1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chính trị học 3

186 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Tổ Chức Chính Trị - Xã Hội Trong Việc Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Tuấn Anh
Người hướng dẫn GS, TSKH Phan Xuân Sơn, PGS, TS Hồ Xuân Quang
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận án Tiến sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nhiều nước trênthế giới, các tổ chức chính trị - xã hội, các nhóm lợi ích hoạt động rất sôi động,tham gia có hiệu quả vào việc kiểm soát quyền lực nhà nước, bằng nhiều hình thức,từ giá

Trang 1

Dịch vụ viết đề tài trọn gói Zalo/tele : 0909232620 – teamluanvan.com

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN ANH

CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI -

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN ANH

CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

TRONG VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Ngành: Chính trị học

Mã số : 9310201

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS, TSKH Phan Xuân Sơn

2 PGS, TS Hồ Xuân Quang

HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án

là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả luận án

Nguyễn Tuấn Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 8 1.1 Các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước 8

1.2 Các công trình nghiên cứu về các tổ chức chính trị - xã hội và việc kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội trên thế giới 15

1.3 Các công trình nghiên cứu về các tổ chức chính trị - xã hội và việc kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam 20

1.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 25

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI TRONG VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 29 2.1 Lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước 29

2.2 Lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội 49

2.3 Kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam 69

Chương 3 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 81 3.1 Địa vị chính trị - pháp lý của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam 81

3.2 Các yếu tổ ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam 88

3.3 Nội dung, phương thức và hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam 100

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 136 4.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam 136

4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam 142

KẾT LUẬN 167

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 169

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 170

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

HĐND : Hội đồng nhân dân

MTTQ : Mặt trận Tổ quốc

TAND : Tòa án nhân dân

UBND : Ủy ban nhân dân

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 2.1: Mô hình tam giác quyền lực trong hoạch định chính sách 60Hình 3.1: Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam 83

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước là những vấn đề trungtâm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia Quyền lực nhà nước là hình thứcbiểu hiện tập trung nhất của quyền lực chính trị Quyền lực nhà nước là một trongnhững công cụ cơ bản nhất để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội thông quaviệc đảm bảo an ninh từ xung đột bên trong và bên ngoài, cung cấp các nguồn lực

và dịch vụ công mà cá nhân và xã hội không thể tự cung cấp được

Quyền lực nhà nước luôn mang tính hai mặt, một mặt là yếu tố không thể thiếu

để tổ chức và quản lý xã hội, mặt khác nó luôn tiềm ẩn nguy cơ bị tha hóa dẫn đếnchuyên quyền, độc đoán trong thực thi quyền lực; hoặc được sử dụng để phục vụcho lợi ích của các cá nhân, nhóm người nào đó trong xã hội, đi ngược lại với lợiích của nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước Ngay cả khi quyềnlực nhà nước được sử dụng với mục đích phục vụ cho lợi ích chung thì vẫn tiềm ẩnnguy cơ mắc sai lầm và gây hậu quả xấu cho xã hội Do đó, khi có quyền lực nhànước tất yếu phải có cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm hạn chế nguy cơtha hóa, đảm bảo quyền lực được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả

Kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện bằng nhiều phương thức khácnhau, có thể bằng các thể chế ở bên trong bộ máy nhà nước, hoặc bằng các thể chếbên ngoài bộ máy nhà nước Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong được thựchiện trên cơ sở nguyên tắc phân quyền nhằm tạo ra sự chế ước, đối trọng và kiểmsoát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực, các cơ quan quyền lực Kiểm soát quyềnlực nhà nước từ bên ngoài là sự kiểm soát của các thể chế không mang tính nhànước, đó là sự kiểm soát của đảng chính trị; của các phương tiện truyền thông đạichúng; của nhân dân thông qua việc thực hiện các quyền hiến định, thông qua các tổchức có tính đại diện do mình lập nên như các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức

xã hội và các bộ phận khác của xã hội dân sự

Trong số các tổ chức đại diện lợi ích do nhân dân lập ra, các tổ chức chính trị

-xã hội có nhiều ưu thế để kiểm soát quyền lực nhà nước có hiệu quả Các tổ chức

Trang 8

chính trị - xã hội là một bộ phận của xã hội dân sự, thực hiện chức năng bảo vệ lợiích của các tầng lớp nhân dân, đồng thời đặt mục tiêu tác động đến nhà nước, làmthay đổi chính sách của nhà nước theo hướng có cho lợi mình Ở nhiều nước trênthế giới, các tổ chức chính trị - xã hội, các nhóm lợi ích hoạt động rất sôi động,tham gia có hiệu quả vào việc kiểm soát quyền lực nhà nước, bằng nhiều hình thức,

từ giám sát quá trình hoạch định và thực thi chính sách công, đến giám sát tư cáchđạo đức của quan chức, công chức chính phủ,…

Ở Việt Nam, trước yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị, vấn đềkiểm soát quyền lực đã được nhận thức khá rõ ràng và các cơ chế kiểm soát quyềnlực từng bước thiết lập, góp phần quan trọng để đảm bảo quyền lực nhà nước đượcthực thi đúng mục đích và có hiệu quả, đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhândân và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Các tổ chức chính trị - xãhội trong hệ thống chính trị Việt Nam có địa vị chính trị pháp lý vững chắc, ngàycàng được tạo các điều kiện về cơ chế pháp lý, không ngừng đổi mới phương thức

tổ chức và nội dung hoạt động để thực hiện tốt hơn vai trò kiểm soát quyền lực nhànước trên tất cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp Các tổ chức này bướcđầu có một số đóng góp đáng kể trong việc mở rộng sự tham gia của người dân vàocông việc của nhà nước, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi nhà nước từ môhình tập trung, quan liêu, nặng tính chất hành chính mệnh lệnh sang mô hình nhànước phục vụ, kiến tạo phát triển

Tuy nhiên, các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện đang phải đối mặt vớinhiều vấn đề khó khăn, thách thức và hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soátquyền lực nhà nước Trong đó, có nhiều hạn chế xuất phát từ nhận thức, tư duy;hoặc do năng lực tổ chức và hoạt động của các tổ chức này chưa đáp ứng kịp cácyêu cầu của thực tiễn đổi mới hệ thống chính trị và phát huy quyền làm chủ củanhân dân; do còn thiếu vắng những luận chứng luận cứ khoa học về vai trò, nhiệm

vụ kiểm soát quyền lực của các tổ chức chính trị - xã hội, nên chưa phát huy đầy đủnăng lực các tổ chức này trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước

Trước yêu cầu “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả

Trang 9

quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” [27, tr.38] trong một hệ thống chính trị đặcthù chỉ có một đảng duy nhất cầm quyền, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn đểtrên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nướccủa các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay là vấn đề cấp thiết Từ cách đặt

vấn đề như vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm hướng nghiên cứu và

viết luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhà nước củacác tổ chức chính trị - xã hội Trên cơ sở đó, đề xuất các quan điểm và giải phápnhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xãhội ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước; vềcác tổ chức chính trị - xã hội; về vai trò, nội dung, phương thức, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội

- Nghiên cứu hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chínhtrị - xã hội ở một số nước trên thế giới, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm, các giátrị tham khảo cho Việt Nam

- Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong hoạtđộng kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay

- Xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soátquyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam đáp ứng yêu cầuđổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước của

Trang 10

các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của các

tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay trên các khía cạnh cơ bản: vai trò, nộidung, phương thức, hiệu lực pháp lý và hiệu quả

3.2.2 Phạm vi không gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam, trên cơ sở tham khảo những yếu tốhợp lý trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ởmột số nước trên thế giới

3.2.3 Phạm vi thời gian nghiên cứu

Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu về việc kiểm soát quyền lực nhà nước củacác tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Kiểm soát quyền lực nhà nước là gì? Tính tất yếu, nội dung và các phươngthức kiểm soát quyền lực nhà nước?

- Các tổ chức chính trị - xã hội là gì? Chúng có vai trò như thế nào trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước?

- Các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nước trên thế giới và Việt Nam thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước như thế nào?

- Trong hệ thống chính trị Việt Nam, có duy nhất một đảng lãnh đạo và cầmquyền, vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội quantrọng như thế nào?

- Những quan điểm và giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò khách quan và quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước

Trang 11

- Trong điều kiện Nhà nước không tổ chức theo mô hình phân lập các quyền,không có hệ thống đa đảng đối lập như nhiều nước trên thế giới, kiểm soát quyềnlực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam, không chỉ có vai tròkhách quan, mà còn là một trong những phương thức quan trọng nhất trong kiểmsoát quyền lực nhà nước.

- Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam có khả năng thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận chủ đạo của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, đề tài còn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận: tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước; các lý thuyết chính trị học về tổ chức,thực thi và kiểm soát quyền lực nhà nước

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu tham khảo

Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ luận án để tiến hành thu thậpnguồn thông tin thứ cấp từ báo cáo của các cơ quan, tổ chức; sách; đề tài khoa học;các bài báo; luận văn, luận án của các tác giả có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.Với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, luận án có cơ sở lý luận và thựctiễn để thực hiện tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, xây dựng cơ sở lý luận,khảo sát thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội

ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả

kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức này

5.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong chương 3 và chương 4 của luận

án nhằm phân tích những diễn biến trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nướccủa các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay, từ những khía cạnh riêng lẻ,

Trang 12

các sự việc khác nhau tổng hợp thành các nhận định, các đánh giá mang tính tổngquát, xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

5.2.3 Phương pháp phân tích hệ thống

Phương pháp này cho phép nhìn nhận các bộ phận của hệ thống chính trị nhưmột chỉnh thể với các yếu tố, bộ phận cấu thành và giữa các bộ phận đó có mối quan

hệ tác động qua lại với nhau Trên cơ sở đó có những đánh giá, nhận xét đúng đắn

về sự vận động của các thể chế chính trị và các sự kiện phức tạp của đời sống chínhtrị Với việc sử dụng phương pháp phân tích hệ thống, luận án phân tích vai tròkiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam trongmối quan hệ tổng thể của tất cả các bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị, trêntất cả các phương diện của sự tương tác qua lại của các bộ phận này, từ đó, có sựnhìn nhận, phân tích, đánh giá và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện mangtính hệ thống

5.2.4 Phương pháp phân tích cấu trúc chức năng

Phương pháp này giúp làm rõ mối quan hệ nội tại giữa cấu trúc và chức năngcủa từng bộ phận hợp thành trong hệ thống chính trị và cho rằng những chức năng

cơ bản nhất phải được thực thi để hệ thống đó có thể tồn tại Luận án sử dụngphương pháp này để trên cơ sở nghiên cứu về cơ cấu, tổ chức và nguyên tắc hoạtđộng của các bộ phận trong hệ thống chính trị, tiến hành phân tích mối quan hệ tácđộng giữa các tổ chức đó ở phương diện kiểm soát quyền lực; làm rõ các nội dung,phương thức, hiệu lực pháp lý, hiệu quả hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nướccủa các tổ chức chính trị - xã hội

5.2.5 Phương pháp chính trị học so sánh

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chứcchính trị - xã hội một số nước trên thế giới, luận án sử dụng phương pháp chính trịhọc so sánh để tiến hành so sánh, đối chiếu với những điều kiện lịch sử cụ thể củaViệt Nam, nhận định những nét tương đồng, khác biệt, từ đó, rút ra các giá trị thamkhảo có thể vận dụng để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổchức chính trị - xã hội ở Việt Nam

Trang 13

6 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thứ nhất, hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận về các tổ chức chính trị - xã

hội; về vai trò, nội dung, phương thức, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước củacác tổ chức chính trị - xã hội

Thứ hai, khảo sát, phân tích thực trạng; đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên

nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổchức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay

Thứ ba, đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm

soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam trong các giaiđoạn tiếp theo

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hoàn

thiện cơ sở lý luận và thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chínhtrị - xã hội ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, có ý nghĩa tích cực trong việc đổimới nhận thức về các tổ chức chính trị - xã hội, về vai trò của chúng trong việc kiểmsoát quyền lực nhà nước

Về mặt thực tiễn: Những kết luận và giải pháp đề xuất của luận án được xây

dựng trên cơ sở lý luận khoa học; khảo sát, đánh giá thực trạng khách quan, trungthực, có thể cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan, tổ chức tham khảo, vận dụngvào thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổchức chính trị - xã hội Ngoài ra, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo choviệc nghiên cứu, học tập, giảng dạy chuyên ngành Chính trị học và các môn khoahọc xã hội và nhân văn có liên quan

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kếtcấu gồm 4 chương, 12 tiết

Trang 14

Chương 1.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước là những vấn đề trọngtâm của khoa học chính trị, được nhiều nhà triết học, chính trị học, xã hội học từthời cổ đại đến nay quan tâm nghiên cứu Có thể khẳng định, từ khi nhà nước ra đời,các vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước trở thành đối tượng nghiên cứucủa nhiều môn khoa học khác nhau, các lý thuyết về tổ chức bộ máy nhà nước, vềquyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước cũng ra đời, phát triển và dầnhoàn thiện cùng với lịch sử phát triển của nhân loại Cùng với quá trình đó, các kháiniệm, phạm trù cơ bản của kiểm soát quyền lực nhà nước cũng từng bước được làmsáng tỏ

Có hai hướng tiếp cận chính khi nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nướctrên thế giới, từ đó, hình thành nên hai phương thức cơ bản để thực hiện sự kiểmsoát quyền lực nhà nước: kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong (kiểm soát củacác thể chế quyền lực nhà nước) và kiểm soát nhà nước từ bên ngoài (kiểm soát củacác thể chế không mang tính nhà nước)

Ở hướng tiếp cận thứ nhất, các nhà chính trị học hướng tới sự tìm kiếm

phương thức hữu hiệu để các cơ quan trong bộ máy nhà nước có thể kiểm soát,kiềm chế, đối trọng với nhau Lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà nước từ bêntrong hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của lý thuyết phân

quyền Các tác phẩm tiêu biểu đặt nền móng cho hướng tiếp cận này là Chính trị

luận (The Politics) của Aristotle, Hai khảo luận về chính quyền (Two treasures of

government) của J.Locke, Tinh thần pháp luật (De L’Esprit de lois) của

Montesquieu

Trang 15

Ngay từ thời cổ đại, Aristotle đã đề xuất những ý tưởng đầu tiên của nguyêntắc phân quyền, ông cho rằng phải chia quyền lực nhà nước thành ba bộ phận: nghịluận, chấp hành và xét xử để chúng có thể đối trọng, kiểm soát lẫn nhau Đến thờicận đại, J.Locke xuất phát từ khía cạnh con người - xã hội đã luận giải về quyền lựcnhà nước và đề xuất chia quyền lực nhà nước thành ba lĩnh vực: lập pháp, hànhpháp và liên hợp Lý thuyết phân quyền được phát triển hoàn thiện trong quan niệm

về tam quyền phân lập của Montesquieu khi ông chia quyền lực nhà nước thành banhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp Lý thuyết này đặt cơ sở cho tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước ở các quốc gia hiện đại

Tiếp nối cách tiếp cận này, nhiều nhà chính trị học hiện nay cũng tìm kiếm cácphương thức hữu hiệu để thực hiện sự kiểm soát quyền lực từ chính cách thức tổchức và vận hành các cơ quan quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực từ chínhcác cơ quan bên trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo nhà nước hoạt động có hiệulực, hiệu quả, tránh tình trạng chuyên quyền, độc đoán Theo đó, có hai phươngthức cơ bản để thực hiện sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong được nhiềutác giả đề cập đến là: “một nền tư pháp độc lập thực sự mạnh” và “sự phân lập cácquyền để các nhánh quyền lực có thể chế ước và đối trọng lẫn nhau”, sự phi tậptrung trong tổ chức và vận hành các cơ quan nhà nước địa phương Các công trình

nghiên cứu tiêu biểu là: Patrick Gunning (2002), Hiểu biết về nền dân chủ - một

giới thiệu về lý thuyết lựa chọn công cộng (Understanding democracy - An

introduction to Public choice); A.McIntyre (2002), Quyền lực của các thể chế (Power of Institutions); Nhóm nghiên cứu Ngân hàng thế giới (1998) Nhà nước

trong một thế giới đang chuyển đổi; Micheal G.Roskin, Robert L.Cord (1991) Khoa học chính trị - Một cách giới thiệu (Political Science - An introduction).

Ở hướng tiếp cận thứ hai, các nhà nghiên cứu lại cho rằng quyền lực nhà nước

là thống nhất, được hình thành trên cơ sở ủy quyền của nhân dân, nguồn gốc củaquyền lực nhà nước là do nhân dân giao phó để thực hiện những mục tiêu chung vì

sự phát triển của xã hội, do đó, nhân dân mới là chủ thể tối cao có quyền kiểm soátquyền lực nhà nước thông qua việc thực hiện các quyền dân chủ của mình Các tác

Trang 16

giả nhấn mạnh đến phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài, thôngqua vai trò của “chủ thể tối cao không thể từ bỏ và không thể phân chia được củaquyền lực nhà nước” là nhân dân Các phương thức kiểm soát quyền lực được đề

cập đến là: Thứ nhất, bầu cử theo nhiệm kỳ, lấy phiếu tín nhiệm chính phủ và những người cầm quyền, thực hiện quyền bãi miễn của nhân dân Thứ hai, sử dụng công

luận, tức là thông qua sự giám sát và phản biện quyền lực mang tính thường xuyên

của nhân dân Các tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận này là: Khế ước xã hội (The social contract) của J.J.Rousseau, Bàn về tự do (On Liberty) của J.S.Mill và

một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khi bàn về việc xây dựngchính quyền Công xã Paris và nhà nước Xô Viết

Trong những thập niên gần đây, các nghiên cứu theo hướng này không chỉ giớihạn việc kiểm soát quyền lực thông qua việc thực hiện các quyền dân chủ của nhândân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước mà còn mở rộng ra, bổ sungnhiều phương thức kiểm soát quyền lực từ bên ngoài như: sự kiểm soát của đảngchính trị, của các tổ chức chính trị - xã hội, của các phương tiện truyền thông đạichúng, của xã hội dân sự,… Các tác phẩm tiêu biểu là: Seymour Martin Lipset

(1981), Con người chính trị (Political Man); Robert A Dahl (1989), Bàn về dân chủ (Democracy and its Critics); John A Hall (1995), Xã hội dân sự (Civil Society); Jeffrey H.Birnbaum (1992) Những nhà vận động hành lang - những kẻ ngồi lê hoạt

động như thế nào tại Oasinhtơn (The lobbyists - How influence peddlers work their

way in Washington); Andrew Heywood (2002), Chính trị (Politics),…

Quan điểm chủ yếu của các tác phẩm này là đều thừa nhận vai trò của bầu cửtrong việc kiểm soát quyền lực nhà nước nhưng cho rằng chỉ với bầu cử thì không

đủ sức mạnh để thực hiện sự kiểm soát, do đó, cần phải bổ sung các phương thứckiểm soát khác từ bên ngoài Chẳng hạn, R.A.Dahl, trong các tác phẩm của mình,ông thừa nhận “bầu cử và hệ thống đảng phái cạnh tranh là những điều kiện quantrọng để các nhà lãnh đạo có trách nhiệm nhất định đến lợi ích của các công dân”,tuy nhiên, chỉ với hai yếu tố nêu trên thì chưa đủ để đảm bảo sự cân bằng của nềndân chủ Sự tồn tại và hoạt động của các “nhóm lợi ích với những quy mô và mục

Trang 17

tiêu khác nhau sẽ là điều kiện đủ cho nền dân chủ” Giá trị của dân chủ nằm trongnguyên tắc cai trị bởi “những đối lập thiểu số đa dạng” hơn là việc thiết lập “sự caitrị của đa số” [27, tr.68].

