ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 1 MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Vị trí của sản phẩm rau, quả trong sản xuất và cuộc sống hàng ngày của con người là rất lớn Sản phẩm cây ăn quả đã đem lại nhiều lợi ích thiết[.]
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vị trí của sản phẩm rau, quả trong sản xuất và cuộc sống hàng ngày của con người là rất lớn Sản phẩm cây ăn quả đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực như cải thiện bữa ăn cho người dân, cung cấp dinh dưỡng, khoáng chất, các vi lượng cần thiết khác cho sự phát triển của cơ thể Ngoài ra, chúng còn cung cấp các thành phần dược liệu quý giúp cơ thể có sức đề kháng phòng chống một số bệnh tật vô cùng hữu hiệu Trồng cây ăn quả đem lại nguồn thu nhập cao cho người nông dân ở nhiều vùng, không ít hộ nông dân trở nên giầu có
từ trồng cây ăn quả Kinh tế do ngành sản xuất rau quả đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung Ngoài việc cung cấp cho tiêu dùng trong nước, rau quả còn là nông sản xuất khẩu với giá trị kim nghạch khá cao đạt mức 1,04 tỉ USD vào năm 2013, và đạt mức 1,2 tỷ USD năm 2014
Tuy nhiên, cho đến nay nghề trồng cây ăn quả ở tỉnh Điện Biên còn đang ở tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, tự phát, sản phẩm hang hóa chưa nhiều, chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh kém
và chưa phát triển đúng với tiềm năng thế mạnh của tỉnh Các giống cây ăn quả hiện nay được trồng nhiều trong tỉnh như nhãn, xoài, hồng, chuối… hầu hết là giống địa phương, cho hiệu quả kinh tế không cao
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Điều tra, thử nghiệm một số cây ăn quả cho Vùng lòng chảo tỉnh Điện Biên”
Trang 22 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế vườn hộ, đa dạng hóa
bộ giống cây ăn quả ở tỉnh Điện Biên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng sản xuất cây ăn quả, đồng thời xác định các nguyên nhân hạn chế sự phát triển cây ăn quả và đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế đó cho tỉnh Điện Biên
- Khảo nghiệm sự sinh trưởng của một số giống cây ăn quả mới Bơ, Chuối, Xoài… bước đầu đánh giá được một số giống có triển vọng phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Điện Biên
- Tuyển chọn được 2 - 3 giống cây ăn quả phù hợp cho vùng lòng chảo Điện Biên
- Xây dựng được quy trình trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho các giống cây ăn quả triển vọng
- Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho 200 lượt cán bộ, nông dân
về kỹ thuật trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
* Các giống cây ăn quả nghiên cứu
- Giống chuối tiêu vừa VN1-064, chuối Tiêu hồng
Trang 3- Xoài Kim Hoàng (X.PH-10), xoài GL6
- Các giống bơ Julio, bơ B3, bơ Booth7 và giống bơ TA5
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Thanh Chăn, xã Thanh Yên, xã Sam Mứn, xã Hua Thanh, xã Him Lam của huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
- Thời gian: từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Điều tra tình hình sản xuất cây ăn quả, tìm
hiểu các nguyên nhân hạn chế đến sự phát triển một số loại cây ăn quả chính của tỉnh Điện Biên
- Nội dung 2: Trồng thử nghiệm một số loại cây quả tại Vùng
lòng chảo
- Nội dung 3: Tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và
phòng trừ sâu bệnh hại chuối, xoài và bơ cho cán bộ địa phương và nông dân trong vùng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra
Dùng phương pháp phỏng vấn nhanh nông hộ kết hợp với bảng hỏi Tổng hợp kết quả của 2 hướng trên, đưa ra nhận định, đánh giá các yếu tố hạn chế và phương hướng khắc phục để phát triển cây ăn quả cho từng địa phương
2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các chỉ tiêu theo dõi
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB), với 5 lần nhắc lại, mỗi công thức 10 cây
- Các chỉ tiêu theo dõi:
Trang 4+ Chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển của cây
