1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Khảo sát ý kiến người dân tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam docx

34 555 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát ý kiến người dân tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam
Tác giả Jordan D. Ryan
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật pháp và Tư pháp
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 719 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự hiểu biết và việc tiếp cận, người dân cần có niềm tin rằng các thiết chế pháp luật hiện nay đang hoạt động có hiệu quả trong việc bảo vệ các quyền của họ để từ đó họ mong mu

Trang 2

Lời tựa

Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) trên phạm vi toàn cầu và ở Việt Nam tích cực ủng hộ các nỗ lực cải cách pháp luật và tư pháp Mục tiêu chính của các nỗ lực cải cách này là nhằm cải thiện việc tiếp cận công lý một cách có hiệu quả và kịp thời cho tất cả mọi người: đặc biệt là đối với những người nghèo, phụ nữ và các đối tượng thiệt thòi UNDP cho rằng người nghèo cần có được khả năng tìm kiếm và tìm thấy công lý theo pháp luật phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và các quy tắc hiến định Các chuẩn mực và các quy tắc đó là nhằm bảo hộ chế định pháp quyền, cho tất cả mọi người, chống lại những hành vi vi phạm pháp

luật của một số người lợi dụng quyền lực với mục đích trục lợi

Nói một cách đơn giản thì tiếp cận công lý là khả năng của người dân có thể sử dụng các dịch vụ tư pháp công và tư Tầm quan trọng của nó ngày càng được thừa nhận, một phần là bởi vì có một

hệ thống tư pháp có hiệu quả là điều cốt lõi để thực hiện được đầy đủ các Mục tiêu Thiên niên kỷ

Để thúc đẩy việc tiếp cận công lý thì mọi người tuy có những hạn chế và khác biệt về địa vị xã hội nhưng đều phải có được khả năng thụ hưởng hệ thống tư pháp Việc tiếp cận này không thể bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, định hướng chính trị, tôn giáo, địa vị kinh tế và xã hội, hoặc tuổi tác Hơn nữa, việc tiếp cận công lý ngày càng gia tăng đòi hỏi những nhà hoạch định chính sách

và pháp luật phải có sự hiểu biết và giải quyết mối liên hệ giữa chế định pháp quyền, giảm nghèo, nhân quyền và phát triển con người một cách bền vững trong các chính sách và chương trình cái cách tư pháp

Với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã thực hiện những nỗ lực rất đáng kể trong lĩnh vực cải cách pháp luật và tư pháp trong thập kỷ vừa qua Kết quả đạt được bao gồm những cải thiện trong việc xây dựng được khuôn khổ pháp lý và thiết chế cho việc tiếp cận công lý ở Việt Nam

Tuy nhiên, để tiếp tục cải thiện tình hình thì cần phải thường xuyên điểm lại những thành quả đã

đạt được Cùng với kết quả của một số công việc đánh giá và rà soát tổng thể lĩnh vực pháp luật, mục đích của báo cáo nghiên cứu này là giới thiệu về cảm nghĩ của người dân bình thường về hiện trạng tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam

Báo cáo này nhằm cung cấp thông tin mới cho các cơ quan Việt Nam cũng như cộng đồng tài trợ quốc tế để tiếp tục đánh giá các thành tựu đã đạt được và những mặt còn tồn tại cũng như những thách thức và các giải pháp trong các nỗ lực chung đang được thực hiện nhằm tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật và tư pháp cho tất cả người dân Việt Nam Báo cáo này dựa trên một cuộc khảo sát, và do đó cũng như bất kỳ một cuộc khảo sát nào khác, chúng ta cần phải giải thích các kết quả khảo sát một cách thận trọng Tuy nhiên, chúng ta hi vọng rằng công việc này sẽ có ích trong việc nâng cao nhận thức của các nhà hoạch định chính sách và của công chúng về tầm quan trọng của việc tiếp cận công lý

Nhưng bài học thu được của báo cáo nghiên cứu này là sự khẳng định kinh nghiệm toàn cầu: cải cách tư pháp là cần thiết đặc biệt khi mọi người, nhất là những người nghèo, cần được thụ hưởng

từ việc tiếp cận công lý một cách đầy đủ Rõ ràng việc tiếp cận đó là một chỉ số mạnh mẽ của một nền dân chủ sâu rộng và của một xã hội có khả năng thực hiện được các cam kết mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân

Jordan D Ryan

Điều phối viên thường trú Liên Hợp quốc

Đại diện Thường trú Chương trình phát triển Liên Hợp quốc

Trang 3

Tóm tắt

Trong vòng mười năm vừa qua, Việt Nam đã tiến được những bước dài đáng kể trong việc phát triển khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện cho sự chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền Đảng cộng sản và Chính phủ Việt Nam thường xuyên thể hiện sự cam kết của mình đối với nguyên tắc của

hệ thống pháp luật và tư pháp dân chủ và công bằng và đang tích cực tìm kiếm các biện pháp nhằm thúc đẩy các nguyên tắc và các thiết chế để có thể đạt được mục tiêu này UNDP và cộng đồng tài trợ quốc tế đã và đang hỗ trợ Việt Nam thực hiện chương trình cải cách pháp luật thông qua sự trợ giúp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường năng lực các thiết chế pháp luật hiện có Rõ ràng rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền và tăng cường khả năng tiếp cận công lý1 sẽ tiếp tục được coi là ưu tiên trong những năm tới

Mục đích của báo cáo này là cung cấp thông tin mới về vai trò của các cơ quan pháp luật

và các cơ chế hiện hành để người dân có thể tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam, cảm nhận và đánh giá của họ về các cơ quan và các cơ chế đó như thế nào Bản báo cáo dựa trên một nghiên cứu bao gồm hai phần Phần thứ nhất tập trung rà soát các khuôn khổ pháp lý và thiết chế cần thiết cho việc tiếp cận pháp luật và tư pháp Phần thứ hai khảo sát