Ở những góc độ tiếp cận khác, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn

đề đóng vai trò là môi trường, điều kiện để hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nướcđược thực hiện có hiệu quả như: đảm bảo quyền con người; tự do ngôn luận, tự dobáo chí; sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của nhànước; đạo đức, trách nhiệm của các nhà lãnh đạo;… Những nội dung này được đềcập đến trong một số tác phẩm tiêu biểu như: Stapenhurst Rick, Kpundeh Sahr

(1999), Curbing corruption - Toward a model for building nationnal integrity (Kiềm

chế tham nhũng - Hướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch của quốc gia);

Kriegel, Blandine (1995), The state and the rule of law (Nhà nước và nhà nước pháp quyền); Micheal J Sodaro (2000), Comparative Politics - A global introduction

(Chính trị so sánh - Một giới thiệu mang tính toàn cầu),…

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam được các nhà nghiên cứuquan tâm trong mấy thập niên trở lại đây Từ cuộc vận động góp ý sửa đổi Hiếnpháp 1992 (năm 2013), số lượng các công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lựcnhà nước tăng lên nhanh chóng, chủ yếu tiếp cận dưới góc độ luật học, chính trị học

và đã cung cấp nhiều giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc Công trình nghiên cứu vềkiểm soát quyền lực nhà nước tập trung vào hai hướng: nghiên cứu lý thuyết và thựctiễn kiểm soát quyền lực ở các nước trên thế giới và nghiên cứu về mô hình kiểmsoát quyền lực nhà nước ở Việt Nam

Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu là: Chính trị của chủ nghĩa

tư bản hiện tại và tương lai (Nguyễn Đăng Thành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2002); Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta

hiện nay (Đào Trí Úc - Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003); Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước (Nguyễn Thị Hồi, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005); Một số lý thuyết và kinh

Trang 18

nghiệm tổ chức nhà nước trên thế giới (Thang Văn Phúc - Nguyễn Đăng Thành,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005); Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở

Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (Đặng Đình Tân, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2006); Kiểm soát quyền lực nhà nước - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt

Nam hiện nay (Trịnh Thị Xuyến, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008); Xây dựng

cơ chế pháp lý bảo đảm sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của

bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị (Đề tài

KX 10-07, Đào Trí Úc chủ nhiệm); Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

ở Việt Nam hiện nay (Đề tài cấp Bộ năm 2008, mã số B08-13, Lưu Văn Quảng chủ nhiệm); Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước (Thái Vĩnh Thắng, Nxb Tư pháp,

Hà Nội, 2011); Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước với việc sửa

đổi Hiến pháp 1992 (Trần Ngọc Đường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012); Từ Nhà nước điều hành sang Nhà nước kiến tạo phát triển, (Đinh Tuấn Minh, Phạm

Thế Anh, Nxb Tri Thức, Hà Nội, 2016); Kiểm soát quyền lực nhà nước (Nguyễn Đăng Dung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017); Cơ chế pháp lý kiểm soát

quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Nguyễn Minh Đoan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018).

Ngoài ra, nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước còn được thể hiện trong

một số luận án, luận văn và các bài báo khoa học: Hồ Việt Hạnh (2005), Tam quyền

phân lập ở Nhật Bản, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh; Vũ Duy Tú (2016), Lý thuyết phân quyền: giá trị tham khảo trong xây

dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến

sĩ Chính trị học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội;

Nguyễn Quốc Hùng (2016), Kiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã

hội; Nguyễn Đăng Dung, Quyền lực nhà nước thống nhất, nhưng có sự phân công,

phối hợp và kiểm soát giữa 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, Tạp chí Dân

chủ và Pháp luật, 2015; Trần Ngọc Đường, Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây

dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập

Trang 19

pháp, 2015; Phan Xuân Sơn (2017), Kiểm soát quyền lực trong cơ chế “Đảng lãnh

đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, Tạp chí Cộng sản, số 902 (12/2017).

Các công trình nghiên cứu nêu trên đã làm rõ một số nội dung cơ bản về kiểmsoát quyền lực nhà nước:

Thứ nhất, phân tích các quan điểm, tư tưởng về kiểm soát quyền lực nhà nước,

về lý thuyết phân quyền của các nhà tư tưởng tư sản trong lịch sử; nghiên cứu thựctiễn vận dụng các lý thuyết đó trong việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ởcác quốc gia tư sản hiện nay như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản,… Trên cơ sởphương pháp luật học so sánh và chính trị học so sánh, các tác giả đã tìm kiếm vàchỉ ra các hạt nhân hợp lý, các giá trị tham khảo cho Việt Nam trong việc tổ chức vàthực thi quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước Những kinh nghiệmđược khai thác chủ yếu ở khía cạnh tiếp thu các giá trị hợp lý của lý thuyết phânquyền để xây dựng “cơ chế vận hành quyền lực có cơ cấu hợp lý, trình tự chặt chẽ,chế ước hữu hiệu” [66, tr.150] Ngoài ra, những giá trị tham khảo về giới hạn quyềnlực bằng hiến pháp, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực thông qua bầu cử, thôngqua vai trò các tổ chức của xã hội dân sự, báo chí truyền thông, thông qua chứcnăng giám sát của quốc hội, thanh tra chính phủ, xét xử của tòa án,… cũng được cáctác giả đề cập ở những mức độ khác nhau

Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã từng bước làm rõ hơn tính tất yếu, khái

niệm, nội dung và các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

Các tác giả cho rằng, kiểm soát quyền lực nhà nước là vấn đề phức tạp, cónhiều cách hiểu rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng, kiểm soát quyền lực nhànước liên quan đến toàn bộ quá trình “thiết kế, tổ chức và thực thi quyền lực nhànước đúng mục đích, hiệu quả nhất”, theo nghĩa hẹp, kiểm soát quyền lực nhà nước

là “toàn bộ các cách thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó nhà nước và xã hội cóthể ngăn chặn, loại bỏ những hành động sai trái của nhà nước, phát hiện và điềuchỉnh việc thực thi quyền lực, đảm bảo mục đích và hiệu quả của quyền lực nhànước” [107, tr.36]

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tham khảo mô hình kiểm soát quyền lực

Trang 20

của các nước trên thế giới, các tác giả khẳng định kiểm soát quyền lực nhà nước làtất yếu khách quan, xuất phát từ “bản chất của quyền lực nhà nước là thuộc về nhândân”, “quyền lực nhà nước được ủy quyền nên tiềm ẩn nguy cơ tha hóa”, đặc trưngcủa quyền lực nhà nước là “mang tính độc quyền cưỡng chế”, do “bản tính vị kỉ”,

“giới hạn về mặt trí tuệ” của con người nên có khả năng phạm sai lầm trong thực thiquyền lực [23], [66], [107] Mục đích của việc kiểm soát quyền lực nhà nước lànhằm ngăn chặn sự tha hóa quyền lực, hạn chế tính độc tài, độc đoán và nguy cơ sailầm, qua đó đảm bảo tính “đúng đắn”, “hiệu lực”, “hiệu quả” trong tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước vì mục tiêu phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội

Các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra các phương thức cơ bản để kiểm soátquyền lực nhà nước, trong đó nhấn mạnh hai phương thức cơ bản: kiểm soát quyềnlực nhà nước từ bên trong và kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài Chẳng

hạn, Nguyễn Đăng Dung, trong công trình “Kiểm soát quyền lực nhà nước” đã chỉ

ra một số phương thức cơ bản để kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam là: 1)Giới hạn quyền lực nhà nước bằng Hiến pháp; 2) Bầu cử; 3) Phân chia/phân công,phân nhiệm và tự kiểm tra bên trong theo cơ chế kiềm chế và đối trọng; 4) Xét xửcủa Tòa án; 5) Tự do báo chí; 6) Sự công khai, minh bạch của chính quyền; 7) Giámsát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã

hội” [23] Tương tự, Phan Xuân Sơn, trong bài viết Kiểm soát quyền lực trong cơ

chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” cũng xác định các

phương thức cơ bản để kiểm soát quyền lực nhà nước là: 1) Bầu cử; 2) Giới hạnquyền lực nhà nước bằng Hiến pháp; 3) Kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhànước; 4) Kiểm soát của các cơ quan tư pháp đối với quyền lực nhà nước; 5) Nhândân kiểm soát quyền lực nhà nước [82]

Thứ ba, đánh giá thực trạng tổ chức, vận hành của các chủ thể trong việc kiểm

soát quyền lực nhà nước và các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Namhiện nay Một số công trình đã có những nghiên cứu trực tiếp vào các khía cạnhkhác nhau của vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay trên tất cảcác lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp Kết quả nghiên cứu của các công trình

Trang 21

này đều cho thấy, các phương thức, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở ViệtNam chưa thực sự có hiệu lực, hiệu quả; khả năng ngăn chặn tình trạng tha hóaquyền lực, tình trạng lạm quyền, độc tài độc đoán chưa cao Các cơ chế thực hiện sựkiểm soát quyền lực của nhân dân và các lực lượng xã hội còn mang tính hình thức,trên thực tế khó triển khai thực hiện, kể cả kiểm soát quyền lực từ bên trong bộ máynhà nước cũng chưa được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả Đây cũng là nguyênnhân dẫn đến tình trạng lạm quyền, tham ô, tham nhũng ngày càng gia tăng, ảnhhưởng đến quyền làm chủ của nhân dân và sự phát triển của đất nước.