+ Chỉ tiêu về năng suất, chất lượng quả
+ Chỉ tiêu về sâu bệnh hại
2.4.3 Tập huấn kỹ thuật
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Excel
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả điều tra tình hình sản xuất cây ăn quả, tìm hiểu các nguyên nhân hạn chế đến sự phát triển một số loại cây ăn quả chính của tỉnh Điện Biên
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên
3.1.1.2 Địa hình
Điện Biên có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, mức độ chia cắt ngang và chia cắt sâu lớn; được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng, sông suối nhỏ, hẹp và dốc phân bố khắp nơi trong địa bàn tỉnh Núi cao tập trung ở phía Nam, thuộc ranh giới huyện Điện Biên,
Trang 5Điện Biên Đông và Tuần Giáo Đó là các dãy núi thượng nguồn sông
Mã và Nậm Rốm, đỉnh cao nhất là Pú Huổi Luông (2.178m), núi Pho Thông (1.908m), Nậm Khẩu Hú (1.747m), dãy núi Hồ Nậm Nghèn (1.395m) Xen giữa núi và cao nguyên là các thung lũng hoặc lòng chảo có bề mặt tương đối bằng phẳng, những dạng địa hình này chiếm phần diện tích không lớn
3.1.1.3 Khí hậu
Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng núi mùa đông lạnh Suốt mùa đông duy trì một tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa, còn mùa hè nhiều mưa Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh
là sự phân hoá đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa
Điện Biên có nhiều nắng, khoảng 1.820-2.035 giờ/năm; 115-215 giờ/tháng Ba tháng (3 - 5) có nhiều nắng nhất, đạt từ 145- 220 giờ/ tháng Ba tháng mùa mưa (6 - 8) có ít nắng nhất, tuy nhiên vẫn có khoảng 115 - 142 giờ/ tháng
Nhiệt độ trung bình năm thay đổi theo độ cao địa hình Vùng thấp dưới 300m nhiệt độ trung bình năm cao, đạt 230C; ở độ cao khoảng 750 - 800m đạt 200C; giảm xuống 160
C ở độ cao khoảng 1.550-1.660m Nhiệt độ trung bình dao động mạnh trong năm, với biên độ đạt khoảng 8,3-10,30
C
Ở Điện Biên, lượng mưa dao động trong phạm vi khá rộng từ 1.400-2.500mm/năm Khu vực Mường Mươn (thung lũng sông Nậm Mức) nằm trong thung lũng khuất gió có lượng mưa thấp nhất tỉnh, chỉ đạt khoảng 1.400mm/năm, thuộc chế độ mưa ít Khu vực vùng núi cao phía Tây Bắc tỉnh, thuộc Mường Nhé có lượng mưa lớn nhất, đạt 2.000-2.500 mm/năm Các khu vực còn lại có lượng mưa dao
Trang 6động trong khoảng 1.500-2.000mm/năm Như vậy trên đại bộ phận lãnh thổ tỉnh Điện Biên có chế độ mưa vừa
3.1.1.4 Thổ nhưỡng
Đất đai tỉnh Điện Biên phong phú, đa dạng với nhiều quá trình hình thành khác nhau Theo nguồn gốc phát sinh có thể chia thành 7 nhóm chính, đó là: Đất phù sa (12.622,13ha), đất đen vùng nhiệt đới (95,22 ha), đất đỏ vàng hay còn gọi là đất Feralit (629.806,26ha), đất mùn - vàng đỏ trên núi (291.818,08ha), đất mùn Alít trên núi cao (1.136,35 ha), đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (1.467,04 ha)
và đất dốc tụ (1.460,64 ha)
3.1.2 Kết quả điều tra tình hình sản xuất cây ăn quả tại vùng lòng
chảo Điện Biên
a) Tình hình sản xuất nhãn
u n Đi n i n t nh Đi n i n) có khoảng 1.000ha câ ăn quả, tập trung chủ ếu ở các xã quanh khu vực lòng chảo tr n di n tích đất vườn lớn hoặc trồng xen kẽ tại khu vực bãi màu, như trồng táo ở xã Thanh Xương; hồng không hạt, xoài Thái ở Thanh ưng; quýt ở Thanh Chăn, Thanh Y n; Chuối, đào Pháp ở Mường Phăng
Tuy nhiên, để sản xuất ổn định và bền vững, bà con vùng lòng chảo huyện Điện Biên rất k vọng vào một loại cây trồng cho thu nhập cao, dần giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập thấp từ cây lúa Đáp ứng nguyện vọng đó của bà con, từ năm 2012-2013, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Điện Biên đã triển khai dự án Ghép nhãn cải tạo qui mô 1,3 ha, với 74 hộ tham gia triển khai tại 3 xã Thanh Hưng, Thanh Luông, Sam Mứn, kinh phí từ nguồn vốn DANIDA của chính phủ Đan Mạch tài trợ