ý kiến 1000 người dân sống ở sáu tỉnh thành của Việt Nam về các khía cạnh khác nhau của khuôn khổ pháp lý và thiết chế và về tác động của nó đối với việc tiếp cận pháp luật

và tư pháp trong đời sống hàng ngày của họ

Phần thứ nhất của báo cáo phân tích các quy định của Hiến pháp và một số văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu và tìm hiểu chức năng nhiệm vụ của các thiết chế tư pháp, hành chính và bổ trợ hiện có mà người dân có thể tiếp cận Báo cáo cho thấy ở Việt Nam các quyền cơ bản của con người đã được Hiến pháp quy định và cũng có đầy đủ các thiết chế cần thiết để người dân có thể bảo vệ các quyền của mình và tiếp cận công lý

Phần thứ hai của báo cáo được trình bày theo ba yếu tố cơ bản cấu thành việc tiếp cận

pháp luật và tư pháp, đó là sự hiểu biết, việc tiếp cận và niềm tin

Việc đầu tiên người dân cần có để có thể tiếp cận pháp luật và tư pháp là sự hiểu biết về các quyền pháp lý của mình và biết về việc có thể bảo vệ các quyền đó ở đâu Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hiểu biết về các thiết chế pháp luật hiện có, đặc biệt là các thiết chế chính thức như tòa án, cơ quan kiểm sát và các thiết chế bổ trợ khác như trung tâm trợ giúp pháp lý và tổ hòa giải ở cơ sở, là khá thấp Đồng thời kết quả khảo sát cho thấy mức

độ hiểu biết về các thiết chế hành chính ở địa phương như ủy ban nhân dân và cơ quan công an địa phương là khá cao Kết quả khảo sát còn chỉ ra sự khác biệt lớn trong nhận thức giữa các nhóm người khác nhau trong nhân dân Cụ thể là mức độ hiểu biết của người dân giảm tương ứng theo mức độ giảm thu nhập của người được phỏng vấn và mức

độ hiểu biết của những người sống ở nông thôn và miền núi thấp hơn mức độ hiểu biết của những người sống ở thành thị

1

Trong báo cáo này có sử dụng thuật ngữ “access to justice.” Vì chưa có bản dịch chính thức thuật ngữ này ở Việt Nam nên trong bản báo cáo sẽ tạm dịch là “tiếp cận pháp luật và tư pháp.” Tuy nhiên vì thuật ngữ này được hiểu rộng rãi trên thế giới là “tiếp cận công lý”, do đó trong những bối cảnh cụ thể thuật ngữ này cũng sẽ được dịch là “tiếp cận công lý.”-N.D.

Trang 4

Cùng với sự hiểu biết, người dân cần có khả năng tiếp cận thông tin pháp luật và các thiết

chế hiện có để có thể bảo vệ các quyền công dân của mình Kết quả khảo sát cho thấy việc tiếp cận thông tin pháp luật và các thiết chế pháp luật là thấp và không đồng đều Người dân có xu hướng tìm kiếm thông tin pháp luật thông qua các hình thức đơn giản, ví

dụ qua bạn bè, hàng xóm hoặc người thân, hoặc qua phương tiện thông tin đại chúng Mức độ tiếp cận các cơ quan pháp luật cũng tương thích với mức độ hiểu biết về các cơ quan đó Nói cách khác, mức độ tiếp cận cơ quan tòa án và các thiết chế bổ trợ, ví dụ như các trung tâm trợ giúp pháp lý, tổ hòa giải và dịch vụ luật sư là thấp hơn so với mức độ tiếp cận ủy ban nhân dân và công an ở địa phương

Yếu tố cuối cùng của việc tiếp cận pháp luật và tư pháp mà cuộc khảo sát này chú ý đến là

niềm tin Cùng với sự hiểu biết và việc tiếp cận, người dân cần có niềm tin rằng các thiết

chế pháp luật hiện nay đang hoạt động có hiệu quả trong việc bảo vệ các quyền của họ để

từ đó họ mong muốn tiếp cận chúng Nhìn chung, kết quả khảo sát đã cho thấy niềm tin vào các thiết chế pháp luật hiện hành là hơi thấp Kết quả khảo sát còn chỉ ra rằng niềm tin của những người đã từng tiếp cận các cơ quan pháp luật và niềm tin của những người chưa bao giờ tiếp cận các cơ quan đó cơ bản là như nhau Từ đó có thể đưa ra nhận xét rằng ý kiến của người dân đã phản ánh đúng thực trạng Tuy nhiên, kết quả khảo sát về hoạt động của tổ hoà giải và trung tâm trợ giúp pháp lý chỉ ra rằng những người đã tiếp cận các thiết chế này có nhận xét tích cực hơn những người chưa tiếp cận Điều này cho thấy hình ảnh chưa tốt về các thiết chế này ở những người chưa tiếp cận là điều đáng tiếc Phần thứ ba của báo cáo kết luận rằng các phát hiện của cuộc khảo sát đưa ra một số vấn

đề có thể là hữu ích cho các cơ quan liên quan của Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế

để tiếp tục cộng tác nhằm nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam Trong khi tiếp tục hoàn thiện các khuôn khổ và thiết chế hiện hành là công việc quan trọng thì mặt khác việc tăng cường khả năng của người dân trong việc tiếp cận pháp luật

và tư pháp cũng là điều cực kỳ quan trọng Điều này bao gồm tăng cường nhận thức pháp luật của người dân cũng như tăng cường sự tiếp cận và nâng cao niềm tin của người dân

đối với các thiết chế pháp luật hiện hành Kết quả khảo sát gợi ý rằng cần tập trung vào việc tăng cường năng lực các thiết chế pháp luật ở cấp cơ sở để phục vụ nhân dân tốt hơn,

đặc biệt là những người nghèo và những người sống ở vùng sâu vùng xa

Trang 5

Tiếp cận Pháp luật và Tư pháp ở Việt Nam:

Giới thiệu

Trong vòng mười năm vừa qua Việt Nam đã tiến được những bước dài đáng kể trong việc phát triển khuôn khổ pháp lý thúc đẩy sự chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường và việc xây dựng nhà nước pháp quyền Hiến pháp 1992 (sửa đổi)

đã khẳng định rõ định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam Ngoài ra, Quốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật thiết lập các yếu tố cần thiết cho một hệ thống pháp luật có thể hoạt động được, bao gồm quá trình lập pháp và tham gia/ký kết điều ước quốc tế, các thiết chế lập pháp và thi hành pháp luật,

đào tạo pháp luật cơ bản và nâng cao, bồi dưỡng tư pháp, giáo dục và phổ biến pháp luật.3Mặc dù có nhiều thành tựu đáng kể đã đạt được về nhiều mặt, nhưng có một nhận xét chung là cần thiết phải thực hiện chương trình cải cách pháp luật và tư pháp sâu rộng để gắn kết một cách chặt chẽ hơn các cải cách này với chương trình cải cách chung của Chính phủ và các nỗ lực đang thực hiện nhằm tiếp tục xóa đói giảm nghèo Tiếp cận pháp luật và tư pháp cần phải được coi là một trong những yếu tố trọng tâm của các chương trình cải cách đó

Tiếp cận pháp luật và tư pháp là khả năng của người dân có thể bảo vệ các quyền của mình theo các nguyên tắc và chuẩn mực về quyền con người thông qua hệ thống tư pháp chính thức và không chính thức Nền tảng cơ bản của việc tiếp cận pháp luật và tư pháp là

sự tồn tại khuôn khổ pháp lý quy định các quyền cơ bản của người dân và sự tồn tại các thiết chế thực thi các quyền đó Tuy nhiên, để đảm bảo việc tiếp cận pháp luật và tư pháp

thì người dân cần có sự hiểu biết về các quyền của mình và biết tiếp cận nơi nào để có thể bảo vệ quyền lợi của mình; người dân cần có khả năng tiếp cận các thiết chế và/hoặc cơ chế hiện có khi cần; và cuối cùng là họ cần phải có niềm tin đối với hệ thống tư pháp để

họ tiếp cận để thực thi các quyền của mình

Với nhận thức rằng ý kiến của người dân về thực trạng tiếp cận pháp luật và tư pháp có thể đưa ra những thông tin nền tảng mới cho chương trình cải cách pháp luật và tư pháp, UNDP đã mời một công ty tư vấn của Việt Nam tiến hành nghiên cứu các văn bản pháp luật về khuôn khổ pháp lý và thiết chế pháp luật đối với việc tiếp cận pháp luật và tư pháp

và tiến hành một cuộc khảo sát ý kiến của 1000 người dân sống ở các vùng khác nhau về các khía cạnh khác nhau của khuôn khổ và thiết chế pháp luật và sự ảnh hưởng của chúng

đối với việc tiếp cận pháp luật và tư pháp trong đời sống hàng ngày của họ Vì số lượng người được phỏng vấn hạn chế và tính chất định lượng của khảo sát nên kết quả khảo sát

2 Dữ liệu nêu trong báo cáo này là do một công ty tư vấn được UNDP chọn thu thập được từ cuộc khảo sát Vì vậy, UNDP không bảo đảm tính chính xác của các số liệu

3

Nhằm mục đích này, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện công việc Đánh giá tổng thể nhu cầu pháp luật (LNA) do UNDP và một số nhà tài trợ khác hỗ trợ vào năm 2001-2002 để tạo cơ sở cho việc xây dựng một chiến lược dài hạn và tổng thể phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam

Trang 6

không thể được coi là ý kiến của toàn bộ nhân dân Việt Nam và không thể đưa ra những câu trả lời về các lý do chủ yếu đằng sau các phát hiện của cuộc khảo sát Tuy nhiên, kết quả khảo sát đưa ra được bức tranh tổng quát về ý kiến và nhận xét của một bộ phận dân chúng Việt Nam về tình hình tiếp cận pháp luật và tư pháp hiện nay ở Việt Nam Trên cơ

sở đó, bản báo cáo này có mục đích góp phần thúc đẩy nâng cao nhận thức và cải thiện khả năng tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam, cho tất cả người dân Việt Nam

Bản báo cáo này gồm ba phần: Phần một miêu tả tóm tắt khuôn khổ và thiết chế pháp luật về việc tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam; Phần hai giới thiệu tóm tắt các kết

quả thu được từ cuộc khảo sát Phần này được chia ra làm ba mục tương ứng các yếu tố cơ bản để người dân có thể tiếp cận được pháp luật và tư pháp như đã nói ở trên, đó là: nhận

thức, tiếp cận và niềm tin Cuối cùng, Phần ba đưa ra một số kết luận và nhận xét cuối

cùng

Trang 7

Phần 1:

Khuôn khổ pháp lý và thiết chế về

tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam

Các quyền cơ bản của công dân Việt Nam, bao gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế

và xã hội đã được thừa nhận bởi Hiến pháp hiện hành của Việt Nam và được thể hiện cụ thể hơn bởi các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác Ngoài ra, Việt Nam có khá đầy đủ các thiết chế người dân có thể tiếp cận để bảo vệ mình khi có vi phạm pháp luật và/hoặc để yêu cầu giải quyết tranh chấp pháp lý giữa các bên

Trong phần này, báo cáo giới thiệu về việc các quyền cơ bản có thể được thực hiện ở đâu thông qua khuôn khổ thiết chế pháp luật và các cơ chế hiện có mà người dân có thể tiếp cận được

Bảng dưới đây minh họa khuôn khổ thiết chế pháp lý về việc tiếp cận pháp luật và tư pháp