Thứ tư, trên cơ sở phân tích thực trạng, các công trình nghiên cứu đã đề xuất

một số giải pháp nhằm xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực ở nước tahiện nay Các giải pháp được đề xuất khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực, từ các giảipháp mang tính tổng thể như đổi mới hệ thống chính trị, cải cách bộ máy nhà nước,tăng cường và mở rộng dân chủ XHCN, đến các giải pháp cụ thể để xây dựng cơchế kiểm soát quyền lực có hiệu quả Các giải pháp mà các nhà khoa học đề xuất đãgóp phần cung cấp cơ sở lý luận, luận chứng, luận cứ cho việc đổi mới hệ thốngchính trị và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃHỘI VÀ VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CỦA CÁC TỔ CHỨC CHÍNHTRỊ - XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI

Nghiên cứu về các tổ chức chính trị - xã hội và việc kiểm soát quyền lực nhànước của các tổ chức chính trị - xã hội ở các nước trên thế giới rất được quan tâm,các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở Mỹ và các nước Châu Âu, nơi cóthực tiễn hoạt động sôi nổi của các tổ chức này Cần phải nói thêm rằng, quan niệm

về các tổ chức chính trị - xã hội ở các nước trên thế giới có một số điểm khác so với

Việt Nam Thứ nhất, các tổ chức chính trị - xã hội ở các quốc gia khác nhau, có

nhiều tên gọi khác nhau như: các nhóm lợi ích, các nhóm gây áp lực, các nhóm vận

động hành lang, các hiệp hội, các nghiệp đoàn, các tổ chức xã hội,… Thứ hai, về số

lượng, tính chất của các tổ chức này rất đa dạng, phong phú, chúng hoạt động ở tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, thu hút nhiều thành phần dân cư tham gia và có

Trang 22

vai trò quan trọng trong đời sống chính trị của các quốc gia này.

Nghiên cứu về các nhóm lợi ích được đề cập từ khá sớm, James Madison trong

tác phẩm The Federalist Papers (Người Liên bang) đã bàn về sự tồn tại khách quan

và vai trò của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ Ông xem việc các cá nhân

có lợi ích tương đồng có xu hướng tập hợp với nhau thành các nhóm là điều tựnhiên Sự tồn tại của các nhóm lợi ích đa dạng, phong phú là thể hiện quyền tự docủa công dân, đồng thời, là công cụ quan trọng để “bẻ gãy và kiểm soát được sựlộng hành của phe phái”, khắc phục nan giải của nền dân chủ đại diện, đảm bảo hệthống chính trị hoạt động có hiệu quả

Trong tác phẩm Democracy in America (1835 - 1840), Alexis de Tocqueville

từ sự quan sát của mình đã khẳng định sự tồn tại tất yếu và phổ biến của các nhómlợi ích, các hiệp hội trong nền chính trị Mỹ ở giai đoạn ban đầu Sự hình thành cáchiệp hội, các nhóm lợi ích bắt nguồn từ việc các cá nhân có chung quan điểm sẽ có

xu hướng kết hợp lại với nhau thành một tổ chức Ông chỉ ra rằng ở Mỹ các nhómlợi ích tồn tại đa dạng, hoạt động sôi nổi và đạt được nhiều thành công hơn bất kỳquốc gia nào vào thời điểm đó Thông qua việc tham gia vào các nhóm lợi ích, mộtmặt, các cá nhân sẽ gia tăng được quyền lực, sức ảnh hưởng của mình; mặt khác,các tổ chức ngày càng lớn mạnh sẽ gây chú ý và buộc chính quyền phải có những

ưu tiên nhất định Các nhóm lợi ích thúc đẩy sự tham gia của người dân vào đờisống chính trị, là bộ phận chủ yếu của xã hội dân sự

Đến thời kỳ hiện đại, số lượng các tác phẩm nghiên cứu về các nhóm lợi íchtăng lên nhanh chóng Các công trình nghiên cứu tập trung vào hai hướng chính:làm rõ các vấn đề lý luận chung về nhóm lợi ích và vai trò của các nhóm lợi íchtrong việc tác động đến chính sách công, kiểm soát quyền lực nhà nước

Ở hướng nghiên cứu thứ nhất, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu là:

Dahl, Một giới thiệu cho lý thuyết dân chủ (A Preface to Democratic Theory, 1956); Almond, Nghiên cứu so sánh các nhóm lợi ích và quá trình chính trị (Comparative Study of Interest Groups and the Political Process, 1958); Wilson, Graham, Các

nhóm lợi ích (Interest groups,1990); Putnam, Đồng điệu, lạc điệu: Sự biến mất lạ kỳ

Trang 23

của vốn xã hội ở Mỹ (Tuning In, Tuning Out: The Strange Disappearance of Social

Capital in America, 1995); Berry, J.M, Xã hội nhóm lợi ích (The Interest Group Society, 2009); Halpin, Darren R and Anthony J Nownes, Các nhóm lợi ích trong

nền chính trị Mỹ (Interest Groups in American Politics, 2013).

Thông qua các nghiên cứu của mình, các tác giả đã góp phần làm rõ một sốvấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các nhóm lợi ích như quan niệm, nguyênnhân hình thành, đặc điểm, vị trí, vai trò, phân loại,… Cụ thể:

- Các công trình nghiên cứu đã góp phần làm rõ nguồn gốc hình thành cácnhóm lợi ích Các tác giả đều nhấn mạnh sự tồn tại của các lợi ích là một tất yếukhách quan, các nhóm lợi ích hình thành một cách tất yếu từ các các cá nhân cóchung lợi ích và tồn tại trong tất cả các xã hội, chúng là bộ phận không thể thiếutrong hệ thống chính trị của các quốc gia Bàn về nguồn gốc của các nhóm lợi ích,

Wilson và Graham K trong tác phẩm Interest groups (Các Nhóm lợi ích) đã cho

rằng, hoạt động của con người luôn nhằm mục đích đạt được lợi ích, do đó, việc cácchủ thể có cùng lợi ích liên kết lại với nhau là tất yếu; chính “xuất phát từ nhu cầulợi ích và khát vọng đạt được lợi ích mà các chủ thể lợi ích tự nguyện liên kết, tậphợp lại với nhau và hình thành nên các nhóm lợi ích trong xã hội” [128]

- Các công trình nghiên cứu cũng làm rõ quan niệm về các nhóm lợi ích Mặc

dù còn nhiều cách tiếp cận, nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng cáctác giả đều thống nhất ở những nội dung cơ bản: Nhóm lợi ích là sự tập hợp của các

tổ chức hay các cá nhân, thường được thành lập một cách chính thức trên cơ sở chia

sẻ một hay nhiều mối quan tâm nhằm ảnh hưởng đến chính sách công hoặc lĩnh vựcmình quan tâm Như vậy, nhóm lợi ích được phân biệt với các bộ phận khác của xãhội dân sự ở chỗ, hoạt động của nó vừa mang tính xã hội, vừa mang tính chính trị,đặt mục tiêu tác động lên chính sách của chính phủ theo hướng có lợi cho mình

Chẳng hạn như trong bài viết The Interest Group Society (Xã hội nhóm lợi ích), tác

giả Jeffrey Berry cho rằng nhóm lợi ích là “một tập đoàn có tổ chức của nhữngngười có cùng chung một số mục đích và họ muốn gây ảnh hưởng vào chính sách

công”[112] Trong tác phẩm Interest Groups in American Politics (Các nhóm lợi

Trang 24

ích trong nền chính trị Mỹ), Halpin, Darren R và Anthony J Nownes cũng đưa raquan niệm của mình về nhóm lợi ích, các ông cho rằng nhóm lợi ích “bao gồm bất

kỳ tổ chức nào muốn gây ảnh hưởng đến các quyết định chính sách của chính phủ,

đó có thể là các công ty, các tổ chức tôn giáo, các nghiệp đoàn, các tổ chức từ thiện,các Ủy ban hành động chính trị (PAC),…” [120]

- Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định vị trí, tầm quan trọng của các nhóm lợiích trong hệ thống chính trị Sự hoạt động của các nhóm lợi ích góp phần vào sựthành công của việc hoạch định và thực thi các chính sách công, đảm bảo sự cânbằng xã hội và bảo vệ quyền lợi của các tầng lớp nhân dân Robert Dahl trong cácnghiên cứu của mình đã nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm lợi ích, xem nhóm lợiích là “yếu tố đảm bảo tính cân bằng trong cơ cấu quyền lực của xã hội”, “kết quảtốt nhất mà chính phủ dân chủ mang lại chỉ có thể đạt được thông qua sự cạnh tranhtrong quá trình hoạt động của các nhóm lợi ích”, từ đó ông ủng hộ quyền tự do lậphội của công dân Ở một công trình nghiên cứu khác, Putnam trong tác phẩm

Tuning In, Tuning Out: The Strange Disappearance of Social Capital in America

cũng nhấn mạnh đến vai trò của các nhóm lợi ích ở Mỹ, ông khẳng định các nhómlợi ích là “sức mạnh của nền dân chủ, có vị trí đặc biệt trong hệ thống chính trị, cómối quan hệ chặt chẽ với các đảng phái, các chính trị gia, các công chức nhà nước,

và đây là yếu tố quan trọng có thể làm “ngưng tụ” các vốn xã hội” [129]

- Các tác giả cũng đưa ra quan điểm của mình về phân loại các nhóm lợi ích,

ví dụ như Jeffrey Berry (The Interest Group Society) chia các nhóm lợi ích thành:

“các doanh nghiệp, các tổ chức công đoàn, các hiệp hội chuyên nghiệp, các đoàn thểliên chính quyền, các nhóm lợi ích công cộng” [112] Halpin, Darren R and

Anthony J Nownes (Interest Groups in American Politics, 2013) quan niệm rằng

nhóm lợi ích là “bất kỳ tổ chức nào muốn gây ảnh hưởng đến chính sách của chínhphủ”, chúng bao gồm: “các công ty, tổ chức từ thiện, tổ chức tôn giáo, các liên đoànlao động, nghề nghiệp, các Ủy ban hành động chính trị”,… [120]

Ở hướng nghiên cứu thứ hai, có một số công trình tiêu biểu: Jeffrey

H.Birnbaum, Những nhà vận động hành lang - những kẻ ngồi lê hoạt động như thế

Trang 25

nào tại Oasinhtơn (The lobbyists - How influence peddlers work their way in

Washington, 1992); Jeffrey Berry, Vận động cho dân chúng: cách hoạt động chính

trị của các nhóm lợi ích (Lobbying for the People: The Political Behavior of Public

Interest Groups, 1977); Wright, John, Nhóm lợi ích và Quốc hội, vận động hành

lang, đóng góp, và ảnh hưởng, (Interest Groups and Congress, Lobbying,

Contributions, and Influence, 1996); R Allen Hays, Ai nói lên tiếng nói của dân

nghèo? Các nhóm lợi ích toàn quốc và Chính sách Xã hội (Who Speaks for the

Poor? National Interest Groups and Social Policy, 2001); Grant Jordan and William

A Maloney, Nền dân chủ và các nhóm lợi ích: Tăng cường sự tham gia?

