chủng loại các hàng hoá dịch vụ đang ngày càng tăng lên một cách không
có giới hạn Cấu trúc của thị trường hàng hóa còn rất phức tạp với nhiều cấp khácnhau: bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu và nhập khẩu v.v Với sự phát triển của công nghệthông tin thì hình thức và phạm vi hoạt động của các thị trường hàng hóa và dịch vụ
dã có nhiều thay đổi so với thị trường truyền thống Những hình thức mới như bánhàng qua mạng internet đã thực sự tác động sâu sắc tới lối sống và phương thức tiêudùng của xã hội
2.3 Đặc điểm cơ bán của thị trường hàng hoá và dịch vụ :
Thị trường hàng hoá và dịch vụ mang tính cạnh tranh cao Khả năng độc quyền chiphối toàn bộ thị trường của một doanh nghiệp nào đó là hết sức khó khăn Mức giá vàlượng hàng hoá và dịch vụ được cung ứng quyết định bởi thị trường thông qua quan
hệ cung - cầu.Tuy vậy do những đặc điểm của từng loại hàng hóa và yêu cầu của quy
mô tối ưu, trên một số thị trường hàng hoá và dịch vụ có sự tập trung phát triển củamột nhóm các doanh nghiệp lớn với thị phần áp đảo thực tế cho thấy, các doanhnghiệp cũng khó thoả thuận với nhau để tiến hành chi phối độc quyền thị trường Tuyvậy, vai trò của các thể chế độc quyền là hết sức quan trọng, tính cạnh tranh phảiđược đảm bảo trên cả hai phương diện: từ góc độ người mua và từ góc độ người bán
Sự bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực hệ thống phân phối, công nghệ sẽ đảmbảo cho việc cạnh tranh hiệu quả giữa các nhà sản xuất và tạo điều kiện cho mọi
Trang 4khách hàng có nhu cầu tiếp cận thuận lợi với các nguồn cung cấp hàng hóa, làm cho
hệ thống phân phối hoạt động mạnh và hiệu quả hơn
Phần lớn các thị truờng hàng hoá và dịch vụ có độ co dãn lớn và chịu ảnh hưởngsâu sắc bởi các chính sách của chính phủ Ngoại trừ một số loại hàng hoá đặc biệt,phần lớn các loại hàng hoá đều có sản phẩm thay thế, vì vậy sự chuyển dịch củangười tiêu dùng từ thị trường này sang thị trường khác là tương đối dễ dàng và ít tốnkém Do vậy, thị trường hàng hoá và dịch vụ nhìn chung là dễ bị tổn thương truớc cácbiến động của môi trường
Thị trường hàng hoá và dịch vụ có độ liên kết lớn Thị trường hàng hóa có thể đượcphân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo chủng loại hàng hóa, theo phưongthức mua bán( bán buôn – bán lẻ), theo hình thức tổ chức( tập trung, phi tập trung,qua mạng), theo phạm vi (địa phương , cả nước , quốc tế) v.v Điểm đặc biệt là dùphân loại theo phương thức nào thì mối liên hệ giữa các thị trường là hết sức sâu sắc.Mọi sự phân chia cắt đoạn thị trường đều gây ảnh hưởng xấu, lan truyền đến toàn bộ
hệ thồng thị trường
III Quá trình hình thành và phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ :
3.1 Đường lối đổi mới của Đảng về phát triển các loại thị trường trong nền kinh tếthị trường định hướng XHCN ở Việt Nam :
Năm 1986, Đại hội Vi Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi sướng công cuộc đổi mới
ở nước ta Từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp chuyển sang cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước là một bước ngoặt quan trọng trong lích sử pháttriển kinh tế Việt Nam Từ đổi mới tư duy đến đổi mới cơ chế kinh tế và xây dựnghang loạt chính sách, luật pháp theo nguyên tắc thị trường là một quá trình lích sử lâudài
Từ Đại hội Vi đến Đại hội IX của Đảng, nhiều tư duy, nhận thức mới đã được đúcrút thành các quan điểm mới Nhiều vấn đề lý luận trong đường lối, chính sách đã dầnsáng tỏ Thực tiễn đã làm sáng tỏ nhiều nhận thức mới những quan điểm mới về chủnghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội cũng dược sáng tỏ dần chủ nghĩa xã hội gắn vớithực tiễn cuộc sống không duy ý chí như trước Phát triển kinh tế gắn liền với pháttriển xã hội Đa dạng hoá các hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước, sỡ hữu tư nhân, sởhữu tập thể với các hình thức tổ chức sản xuất phong phú, tạo ra một môi trường cạnhtranh có sự quản lý hữu hiệu của Nhà nước như là mô hình kinh tế hướng tới ở nướcta