ở Việt Nam.4

4 Theo Hiến pháp 1992 thì Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội (Điều 4) Vai trò nòng cốt của hệ thống các cơ quan của Đảng từ cấp cơ sở đến cấp trung ương đối với hệ thống chính trị, hành chính và pháp luật ở Việt Nam đã được thừa nhận Bản tóm tắt các cơ quan pháp luật đưới đây không dẫn chiếu đến hệ thống các cơ quan của Đảng

Trang 8

Hiến pháp 1992: quy định các quyền cơ bản của công dân Việt Nam

Khuôn khổ thiết chế: Thi hành pháp luật

Luật, Pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác: quy định chi tiết các quyền hiến định và

việc thực thi các quyền đó

Cơ quan kiểm sát: Có chức năng giám sát

việc thi hành thống nhất pháp luật ở Việt

Nam

Lực lượng công an: có chức năng bảo đảm

an ninh và trật tự xã hội từ cấp cơ sở trở lên

Các cơ quan thi hành án: có chức năng thi

hành các bản án dân sự

Các cơ quan hành chính

ủy ban nhân dân: là cơ quan hành chính ở cấp

tỉnh, huyện và xã

Cơ quan thanh tra: có chức năng giải quyết

khiếu nại và tố cáo của công dân và thanh tra một

số loại vi phạm pháp luật và đưa ra kết luận về tình tiết sự việc Các cơ quan thanh tra bao gồm

từ cấp quận huyện đến cấp trung ương

Trưởng thôn: Có chức năng đôn đốc việc thực

hiện các chỉ thị, quyết định của cấp xã phường và hòa giải các tranh chấp theo yêu cầu của người dân

Các thiết chế bổ trợ

Luật sư: Cung cấp dịch vụ pháp lý trong quá trình tố tụng cũng như tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức,

doanh nghiệp

Trung tâm trợ giúp pháp lý: cung cấp trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và những người bị

thiệt thòi trong xã hội

Tổ hòa giải ở cơ sở: hòa giải hoặc hướng dẫn các bên tự giải quyết tranh chấp

Tổ chức quần chúng: giúp đỡ các thành viên của tổ chức giải quyết các khó khăn hàng ngày, bao gồm

hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên

Thông tin đại chúng: góp phần nâng cao nhận thức pháp luật của người dân và việc thi hành pháp luật

được công bằng thông qua việc đưa tin về những vi phạm pháp luật và kiến nghị giải quyết

Trang 9

1.1 Các cơ quan tư pháp

Các cơ quan tư pháp mà nghiên cứu này đề cặp gồm hệ thống tòa án, cơ quan kiểm sát, cơ quan công an và cơ quan thi hành án

Hệ thống tòa án ở Việt Nam có thể chia ra làm ba cấp: tòa án cấp huyện, tòa án cấp tỉnh

và Tòa án tối cao Mỗi quận, huyện đều có một Tòa án nhân dân cấp huyện với thẩm

quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính Hầu hết các

vụ án được xét xử bởi một thẩm phán và hai hội thẩm Mỗi tỉnh, thành đều có một Tòa án

nhân dân cấp tỉnh với thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của

tòa án cấp huyện Hầu hết các vụ án của tòa án cấp tỉnh do ba thẩm phán xét xử Ngoài ra, tòa án cấp tỉnh còn có thẩm quyền xét xử sơ thẩm một số loại vụ án Bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án cấp tỉnh khi bị kháng cáo sẽ do Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối

cao xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất ở Việt Nam

Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có thể sửa bản án sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm và giao vụ án cho tòa án cấp dưới xét xử lại theo định hướng của Tòa phúc thẩm Lưu ý rằng, các vấn đề liên quan đến Hiến pháp không thuộc thẩm quyền của tòa án bởi vì việc giải thích pháp luật là thuộc thẩm quyền của ủy ban Thường vụ Quốc hội

Cơ quan kiểm sát: có chức năng giám sát việc thi hành thống nhất pháp luật ở Việt Nam

và được chia làm ba cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện Nhiệm vụ chính của cơ quan kiểm sát là bảo đảm tính chính xác và khách quan việc truy tố hình sự và giám sát việc thi hành pháp luật bởi các cơ quan thi hành pháp luật, bao gồm tòa án, cơ quan điều tra và các cơ quan thi hành án và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân Ngoài ra, cơ quan kiểm sát còn có chức năng giám sát việc bắt giữ để bảo đảm rằng không ai có thể

bị bắt giữ một cách trái pháp luật và cơ quan công an cũng như các cơ quan có thẩm quyền khác không vi phạm các quyền dân sự của người dân, ví dụ quyền về bảo đảm an toàn tính mạng, tự do và tài sản

Cơ quan công an có thể chia ra làm hai loại: (i) công an điều tra hình sự và (ii) công an

giữ gìn an ninh, trật tự xã hội Công an điều tra hình sự có chức năng và nhiệm vụ chính theo quy định bởi pháp luật về điều tra hình sự Cơ quan điều tra có thể “mở” cuộc điều tra sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi bị cho là vi phạm pháp luật Cơ quan công an cũng có trách nhiệm giữ gìn an ninh và trật tự xã hội từ cấp cơ sở trở lên Lực lượng công an bảo đảm an ninh trật tự tham gia tích cực vào các hoạt động hành chính của ủy ban các cấp và có mối quan hệ chặt chẽ với người dân và các cơ quan

có thẩm quyền khác để giải quyết các xung đột, tranh chấp nhỏ hoặc vi phạm pháp luật chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự

Cơ quan thi hành án có chức năng thi hành các bản án, quyết định dân sự Cục Thi hành

án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có chức năng quản lý công tác thi hành trên phạm vi toàn quốc, còn ở địa phương thì việc tổ chức thi hành án dân sự sẽ do các cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương thực hiện