Trang 7Các hộ tham gia mô hình được tập huấn kỹ thuật và được hỗ trợ một phần giống, vật tư Trung tâm Khuyến nông tỉnh và Trạm Khuyến nông huyện Điện Biên đã tìm kiếm, lựa chọn các cây ghép giống tốt và các mắt ghép từ các cây nhãn gốc có các đặc điểm di truyền tốt, có năng suất cao, chất lượng quả thơm ngon để ghép vào các cây nhãn s n có của các hộ tham gia mô hình Cách làm này giúp cải thiện chất lượng giống, nâng cao tính thích ứng của các giống tốt, tạo ra các cây ghép mau ra quả với năng suất, sản lượng, chất lượng cao hơn
b) Tình hình sản xuất chuối:
Hiện tại trên địa bàn vùng lòng chảo Điện Biên, cơ cấu các giống chuối gồm: giống chuối tây cao cây, chuối hột, chuối tiêu hồng, chuối tiêu vừa và chuối ngự phấn
- Giống chuối tây cao cây, chuối hột, chuối ngự phấn: là các giống đã được trồng lâu đời ở địa phương Tuy nhiên diện tích không nhiều, chỉ được trồng rải rác ở các vườn hộ Nguyên nhân các giống này có mặt từ lâu nhưng không thể phát triển mở rộng thành hàng hóa, có thể kể đến các nguyên nhân sau:
+ Về mặt hiệu quả kinh tế: nhìn chung các giống đều chưa cho hiệu quả kinh tế cao (giá rẻ), khó tiêu thụ
+ Về mặt kỹ thuật và canh tác: nhiều giống bị nhiễm bệnh nặng (chuối ngự phấn) nên sau trồng một vài năm, có hiện tượng cả khóm bị lụi, nên mặc dù chất lượng của giống khá tốt, nhưng sản phẩm đạt được đều có phẩm chất kém Hoặc một số giống, quả ra không kiểm soát, nên lúc thị trường cần thì không có cung cấp hoặc khi có quả thì vào thời điểm quả bị chua (chuối tây cao cây)
Trang 8- Các giống chuối tiêu hồng, chuối VN1-064 Sau thời gian khảo nghiệm, một số diện tích bị chết do nắng nóng lúc cây còn nhỏ hoặc diện tích bị úng ngập trong mùa mưa thì tỷ lệ ra buồng và chất lượng quả thấp Tuy nhiên, các diện tích còn lại đều cho buồng và quả chất lượng rất tốt Trong đó, giống VN1-064 cho tỷ lệ ra buồng
và chất lượng quả cao hơn giống tiêu hồng
3.1.3 Nhận định, đánh giá các yếu tố hạn chế của địa phương
Điều kiện tự nhiên tại Điện Biên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây ăn quả, như: nhãn, vải, xoài, cây có múi, hồng … Thị trường tiêu thụ tương đối rộng lớn (Hiện tại sản phẩm quả tiêu thụ trên thị trường nội tỉnh vẫn chủ yếu nhập từ các vùng khác đến) Tuy nhiên, sản xuất nhóm cây trồng này trong tỉnh chưa thực sự phát triển Có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, nhưng có thể kể đến:
Thứ nhất: Điện Biên là một tỉnh miền núi vùng cao nên trình độ nhận thức của nhân dân không đồng đều, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất còn thấp kém, phương thức sản xuất chủ yếu là tự cung, tự cấp; phong tục, tập quán canh tác chưa bắt kịp với nhiều vùng khác, nhất là tập quán canh tác cũ vẫn còn tồn tại trong đời sống đồng bào các dân tộc … Dẫn tới việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, gieo trồng ít thâm canh, có nhiều diện tích thuận lợi lại không tăng vụ hoặc trồng cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao Trong công tác trồng và phát triển cây lâu năm như cây ăn quả, người nông dân chưa thật sự quan tâm, chưa nhận thức đúng về hiệu quả kinh tế do trồng cây ăn quả mang lại, vì vậy, khó khăn cho việc triển khai và thực hiện phát triển một số loại cây ăn quả
Trang 9Thứ hai: Cây trồng chính tại các huyện của Điện biên chủ yếu là các cây trồng ngắn ngày như lúa, ngô, lạc, đậu tương,… Diện tích cây ăn quả thấp chủ yếu là cam, nhãn, vải, chuối, xoài,… Các giống cây ăn quả được trồng chủ yếu là các giống cây bản địa, năng suất và chất lượng thấp Cây ăn quả được trồng nhiều tại các huyện Mường nhé, huyện Điện Biên, huyện Điện Biên Đông và TP Điện Biên Phủ, cây không được trồng tập trung nên sản phẩm quả được tạo ra trong vùng không đồng bộ về mẫu mã và chất lượng Điều này gây khó khăn cho các thương lái, doanh nghiệp, cũng như các nhà quản lý,… thực hiện việc quảng bá và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra khỏi các thị trường truyền thống
Người dân trồng cây ăn quả theo hướng tự phát với số lượng