Theo các quan điểm đổi mới, đến Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định xây dựng môhình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phải phát triển các loại thịtrường Nghị quyết IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “ thúc đẩy sự hìnhthành phát triển và từng bước hoàn thiện các thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa, đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơkhai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thịtrường khoa học công nghệ”
Trang 5Dựa trên những quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước ta cũng đang tiếp tục hoànthiện cơ chế, chính sách, luật pháp, nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển bền vữngtheo mục tiêu đến năm 2020, nước ra cơ bản hình thành một thể chế thị trường đồng
bộ
3.2 Sự hình thành và phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ :
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, các chủ thể tham gia vào lưu thông hàng hóatrên thị trường chủ yếu là thương mại quốc doanh và tập thể Thương mại tư bản tưdoanh bị xoá bỏ Hoạt động thương mại được quy định theo địa chỉ cụ thể, theo chỉtiêu kế hoạch Hàng hóa kinh doanh trên thị trường được phân loại theo chỉ tính chất
sử dụng và hình thành nên hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh theo từng mặt hàng:doanh nghiệp kinh doanh vật tư, doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng v.v Ngoài
hệ thống này còn tồn tại hệ thống kinh doanh thương mại những vật tư hàng hóachuyên dùng của các bộ, các ngành theo nguyên tắc sản xuất – tiêu dùng Nhà nướcquản lý hoạt động thương mại, dịch vụ thông qua các bộ: Bộ Ngoại thương, Bộ Vật
tư, Bộ nội thương Chế độ hạch toán kinh doanh trong thương mại mang tính hìnhthức thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh, các doanh nghiệp thương mại tiến hành tiêuthụ theo chỉ tiêu định sẵn Việc thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh như vậy đãdẫn đến một thực trạng là cung và cầu gặp gỡ nhau trước khi hoạt động mua bán diễn
ra trên thị trường
IV Thực trạng phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ ở Việt Nam hiện nay
4.1 Thực trạng phát triển thị trường hàng hóa :
4.1.1 Thị trường hàng hóa trong nước :
Sự phát triển của thị trường hàng hóa được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau :
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tăng mạnh, đặc biệt là từ sau năm 1985.Nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự tăng nhanh về tổng sản lượng hàng hóa bán lẻ là do
sự đổi mới cơ chế kinh tế, đời sống dân cư được cải thiện, sức mua hàng hóa tăngnhanh Bên cạnh đó còn kể đến sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc đáp ứngnhu cầu của khách hàng và ngày càng hoàn thiện, các hoạt động kinh doanh cũng nhưdịch vụ bán hàng
Việc lưu thông hàng hóa đã từng bước chuyển sang cơ chế thị trường, giá cả đượchình thành trên cơ sở giá trị theo quan hệ cung cầu Thị trường từ trạng thái chia cắt,khép kín theo địa giới hành chính, “ tự cấp, tự túc” sang tự do lưu thông hàng hóa,làm thị trường trong nước sống động và phát triển, tổng mức lưu chuyển hàng hóatăng nhanh
4.1.2 Thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu :
Kim ngạch xuất nhập khẩu qua các năm không ngừng tâng nhanh Năm 1985 tănggấp 1,54 lần so với 1980, năm 1990 tăng gấp 2 so với 1985 Đến năm 1992, lần đầutiên Việt Nam đạt được mức cân bằng trong kim ngạch xuất nhập khẩu Năm 1994kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt nam tăng lên 50% so với năm 1993, Tuy nhiêntốc độ tăng của xuất khẩu chậm hơn so với nhập khẩu là do trong giai đoạn này nhiềunhà đầu tư vào Việt nam, nhiều khu lien doanh, khu chế xuất ra đời Hàng hóa nhập
Trang 6khẩu cho nhu cầu trong khu vực kinh tế này tăng nhanh Cuộc khủng hoảng tài chínhtiền tệ năm 1997-1998 đã làm cho nền kinh tế một số nứoc trong khu vực lâm vàotình trạng khủng hoảng Từ năm 1999, tốc độ xuất nhập khẩu của Việt nam đã tănglên với nhịp độ nhanh.
Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu có chuyển biến tích cực Kim ngạchxuất khẩu hàng hoá đã tăng từ 2,4 tỷ USD trong năm 1990 lên trên 5,4 tỷ USD năm
1995, lên gần 14,5 tỷ USD năm 2000, lên gần 32,5 tỷ USD năm 2005, lên trên 39,8 tỷUSD trong năm 2006 và có khả năng đạt 47,5 tỷ USD trong năm 2007 Tỷ lệ kimngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 30,8% năm 1990 lên 46,5% năm
2000, lên 61,3% năm 2005, lên 65% năm 2006 và 67% năm 2007 - thuộc loại cao sovới các nước (đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN, đứng thứ 5 ở châu á và thứ 8 trênthế giới) Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người cũng tăng từ 36,4 USD năm
1990, lên 75 USD năm 1995, lên 186,8 USD năm 2000, lên 391 USD năm 2005, lên473,2 USD năm 2006 và khả năng năm 2007 đạt 557 USD
Sự tăng tốc của xuất khẩu của Việt Nam do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyênnhân quan trọng là do mở rộng thị trường xuất khẩu Vậy từ thị trường xuất khẩu củaViệt Nam trong thời gian qua và hiện nay có thể rút ra một số nhận xét đáng lưu ý
Thứ nhất, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ nước ta đã tăng nhanh
trong hơn mười năm qua Trước đổi mới, Việt Nam chủ yếu có quan hệ buôn bán vớicác nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ và một số nước bạn bè có cảm tình vớiViệt Nam Từ sau đổi mới, đặc biệt là từ sau khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nướcngoài, số nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam cũng như nhập khẩu hàng hoá
từ Việt Nam bước đầu được mở rộng Nhưng do Việt Nam còn là nền kinh tế thiếuhụt, lại vẫn còn bị bao vây cấm vận, nên số nước và vùng lãnh thổ đầu tư này vẫn cònrất ít và quy mô xuất khẩu của Việt Nam cũng còn rất nhỏ bé Từ năm 1995, sau khi
Mỹ bỏ cấm vận, giữa Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ bình thường, Việt Nam gianhập Hiệp hội Các nước Đông Nam Á, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá
từ Việt Nam đã tăng nhanh Đặc biệt, từ sau khi Hiệp định Thương mại Việt- Mỹđược ký kết năm 2000 và khi Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) năm 2007, hầu hết các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đã nhậpkhẩu hàng hoá từ Việt Nam Cũng vì thế mà kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng
Thứ hai, trong 200 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam, số đạt
trên 100 triệu USD có 28, số đạt trên 500 triệu USD có 16, số đạt trên 1 tỷ USD có 7,đứng đầu là Mỹ, tiếp đến là Nhật Bản, CHND Trung Hoa, Australia, Singapore, Đức,
Như vậy, bên cạnh việc mở rộng thị trường, theo phương châm đa dạng hoá, đaphương hoá, việc xác định các thị trường trọng điểm là hết sức cần thiết để giảm chiphí vận chuyển, tiếp thị quảng cáo Tuy nhiên, việc "bỏ trứng vào một giỏ" cũng làđiều nên tránh và việc mở rộng thị trường để tăng lượng tiêu thụ, phòng tránh những
Trang 7rủi ro khi xảy ra ở một thị trường nào đó (chẳng hạn như việc kiện bán phá giá)
Thứ ba, trong các thị trường trên có một số thị trường truyền thống, thị trường tiềm
năng, thị trường mới, thì kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam còn thấp, như Indonesia,Mông Cổ, các nước Trung Nam Á, (kể cả Ấn Độ), các nước xã hội chủ nghĩa cũ, cácnước Mỹ La tinh, các nước châu Phi, các nước Châu Đại Dương (trừ Australia là thị
