ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC KHOA QUẢN LÝ GIÁO DỤC TIỂU LUẬN MÔN XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC Giảng viên hướng dẫn GS TS Lê Ngọc Hùng Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Khánh Linh Mã sinh.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KHOA QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2Lời cảm ơn
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Giáo Dục đã đưa môn học “Xã hội học giáo dục” vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – GS.TS Lê Ngọc Hùng đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học của thầy, em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để em kiến thức cho chúng em trong những ngày tháng đại học sắp tới và công việc của chúng em sau này
Trong suốt quá trình học tập những kiến thức mà em đã được tích lũy vẫn còn
có những hạn chế nhất định Do vậy những thiếu sót trong bài là những điều không thể tránh khỏi Nên chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của thầy để bài tiểu luận của em có thể hoàn thiện hơn nữa
Sau cùng, em xin kính chúc thầy thật nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui trong cuộc sống, thành công trong sự nghiệp trồng người cao quý này Tiếp tục sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Em xin chân thành cảm ơn thầy!
Sinh viên Nguyễn Thị Khánh Linh
Trang 3Mục lục
Câu 1: 1
1 Lý thuyết xã hội bằng cấp 1
2 Lý thuyết xã hội phi thường quy 2
3 Áp dụng hai lý thuyết này trong xây dựng xã hội học tập 2
Câu 2: 4
1 Số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 và 2019 về tỷ lệ đi học đúng tuổi 4
a) Tỷ lệ đi học đúng tuổi năm 2009 4
b) Tỷ lệ đi học đúng tuổi năm 2019 6
c) So sánh tỷ lệ đi học đúng độ tuổi năm 2009 và 2019 7
2 Phân tích xu hướng biến đổi cơ hội giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng, đại học của cả nước, thành thị, nông thôn trong giai đoạn 2009 – 2019 9
a) Tỷ lệ đi học chung và tỷ lệ đi học đúng tuổi giáo dục phổ thông, giáo dục cao đẳng đại học của toàn quốc và khu vực, 2009 9
b) Tỷ lệ đi học chung và tỷ lệ đi học đúng tuổi giáo dục phổ thông, giáo dục cao đẳng đại học của toàn quốc và khu vực, 2019 10
c) Mức độ phân hóa về cơ hội giáo dục năm 2009 – 2019 12
Tài liệu tham khảo 17
Trang 4Đề bài (Đề 2)
Câu 1: Hãy trình bày lý thuyết xã hội bằng cấp và lý thuyết xã hội phi trường
quy Có thể áp dụng hai lý thuyết này như thế nào trong xây dựng xã hội học tập
Câu 2: Căn cứ số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009
và 2019 về tỉ lệ đi học đúng tuổi hãy phân tích xu hướng biến đổi cơ hội giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng, đại học của cả nước, thành thị, nông thôn trong giai đoạn 2009 – 2019
Trang 5Bài làm
Câu 1:
1 Lý thuyết xã hội bằng cấp
- Trong số các biến thể mới của thuyết mâu thuẫn về giáo dục, cần kể tới quan
niệm về xã hội bằng cấp, xã hội phi trường quy và vốn văn hóa Đây là những biến
thể hiện đại của thuyết mâu thuẫn về giáo dục do các tác giả là Radall Collins, Ivan
Illich và Pierre Bourdieu đưa ra
- Khái niệm: Để chỉ ra một xã hội trong đó mọi người quá coi trọng bằng cấp
giáo dục và dựa chủ yếu vào bằng cấp để tuyển dụng lao động, coi nhẹ năng lực
thực sự của cá nhân
- Đại diện tiêu biểu nhất của thuyết xã hội bằng cấp là Radall Collins Ông đã
đưa ra khái niệm “Xã hội bằng cấp” để chỉ một xã hội trong đó mọi người quá coi
trọng bằng cấp giáo dục và chủ yếu dựa vào bằng cấp để tuyển dụng lao động mà
coi nhẹ năng lực thực sự của cá nhân
- Thuyết xã hội bằng cấp là tập hợp các vấn đề mặt trái của giáo dục Collins
cho rằng các văn bằng chứng chỉ chỉ là biểu tượng như nhãn hiệu hàng hóa, không
phải là trí thức và năng lực thực sự của một người
- Trong xã hội bằng cấp, người ta có xu hướng đến trường chỉ để giành lấy
một tấm bằng nhất định nào đó chứ không phải để phát triển năng lực: bạn đến