(Democracy and Interest Groups Enhancing Participation?, 2007); Suzanne

Mulcahy, Vận động hành lang ở Châu Âu (Lobbying in Europe, 2015).

Các tác giả đã phân tích và chỉ ra các phương thức mà các nhóm lợi ích tổchức quần chúng dùng để gây ảnh hưởng đến quá trình hoạch định và thực thi cácquyết sách chính trị của giai cấp cầm quyền và góp phần vào việc kiểm soát quyềnlực nhà nước Những phương thức chủ yếu mà các tác giả chỉ ra: “vận động hànhlang” (lobby); “nghiên cứu, phân tích chính sách”; “gây áp lực”; “thiết lập mối quan

hệ với các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền để hiện thực hóa lợi ích”; “tác động công

khai qua các phương tiện truyền thông”;… Chẳng hạn như, trong tác phẩm Interest

Groups and Congress, Lobbying, Contributions, and Influence (Nhóm lợi ích và

Quốc hội, vận động hành lang, đóng góp, và ảnh hưởng), Wright, John R đã chỉ racác phương thức cơ bản mà các nhóm lợi ích tác động đến chính sách công: “tư vấn,cung cấp thông tin; đưa ra các sáng kiến chính sách; vận động hành lang; thành lậpcác Ủy ban hành động chính trị, gây áp lực truyền thông,…” [133]

Các nghiên cứu nêu trên cũng chỉ ra các tác động tích cực và tiêu cực trongquá trình tác động của các nhóm lợi ích đến việc hoạch định và thực thi chính sáchcông, đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước Những tác động tích cực được nêu ralà: cung cấp thông tin, sáng kiến chính sách, mở rộng dân chủ thông qua việc tăngcường sự tham gia của người dân, hạn chế sai lầm của nhà nước,… Chẳng hạn,

Grant Jordan và William A Maloney V (Democracy and Interest Groups

Trang 26

Enhancing Participation?, 2007) cho rằng, “thông qua sự hoạt động của các nhóm

lợi ích, các nhu cầu, nguyện vọng của người dân sẽ nhanh chóng được đưa đến các

cơ quan hoạch định chính sách, qua đó góp phần làm cho quá trình hoạch địnhchính sách thêm minh bạch, mở rộng dân chủ và sự tham gia của người dân vào cáccông việc của nhà nước” [123]

Tuy nhiên, sự hoạt động của các nhóm lợi ích cũng có thể gây ra những tácđộng tiêu cực: hình thành các nhóm độc quyền, lũng đoạn chính phủ; tham nhũng,

hối lộ,… Trong công trình Lobbying in Europe (Vận động hành lang ở châu Âu),

Suzanne Mulcahy đã đề cập đến tác động xã hội và những ảnh hưởng không mongmuốn của vận động hành lang: “Khi vận động hành lang không được quy định vàvẫn nằm dưới sự giám sát của công chúng thì tiềm ẩn nguy cơ gia tăng ảnh hưởngtiêu cực từ hoạt động này Nếu không có một rào cản mạnh mẽ về đạo đức giữa khuvực công và các nhà vận động hành lang, các quyết định có thể được thực hiệnkhông phục vụ lợi ích công cộng mà chỉ vì các lợi ích cá nhân Điều này có thể gây

ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội như suy thoái môi trường, sụp đổ hệthống tài chính, lạm dụng quyền con người, và đe dọa sức khỏe và sự an toàn củacông chúng ” [128]

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃHỘI VÀ VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CỦA CÁC TỔ CHỨCCHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Nghiên cứu về các tổ chức chính trị - xã hội và kiểm soát quyền lực nhà nướccủa các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam chủ yếu được lồng ghép trong cáccông trình nghiên cứu bàn về các vấn đề rộng lớn hơn mang tính hệ thống nhưnghiên cứu về hệ thống chính trị, về dân chủ, về xã hội dân sự, về vai trò của nhândân trong kiểm soát quyền lực nhà nước, Các công trình nghiên cứu trực tiếp vềcác tổ chức chính trị - xã hội và vai trò của các tổ chức này trong việc kiểm soátquyền lực nhà nước cũng bắt đầu xuất hiện nhiều trong một vài thập kỉ trở lại đây

Ở nhóm thứ nhất, có một số công trình tiêu biểu: Lê Minh Thông (2007), Cơ

sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng

Trang 27

chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Duy Quý

(2008), Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội; Vũ Hoàng Công (2009), Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ

nghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb

Chính trị - Hành chính, Hà Nội; Nguyễn Duy Quý - Nguyễn Tất Viễn (2010), Nhà

nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội; Hồ Xuân Quang (2010), Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước

pháp quyền XHCN (1996-2006), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Lê Minh Quân

(2011), Về dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Xuân Sơn (2012), Hệ thống chính trị và một số vấn đề về đổi mới

hệ thống chính trị Việt Nam, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội; Nguyễn Quang

Anh (2015), Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở

Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu trực tiếp về các tổ chức chính trị - xã hội và việc kiểm soát quyềnlực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam có các công trình tiêu

biểu: Phan Xuân Sơn (2002), Các đoàn thể nhân dân với việc đảm bảo dân chủ cơ

sở ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Xuân Sơn (2005), Các

tổ chức chính trị - xã hội, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp cơ sở; Nguyễn Thọ Ánh (2006), Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

trong hệ thống chính trị, Nxb Thanh niên, Hà Nội; Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh

Phương (2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị

-xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Hồ Bá Thâm, Nguyễn

Tôn Thị Tường Vân (2010) Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2012), Vai trò

của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội; Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2012), Phát huy vai trò của các

tổ chức xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Bùi Thế Cường, Các tổ chức xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Xã hội học, số 2 năm 2015; Bùi Thị Nguyệt Thu

(2018), Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính

Trang 28

quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Tư Pháp; Ủy ban Trương ương Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam, Ban Dân chủ - Pháp luật (2017), Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học

cấp bộ: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nguyễn Quang Minh (Chủ nhiệm), Hà Nội.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã làm rõ một số vấn đề lýluận và thực tiễn về các tổ chức chính trị - xã hội và vai trò của các tổ chức nàytrong việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam, đánh giá thực trạng hoạt độngcủa các tổ chức chính trị - xã hội, đề xuất các phương hướng, giải pháp phát huy vaitrò của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, góp phần đảm bảo dânchủ và nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước

Thứ nhất, các tác giả đã từng bước làm rõ quan niệm, khái niệm về các tổ chức

chính trị - xã hội Về cơ bản, các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam đã

có những tiếp cận khá gần với các nghiên cứu trên thế giới Nhìn chung, các tác giảđều quan niệm rằng các tổ chức chính trị - xã hội là một bộ phận quan trọng của xãhội dân sự, đó là “những tổ chức hoạt động vì lợi ích của các nhóm, các cộng đồng

xã hội cụ thể, thông qua phương thức gây ảnh hưởng đến chính quyền và đảng phái(mà không đặt ra mục tiêu giành hoặc tham gia chính quyền)” [79, tr.25] Nói cáchkhác, các tổ chức chính trị - xã hội “bao gồm các tổ chức mà hoạt động của chúngvừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội” [28, tr.179] Trên cơ sở đó, các tácgiả khẳng định rằng ở Việt Nam hiện nay, mặc dù các bộ phận của xã hội dân sựhoạt động rất đa dạng, nhưng “chỉ có 6 tổ chức chính trị - xã hội”, trong đó “Mặttrận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn nhất” và “5 tổ chứcthành viên có chức năng là các tổ chức chính trị - xã hội, đó là: Tổng Liên đoàn laođộng Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam,Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam” [80, tr 97]

Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã từng bước làm rõ vai trò, vị trí, địa vị

chính trị - pháp lý, chức năng nhiệm vụ của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệthống chính trị Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đều khẳng định:các tổ chức chính trị - xã hội là “một bộ phận của hệ thống chính trị”, là “cơ sở

Trang 29

chính trị của chính quyền nhân dân”, là nơi tập hợp quần chúng, phản ánh ý chí,nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, vì vậy là một bộ phận không thểthiếu của một xã hội dân chủ Các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò rất quan trọngtrong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhândân, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, góp phần kiểm soát quyền lực chính trị,quyền lực nhà nước.