Trang 10

1.2 Các cơ quan hành chính

Các thiết chế hành chính nêu trong báo cáo này chỉ bao gồm những cơ quan có vai trò quan trọng nhất đối với người dân khi tiếp cận pháp luật và tư pháp, đó là ủy ban nhân dân, thanh tra nhà nước và trưởng thôn

ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Về

nguyên tắc, bất kỳ ai đều có thể làm đơn yêu cầu chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã phường giải quyết các vi phạm pháp luật hoặc các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân

địa phương Chủ tịch ủy ban nhân dân đưa ra những quyết định thuộc thẩm quyền của mình và các bên phải có trách nhiệm thi hành Đối với những tranh chấp mang tính tư pháp thì Chủ tịch ủy ban nhân dân đóng vai trò là người hòa giải hoặc đề nghị các bên yêu cầu tòa án giải quyết

Cơ quan thanh tra nhà nước có chức năng giải quyết khiếu nại và tố cáo của công dân

và thanh tra, kết luận về những hành vi vi phạm pháp luật trong một số trường hợp cụ thể Khi các tình tiết của sự việc có dấu hiệu hình sự, thanh tra nhà nước kiến nghị cơ quan công an và/hoặc cơ quan kiểm sát giải quyết theo thẩm quyển

Trưởng thôn do nhân dân ở thôn bầu ra và được Chủ tịch ủy ban nhân dân xã công nhận

Trưởng thôn có trách nhiệm đôn đốc việc thi hành pháp luật tại thôn và bảo đảm các quyết định của ủy ban nhân dân xã được thi hành Ngoài ra, trưởng thôn còn có trách nhiệm hòa giải các tranh chấp giữa bà con trong thôn Trong trường hợp tranh chấp, mâu thuẫn phức tạp thì trưởng thôn có thể đề nghị tổ hòa giải tiến hành việc hòa giải giữa các bên, hoặc đề nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã xem xét, giải quyết theo thẩm quyền

1.3 Các thiết chế bổ trợ

Các thiết chế bổ trợ nêu trong báo cáo này chỉ tập trung vào các thiết chế quan trọng nhất

có thể giúp đỡ người dân tiếp cận pháp luật và tư pháp, bao gồm luật sư, các trung tâm trợ giúp pháp lý, các tổ hòa giải ở cơ sở, các tổ chức quần chúng và phương tiện thông tin đại chúng

Luật sư ở Việt Nam có thể cung cấp dịch vụ pháp lý trong quá trình tố tụng cũng như tư

vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp Hiện có khoảng 700 văn phòng luật sư trên toàn quốc, chủ yếu là ở các tỉnh/thành lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Đà Nẵng Tổng số luật sư hành nghề ở Việt Nam hiện nay có khoảng hơn

2000 người Phần lớn công việc của luật sư là tham gia tố tụng ở các giai đoạn

Các trung tâm trợ giúp pháp lý có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho

người nghèo và những người bị thiệt thòi Có khoảng hơn 60 trung tâm trợ giúp pháp lý

đang hoạt động ở các tỉnh/thành Các trung tâm này chịu sự quản lý trực tiếp của các Sở Tư pháp, dưới sự quản lý nghiệp vụ của Cục Trợ giúp pháp lý của Bộ Tư pháp Các trung tâm này chủ yếu cung cấp các dịch vụ pháp lý về các lĩnh vực dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình và các vụ án hình sự

Trang 11

Các tổ hòa giải ở cơ sở có chức năng hòa giải hoặc hướng dẫn các đương sự tự giải quyết

các tranh chấp Đề xuất của tổ hòa giải mặc dù không có giá trị pháp lý ràng buộc các bên nhưng thường được họ tôn trọng thi hành

Các tổ chức quần chúng, bao gồm đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội

nông dân, v.v có ở các địa phương từ cấp xã/phường Các tổ chức này do nhà nước thành lập và hoạt động dưới sự quản lý của Mặt trận tổ quốc Các tổ chức quần chúng có chung một nhiệm vụ là bảo vệ quyền lợi của các thành viên Nhiệm vụ này bao gồm việc giúp đỡ các thành viên giải quyết các khó khăn hàng ngày và hoà giải các mâu thuẫn giữa các thành viên

Phương tiện thông tin đại chúng có vai trò quan trọng thúc đẩy tiếp cận pháp luật và tư

pháp thông qua việc phổ biến thông tin pháp luật và đưa tin về những vi phạm pháp luật

và kiến nghị giải quyết Do đó, các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần nâng cao nhận thức pháp luật và thúc đẩy quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền

Trang 12

Phần 2:

Nhận thức của người dân

Về khảo sát và phương pháp luận: 5 Năm 2003 UNDP đã đưa ra sáng kiến tiến hành một cuộc khảo sát nhằm đánh giá nhận thức và ý kiến của người dân về tiếp cận pháp luật và tư pháp của họ thông qua việc tiếp cận khuôn khổ pháp lý và các thiết chế pháp luật hiện hành như đã mô tả tóm tắt ở Phần 1 nêu trên Cuộc khảo sát đã phỏng vấn 1.000 người dân sống ở sáu tỉnh/thành đại diện cho thành thị, nông thôn và miền núi cả ba miền Bắc, Trung và Nam Những người này cũng đại diện các ngành nghề, giới tính, dân tộc, thu nhập, tuổi tác và trình độ giáo dục Họ được lựa chọn một cách ngẫu nhiên để trả lời các câu hỏi về nhiều khía cạnh của khuôn khổ pháp lý, các thiết chế pháp luật và về ảnh hưởng của việc tiếp cận pháp luật và tư pháp của họ