trường trung học phổ thông để học lấy tấm bằng tốt nghiệp phổ thông, bạn đến
trường đại học để lấy tấm bằng cử nhân, bạn đến một trung tâm ngoại ngữ để học
lấy chứng chỉ ngoại ngữ
- Giáo dục là nơi cạnh tranh của các nhóm vị thế về tài sản, quyền lực, uy tín
tức là giáo dục góp phần củng cố sự phân tầng xã hội Các nhóm vị thế, ví dụ bác
sĩ, luật sư trong và ngoài nhà trường tìm mọi cách để bảo vệ vị trí của họ bằng cách
phân biệt người “đúng nghề” và người “ngoài nghề”, “ngoại đạo”
- Chủ nghĩa bằng cấp là biểu hiện của sự sùng bái bằng cấp giáo dục; giá trị
con người, giá trị lao động được đánh giá thông qua bằng cấp
- Thực tế cho thấy ý nghĩa tốt đẹp và giá trị đích thực của giáo dục đối với xã
hội và tạo ra xã hội bằng cấp đã bị sai lệch: tệ sùng bái bằng cấp tạo ra tâm lý học
vì kiếm tiền, vì lợi nhuận kinh tế Có kết quả nghiên cứu phát hiện ra quy luật
về sự phụ thuộc của thu nhập và học vấn: trình độ học vấn càng cao thì thu nhập
càng lớn
- Sự sùng bái bằng cấp tạo ra mối tương quan tỉ lệ thuận giữa học vấn và thu
nhập
Trang 6 Thuyết xã hội bằng cấp là quan niệm giải thích tại sao trong xã hội mọi người quá đề cao bằng cấp giáo dục và cảnh báo nguy cơ sùng bái hình thức của bằng cấp giáo dục mà coi nhẹ nội dung, chất lượng giáo dục Với nghĩa như vậy, xã hội bằng cấp còn gọi là xã hội trường học (Schooling Society) là một mặt trái của
xã hội học tập (Learning Society)
2 Lý thuyết xã hội phi thường quy
- Một trong số các quan niệm cực đoan về giáo dục nhà trường là thuyết xã hội phi trường quy do Ivan Illich (1926-2002) đưa ra trong cuốn sách nổi tiếng của ông: “Xã hội phi trường quy” (Deschooling Society) xuất bản năm 1971
- Ông phê phán quá trình thiết chế hóa xã hội trường quy, tức là phê phán thiết chế giáo dục đã biến cả xã hội thành một nhà trường khổng lồ mang tính hình thức, thụ động, máy móc, không hiệu quả Ông đề xuất hướng nghiên cứu mới nhằm phi thiết chế hóa xã hội trường quy mà ở đó con người có thể thông qua các mạng lưới
xã hội để học bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, bất cứ điều gì một cách hợp lý nhất Đây
là xã hội giáo dục nơi dạy học sinh những điều họ muốn chứ ko phải nhồi nhét các giá trị, chuẩn mực mà một số nhà giáo dục cho là đúng
- Illich phê phán mục tiêu và nội dung giáo dục trong nhà trường Ông phê phán xã hội trường quy đã biến trẻ em thành học sinh: trẻ em phải đi học, phải làm những gì mà nhà trường dạy bảo và hầu như không có tuổi thơ mà chỉ có tuổi học đường
- Ông vạch ra cái chương trình giáo dục ngấm ngầm, được che giấu (Hidden Curriculum) của nhà trường, theo đó người học được xã hội hóa nhằm “để biết vị trí của họ và để ngồi im trong các vị trí đó Illich cho rằng xã hội ngày nay không cần loại giáo dục với những nhà trường kiểu như vậy
- Xã hội cần có thiết chế giáo dục mới để dạy học sinh những gì mà họ muốn học chứ không phải nhồi nhét cho họ các giá trị, chuẩn mực do một số chuyên gia giáo dục tự cho là quan trọng, cần thiết và đúng đắn
Xã hội bằng cấp coi trọng việc đến trường và nhận các chứng chỉ, bằng cấp tương ứng; xã hội phi trường quy ko thực sự coi trọng điều này
3 Áp dụng hai lý thuyết này trong xây dựng xã hội học tập
- Trong xây dựng xã hội học tập cần phát huy các thế mạnh của cả xã hội bằng cấp và xã hội học phi trường quy
- Xã hội bằng cấp tạo nền tảng và động lực thúc đẩy xã hội học tập, trong khi
đó xã hội phi trường mở rộng các tri thức và năng lực học tập “ngay và luôn” của tất cả mọi người trong thời kỳ chuyển đổi số
- Ghi nhận những nỗ lực nghiên cứu của các lý thuyết xã hội học giáo dục này trong việc đề xuất các hướng cải cách giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
Trang 7con người, phát triển xã hội công bằng, bình đẳng, tự do, dân chủ, văn minh một
cách thực chất
- Việc áp dụng hai lý thuyết này trong xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam
hiện nay:
+ Là một xã hội mà mọi người đều được học, cần phải học và tự giác học
thường xuyên, học suốt đời
+ Một số thành tựu:
(1) Đảng xác lập một quan niệm rõ ràng về xã hội học tập với tư cách là
một thể thống nhất giữa hệ thống giáo dục ban đầu và hệ thống giáo dục tiếp tục
(2) Từ năm 2013 đến nay, toàn quốc đã có hơn 100 triệu lượt người
tham gia học tập các chuyên đề tại các trung tâm học tập cộng đồng; gần 5 triệu
lượt người học ngoại ngữ và hơn 1 triệu lượt người học bồi dưỡng tin học
ứng dụng; hơn 2 triệu lượt người tham gia học nghề ngắn hạn; hơn 235 nghìn người
theo học lớp xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ Số lượt cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng đạt hơn 3,2 triệu lượt người (tăng
khoảng 24% so với giai đoạn 2006 - 2010)
(3) Xây dựng một số mạng lưới học tập để học sinh/sinh viên có thể học
bất kì ở nơi đâu Không quá áp đặt các hình thức dạy theo khuân mẫu Ví dụ: trước
đây giáo viên lên lớp bắt buộc phải theo chương trình sách giáo khoa được Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành, lên lớp với đúng số tiết và số giờ quy định của 1 tiết học
hay một bài học, nếu bài học đó dạy trước thời gian quy định thì buổi học đó được
coi là cháy giáo án Học sinh bị thụ động bởi những phương pháp học truyền thống
mà chưa có sự sáng tạo
+ Hạn chế:
(1) Một số địa phương chưa quan tâm đến việc học tập, xây dựng xã hội
học tập
(2) Sự phối hợp giữa cơ quan, sở, ngành, đoàn thể trong việc triển khai
kế hoạch chưa chặt chẽ, hiệu quả
(3) Tỷ lệ huy động người học xóa mù chữ còn thấp và kết quả ko bền
vững
(4) Quá nhiều loại hình bằng cấp, chứng chỉ, bậc học đào tạo, trên 500
trường cao đẳng đại học (Do tâm lý người Việt chuộng bằng cấp, ngại đổi mới và
cơ chế tuyển dụng, đề bạt chức vụ dựa vào bằng cấp quá nhiều, hai là cơ chế tuyển
dụng, đề bạt chức vụ nhân lực, được xác lập dựa quá nhiều vào văn bằng mà bỏ qua
quy trình tuyển dụng khoa học)
Bài học của chúng ta trước hết phải là trang bị con mắt xã hội, sao cho
mọi người nhận thức rõ mặt trái của xã hội bằng cấp, giáo dục trước hết phải là cơ
Trang 8quan đầu tiên chịu trách nhiệm “sản xuất” đúng quy trình khoa học, chịu trách nhiệm về sản phẩm bằng cấp của mình đáp ứng nhu cầu đích thực của xã hội
Câu 2:
1 Số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 và 2019 về tỷ lệ
đi học đúng tuổi
- Khái niệm, phương pháp tính:
+ Tỷ lệ học sinh đi học phổ thông gồm tỷ lệ học sinh đi học chung phổ thông và tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi phổ thông
+ Tỷ lệ học sinh đi học chung cấp tiểu học là số phần trăm số học sinh đang học cấp tiểu học so với tổng dân số ở độ tuổi cấp tiểu học từ 6 – 10 tuổi
+ Tỷ lệ học sinh đi học chung cấp trung học cơ sở là số phần trăm số học sinh đang học cấp trung học cơ sở so với tổng dân số ở độ tuổi cấp trung học cơ sở
từ 11 – 14 tuổi
+ Tỷ lệ học sinh đi học chung cấp trung học phổ thông là số phần trăm số học sinh đang học cấp trung học phổ thông so với tổng dân số ở độ tuổi cấp trung học phổ thông từ 15 – 17 tuổi
+ Tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi cấp tiểu học là số phần trăm số học sinh tuổi từ 6 – 10 tuổi đang học cấp tiểu học so với tổng dân số trong độ tuổi cấp tiểu học từ 6 – 10 tuổi
+ Tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi cấp trung học cơ sở là số phần trăm số học sinh tuổi từ 11 – 14 tuổi đang học cấp trung học cơ sở so với tổng dân số trong
độ tuổi cấp trung học cơ sở từ 11 – 14 tuổi
+ Tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi cấp trung học phổ thông là số phần trăm
số học sinh tuổi từ 15 – 17 tuổi đang học cấp trung học phổ thông so với tổng dân
số trong độ tuổi cấp trung học phổ thông từ 15 – 17 tuổi
Trang 9năm học t
+ Tuổi học sinh quy ước bằng năm khai giảng năm học trừ đi năm sinh của học sinh trong giấy khai sinh
a) Tỷ lệ đi học đúng tuổi năm 2009
Bảng 1.1: Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp năm 2009