ít hoặc được hỗ trợ của một số chương trình dự án, tuy nhiên khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật còn hạn chế dẫn đến cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế không cao Qua phân tích lá vào tháng 6/2013 của một số giống cây ăn quả phổ biến tại một số xã Thanh Chăn, Thanh Yên, Vô Thanh, Sam Mứn, thuộc huyện Điện Biên, chúng tôi nhận thấy cây trồng không được chăm sóc theo đúng kỹ thuật, cây trồng hầu như không được chăm sóc, một số ít được chăm sóc theo kinh nghiệm của người dân dẫn đến cây kém phát triển, tỷ lệ rụng hoa, quả non cao ảnh hưởng tới năng suất cây trồng Đồng thời diễn biến của tật đoàn sâu, bệnh ở trong năm khá phức tạp, nhất là tập đoàn rầy, sâu ăn lá, sâu đục thân làm giảm năng suất ở một số diện tích cây ăn quả
Các giải pháp cần có để phát triển câ ăn quả trong t nh, có thể đưa ra gồm:
Trang 10Thứ nhất: Cần phải tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm thay đổi nhận thức của người dân về phát triển cây ăn quả, cần phối hợp với các đơn vị quản lý mở nhiều lớp tập huấn cho người dân về lợi ích từ cây ăn quả mang lại, tập huấn các kỹ thuật phát triển cây ăn quả, xây dựng mô hình trình diễn trồng cây ăn quả mang lại hiệu quả cao, xây dựng các hội thảo đầu bờ để trực tiếp cán bộ trao đổi với người dân vấn đề khoa học kỹ thuật đang áp dụng cho vườn cây ăn quả để rút ra ưu điểm, khuyết điểm để có kinh nghiệm và phổ biến cho người dân
Thứ hai: Ngoài việc phục tráng phát triển những loại cây ăn quả bản địa có năng suất, chất lượng tốt, thì cần tiếp tục du nhập các giống cây ăn quả mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện sinh thái tại Điện Biên
Thứ ba: Hỗ trợ xây dựng các kênh tiêu thụ sản phẩm bền vững, nhằm giúp người trồng có thể tiêu thụ được sản phẩm sản xuất
ra, tránh hiện tượng người trồng tạo ra được sản phẩm, người tiêu dùng có nhu cầu sử dụng, nhưng không có sự kết nối giữa các đối tượng này với nhau
3.2 Kết quả thử nghiệm về khả năng sinh trưởng của một số giống cây ăn quả
3.2.1 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của 2 giống chuối thử nghiệm
3.2.1.1 Khả năng sinh trưởng của hai giống chuối trồng thử nghi m
Bảng 3.1 Tỷ lệ sống của các giống chuối thử nghiệm Chỉ tiêu
Giống
Tỷ lệ sống (%) Sau trồng
Trang 11Kết quả bảng 3.1 bước đầu cho thấy: Giống chuối VN1-064 có
tỷ lệ sống cao hơn giống tiêu hồng, bước đầu cho thấy giống
VN1-064 thích nghi hơn và có thể phát triển được tại Điện Biên
* Một số ch ti u sinh trưởng của 2 giống chuối thử nghi m
Bảng 3.3 Một số đặc điểm sinh trưởng của hai giống chuối thử nghiệm
thân giả
(cm)
Đường kính thân giả (cm)
Tổng số
lá (lá)
Số lá hoạt động khi trỗ (lá)
Diện tích lá hoạt động khi trỗ (m 2 )
Qua theo dõi cho thấy giống VN1-064 cho tổng số lá, chiều dài, rộng lá lớn hơn là giống chuối Tiêu Hồng Chứng tỏ đây là giống
sẽ cho tiềm năng năng suất cao hơn giống còn lại
3.2.1.2 Thời gian từ trồng đến thu hoạch ở hai giống chuối
Bảng 3.4 Thời gian từ trồng đến thu hoạch ở các giống chuối
Bắt đầu trỗ đến trỗ xong (ngày)
Trỗ xong đến thu hoạch (ngày)
Tổng số (ngày)
Kết quả bảng 3.4 cho thấy: Theo dõi cho thấy thời gian từ trồng đến thu hoạch của các công thức chênh lệch từ 8 ngày (biến động từ 320 – 325ngày)
3.2.1.3 Năng suất và các ếu tố cấu thành năng suất của hai giống chuối thử nghi m
Trang 12Bảng 3.5 Năng suất của hai giống chuối thử nghiệm
Chỉ tiêu
Công thức
Số nải/buồng (nải)
Số quả/buồng (quả)
Khối lượng buồng tươi (kg)
3.2.1.4 Kết quả đánh giá tình hình sâu b nh hại tr n các giống chuối thử nghi m
Qua đánh giá tình hình sâu bệnh hại chúng tôi nhận thấy trong
mô hình đã xuất hiện một số loại sâu bệnh hại như sâu cuốn lá, sâu róm và bệnh chùn ngọn Trên giống chuối tiêu hồng mức độ bị hại cao hơn so với giống chuối VN – 064, tuy nhiên mức độ bị hại nhẹ không ảnh hưởng tới sinh trưởng của hai giống chuối
Bảng 3.6 Tình hình sâu bệnh hại trên các giống chuối thử nghiệm Địa điểm Sâu, bệnh hại Thành phần Bộ phận gây hại Mức độ gây hại