Chính vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn nữa trong việc thử nghiệm các giống ngô có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng và xây dựng các biện pháp canh tác
Trang 1-* -
TRỊNH ĐỨC TOÀN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NGÔ TRÊN ĐẤT DỐC VÙNG BẮC TRUNG BỘ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 9.62.01.10 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2022
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia Việt Nam
2 Thư viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng thứ hai sau lúa gạo Diện tích, năng suất, sản lượng ngô tăng theo từng năm, từ hơn 200 ngàn ha với năng suất 10 tạ/ha vào năm 1960, đến năm 2019, diện tích trồng ngô cả nước là 1.170,3 nghìn ha (trong đó trên 94% diện tích trồng ngô lai), năng suất 48 tạ/ha, sản lượng đạt gần 5 triệu tấn Tuy nhiên, so với thế giới thì năng suất ngô của nước ta còn khá thấp, chỉ đạt 80,7% so với trung bình thế giới (57,6 tạ/ha).Tuy tốc độ tăng khá nhanh, nhưng sản lượng ngô đạt được vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước Những năm qua, mặc dầu sản lượng
đã đạt từ 4,5-5 triệu tấn/năm, nhưng Việt Nam vẫn phải nhập từ
10-12 triệu tấn ngô/năm
Bắc Trung Bộ là vùng có địa hình tương đối phức tạp với trên 70% diện tích là đồi núi Do đó, đất dốc chiếm vị trí quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Theo thống kê, vùng Bắc
Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ có diện tích ngô đứng thứ 2
cả nước, tổng diện tích ngô năm 2019 toàn vùng đạt 182.600ha, chiếm 15,5% diện tích ngô cả nước Trong đó, năng suất ngô bình quân đạt 47,1 tạ/ha Diện tích tập trung chủ yếu tại các tỉnh Nghệ An (47.700 ha) và Thanh Hoá (46.100 ha) Thực tế những năm vừa qua cho thấy, sản xuất ngô ở vùng Bắc Trung bộ còn gặp nhiều khó khăn nên hiệu quả chưa cao
Trong sản xuất nông nghiệp, một phương thức canh tác phải được hình thành và tồn tại dựa trên một điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu), tập quán sản xuất, kiến thức bản địa, khả năng đầu tư cho sản xuất, khả năng và mục đích tiêu thụ sản phẩm Phương thức canh tác cũng sẽ quyết định tính bền vững của nền sản xuất, bền vững về môi trường, kinh tế và xã hội Chính vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn nữa trong việc thử nghiệm các giống ngô có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng
và xây dựng các biện pháp canh tác tổng hợp trên đất dốc theo hướng bền vững nhằm tăng năng suất và hiệu quả sản xuất ngô, bảo vệ và nâng cao độ phì đất, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân đồng thời hạn chế sự xói mòn rửa trôi đảm bảo cân bằng sinh thái vùng Bắc Trung bộ
Trang 4Xuất phát từ các vấn đề trên, để góp phần đáp ứng nhu cầu của
thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất ngô trên đất dốc vùng Bắc Trung Bộ”
2 Mục tiêu của đề tài
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Các kết quả thu được của đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật (tuyển chọn giống, các biện pháp canh tác) các giống ngô lai trung ngày cho các tỉnh vùng Bắc Trung
bộ hoặc các vùng có điều kiện sinh thái tương tự
- Là cơ sở khoa học cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất ngô trên đất dốc, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Các giải pháp kỹ thuật canh tác mới cho năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là bằng chứng thuyết phục làm thay đổi nhận thức của người dân, chuyển hướng
từ việc canh tác truyền thống sang ứng dụng tiến bộ kỹ
Trang 5thuật, góp phần duy trì độ màu mỡ của đất, chống xói mòn