Những người được phỏng vấn đã trả lời khoảng gần 100 câu hỏi liên quan đến việc tiếp cận và nhận xét về pháp luật, việc tiếp cận và ý kiến đánh giá về các thiết chế pháp luật và các thiết chế bổ trợ, các yếu tố giáo dục, tâm lý-xã hội ảnh hưởng đến việc tiếp cận pháp luật và tư pháp, và về nhận thức và ý kiến đánh giá của họ đối với các nỗ lực cải cách pháp luật và tư pháp hiện hành Nhận xét của những người đã từng tiếp cận hệ thống pháp luật được dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của họ, còn nhận xét của những người chưa tiếp cận bao giờ được dựa trên sự hiểu biết và nhận thức của họ

Các nhóm phỏng vấn đã trao đổi trực tiếp các đối tượng và tự điền các câu trả lời dựa theo thông tin thu được Các chuyên gia kiểm tra chất lượng đã tiến hành kiểm tra nhằm đảm bảo các cuộc phỏng vấn đã được thực hiện một cách nghiêm túc và các câu trả lời đã được lĩnh hội một cách đúng đắn và chính xác, và đảm bảo những người được phỏng vấn đã đại diện cho các nhóm người khác nhau trong xã hội như yêu cầu đã đặt ra Cuối cùng, kết quả cuộc khảo sát được phân tích qua phần mềm máy tính và đưa ra khoảng 1.000 bảng biểu dữ liệu

Giới thiệu về kết quả khảo sát: 6 Toàn bộ dữ liệu kết quả là rất phong phú và tổng thể, do vậy trong khuôn khổ báo cáo này sẽ không có khả năng giới thiệu hết Vì vậy, báo cáo này chỉ giới thiệu các phát hiện quan trọng mang tính khái quát về nhận thức của người dân về các cơ quan pháp luật và các cơ chế chủ yếu có ý nghĩa đối với việc tiếp cận pháp luật và tư pháp ở Việt Nam Báo cáo này sẽ tập trung chủ yếu vào các thiết chế chính mà người dân thường có mối liên hệ trực tiếp, bao gồm các cơ quan tư pháp như tòa án, công

an và một cơ quan kiểm sát; các cơ quan hành chính như ủy ban nhân dân và trưởng thôn;

và các thiết chế bổ trợ như các trung tâm trợ giúp pháp lý, các tổ hòa giải và dịch vụ luật sư Các kết quả được giới thiệu một cách tóm tắt theo cơ cấu gồm ba yếu tố chính của việc tiếp cận pháp luật và tư pháp như đã nêu ở trên, đó là: sự hiểu biết (nhận thức), việc tiếp cận, và niềm tin

Trang 13

2.1 Hiểu biết

Một trong những điều kiện cần thiết để có thể tiếp cận công lý là người dân cần phải hiểu biết về những quyền cơ bản của mình và về những thiết chế pháp luật hiện hành thực thi các quyền đó Để đánh giá mức độ hiểu biết, những người được phỏng vấn đã trả lời một

số câu hỏi liên quan đến sự hiểu biết của họ về các thiết chế pháp luật hiện có để bảo vệ các quyền của họ Các câu hỏi cũng bao gồm những vấn đề liên quan đến các cơ quan tư pháp, hành chính và các thiết chế bổ trợ, cũng như về luật pháp nói chung và công cuộc cải cách pháp luật và tư pháp đã được thực hiện trong thập kỷ vừa qua

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ hiểu biết khá thấp của những người được phỏng vấn về các thiết chế pháp luật hiện hành Mặt khác, trong khi các nỗ lực cải cách được đánh giá

là tích cực nhưng những người được phỏng vấn còn ít biết đến các cải cách đó và tầm quan trọng của chúng

Hiểu biết về các cơ quan tư pháp: Chỉ có 14% số người được hỏi trả lời họ hiểu biết

nhiều về toà án, và 29% số người được hỏi trả lời họ không biết đến toà án.7 Chỉ có 10%

số người được hỏi trả lời họ biết nhiều về cơ quan kiểm sát và 46% số người được hỏi cho rằng họ không biết gì về cơ quan kiểm sát

Mức độ hiểu biết về toà án và cơ quan kiểm sát giảm tương ứng với mức giảm thu nhập của người được phỏng vấn.8 42% số người có thu nhập thấp trả lời là họ không biết toà án, trong khi chỉ có 9% số người có thu nhập cao không biết toà án Tương tự, 60% số người

có thu nhập thấp trả lời là họ không biết cơ quan kiểm sát, trong khi chỉ có 28% số người

có thu nhập cao không biết cơ quan kiểm sát

Nếu so sánh mối tương quan giữa sự hiểu biết với yếu tố địa lý thì thấy rằng những người sống ở nông thôn, đặc biệt là ở miền núi có vẻ biết đến toà án và cơ quan kiểm sát ít hơn những người sống ở thành thị Cụ thể, 51% số người sống ở miền núi, 36% số người sống

ở nông thôn và 10% số người sống ở thành thị không biết về toà án Tỷ lệ không biết về cơ quan kiểm sát của các đối tượng nêu trên tương ứng là 64%; 61% và 8%

Mức độ hiểu biết về cơ quan công an khá hơn nhiều 34% số người được hỏi cho rằng họ hiểu biết nhiều về cơ quan công an, và chỉ có 8% số người được hỏi không biết gì về cơ quan công an

Hiểu biết về các cơ quan hành chính: Tương tự, 38% số người được hỏi trả lời họ hiểu

biết nhiều về uỷ ban nhân dân và chỉ có 7% số người được hỏi nói rằng họ không biết gì

về uỷ ban nhân dân

Một điều thú vị là trong khi mức độ hiểu biết về uỷ ban nhân dân của người dân là khá cao nhưng mức độ hiểu biết của người dân về cơ quan thanh tra nhà nước thì lại khá thấp Chỉ có 7% số người được hỏi cho rằng họ biết nhiều về cơ quan thanh tra nhà nước trong khi có đến 54% số người được hỏi trả lời rằng họ không biết chút gì về cơ quan này

7 “Hiểu biết nhiều” ở đây bao gồm “hiểu biết nhiều” và “hiểu biết tương đối nhiều”