Đơn vị tính: phần trăm (%) Đặc điểm Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Cao đẳng Đại học Chung 95,5 82,6 56,7 6,7 9,6
Giới tính Nam 95,5 81,4 53,1 6,0 9,1
Nữ 95,4 83,9 68,4 12,9 10,1 Thành thị/
nông thôn
Thành thị 97,2 88,8 68,4 12,9 23,3 Nông thôn 94,9 80,6 52,8 3,7 3,0
(Nguồn: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009:
Các kết quả chủ yếu, Hà Nội, B.14-17, tr.290-317)
Bảng 1.1 cho thấy có sự khác biệt về tỷ lệ đi học đúng tuổi giữa nông thôn và thành thị ở các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp học càng cao thì sự khác biệt càng lớn
Cấp tiểu học số lượng học sinh đi học đúng độ tuổi với tỷ lệ cao ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn, khu vực thành thị đạt 97,2% tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi ở cấp độ này, khu vực nông thôn số lượng học sinh đi học đúng tuổi cao đạt 94,9% chỉ thấp hơn khu vực thành thị 2,3% cho thấy tỷ lệ cách nhau không quá lớn
Tiếp theo là tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi ở cấp trung học cơ sở có xu hướng giảm so với tỉ lệ đi học đúng tuổi ở cấp tiểu học Chính vì vậy mà tỷ lệ đi học đúng tuổi ở hai khu vực thành thị và nông thôn cũng được tăng lên Khu vực nông thôn
tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi ở cấp học này là 80,6% còn khu vực thành thị là 88,8% Có thể thấy tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi ở trung học cơ sở cao hơn khu vực nông thôn là 8,2%
Trang 10Đối với cấp trung học phổ thông chúng ta có thể thấy tỷ lệ đi học đúng tuổi ở
cả thành thị và nông thôn giảm sút đáng kể so với hai cấp học trước đặc biệt là giảm sâu so với cấp tiểu học Số liệu bảng 1.1 cho ta thấy tỷ lệ học sinh đi học đúng tuổi ở thành thị cao hơn khu vực nông thôn là 15.6 điểm phần trăm
Như vậy có thể thấy được rằng càng cấp học cao thì sự khác biệt về tỷ lệ đi học càng lớn Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở đại học, cao đẳng chiếm số lượng nhỏ trong tổng số dân đúng độ tuổi đi học cấp đẳng, đại học Theo số lượng thống kê cho thấy
tỷ lệ sinh viên đi học đúng tuổi cao đẳng, đại học ở khu vực thành thị cao hơn tỷ lệ sinh viên đi học đúng tuổi ở cao đẳng, đại học ở khu vực nông thôn
b) Tỷ lệ đi học đúng tuổi năm 2019
Trải qua 10 năm, giáo dục phổ thông đã có sự cải thiện rõ rệt trong việc tăng
tỷ lệ đi học đúng tuổi Trong đó, bậc trung học phổ thông có sự cải thiện rõ ràng nhất; tuy vậy, vẫn còn sự chênh lệch về thực trạng đi học ở bậc học này giữa hai giới và giữa các vùng kinh tế - xã hội
Tỷ lệ đi học đúng tuổi là số học sinh trong tuổi đến trường của một cấp học phổ thông đang tham gia vào cấp học đó tính trên 100 người trong tuổi đến trường của cấp học đó
Bảng 1.2: Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp năm 2019 (%)
Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ
thông Chung Nam Nữ Chung Nam Nữ Chung Nam Nữ
Khu
vực
Thành
thị 98,3 98,2 98,3 91,5 90,9 92,3 76,4 73,5 79,5 Nông
thôn 97,9 97,8 98,0 88,1 87,0 89,3 64,4 60,2 68,8 Toàn quốc 98,0 97,9 98,1 89,2 88,2 90,2 68,3 64,5 72,2
(Nguồn: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2019), Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0
giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, Hà Nội, Biểu 28-30, tr.250-254)
Tỷ lệ đi học đúng tuổi ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn ở các cấp THCS và THPT Có thể thấy bảng 1.2 đã cho chúng ta thấy rõ phần nào về tỷ
lệ đi học đúng tuổi ở các cấp có sự chênh lệch giữa khu vực, giữa giới tính Cụ thể,
tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở cấp tiểu học là rất cao mức chung toàn quốc đạt được là 98%, giữa khu vực thành thị và nông thôn có sự chênh lệch về tỷ lệ đi học đúng độ tuổi nhưng không nhiều chênh nhau 0.4 điểm phần trăm Như vậy có thể thấy ở cấp học này các em học sinh trên toàn quốc đa số đều được đến trường