- Thứ ba, các tác giả cũng đã phân tích các tính chất, đặc điểm, những bài học

kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta.Trong đó, có những đặc điểm “mang tính đặc thù rõ rệt, chúng ảnh hưởng quantrọng đến việc tổ chức vận hành của các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta, làmcho việc nghiên cứu chúng cũng cần những phương pháp tiếp cận riêng biệt” [79,tr.6] Những đặc điểm nổi bật được các tác giả đề cập là các tổ chức này đều “doĐảng Cộng sản sáng lập và lãnh đạo”, “được tổ chức theo bốn cấp hành chính từtrung ương đến địa phương”, cán bộ các tổ chức chính trị - xã hội “được xếp vàongạch bậc công chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước”, “đều giữchức năng chính trị và chức năng xã hội” [80, tr.99 - 100]

Thứ tư, xuất phát từ việc xác định địa vị chính trị - pháp lý của các tổ chức

chính trị - xã hội, các công trình đã đi sâu nghiên cứu vai trò của các tổ chức chínhtrị - xã hội với tư cách là những chủ thể độc lập trong đời sống chính trị - xã hội.Các công trình đã làm rõ những đóng góp của các tổ chức chính trị - xã hội qua cácthời kỳ cách mạng Các tổ chức chính trị - xã hội đã từng bước thực hiện khá tốt vaitrò tập hợp, đoàn kết, phối hợp, tuyên truyền, vận động các thành viên thực hiệntrách nhiệm, nghĩa vụ đối với đất nước; thực hiện vai trò của mình trong kiểm soátquyền lực nhà nước thông qua các phương thức như: tham gia xây dựng cơ chế,chính sách, pháp luật và giám sát, phản biện xã hội đối với cơ chế, chính sách, phápluật của Đảng và Nhà nước; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân

cử và cán bộ, công chức nhà nước; tham gia hiệp thương bầu cử đại biểu Quốc hội

và đại biểu HĐND các cấp; giám sát thông qua hoạt động của thanh tra nhân dân;tham gia bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các thành viên trong tổ

Trang 30

chức mình;

Thứ năm, bên cạnh chỉ ra các thành tựu đạt được, các nghiên cứu nêu trên

cũng tiến hành phân tích những yếu kém, bất cập trong tổ chức và hoạt động củacác tổ chức chính trị - xã hội Các tác giả chỉ ra rằng những kết quả đạt được đóchưa thực sự tương xứng với tiềm năng to lớn, số lượng đông đảo các thành viêncủa các tổ chức này, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước tronggiai đoạn hiện nay, chưa thực sự đóng góp nhiều vào việc nâng cao quyền làm chủcủa nhân dân Bên cạnh đó phải kể đến tính hành chính, xa dân, xa cơ sở, còn nhiềulúng túng trong việc tìm tòi các nội dung và phương thức hoạt động phù hợp Tronghoạt động còn hình thức, mang tính phong trào, thời vụ, bề nổi, kinh phí hoạt độngphụ thuộc vào ngân sách nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có xu hướng “hànhchính hóa”, “nhà nước hóa”

Hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước “nhiều khi chỉ mang tính hình thức,chất lượng và hiệu quả giám sát chưa cao, chưa đầy đủ hiệu lực pháp lý, nội dunggiám sát chưa cụ thể, hình thức giám sát chưa linh hoạt, chưa được thực hiện nề nếpthường xuyên” [80, tr 283]; hoạt động giám sát và tham gia hiệp thương bầu cử củaMTTQ Việt Nam “còn nặng về hợp thức hóa sự chỉ đạo, định hướng từ cấp trên”,chưa phát được vai trò giám sát và hỗ trợ cử tri chủ động giới thiệu người mình tínnhiệm [79, tr 318] Hiệu quả hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân trong cơquan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chưa cao, thiếu sự chủ động trong việcxây dựng các kế hoạch giám sát, thiếu quy chế làm việc, kế hoạch hoạt động sơ sài,việc phối hợp hoạt động với các cơ quan khác chưa được chú trọng, kinh phí hạnhẹp, chất lượng đội ngũ cán bộ còn hạn chế,…

Thứ sáu, các tác giả cũng chú ý phân tích nguyên nhân những tồn tại, yếu kém

trong tổ chức, hoạt động và hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức

chính trị - xã hội “Các nguyên nhân chủ yếu và trước hết được xác định từ nhận

thức Trong nhận thức chung, chưa xác định được tầm vóc của vấn đề xã hội công

dân ở nước ta, vì vậy chưa đặt đúng vấn đề và quan tâm đến các thể chế xã hội trongđời sống chính trị, thậm chí còn hạ thấp vai trò của các tổ chức này thành một

Trang 31

bộ phận phụ thuộc, hình thức trong hệ thống chính trị” [79, tr.8] Ngoài ra, cònnhiều nguyên nhân khác xuất phát từ việc giải quyết chưa tốt mối quan hệ giữa các

tổ chức chính trị - xã hội với Đảng và Nhà nước, hạn chế trong tổ chức và hoạtđộng, chất lượng đội ngũ cán bộ còn thấp, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện,…

Thứ bảy, trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, các tác giả trong các

công trình nghiên cứu của mình đã đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống để đổimới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội và phát huyvai trò của chúng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền làm chủcủa nhân dân Hệ thống các giải pháp được đề xuất tập trung vào nhiều vấn đề cơbản từ đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đến cácgiải pháp về mặt thể chế, pháp luật nhằm tạo điều kiện cho sự hoạt động của các tổchức này Các tác giả khẳng định rằng, “trong điều kiện nhất nguyên chính trị vàmột đảng duy nhất cầm quyền, sự lớn mạnh của các tổ chức chính trị - xã hội là một

xu hướng tích cực” và “đã đến lúc pháp luật cần quy định sự tham gia có tính thểchế của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là thông qua vai trò của Mặt trận Tổquốc, vào hoạt động kiểm soát và thực hiện quyền lực của Nhà nước” [67, tr.236-237] Trong những năm gần đây, nhiều công trình đề xuất một số giải pháp mangtính đột phá đang được giới nghiên cứu bàn luận như: “xây dựng các tổ chức chínhtrị - xã hội theo hướng độc lập, tự chủ”, “xây dựng lộ trình để đưa các tổ chức chínhtrị - xã hội ra khỏi bộ máy công chức”, “hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tàichính”, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước để giảm gánh nặng cho ngânsách, qua đó tạo điều kiện phát huy tính độc lập của các tổ chức này để kiểm soátquyền lực nhà nước một cách khách quan và có hiệu quả [80, tr.301-311]

1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.4.1 Những nội dung đã được đề cập có ý nghĩa đối với đề tài

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến

đề tài luận án, có thể thấy các tác giả đã đề cập, làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thựctiễn có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu đề tài Cụ thể:

Thứ nhất, nghiên cứu về kiểm soát quyền lực nhà nước đã được quan tâm từ

Trang 32

rất sớm ở các nước trên thế giới, số lượng các công trình nghiên cứu về lĩnh vực nàykhá nhiều, đa dạng về cách tiếp cận và quan điểm Ở Việt Nam, vấn đề này cũng đãđược quan tâm nghiên cứu khá sâu sắc, những vấn đề lý luận và thực tiễn kiểm soátquyền lực nhà nước như: khái niệm, tính tất yếu, mục đích, nội dung, phương thức,thực trạng, giải pháp,… đã được các nhà nghiên cứu đề cập và dần được làm sáng tỏ

ở những mức độ khác nhau

Thứ hai, các vấn đề lý luận và thực tiễn về các tổ chức chính trị - xã hội cũng

là chủ đề hấp dẫn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các tác giả trong và ngoàinước Những nội dung cơ bản như quan niệm về các tổ chức chính trị - xã hội, vaitrò, vị trí, phương thức tổ chức và hoạt động của các tổ chức này đã từng bước đượcphân tích, mổ xẻ để làm rõ Đặc biệt, nghiên cứu về vai trò, thực trạng kiểm soátquyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội, trên cơ sở đó đề xuất cácphương hướng, giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nướccủa các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay cũng đã được thực hiện ở nhiềugóc độ tiếp cận khác nhau

1.4.2 Những vấn đề chưa được giải quyết triệt để cần tiếp tục nghiên cứu

Mặc dù đã được đề cập ở nhiều mức độ khác nhau, tuy nhiên, cho đến nay vẫnchưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống về vấn đềkiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam, như làmột phương thức kiểm soát quyền lực chính trị nói chung, kiểm soát quyền lực nhànước nói riêng, trong một hệ thống chính trị đặc thù Những vấn đề cơ bản về vaitrò, nội dung, phương thức, hiệu lực, hiệu quả trong việc kiểm soát quyền lực nhànước của các tổ chức chính trị - xã hội chủ yếu được lồng ghép trong các công trìnhnghiên cứu về hệ thống chính trị, dân chủ, nhà nước,…; việc xác định các quanđiểm, phương hướng, giải pháp để nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hộitrong việc tham gia vào kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam vẫn chưa đượctrình bày một cách có logic, hệ thống dựa trên cơ sở phân tích thực tế

Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học ở trongnước và nước ngoài có liên quan đến nội dung của đề tài luận án, căn cứ vào mục

Trang 33

đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ trong

đề tài luận án này là:

Thứ nhất, về mặt lý luận, luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ các nội dung:

Quan niệm về kiểm soát quyền lực nhà nước; tính tất yếu, nội dung, phương thứckiểm soát quyền lực nhà nước Quan niệm về các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò,nội dung, phương thức, hiệu lực, hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quảkiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội Hoạt động kiểmsoát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nước trên thếgiới và các bài học kinh nghiệm, các giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Thứ hai, về mặt thực tiễn, luận án tập trung khảo sát, phân tích thực trạng kiểm

soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta trên các phươngdiện: nội dung, phương thức, hiệu lực pháp lý và hiệu quả Luận án cần làm rõ hiệulực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở ViệtNam đã đủ mức cần thiết, đáp ứng yêu cầu khách quan với tư cách là một bộ phậncủa một hệ thống chính trị trong hệ thống tổ chức và thực thi quyền lực chính trị nóichung và quyền lực nhà nước nói riêng Trên cơ sở đó, đánh giá các thành tựu, hạnchế trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội

ở nước ta hiện nay, những nguyên nhân yếu kém cần phải khắc phục để nâng caohiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức này

Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng kiểm soát quyền

lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam, đề xuất các quan điểm

và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chứcchính trị - xã hội ở Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo

Tiểu kết chương 1

Quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước là những vấn đề trungtâm trong đời sống chính trị của các quốc gia, thu hút sự quan tâm nghiên cứu củacác nhà khoa học trong và ngoài nước

Trong chương 1, luận án đã tiến hành khảo sát, đánh giá các công trình nghiêncứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước và vai

Trang 34

trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước Kếtquả tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn vềkiểm soát quyền lực nhà nước; về các tổ chức chính trị - xã hội; vai trò, nội dung,phương thức, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xãhội đã được các nhà khoa học làm rõ ở nhiều khía cạnh khác nhau Kết quả nghiêncứu của các công trình này sẽ cung cấp dữ liệu để tác giả tham khảo và triển khaicác nội dung trong luận án.