8

3 nhóm thu nhập nêu trong báo cáo này được tính trên thu nhập hàng năm theo hộ gia đình, bao gồm nhóm có thu nhập thấp (từ 8-12 triệu đồng Việt Nam đối với một hộ/năm), nhóm có thu nhập trung bình (từ 12-60 triệu đồng Việt Nam đối với một hộ/năm), và nhóm có thu nhập cao (từ 60 triệu đồng Việt Nam trở lên đối với một hộ/năm)

Trang 14

Biểu đồ 1: Sự hiểu biết về các thiết chế pháp luật

Tỷ lệ phần trăm những người được hỏi cho rằng họ hiểu biết nhiều về một số thiết chế pháp luật, so sánh theo vùng địa lý

Mức độ hiểu biết các thiết chế bổ trợ: Theo kết quả khảo sát thì mức độ hiểu biết của

những người được hỏi về các thiết chế bổ trợ, ví dụ như tổ hoà giải ở cơ sở và trung tâm trợ giúp pháp lý, là khá thấp, trong khi các thiết chế này được thành lập là nhằm mục đích giúp đỡ người dân giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn và bảo vệ quyền lợi của họ trước các cơ quan pháp luật Chỉ có 22% số người được hỏi cho rằng họ biết nhiều về các tổ hoà giải ở cơ sở và 30% số người được hỏi trả lời rằng họ không biết chút gì Đối với các trung tâm trợ giúp pháp lý, chỉ có 5% số người được hỏi là biết nhiều về các trung tâm này, trong khi có đến 66% không biết chút gì về các trung tâm này

Mức độ hiểu biết về các tổ hoà giải ở cơ sở trong số những người có thu nhập khác nhau khá đồng đều 18% số người thuộc nhóm thu nhập cao và 23% số người thuộc nhóm có thu nhập thấp và trung bình biết nhiều về tổ hoà giải Tuy nhiên, nếu nhìn vào sự khác biệt về địa lý thì 34% số người sống ở thành thị hiểu biết nhiều về các tổ hoà giải, trong khi chỉ có 24% số người sống ở nông thôn và 13% số người sống ở miền núi là biết nhiều

về các tổ hoà giải

Tương tự kết quả khảo sát về sự hiểu biết đối với các cơ quan tư pháp, mức độ hiểu biết của người dân về các trung tâm trợ giúp pháp lý giảm dần tương ứng với mức thu nhập giảm đi của người được hỏi Cụ thể là, 74% số người thuộc diện có thu nhập thấp và 56%

số người thuộc diện có thu nhập cao không biết đến trung tâm trợ giúp pháp lý Kết quả này cần được chú ý phân tích khi chức năng và nhiệm vụ của các trung tâm trợ giúp pháp

lý là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo Khi so sánh mức độ hiểu biết về trung tâm trợ giúp pháp lý với sự khác biệt về địa lý thì có thể nhận xét rằng kết quả khảo sát cho thấy những người sống ở nông thôn và miền núi lại ít hiểu biết về các trung tâm này hơn so với những người sống ở thành thị 84% số người sống ở miền núi, 67% số

Trang 15

người sống ở nông thôn và 52% số người sống ở thành thị cho rằng họ không biết gì về các trung tâm trợ giúp pháp lý

Trong khi mức độ hiểu biết về các tổ hoà giải ở cơ sở có vẻ khá hơn trong số người nghèo

và những người sống ở vùng xa thì bức tranh về mức độ hiểu biết về các trung tâm trợ giúp pháp lý lại khác: người có thu nhập càng cao hơn hoặc sống ở thành thị thì biết nhiều

về các trung tâm này hơn

Hiểu biết và đánh giá về các cải cách pháp luật: Ngoài việc khảo sát ý kiến người dân

về các thiết chế pháp luật khác nhau, công việc khảo sát còn tìm hiểu mức độ hiểu biết của người dân và ý kiến nhận xét của họ về các cải cách pháp luật Như đã nêu trong phần giới thiệu, thập kỷ vừa qua đã thu được những thành tựu đáng kể trong việc xây dựng và phát triển khuôn khổ pháp lý để thúc đẩy sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, chỉ có 19% số người

được hỏi cho rằng họ biết nhiều về các cải cách pháp luật mà Nhà nước đã thực hiện và 29% số người được hỏi cho rằng họ không biết gì về các cải cách đó Trong khi 54% số người được hỏi cho rằng cải cách pháp luật là quan trọng9 đối với cuộc sống hàng ngày của họ, thì 20% số người được hỏi không có khả năng đánh giá tầm quan trọng của cải cách pháp luật Có khoảng 61% số người được hỏi cho rằng các biện pháp cải cách pháp luật đã cải thiện10 tình hình chung trong một số lĩnh vực nhất định (bao gồm lĩnh vực lập pháp, giáo dục và đào tạo pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và công tác thi hành án), và khoảng độ 6% số người được hỏi cho rằng tình hình vẫn như cũ hoặc còn xấu hơn 33% số người được hỏi không thể đưa ra nhận xét của mình Nói tóm lại, trong khi những phản hồi nêu trên của người dân đã cho thấy sự đánh giá khá tích cực của người dân đối với tác động của cải cách pháp luật thì mức độ hiểu biết và khả năng đánh giá tầm quan trọng của các cải cách pháp luật của họ nói chung vẫn còn ở mức thấp

Biểu đồ 2: Tỷ lệ trả lời không biết về

Tỷ lệ phần trăm những người được hỏi cho rằng họ không biết về các cải cách pháp luật, so sánh theo mức