Thứ tư, trong hơn 200 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với Việt Nam,
thì: Việt Nam đã có vị thế xuất siêu đối với 159 nước và vùng lãnh thổ, trong đó xuấtsiêu lớn là Mỹ, Australia, Anh, Philippines, Đức, Bỉ,
Việt Nam còn ở vị thế nhập siêu đối với 47 nước và vùng lãnh thổ, trong đó nhiềunhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Thụy Sĩ,
Ấn Độ, Kuwait,
Theo đó, thì nhập siêu của Việt Nam chủ yếu là ở các thị trường gần, chưa phải là nơi
có công nghệ nguồn; còn xuất siêu của Việt Nam lại chủ yếu là ở các thị trường xa,thị trường có công nghệ nguồn
4.2 Thực trạng phát triển thị trường dịch vụ :
4.2.1 Thị trường dịch vụ bảo hiểm :
Thị trường dịch vụ bảo hiểm Việt nam ra đời muộn hơn nhiều so với thế giới thời
kỳ đầu, Bảo Việt là công ty độc quyển cung cấp dịch vụ bảo hiểm hàng hóa xuất,nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm địa lý giám định và xét bồi thường cho các công tybảo hiểm ở nước ngoài về hàng hóa xuất nhập khẩu Từ khi nền kinh tế chuyển đổi,
cơ chế hoạt động độc quyền không còn phù hợp nữa, chính phủ đã ban hành nghị định100/CP ngày 18-12-1993 về kinh doanh bảo hiểm, từ đó đã tạo môi trường thuận lợicho thị trường dịch vụ bảo hiểm phát triển
Theo số liệu của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (năm 2007), hiện thị trường bảohiểm Việt Nam có 18 doanh nghiệp cổ phần và 19 doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài Nếu chia theo lĩnh vực kinh doanh thì có 20 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhânthọ; 1 doanh nghiệp tái bảo hiểm; 8 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và 8 doanhnghiệp môi gới bảo hiểm Hiện có 150.000 đại lý bảo hiểm với trên 100 sản phẩmnhân thọ và hơn 500 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ đã được các công ty bảo hiểmđưa ra thị trường Bảo hiểm cũng đã đóng góp 2% vào GDP của Việt Nam, với tốc độtăng trưởng bình quân 29%/năm Tuy nhiên, với chính sách mở cửa khác nhau nên thịtrường bảo hiểm Việt Nam được phân chia khá chênh lệch Ở lĩnh vực bảo hiểm phinhân thọ, do Việt Nam chưa mở cửa nên các doanh nghiệp bảo hiểm trong nướcchiếm đến 95% thị phần, trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài chiếm đến62,5% thị phần bảo hiểm nhân thọ Với hơn 800 sản phẩm các loại, nguồn thu chủyếu của ngành là từ phí bảo hiểm Mức tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm của ngành
từ 1993 đến 2004 là 38%/năm Đóng góp của doanh thu phí bảo hiểm vào GDP cũng
có tăng trưởng đáng kể Từ 0,37% năm 1993 tăng lên 2,13% vào cuối năm 2006
Trang 8Tổng số tiền bồi thường bảo hiểm cho các tổ chức kinh tế và dân cư từ năm 2000
Hoạt động đầu tư còn nhiều hạn chế Đến cuối năm 2006, tổng đầu tư của các doanhnghiệp bảo hiểm trở lại nền kinh tế là 34.400 tỉ đồng, chiếm 4,07% GDP và cũng cótốc độ tăng đáng kể nếu so với năm 2001, con số này chỉ là 1,06% GDP Đầu tư chủyếu của các doanh nghiệp bảo hiểm là trái phiếu chính phủ, tiền gửi ngân hàng Phầncòn lại là góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạtầng, phát triển sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống.