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung làm rõ các vấn đề vềkiểm soát quyền lực nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, và có đề cập ít nhiềuđến vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiểm soát quyền lực nhànước Những vấn đề cơ bản về nội dung, phương thức, hiệu lực pháp lý, hiệu quảkiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị xã - hội ở Việt Nam hiệnnay vẫn còn nhiều khoảng trống; việc xác định các quan điểm, giải pháp để nângcao vai trò của các tổ chức này trong việc tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước ởnước ta vẫn chưa được trình bày một cách có logic, hệ thống dựa trên cơ sở phântích thực tế

Tổng quan tình hình nghiên cứu giúp luận án tìm kiếm những giá trị có thể kếthừa và phát triển từ các công trình đã công bố, đồng thời, trên cơ sở đó triển khaicác nhiệm vụ nghiên cứu của mình một cách có hệ thống, góp phần làm sáng tỏ cơ

sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp khoa học để nâng cao hiệu quả kiểmsoát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay

Trang 35

Chương 2.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

TRONG VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

2.1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

2.1.1 Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước

Bản chất của con người, như Aristotle khẳng định, là một động vật chính trị,

có thiên hướng gắn kết với nhau trong các cộng đồng Cuộc sống cộng đồng tất yếuđòi hỏi phải hình thành một quyền lực chung để thiết lập các quy tắc, trật tự đảmbảo cho sự tồn tại của cộng đồng cũng như bảo vệ lợi ích các thành viên Quyền lựcchung đó được hình thành từ sự ủy quyền của các thành viên cộng đồng xã hội đượcgọi là quyền lực công cộng Quyền lực công cộng được thiết lập trong phạm vi toàn

xã hội, trong một biên giới quốc gia được xác lập chủ quyền gọi là quyền lực công.Như vậy quyền lực công cộng và quyền lực công có cùng hình thức tổ chức, chỉkhác là phạm vi, quy mô của nó mà thôi Trong xã hội có sự phân hóa giai cấp vàđấu tranh giai cấp, quyền lực công kết hợp với quyền lực chính trị của các giai cấp,các lực lượng xã hội chuyển hóa thành quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước dogiai cấp giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế nắm giữ, một mặt, để bảo vệ quyền lợicho giai cấp mình, đồng thời, mặt khác, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xãhội Như vậy, quyền lực nhà nước có nguồn gốc là quyền lực công của xã hội vàquyền lực chính trị của các giai cấp mà chủ yếu là giai cấp thống trị về kinh tế, được

tổ chức thành nhà nước, thực hiện chức năng chính trị và chức năng xã hội

Quyền lực của bất kỳ nhà nước nào, ban đầu đều được hình thành từ ba loạiquyền lực: (i) Quyền quyết định, (ii) Quyền thực thi các quyết định, (iii) Quyền xét

xử những ai vi phạm các quyết định Các quyền này về sau phát triển thành cácquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trên cơ sở các quyền, bộ máy nhà nước sẽđược tổ chức thành các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, cóchức năng nhiệm vụ khác nhau, độc lập với nhau trong thực thi quyền lực nhà nước

và thường được gọi là “ba nhánh quyền lực” Tương ứng với các cơ quan quyền lực

Trang 36

này, bộ máy nhà nước được tổ chức thành nghị viện, chính phủ và tòa án.

Trong xã hội hiện đại, ba nhánh quyền lực về cơ bản được tổ chức như sau: 1)Quyền lập pháp là quyền ban hành hiến pháp và luật, do cơ quan đại diện của nhândân là Quốc hội (Nghị viện) thực hiện; 2) Quyền hành pháp là quyền thực thi phápluật, đưa pháp luật vào tổ chức và quản lý xã hội, quyền hành pháp do bộ máy hànhchính nhà nước từ trung ương (Chính phủ) tới địa phương thực hiện; 3) Quyền tưpháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, thông qua việc xét xử những ai vi phạm, do cáctòa án thực hiện

Quyền lực nhà nước một mặt là tập trung cao nhất của ý chí chung của toàn xãhội, là yếu tố không thể thiếu để tổ chức và quản lý xã hội, mặt khác nó luôn tiềm

ẩn nguy cơ bị tha hóa, dẫn đến sự lạm quyền, chuyên quyền, độc đoán, được sửdụng để phục vụ cho lợi ích của các cá nhân hoặc nhóm người nào đó trong xã hội,

đi ngược lại với lợi ích của nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước

Do đó, muốn sử dụng đúng đắn quyền lực nhà nước, tất yếu phải có cơ chế kiểmsoát để ngăn chặn sự tha hóa quyền lực

Về mặt khái niệm, kiểm soát quyền lực nhà nước được tiếp cận từ nhiều góc

độ khác nhau, bao gồm những cách hiểu rộng, hẹp khác nhau Nội hàm của kháiniệm này cho đến nay chưa thực sự được thống nhất, tuy nhiên, không ngừng được

bổ sung, phát triển để ngày càng hoàn thiện

Để hiểu thế nào là kiểm soát quyền lực nước, cần thiết phải bắt đầu từ kháiniệm kiểm soát Kiểm soát được hiểu là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gìtrái với quy định”, “đặt trong phạm vi quyền hành của mình” [105, tr.523] Từ cáchcắt nghĩa như vậy, có thể hiểu, kiểm soát quyền lực nhà nước là việc xem xét, pháthiện, ngăn chặn những gì trái với quy định trong quá trình tổ chức và thực thi quyềnlực nhà nước

Theo nghĩa rộng, kiểm soát quyền lực nhà nước gồm các hoạt động liên quanđến quá trình thiết kế, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước để đạt được mục đíchchung và đạt hiệu quả cao nhất Dưới góc độ này, kiểm soát quyền lực nhà nướcđược xem xét theo quan điểm hệ thống, liên quan đến tất cả các khâu, các bộ phận,

Trang 37

các quá trình của việc hoạch định và thực thi quyết sách chính trị của lực lượng cầmquyền Để kiểm soát quyền lực có hiệu quả, việc tổ chức và thực thi quyền lực nhànước phải tuân thủ các nguyên tắc, cơ chế nhất định Những nguyên tắc đó, vừamang tính phổ quát được áp dụng cho mọi mô hình nhà nước, vừa mang tính đặcthù, phù hợp với điều kiện, đặc điểm cụ thể của mỗi quốc gia.

Theo nghĩa hẹp, kiểm soát quyền lực nhà nước là toàn bộ phương thức, quytrình, quy định, công cụ, phương tiện để ngăn ngừa, phát hiện, ngăn chặn và loại bỏcác hoạt động sai trái của nhà nước, điều chỉnh việc thực thi quyền lực đúng quyđịnh nhằm đảm bảo tính đúng đắn và hiệu quả

Kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, cóthể là ở bên trong hoặc bên ngoài bộ máy nhà nước; bằng các phương thức, cơ chế,biện pháp khác nhau, có thể là thông qua các cơ chế kiểm soát mang tính quyền lựccủa các cơ quan công quyền, nhưng cũng có thể là sự giám sát mang tính xã hội Ởmột khía cạnh khác, kiểm soát quyền lực nhà nước cũng có thể hiểu là sự tự xemxét, tự kiểm soát của các chủ thể quyền lực thông qua việc nhận thức và điều chỉnhtheo các chuẩn mực đạo đức, văn hóa chính trị; hoặc được kiểm soát bởi các thể chếvới mục đích ngăn chặn, trừng phạt

Chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa dạng, có thể là các cá nhân, tổ

chức khác nhau nhưng đặc điểm chung là các chủ thể đó phải có quyền lực thì mớikiểm soát được quyền lực

- Nhân dân: Trong quá trình ủy quyền để tổ chức ra các cơ quan quyền lực nhànước, nhân dân, chủ thể gốc của quyền lực nhà nước, chỉ ủy một phần quyền nhỏ,còn cơ bản vẫn giữ lại và là tối thượng Vì vậy, có thể nói, chủ thể quan trọng nhấtcủa kiểm soát quyền lực nhà nước là nhân dân Nhưng nhân dân không tồn tại mộtcách trừu tượng, đơn lẻ, mà nhân dân thường tồn tại trong các tổ chức như: chính trị(đảng phái), tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức, các cộng đồng khác của xã hộicông dân Trong đó các tổ chức chính trị - xã hội là một loại thể chế có vai tròkhách quan trong thực thi quyền lực của nhân dân và kiểm soát quyền lực nhà nước

- Các cơ quan quyền lực nhà nước: Về cơ bản, như trên đã nói, có ba cơ quan

Trang 38

quyền lực nhà nước lập pháp hành pháp, tư pháp Các cơ quan này một mặt vừaphối hợp hành động trong thực thi quyền lực nhà nước, mặt khác vừa kiềm chế, chếước lẫn nhau để tránh sự chuyên quyền và lạm quyền.