độ thu nhập và khác biệt về địa lý

Trang 16

Kết quả khảo sát cũng cho thấy dường như có mối liên quan giữa mức độ thu nhập và khác biệt về địa lý với mức độ nhận thức và khả năng đánh giá tầm quan trọng của cải cách pháp luật Cụ thể là, 38% số người có thu nhập thấp và 14% số người có thu nhập cao cho rằng họ không không biết gì về các cải cách pháp luật 22% số người có thu nhập thấp và 11% số người có thu nhập cao cho rằng họ không có khả năng đánh giá tầm quan trọng của các cải cách pháp luật Xét góc độ khác biệt về địa lý thấy rằng 43% số người sống ở miền núi, 44% số người sống ở nông thôn so với 11% số người sống ở thành thị trả lời rằng họ không biết gì về các cải cách pháp luật 34% số người sống ở miền núi, 22%

số người sống ở nông thôn và 9% số người sống ở thành thị không có khả năng đánh giá tầm quan trọng của cải cách pháp luật đối với cuộc sống thường ngày của họ

Dựa vào những phân tích nêu trên, kết quả khảo sát về mức độ hiểu biết của người dân đã

đặt ra một số vấn đề sau đây:

ƒ Thứ nhất, những người được hỏi hiểu biết hạn chế về khuôn khổ pháp luật và các thiết chế hiện có phục vụ việc bảo vệ quyền công dân, đặc biệt là về các cơ quan tư pháp chủ yếu và các thiết chế bổ trợ, ví dụ như toà án, trung tâm trợ giúp pháp lý và tổ hoà giải ở cơ sở Trái lại, kết quả khảo sát cho thấy mức độ hiểu biết về các thiết chế hành chính, ví dụ như uỷ ban nhân dân và cơ quan công an, là cao hơn

ƒ Thứ hai, kết quả khảo sát còn chỉ ra rằng mức độ hiểu biết về các cải cách pháp luật là thấp, và mặc dù người dân nói chung đã đánh giá khá tích cực về tác động của các cải cách pháp luật nhưng họ có ít khả năng đánh giá tầm quan trọng của các cải cách đó

ƒ Thứ ba, nói chung là mức độ hiểu biết pháp luật của người dân có thu nhập thấp và những người sống ở nông thôn và miền núi là thấp hơn so với những người có thu nhập cao hơn và những người sống ở thành thị

2.2 Tiếp cận

Ngoài sự hiểu biết thì việc tiếp cận thực sự của người dân đối với pháp luật và các thiết chế là rất quan trọng trong việc xây dựng một xã hội pháp quyền Nếu như người dân không mong muốn hoặc không có khả năng tiếp cận các cơ quan pháp luật thì khó có thể nói rằng pháp luật đang vận hành tốt Để khảo sát việc tiếp cận, những người được hỏi đã trả lời các câu hỏi về việc họ tiếp cận thông tin pháp luật ở đâu và họ có sử dụng các thiết chế pháp luật hay không Nhằm khảo sát ý kiến của người dân về các yếu tố ảnh hưởng

đến việc tiếp cận, những người được hỏi đã trả lời các câu hỏi về tầm quan trọng của một

số yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định của họ có khởi kiện hoặc đưa vụ việc ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết hay không và tầm quan trọng của một số yếu tố ảnh hưởng

đến kết quả giải quyết vụ việc

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ tiếp cận thông tin pháp luật và các thiết chế pháp luật là thấp và người dân cho rằng kết quả giải quyết vụ việc phụ thuộc chủ yếu vào tính minh bạch và sự công minh, hơn là yếu tố chi phí cần thiết để giải quyết vụ việc

Tiếp cận thông tin pháp luật: Nhằm đánh giá việc tiếp cận thông tin, khảo sát đã tìm

hiểu ý kiến của người dân về các nỗ lực phổ biến pháp luật cũng như việc tiếp cận của

Trang 17

người dân với một số nguồn thông tin pháp luật hiện có, bao gồm: thông qua bạn bè, hàng xóm và người thân, tủ sách pháp luật ở ủy ban nhân dân xã/phường, thư viện, trung tâm trợ giúp pháp lý, các cơ quan của nhà nước, văn phòng luật sư/công ty luật, phương tiện thông tin đại chúng, cơ sở dữ liệu đĩa CD (“Luật sư của bạn”), và Internet

Biểu đồ 4: Tiếp cận thông tin pháp luật

0 10

Tỷ lệ phần trăm những người được hỏi cho rằng họ đã tiếp cận các nguồn thông tin pháp luật, so sánh theo

sự khác biệt về địa lý

60% số người được hỏi cho rằng các biện pháp phổ biến pháp luật là tốt.11 Đa số những người được hỏi cho rằng họ đã tiếp cận thông tin pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và bạn bè Một số nguồn thông tin pháp luật như văn phòng luật sư/công ty luật, trung tâm trợ giúp pháp lý, đĩa mềm CD và tủ sách pháp luật đặt tại ủy ban nhân dân xã phường ít được người dân tiếp cận, và những người đã tiếp cận các nguồn thông tin này chủ yếu là những người sống ở thành thị chứ không phải là những người sống ở nông thôn hoặc miền núi Internet có vẻ dành được vị trí khá quan trọng so với thư viện và các cơ quan của nhà nước Tuy nhiên, việc sử dụng Internet để tiếp cận thông tin pháp luật rõ ràng chỉ là xu hướng của thành thị với tỷ lệ 37% số người được hỏi sống ở thành thị đã từng tiếp cận Internet để tìm kiếm thông tin pháp luật so với 8% số người

được hỏi sống ở nông thôn và không có người nào ở miền núi đã tiếp cận Internet Nói chung, sự khác biệt về địa lý có ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận thông tin pháp luật Những người sống ở thành thị tiếp cận thông tin pháp luật nhiều hơn so với những người sống ở nông thôn và ở miền núi

Ngoài ra, mức độ tiếp cận thông tin có mối liên hệ qua lại với mức thu nhập của người dân Kết quả khảo sát cho thấy những người có thu nhập cao hơn thường tiếp cận những

11

Nhận xét “tốt” bao gồm “rất tốt” và “tốt”, trừ khi mô tả khác

Ngày đăng: 24/03/2014, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w