Tổ chức hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm chưa thể hiện tính chuyênnghiệp Hiện nay, mới chỉ có 3 doanh nghiệp bảo hiểm thành lập công ty quản lý quỹ
và 2 doanh nghiệp bảo hiểm được niêm yết trên thị trường chứng khoán Điều nàylàm giảm khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm
Các doanh nghiệp bảo hiểm hiện vẫn chưa thể cho vay vốn trực tiếp hoặc mạnh dạnđầu tư vào các lĩnh vực bất động sản, cổ phiếu vì thiếu vắng các quy định cụ thể từcác cơ quan chức năng Do vậy, hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm vẫnchưa cao
Mục tiêu đến năm 2010, con đường còn dài Có lẽ do chiến lược được lập khi thịtrường bảo hiểm đang ở thời điểm hoàng kim, với mức tăng trưởng gần 50% mộtnăm, mọi người đang rất lạc quan nên đã đưa ra mục tiêu “Tổng doanh thu phí bảohiểm tăng bình quân khoảng 24%/năm; trong đó, bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng 28%/năm Tỷ trọng doanh thu phí củatoàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2% năm 2010, tổng dựphòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng khoảng 12 lần; tổng vốn đầu tưtrở lại nền kinh tế tăng khoảng 14 lần so với năm 2002”
Tuy nhiên, ngay sau đó, ngành bảo hiểm (nhất là bảo hiểm nhân thọ) bắt đầu rơi vàotrạng thái bão hòa, khi mà ba năm gần đây, tốc độ tăng số thu phí bảo hiểm đã chậmlại, với mức bình quân hàng năm chỉ là 16% Điều này dẫn đến kết quả là cuối năm
2006, doanh thu bảo hiểm chỉ bằng 2,13% GDP, tổng đầu tư của các doanh nghiệpbảo hiểm trở lại nền kinh tế là 34.400 tỉ đồng, bằng 4,07% GDP
Như vậy, kế hoạch đến năm 2005 đã không đạt Để đạt được mục tiêu đến năm
2010, hàng năm, tốc độ tăng trưởng số thu phí của ngành bảo hiểm Việt Nam phải đạt
Trang 9bình quân 41% và tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư trở lại nền kinh tế phải đạt bình quân42% Nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng 24% năm thì đến năm 2010, doanh thu bảo
hiểm sẽ bằng 3,3% GDP.Vậy đâu là giải pháp?
Mục tiêu trước mắt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam là rất nặng nề Việc duy trìđược tốc độ tăng trưởng lên đến 40% một năm là điều khó khăn, tuy nhiên để nângcao hơn nữa so với tốc độ tăng trưởng trong ba năm qua là điều có thể thực hiện được
Để làm được việc này, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nên tập trung vào cácgiải pháp phù hợp nhằm tăng doanh thu và nâng cao hiệu quả đầu tư như sau:
Tiếp tục đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển mạnglưới đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp và mở rộng mạng lưới Hiện nay các công ty bảohiểm phi nhân thọ trong nước hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh tranh nước ngoàimột phần nhờ sự bảo hộ của Chính phủ, một phần dựa vào mạng lưới khách hàng đãđược xây dựng từ trước Các công ty bảo hiểm Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnhtranh, khai thác thị trường và các mối quan hệ nhằm duy trì và phát triển mạng lướikhách hàng truyền thống Đây là một yếu tố quan trọng hỗ trợ các công ty bảo hiểm
có thêm nguồn lực để thực hiện các kế hoạch và chiến lược kinh doanh dài hạn đểcạnh tranh với các đối thủ nước ngoài có tiềm lực
Thành lập các tổ chức đầu tư độc lập với hoạt động khai thác để có thể thực hiệnđầu tư chuyên nghiệp và hiệu quả từ phí bảo hiểm Liên doanh, liên kết với các tổchức tài chính để có thể có khả năng mạnh hơn với áp lực cạnh tranh khi các công tybảo hiểm nước ngoài gia nhập thị trường theo lộ trình cam kết của Việt Nam vớiWTO
Giảm sự bảo hộ của Nhà nước đối với các doanh nghiệp bảo hiểm bằng cách đưacác doanh nghiệp bảo hiểm lên sàn để vừa gia tăng giá trị cho doanh nghiệp, vừa dễhuy động vốn, gia tăng khả năng tài chính trong hoạt động
Mười lăm năm qua, ngành bảo hiểm đã có những đóng góp nhất định vào sự pháttriển của hệ thống tài chính nói riêng và tăng trưởng kinh tế Việt Nam nói chung Thịtrường bảo hiểm Việt Nam là một kênh quan trọng trên thị trường vốn, thể hiện tất cảcác vai trò trên thị trường tài chính Đó là đảm bảo sự ổn định thông qua việc tậptrung và phân tán rủi ro, tăng cường ổn định tài chính trong hộ gia đình và doanhnghiệp, huy động vốn dài hạn và đầu tư dài hạn, giảm áp lực đối với ngân sách nhànước thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội
Tuy vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc đóng góp một cách chủ động vàophát triển tài chính, nhưng những hạn chế này sẽ nhanh chóng được gỡ bỏ Với mụctiêu chiến lược phát triển phù hợp và trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi,ngành bảo hiểm Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò trong nền kinh tế.