và bảo vệ tốt môi trường sinh thái nông nghiệp
- Giống mới cùng với kỹ thuật canh tác mới giúp tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất ngô, là cơ sở
để làm tăng giá trị canh tác, cải thiện đời sống, thu nhập
cho người dân vùng núi Bắc Trung Bộ
4 Những đóng góp mới của luận án
- Đã đánh giá được hiện trạng sản xuất ngô trên đất dốc vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa và Nghệ An), xác định được nguyên nhân chủ yếu hạn chế hiệu quả sản xuất ngô trên đất dốc là thiếu giống ngô phù hợp, biện pháp kỹ thuật canh tác chưa đồng bộ;
- Xác định được giống ngô CS71 có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận trên đất dốc Nghệ An và Thanh Hóa, năng suất cao (6,03-6,21 tấn/ha tại Nghệ An và 6,35-6,47 tấn/ha tại Thanh Hóa) và ổn định trong vụ xuân;
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp, nâng cao hiệu quả sản xuất cho giống ngô CS71 trên đất dốc Nghệ An và Thanh Hóa: Thời vụ gieo trồng từ 20/01 – 27/01 hàng năm; Mật độ trồng 6,5 - 7,5 vạn cây/ha, phân bón: 180N + 80P2O5 + 100K2O; Ứng dụng cơ giới hóa trong các khâu: cày bừa đất, rạch hàng và tách hạt ngô;
Sử dụng thuốc có hoạt chất: Acetochlor, Nicosulfuron để phòng trừ cỏ dại, thuốc có hoạt chất Emamectin benzoate
phòng trừ sâu đục thân và thuốc có hoạt chất
Difenoconazole và Propiconazole để phòng trừ bệnh hại
trên cây ngô
- Đã xây dựng được mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất ngô trên đất dốc tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa năng suất đạt trên 65,0 tạ/ha, hiệu quả kinh tế tăng từ 22-30% so với đối chứng
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài về giống, mật độ trồng và phân bón, ứng dụng cơ giới hoá, thời vụ cho cây ngô cho thấy: lựa chọn giống ngô phù hợp, mật độ trồng và bón cân đối lượng phân bón theo đúng nhu cầu phát triển của ngô cũng như một số biện pháp kỹ thuật khác tại vùng sinh thái đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ngô Trong thực tiễn sản xuất ngô hiện nay ở vùng Bắc Trung bộ, người dân thường trồng với khoảng cách giữa các hàng khá rộng và mật độ trồng còn thấp Điều này làm giảm đáng kể sản lượng ngô trên một đơn vị diện tích nên ảnh hưởng đến sản lượng ngô trong vùng Bên cạnh đó, tập quán
sử dụng phân bón vô cơ mất cân đối, nên năng suất ngô không cao
và chưa tương xứng với tiềm năng năng suất của giống Đây là một trong những hạn chế trong thực tiễn canh tác ngô hiện nay tại vùng Bắc Trung bộ Mặc khác, qua các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, chưa có công trình nghiên cứu nào về các vấn đề nêu trên tại địa bàn đất dốc các tỉnh Bắc Trung Bộ Đặc biệt là nghiên cứu về lựa chọn giống ngô phù hợp, ổn định năng suất, để thuận lợi cho việc bố trí mùa vụ, né tránh thiên tai, hạn hán, lũ lụt và các biện pháp kỹ thuật canh tác về mật độ gieo trồng, liều lượng phân bón thích hợp và các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cho cây ngô trên đất dốc vùng Bắc Trung bộ Vì vậy, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này nhằm giải quyết những tồn tại nêu trên để góp phần gia tăng năng suất, sản lượng ngô và hiệu quả kinh tế, thời hạn chế sự xói mòn rửa trôi, đảm bảo cân bằng sinh thái vùng Bắc Trung bộ
Trang 7CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Giống ngô
Nguồn vật liệu gồm 12 giống ngô lai của Viện Nghiên cứu Ngô và các công ty nước ngoài đang bán trên thị trường Việt Nam; giống CP999 là giống đang được trồng đại trà ở địa phương làm đối chứng Nguồn vật liệu các giống ngô sử dụng trong nghiên cứu được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Các giống ngô tham gia thí nghiệm gồm:
2.1.2 Các loại phân bón và vật tư
- Phân bón: Các thí nghiệm sử dụng phân hữu cơ vi sinh sông
Trang 8Gianh;
phân đạm Urê có hàm lượng N là 46%; phân Super lân có hàm lượng
P2O5 là 16%; phân kali clorua có hàm lượng K2O là 60%
- Thuốc diệt cỏ: MIZIN (có thành phần hoạt chất là Atrazine), Atamex 800WP (có thành Phần Hoạt Chất: Atrazine 800g/kg, Luxdan 75WP (có thành phần hoạt chất là Nicosulfuron (min 94%) :
750 g/kg), Dibstar 50EC (có thành phần hoạt chất là Acetochlor (min 93.3%) : 500g/l)
- Thuốc trừ sâu: Proclaim 1.9 EC (có thành phần hoạt chất là 19g/LEmamectin benzoate, Ofatox 400EC (có Fenitrothion 200gr/l; trichlorfon 200gr/l), Sutin 5EC (có Acetamiprid 30g/l + Imidacloprid 20g/l)
Thuốc trừ bệnh: Kasumin 2L (có Kasugamycin 2%), PRO-Thiram (có PRO-Thiram 800g/Kg), Vicarben 50SC có (Carbendazim… 500g/ lít)
Phân bón và những thuốc này được sử dụng trong phòng trừ sâu đục thân, đục bắp và phòng trừ các loại bệnh chính gây hại trên ngô và nằm trong danh mục được phép sử dụng của Cục BVTV tại thời điểm sử dụng
2.2 Điều kiện nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện khí hậu, thời tiết trong quá trình nghiên cứu
Nhìn chung trong thời gian tiến hành thí nghiệm tại Nghệ An
và Thanh Hoá vụ Xuân 2013 - 2017 điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi cho cây ngô sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên, ở các năm
2014 và 2015 có lượng mưa thấp hơn, do vậy đã ảnh hưởng đến năng suất của các giống và các công thức thí nghiệm
2.2.2 Đất thí nghiệm
Các thí nghiệm được bố trí trên dốc dưới 150, không chủ động nước tưới chỉ gieo trồng được trong vụ Xuân:
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm, mô hình được bố trí trên vùng đất dốc dưới
150 tại xã Hoa Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An và xã Hoá Quỳ huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá
Trang 92.3.2 Thời gian nghiên cứu
- Các thí nghiệm về tuyển chọn giống ngô lai mới được tiến hành trong 2 vụ: Xuân 2013, Xuân 2014
- Các thí nghiệm nghiên cứu về mật độ, phân bón trồng cho giống ngô lai mới triển vọng được thực hiện trong 2 vụ: Xuân
2015 và Xuân 2016
- Các thí nghiệm thời vụ gieo trồng thích hợp cho giống ngô CS71 trên đất dốc Nghệ An và Thanh Hóa được thực hiện trong 2 vụ: Xuân 2015 và Xuân 2016
- Các thí nghiệm nghiên cứu về cơ giới hoá cho giống ngô lai mới triển vọng được thực hiện trong 2 vụ: Xuân 2015 và Xuân 2016
- Các thí nghiệm nghiên cứu về Thuốc BVTV cho giống ngô lai mới triển vọng được thực hiện trong 2 vụ: Xuân 2015 và Xuân 2016
- Xây dựng các mô hình thực nghiệm áp dụng mật độ trồng
và liều lượng phân bón thích hợp cho giống ngô lai mới được tuyển chọn trên đất dốc được thực hiện trong 1 vụ: Xuân 2017
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nội dung 1: Điều tra, đánh giá hiện trạng sản xuất ngô tại Nghệ An
và Thanh Hóa
2.4.2 Nội dung 2: Nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất ngô trên đất dốc tại Nghệ An và Thanh Hóa 2.4.3 Nội dung 3: Xây dựng mô hình thực nghiệm áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật: thời vụ, mật độ trồng, liều lượng phân và cơ giới hoá thích hợp cho giống ngô lai mới triển vọng trên đất dốc tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Nội dung 1: Điều tra, đánh giá hiện trạng sản xuất ngô tại Nghệ An và Thanh Hóa;
Trang 10Tiến hành thu thập thông tin về năng suất, diện tích, sản lượng, cơ cấu giống… thông qua phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA) Mỗi huyện điều tra 2 xã Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 20 hộ