Đối tượng của kiểm soát quyền lực nhà nước là các cá nhân, tổ chức, cơ quan

được ủy quyền nắm giữ và thực thi quyền lực nhà nước ở những mức độ khác nhautrong tất cả các lĩnh vực của bộ máy nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp; ở tất

cả các cấp của nhà nước từ trung ương đến địa phương

Nội dung của kiểm soát quyền lực nhà nước cũng rất rộng lớn, bao gồm kiểm

soát hoạt động tổ chức quyền lực nhà nước, kiểm soát quá trình hoạt động của bộmáy nhà nước và kiểm soát những người thực thi quyền lực nhà nước

Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước là: 1) đảm bảo quyền lực nhà

nước được sử dụng đúng mục đích; 2) đảm bảo quyền lực nhà nước được thực thihiệu quả [89, tr.37] Kiểm soát quyền lực nhà nước là nhằm xác lập các nguyên tắc,thể chế để quyền lực nhà nước được thực thi đúng đắn, đạt được mục đích và hiệuquả cao nhất Đồng thời, ngăn chặn tình trạng tha hóa, lạm dụng quyền lực và xuhướng độc tài chính trị, khắc phục những nan giải của chính phủ đại diện trong quátrình hoạt động

Kiểm soát quyền lực nhà nước, trên thực tế được tiến hành dưới nhiều hình

thức hoạt động của các cá nhân, tổ chức, cơ quan khác nhau như: Chế định chức

năng, nhiệm vụ của các cơ quan quyền lực nhà nước, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát,giám sát và phản biện xã hội

Giám sát là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định

không” [105, tr.389] Ở Việt Nam, hệ thống giám sát gồm hai loại: giám sát mangtính quyền lực nhà nước và giám sát không mang tính quyền lực nhà nước (giám sát

xã hội) Giám sát mang tính quyền lực nhà nước là giám sát tối cao của Quốc hội,giám sát của HĐND các cấp, giám sát của cơ quan tài phán Đặc trưng của loại hìnhgiám sát này là được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có thể ápdụng các biện pháp cưỡng chế để buộc đối tượng phải điều chỉnh hoặc chịu tráchnhiệm cho những vi phạm của mình Giám sát xã hội bao gồm giám sát của nhân

Trang 39

dân, của các tổ chức chính trị - xã hội, của các phương tiện thông tin đại chúng,…Đặc trưng của loại hình giám sát này là không mang tính quyền lực nhà nước,nhưng có tác dụng hỗ trợ cho việc kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc thểhiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm của người dân trong các cuộc thăm dò,cung cấp thông tin, phê bình, lên án, khiếu nại, tố cáo, phản biện, kiến nghị, đề xuất,

Kiểm tra được hiểu là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [105,

tr.538] Kiểm tra là chức năng của chủ thể quản lý, là việc xem xét, đánh giá hoạtđộng của đối tượng quản lý có đúng theo quy định hay không Trong việc kiểm soátquyền lực nhà nước, mục đích của hoạt động kiểm tra là tìm kiếm động cơ, nguyênnhân của việc không hoàn thành các nhiệm vụ được giao; chỉ ra những hạn chế, yếukém trong quản lý, xác định nguyên nhân và đưa ra những biện pháp điều chỉnh,khắc phục; kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật, nguyên nhân của nó, đưa ra cácbiện pháp xử lý, đề xuất biện pháp phòng ngừa

Thanh tra là hoạt động của cơ quan chức năng có thẩm quyền và chuyên môn

để “kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [105,tr.929] Mục đích của hoạt động thanh tra là “nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chếquản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyềnbiện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật;giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huynhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước;bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cánhân” [70]

Kiểm sát là “kiểm tra và giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”

[105, tr.523] Ở nước ta, kiểm sát là chức năng của VKSND Mục đích hoạt độngkiểm sát của VKSND là “kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơquan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếpnhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quátrình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân

Trang 40

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp kháctheo quy định của pháp luật” [71].

Phản biện xã hội là “hoạt động mang tính xã hội nhằm bày tỏ ý kiến, chính

kiến, bình luận, tranh cãi, thảo luận, nhận xét, đánh giá, thẩm định của các tổ chức,cộng đồng, bằng những phương thức nhất định (thông qua các tổ chức chính trị - xãhội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cá nhân, phương tiện truyền thông,…) đối vớinhững vấn đề mà xã hội quan tâm” [80, tr.247] Phản biện xã hội là nhu cầu kháchquan cho sự phát triển của xã hội, là một trong những phương thức thực thi dân chủ.Phản biện xã hội góp phần điều tiết xung đột giữa các nhóm để tạo ra đồng thuận xãhội; góp phần nâng cao trách nhiệm của người dân, của cộng đồng; và quan trọnghơn, phản biện xã hội là một hình thức để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước,góp phần hạn chế những sai lầm trong việc hoạch định và thực thi chính sách củanhà nước, tạo áp lực để điều chỉnh chính sách theo hướng phục vụ lợi ích cộngđồng, đảm bảo quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích và có hiệu quả

Tóm lại, kiểm soát quyền lực nhà nước, trên thực tế, là một hoạt động phức

tạp, nhưng đồng thời cũng là yêu cầu không thể thiếu trong quá trình tổ chức vàthực thi quyền lực nhà nước Các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước như:giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, phản biện xã hội,… mặc dù có sự khác nhau

về chủ thể thực hiện, đặc điểm, tính chất, phương pháp tiến hành,… nhưng đềuhướng đến mục đích chung là ngăn chặn sự tha hóa trong quá trình tổ chức và thựcthi quyền lực nhà nước, góp phần hạn chế những sai lầm của các cơ quan nhà nước,công chức nhà nước, phát hiện, xử lý các sai phạm để đảm bảo quyền lực nhà nướcđược thực hiện đúng mục đích và có hiệu quả

2.1.2 Tính tất yếu của kiểm soát quyền lực nhà nước

Kiểm soát quyền lực nhà nước là nhu cầu tự nhiên của xã hội loài người, xuấthiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, đồng thời cũng là vấn đề nan giải đối vớicác quốc gia “Trong việc tạo dựng một chính phủ được những con người quản lý đểcai trị những con người khác, khó khăn lớn nằm trong điều này: trước hết anh

Ngày đăng: 31/12/2022, 23:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phan Duy Anh (2019), Đảng chính trị và nhóm lợi ích trong các nền dân chủ phương Tây hiện đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Duy Anh (2019), "Đảng chính trị và nhóm lợi ích trong các nền dân chủphương Tây hiện đại
Tác giả: Phan Duy Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2019
[2]. Minh Anh (2017), “6 giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Anh (2017), “"6 giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận”
Tác giả: Minh Anh
Năm: 2017
[3]. Nguyễn Thọ Ánh (2006), Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thọ Ánh (2006), "Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong hệ thống chính trị
Tác giả: Nguyễn Thọ Ánh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2006
[5]. Ban Công tác đại biểu (2014), Báo cáo số 109/BC-BCTĐB ngày 07.3.2014 về tình hình tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Công tác đại biểu (2014), "Báo cáo số 109/BC-BCTĐB ngày 07.3.2014về tình hình tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và các Đoàn đạibiểu Quốc hội năm 2013
Tác giả: Ban Công tác đại biểu
Năm: 2014
[6]. Ban Công tác đại biểu (2015), Báo cáo số 159/BC-BCTĐB ngày 01.4.2015 về tình hình tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Công tác đại biểu (2015), "Báo cáo số 159/BC-BCTĐB ngày 01.4.2015về tình hình tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và các Đoàn đạibiểu Quốc hội năm 2014
Tác giả: Ban Công tác đại biểu
Năm: 2015
[7]. Ban Công tác đại biểu (2017), Báo cáo số 98 /BC-BCTĐB ngày 01.3.2017 về tình hình tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Công tác đại biểu (2017), "Báo cáo số 98 /BC-BCTĐB ngày 01.3.2017 vềtình hình tổ chức và hoạt động của đại biểu Quốc hội và các Đoàn đại biểuQuốc hội năm 2016
Tác giả: Ban Công tác đại biểu
Năm: 2017
[9]. Ban chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2017), Báo cáo chuyên đề: Công tác cán bộ đoàn nhiệm kỳ 2012 - 2017, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2017),"Báo cáo chuyên đề: Công tác cán bộ đoàn nhiệm kỳ 2012 - 2017
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Năm: 2017
[10]. Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (2018), Báo cáo kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018-2023, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (2018), "Báo cáo kết quảĐại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018-2023
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
Năm: 2018
[11]. Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (2019), Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khóa VII, nhiệm kỳ 2018-2023, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (2019), "Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khóa VII, nhiệm kỳ 2018-2023
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam
Năm: 2019
[12]. Ban soạn thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 06 (2012), Báo cáo tổng hợp tình hình thực hiện Nghị quyết liên tịch số 06 hướng dẫn việc ĐBQH tiếp xúc cử tri ngày 28.5.2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban soạn thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 06 (2012), "Báocáo tổng hợp tình hình thực hiện Nghị quyết liên tịch số 06 hướng dẫn việcĐBQH tiếp xúc cử tri ngày 28.5.2012
Tác giả: Ban soạn thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 06
Năm: 2012
[13]. Nguyễn Mạnh Bình (2012), Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Mạnh Bình (2012), "Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đốivới việc thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2012
[14]. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 337/2016/TT-BTC Quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2016), "Thông tư số 337/2016/TT-BTC Quy định về lập dựtoán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động giám sát,phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chứcchính trị-xã hội
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
[15]. Bộ Tài chính (2018), Dự toán Ngân sách Trung ương cho từng Bộ, cơ quan Trung ương theo từng lĩnh vực và các nhiệm vụ chi khác của Ngân sách Nhà nước năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài chính (2018), "Dự toán Ngân sách Trung ương cho từng Bộ, cơ quanTrung ương theo từng lĩnh vực và các nhiệm vụ chi khác của Ngân sách Nhànước năm 2018
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2018
[16]. Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (1999), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (1999), "Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb. Từ điển Bách khoa
Năm: 1999
[17]. Bộ Tư pháp (2018), Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư pháp (2018), "Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2018
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2018
[18]. Chính phủ (2016), Nghị định số 163/2016/NĐ-CP, Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2016), "Nghị định số 163/2016/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
[19]. Vũ Hoàng Công (2009), Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Hoàng Công (2009), "Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủnghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
[20]. Bùi Thế Cường (2015), “Các tổ chức xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Xã hội học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Thế Cường (2015), “"Các tổ chức xã hội ở Việt Nam”
Tác giả: Bùi Thế Cường
Năm: 2015
[21]. Lê Vinh Danh (2001), Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn: 1935-2001, Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Vinh Danh (2001), "Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn: 1935-2001
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2001
[22]. Nguyễn Đăng Dung (2015), “Quyền lực nhà nước thống nhất, nhưng có sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Dung (2015), “
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2015
w