4.2.2 Thị trường dịch vụ du lịch :
Dịch vụ du lịch phát triển chậm hơn các nước khác nhưng việt Nam có thuận lợi lànằm trong khu vực có dịch vụ du lịch quốc tế phát triển mạnh Mặt khác, Việt Namđược đánh giá là có tiềm năng lớn về du lịch, giàu tài nguyên du lịch Ngành du lịch
Trang 10được coi là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao.Giai đoạn 1990-2000 cóthể khẳng định là giai đoạn bứt phá trong tăng trưởng khách và thu nhập Khách quốc
tế tăng trên 9 lần, từ 250 nghìn lượt (năm 1990) lên 2,05 triệu lượt (năm 2000); kháchnội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần
từ 1.350 tỷ đồng lên 17.400 tỷ đồng 5 năm gần đây (2001-2005), tuy phải đối mặt vớirất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do
áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời, nên lượng khách và thu nhập du lịchhàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số Khách quốc tế năm 2001 đạt 2,33 triệulượt, năm 2005 đạt gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa năm 2001 đạt 11,7 triệu lượt;năm 2005 đạt 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch nước ngoài năm 2005 ướckhoảng 900 nghìn lượt Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngànhdịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 4% GDP cả nước, theo cách tính củaUNWTO thì con số này khoảng 10%) Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước tamang lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm Hơn 10 năm trước, Du lịch Việt Nam đứngvào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đãđuổi kịp và vượt Philíppin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan vàIndonesia Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăngtrưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới Năm 2004, Du lịch Việt Nam được Hộiđồng Du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong
số 174 nước; Việt Nam được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới Du lịchcũng đã góp phần phát triển yếu tố con người trong công cuộc đổi mới Hoạt động dulịch đã tạo ra trên 80 vạn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho các tầng lớp dân cư, gópphần nâng cao dân trí, đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; mở rộng giao lưugiữa các vùng, miền trong nước và với nước ngoài; đã thực hiện tốt vai trò ngoại giaonhân dân với chức năng “sứ giả’’ của hoà bình, góp phần hình thành, củng cố môitrường cho nền kinh tế mở, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội và tranh thủ sự đồngtình, ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, xét về giá trị tuyệt đối, quy mô ngành du lịch Việt Nam còn nhỏ Tốc độtăng trưởng việc làm trong ngành vẫn tiếp tục ở mức thấp hơn so với mức tăng trungbình của khu vực Năng lực của các công ty du lịch Việt Nam không tương xứng vớitiềm năng
Nhìn chung, các ngành hỗ trợ du lịch vẫn chưa phát triển cùng nhịp với sự pháttriển của ngành du lịch Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông yếu kém, phương tiệnvận tải lạc hậu, đường vận chuyển hàng không vẫn chưa được phát triển đúng mức.Công nghệ thông tin chưa được ứng dụng nhiều; ứng dụng thương mại điện tử trongđiều hành các tour du lịch và giao dịch giữa các nhà cung cấp dịch vụ du lịch chưađược nhiều, hoạt động xúc tiến du lịch ở nước ngoài còn yếu về số lượng và hiệu quả.Các dịch vụ giải trí, văn hoá, thể thao vẫn chưa phát triển và các dịch vụ ngân hàngchưa đáp ứng nhu cầu
Sản phẩm dịch vụ du lịch chưa phong phú, đa dạng Ta có nhiều cảnh quan thiênnhiên đẹp và có bãi biển được xếp hạng tầm quốc tế, nhưng trên phạm vi cả nước,chưa có được một khu du lịch tầm cỡ và có tên tuổi như Pataya, Phuket (Thái Lan),
Trang 11Sentosa (Singapore), Bali (Inđônesia), hay Genting, Langkawi (Malaysia) Đặc điểmnày đã ảnh hưởng đến việc thu hút được sự chú ý của khách du lịch, không kéo dàiđược thời gian nghỉ ngơi của khách tại Việt Nam, không tạo cơ hội để tăng chi tiêucủa khách quốc tế tại Việt Nam.