c) Thí nghiệm 3: Xác định mật độ, liều lượng phân bón cho giống ngô được tuyển chọn (giống CS71)
Thí nghiệm gồm 2 nhân tố, thiết kế theo kiểu ô lớn, ô nhỏ
(split plot) với 3 lần nhắc lại, ô lớn là mật độ (M), gồm 4 mức: M1, M2, M3 và M4, ô nhỏ là phân bón (P), gồm 5 mức: P1, P2, P3, P4, P5; mỗi ô lớn gồm 20 hàng, ô nhỏ 4 hàng mỗi hàng dài 5 mét Các chỉ tiêu theo dõi đánh giá được thực hiện ở 2 hàng giữa của ô
d) Thí nghiệm 4: Nghiên cứu thử nghiệm cơ giới hóa các khâu làm đất, rạch hàng, phun thuốc và tách hạt, trong sản xuất ngô trên đất dốc trên giống ngô CS71
Thí nghiệm áp dụng theo phương pháp ô lớn trên khu ruộng
có diện tích từ 6000 m2; đối chứng theo phương pháp làm đất truyền thống ở địa phương
e) Thí nghiệm 5: Nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại trong sản xuất ngô trên đất dốc các tỉnh Bắc Trung Bộ
Trang 11Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đủ (RCBD), 3 lần nhắc lại, mỗi công thức gồm 4 hàng, mỗi hàng dài 5 m Các chỉ tiêu theo dõi được thực hiện các hàng giữa của ô
- Quy trình kỹ thuật áp dụng và các chỉ tiêu theo dõi cho
các thí nghiệm thực hiện theo “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về
khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô”, QCVN
01-56: 2011/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011b)
2.5.3 Nội dung 3 Xây dựng mô hình áp dụng tổng hợp các biện
pháp kỹ thuật thích hợp (thời vụ, mật độ, phân bón, ) trên giống ngô tuyển chọn được (Giống CS71)
2.6 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp đánh giá
- Các chỉ tiêu theo dõi, phương pháp đánh giá và thu thập số
liệu được áp dụng theo: “Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo
nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống ngô”, QCVN 01-56:
2011/BNNPTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011b)
2.7 Phương pháp xử lý số liệu
- Đánh giá tính ổn định của các giống ngô dựa theo năng suất bắp thông qua mô hình của Eberhart và Russell (1966) với hệ số hồi quy bi (tương tác giữa môi trường và kiểu gen) và độ lệch bình phương trung bình (S2
di) so với đường hồi quy:
- Xử lý thống kê số liệu trong điều tra hiện trạng, các thí nghiệm về biện pháp kỹ thuật canh tác thông qua các tham số thống kê, dựa theo chương trình MS EXCEL 2010, phần mềm IRRISTAT 5.0 và phần mềm STATISTIX 8.2 trên máy vi tính (Dẫn theo Nguyễn Huy Hoàng và cộng sự, 2014; 2017)
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra tình hình sản xuất ngô tại Nghệ An và Thanh Hóa
Trong giai đoạn 2012 - 2017, diện tích ngô vùng Bắc Trung
bộ tương đối ổn định, trung bình đạt 127,8 nghìn ha, chiếm 11% diện tích ngô cả nước Tuy nhiên, sản xuất ngô vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, cây ngô khó cạnh tranh với các cây trồng khác
về hiệu quả Năng suất ngô trung bình vùng Bắc Trung bộ giai đoạn
Trang 122012 - 2017 đạt 39 tạ/ha, thấp hơn năng suất trung bình ngô cả nước
6,65 tạ/ha Điều này cũng cho thấy, phát triển sản xuất ngô ở vùng
Bắc Trung bộ hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn Bởi vậy, để phát triển sản xuất ngô ở vùng Bắc Trung bộ, các giải pháp được tập trung vào: hỗ trợ kỹ thuật canh tác, khuyến khích xây dựng hệ thống bảo quản ngô, gắn kết sản xuất với tiêu thụ; Nhà nước cần quy hoạch vùng sản xuất và có chính sách ưu đãi cho phát triển sản xuất ngô
3.2 Kết quả nghiên cứu một số giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất ngô trên đất dốc tại Nghệ An và Thanh Hóa
3.2.1 Kết quả nghiên cứu xác định giống ngô thích hợp trồng trên đất dốc vùng Bắc Trung bộ (Nghệ An và Thanh Hóa)