Nguồn nhân lực cho du lịch chưa được đào tạo một cách hệ thống về chuyên môn
và kỹ năng nghề nghiệp Năng lực ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ thông tin và khảnăng giao tiếp còn hạn chế Các cơ sở đào tạo du lịch phân bổ không đồng đều, chủyếu tập trung ở các thành phố lớn Mặc dù có sự bùng nổ về số lượng các công ty dulịch lữ hành trong nước, song các công ty này cạnh tranh thiếu lành mạnh về giá, giảmchất lượng dịch vụ, vi phạm các yêu cầu về giấy phép hành nghề
Hiện nay sự liên kết, hợp tác giữa các Bộ ngành, địa phương, lãnh thổ tuy gần đây
có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn yếu hoặc thiếu (Tổng cục Du lịch, Bộ Tài nguyên vàMôi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông Vận tải, Công an)đặc biệt là việc quản lý các nguồn lực tự nhiên Cũng chưa có sự phối hợp chặt chẽgiữa các ngành (tài chính, ngân hàng, hàng không, biên phòng, hải quan, điện lực vàviễn thông…) trong hỗ trợ phát triển du lịch Bên cạnh đó, hệ thống thống kê áp dụngtrong ngành du lịch Việt Nam cũng chưa được cải tiến nhiều Vấn đề cảnh quan môitrường du lịch chưa được chú trọng đúng mức: Với nguồn tài nguyên du lịch phongphú bao gồm các di sản thế giới, truyền thống lịch sử phong phú, các làng nghề và các
lễ hội truyền thống, những cảnh đẹp thiên nhiên phong phù và sự đa dạng của các nềnvăn hoá dân tộc, thời gian gần đây Việt Nam đã nổi lên và trở thành một điểm đếnhấp dẫn, an toàn cho du khách quốc tế Tuy nhiên, sự gia tăng lớn về khách du lịch,trong khi việc giữ gìn cảnh quan, môi trường tại các khu, điểm du lịch lại chưa đượcchú trọng đúng mức, cộng thêm sự phát triển của các hoạt động kinh tế khác và nạnchặt phá rừng đã và đang gây ra các tác động không tốt tới môi trường du lịch
4.2.3 Thị trường dịch vụ bưu chính viễn thông :
Từ 1991 đển nay, mạng lưới bưu chính viễn thông Việt Nam đã thay đổi căn bản
từ hệ analog lạc hậu sang mạng kỹ thuật số hiện đại, rút ngắn khoảng cách về côngnghệ hiện đại so với thế giới, đảm bảo thông tin trong nước và quốc tế cũng như liênlạc cho các vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, góp phầntích cực cho sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Việc mở cửa cho nhiều doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường dịch vụ viễnthông, phá bỏ dần thế độc quyền của VNPT, là động lực chính thúc đẩy dịch vụ này ởViệt Nam tăng trưởng Liên tục sáu năm qua, thị trường viễn thông luôn tăng trưởngtrên 30% mỗi năm, đặc biệt trong hai năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng đã vọt lêntrên 50%/năm, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có ngành viễn thông tăng trưởngnhanh nhất thế giới Chỉ riêng tám tháng đầu năm 2006, số thuê bao điện thoại mới đãgần gấp đôi tổng thuê bao của giai đoạn 1975-2000 Hai năm qua cũng là thời kỳ cạnhtranh quyết liệt nhất trong lịch sử phát triển ngành dịch vụ viễn thông Việt Nam với
Trang 12sự tham gia của bốn nhà cung cấp, qua đó tạo ra những thay đổi mang tính đột phá vềchính sách giá cước và chi phí tiếp cận dịch vụ.