3.2.1.1 Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển, hình thái và sinh lý của các giống ngô tham gia thí nghiệm
a) Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng phát triển
Trên địa bàn huyện Anh Sơn và huyện Như Xuân, nếu vụ Xuân trồng từ 20/1-20/2 thì thời kỳ trỗ cờ, tung phấn phun râu của các giống thí nghiệm sẽ tránh được các đợt gió lào, gây ảnh hưởng đến khả năng tạo hạt Nếu trồng vào vụ Hè Thu, thời kỳ mọc mầm sẽ gặp hạn hán kéo dài còn thời kỳ trỗ cờ, tung phấn đúng vào mùa mưa, thường gặp các đợt lũ quét gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành hạt, làm giảm năng suất của giống Do đó, với thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung ngày (105 - 120 ngày), các giống thí nghiệm phù hợp với cơ cấu vụ Xuân trên địa bản huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An và huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá
b) Chiều cao cây, cao đóng bắp của các giống ngô
Chiều cao cây của tất cả các giống dao động từ 164,4 đến 224,6 cm trong vụ tại Nghệ An và từ 190 đến 217,1 cm tại Thanh Hoá Trong đó các giống có chiều cao cây cao nhất hai điểm là P4199 và NK4300 lần lượt là 217,1cm Giống LVN61 và LVN66 có chiều cao cây thấp nhất tại hai điểm, dao động từ 164,4 đến 190 cm Hai giống này có chiều cao thấp hơn giống đối chứng CP999
Qua quá trình theo dõi thí nghiệm trong vụ Xuân 2013 và Xuân 2014 tại Nghệ An và Thanh Hoá cho thấy: Giống thí nghiệm
có chiều cao đóng bắp cao nhất là NK4300, P4199 cao hơn đối chứng CP999 từ 21,5-39,9 cm Tất cả các giống còn lại có chiều cao
Trang 13đóng bắp dao động từ 54,5-103,6 cm Trong đó, giống có chiều cao đóng bắp thấp nhất là LVN61 (tại Nghệ An 54,5 cm)
c) Trạng thái cây, độ kín bao bắp của các giống ngô
Qua kết quả theo dõi, đánh giá các giống thí nghiệm trong vụ Xuân 2013 và Xuân 2014 tại 2 điểm thí nghiệm cho thấy, tất cả các giống đều có trạng thái cây dao động từ điểm 2 đến 3 (ở mức khá và trung bình) Các giống có trạng thái cây tốt hơn giống đối chứng CP999 trong 2 vụ tại hai điểm là CS71, NK4300 và P4199 (điểm 2)
Độ kín bao bắp: Là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận, bởi lá bao bắp có vai trò trong việc bảo vệ bắp, đồng thời còn góp một phần vào quá trình quang hợp tạo nguồn dinh dưỡng nuôi bắp, chỉ tiêu độ kín bao bắp phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của giống Nhìn chung các giống ngô lai có độ kín bao bắp từ kín đến rất kín (điểm 1- 2), tốt hơn giống đối chứng CP999 có 3 giống có độ bao kín bắp tương đương với đối chứng là LVN146, LVN152, LVN102
3.2.1.2 Tình hình sâu bệnh hại, khả năng chống đổ và chịu hạn của các giống ngô lai
a) Tình hình sâu, bệnh hại chính của các giống ngô lai
Kết quả theo dõi về khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và một số sâu bệnh hại chính của các giống ngô thí nghiệm tại hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa cho thấy:
- Sâu đục thân: Tất cả các giống tham gia thí nghiệm tại hai
địa phương đều bị sâu đục thân gây hại, dao động từ điểm 1 đến điểm 3
- Sâu đục bắp: Hầu hết các giống thí nghiệm tại 2 điểm đều nhiễm sâu đục bắp ở mức nhẹ (điểm 2 - 3 ), tương đương với giống đối chứng CP999 Chỉ có các giống CS71 và P419 nhiễm sâu đục bắp ở mức rất nhẹ (điểm 1)
- Bệnh khô vằn: Đây là loại bệnh phổ biến nhất trên cây ngô
ở vùng nhiệt đới, làm giảm năng suất và chất lượng ngô Bệnh chủ yếu xuất hiện và phát triển mạnh từ lúc ngô trổ cờ, tung phấn phun râu đến lúc thu hoạch Qua theo dõi thí nghiệm tất cả các giống thí nghiệm trong 2 vụ xuân 2013 và 2014 tại Nghệ An và Thanh Hóa đều bị nhiễm khô vằn, đốm lá, ở mức rất nhẹ đến trung bình