Mặc dù đạt được tốc độ phát triển ấn tượng như vậy, nhưng mật độ điện thoại tínhtrên 100 dân của Việt Nam mới đạt 24,42, còn kém nhiều nước trong khu vực và thua
xa các quốc gia châu Âu Điều này cho thấy thị trường viễn thông Việt Nam vẫn cònnhiều tiềm năng phát triển Bộ Bưu chính Viễn thông dự báo đến năm 2010 mật độđiện thoại có thể đạt tới 42 máy/100 dân, trong đó gần hai phần ba là thuê bao diđộng
Số liệu thống kê chính thức của bộ công bố cho thấy bảy tháng đầu năm 2006,mạng điện thoại của Việt Nam tăng thêm gần 4,6 triệu thuê bao, đưa tổng số thuê baođiện thoại lên 20,44 triệu, trong đó mạng điện thoại di động đóng góp nhiều nhất vào
sự phát triển này với hơn 11 triệu thuê bao còn đang hoạt động, ngoài ra còn khoảngsáu triệu thuê bao khác của những khách hàng đã bị khóa hai chiều Hai mạngMobiFone và Vinaphone của VNPT chiếm thị phần lớn nhất với trên tám triệu kháchhàng, còn lại thuộc về Viettel Mobile, S-Fone và EVN Telecom.
Ngoài dịch vụ điện thoại, thị trường Internet cũng phát triển rất nhanh, bình quânnăm sau cao gần gấp đôi so với năm trước kể từ khi dịch vụ này thâm nhập vào ViệtNam từ cuối năm 1997. Hiện có chín doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet đanghoạt động, trong đó VNPT chiếm 42,63% thị phần, FPT 23,86% và Viettel 18,02%.Đến cuối tháng 7/2006, Việt Nam có trên 3,688 triệu thuê bao Internet, tăng gần800.000 thuê bao so với cuối năm ngoái Số người sử dụng dịch vụ này khoảng 13,4triệu, tương đương 16% dân số và ngang với tỷ lệ sử dụng Internet bình quân của thếgiới
Bộ Bưu chính Viễn thông dự báo số người sử dụng Internet của Việt Nam vào năm
2010 có thể đạt 35% dân số Hiện nay, nhu cầu thuê bao Internet băng thông rộngđang có xu hướng tăng mạnh, đặt các nhà cung cấp dịch vụ vào tình trạng cung khôngđáp ứng đủ nhu cầu
4.3 Những vấn đề còn tồn tại trên thị trường hàng hóa và dịch vụ hiện nay :
Thứ nhất, thị trường về cơ bản vẫn là manh mún, phân tán và nhỏ bé Sức mua còn
thấp, tình trạng thiếu cầu không thể sớm khăc phục được Hàng hóa ứ đọng khó tiêuthụ đang là bài toán khó vời Nhà nước doanh nghiệp
Thứ hai, thị trường trong nước tuy tăng trưởng nhưng còn ở trình độ phát triển thấp
và có sự chênh lệch khá lớn giữa thành thị và nông thôn, thị trường nông thôn, miềnnúi đặc biệt vùng sâu, vùng xa còn quá nghèo nàn lạc hậu và sơ khai Đời sống củanông dân còn thấp nên sức mua kém Chênh lệch về thu nhập, mức sống và đời sốngvủa nông thôn và thành thị ngày càng cách xa Với tổng dân số khoảng 83 triệu ngườivào năm 2005 và khoảng 88 triệu người vào năm 2010, tuy tỉ trọng dân cư nông thôn
có giảm xuống( 72% năm 2005 và dự kiến 67% năm 2010), nhưng với gần 60 triệungười thì thị trường nông thôn vẫn chưa mạnh, tình trạng tự cấp, tự túc còn ở mứccao(50%), do vậy vần đề tiêu thụ và nhu cầu của thị trường nông thôn đã và đang trởthành vấn đề bức xúc đối với sự phát triển của thị trường nông thôn và thị trườnghàng hoá và dịch vụ trong cả nước