Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ, đã từng trải nghiệm cuộc sống trên tuyến đường Trường Sơn nên thơ của ông hầu như viết về.
Trang 1Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ, đã từng trải nghiệm cuộc sống trên tuyến đường Trường Sơn nên thơ của ông hầu như viết về người linh trẻ và những cô thanh niên xung phong
“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một tác phẩm xuất in đậm dấu ấn nghệ thuật của nhà thơ tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp của của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Đọc bài thơ ta cảm phục vẻ đẹp của những người lính lái xe va nhiều phẩm chất đáng quý
“Bài thơ về tiểu đội xe không kinh” được sáng tác vào năm 1969, trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt Từ khắp các giảng đường đại học, hàng ngàn sinh viên đã gác bút nghiên cứu để lên đường đánh giặc và điểm nóng lúc bấy giờ là tuyến đường Trường Sơn-Đây là con đường huyết mạch nối liền hậu phương với tuyền tuyến Phạm Tiến Duật đã ghi lại bằng những hình ảnh tiêu biểu của nơi khói lửa Trường Sơn Có thể nói hiện thực đã đi vào trong thơ của tác giả và mang nguyên vẹn hơi thở của cuộc chiến Ra đời trong hoàn cảnh ấy bài thơ đã thật sự trở thành hồi kèn xung trận, trở thành tiếng hát quyết thắng của tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ Cảm hứng từ những chiếc xe không kinh đã làm nền để nhà thơ chiến sĩ khắc họa thành công người chiến sĩ lái xe: ung dung, thực tai, lạc quan sôi nổi, bất chấp khó khăn gian khổ, tinh đồng chí, đồng đợi gắn bó tinh yêu đất nước thiết tha
Hình tượng người lái xe trong bài thơ hiện lên với tư thế hiên ngang, bất khuất:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái.”
Trước hết hình tượng người lính lái xe trong bài thơ hiện lên với tư thế hiên ngang bất khuất Tác giả đã tái hiện một cách chân thực sự khốc liệt của chiến tranh thông qua hình ảnh những chiếc xe không có kính-đây là bằng chứng xác đáng cho sự tàn phá khủng khiếp của một thời đã qua và để rồi trên cái nền của cuộc kháng chiến gian khổ, khốc liệt
ấy, tác giả Phạm Tiến Duật đã xây dựng thành công hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn với tư thế ung dung, hiên ngang, luôn sẵn sàng ra trận:
‘Ung dung buồng ái ta ngồi,
Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng.’
Từ ‘ung dung’ được đặt trong phép đảo ngữ như đang diễn tả thái độ tự tin bình tĩnh, không một chút nao núng, run sợ của người chiến sĩ Bất chấp mọi trở ngại gian khổ, mặc
kệ những hiểm nguy, người lính vẫn sẵn sàng ngồi vào buồng lái để làm nhiệm vụ Thái
Trang 2độ ấy xuất phát từ phẩm chất gan dạ, anh hùng và từ chiếc xa không kính, người chiến sĩ
đã quan sát cảnh vật bên ngoài ‘nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng’ Câu thơ viết theo nhịp 2/2/2 thật cân đối Nó thể hiện sự nhịp nhàng, thăng bằng của chiếc xe đang lăn bánh và nhất là thái độ tự tin, bình tĩnh của người cầm lái Điệp từ ‘nhìn’ đã nhấn mạnh, khắc sâu
vẻ đẹp từ cách quan sát của người chiến sĩ Một vẻ đẹp xuất phát từ tâm hồn, tấm lòng của anh Cách nhìn chăm chú đó biểu lộ niềm yêu thương với thiên nhiên, cuộc sống, sự quyết tâm vững vàng trong nhiệm vụ Các anh ‘nhìn đất’ để thêm gắn bó yêu thương con đường Trường Sơn hào hùng, thân thuộc để dẫn đưa chiếc xe đến chỗ nơi an toàn Anh
‘nhìn trời’ để tâm hồn thêm lạc quan bay bổng, thêm tin tưởng vào ngày mai Anh ‘nhìn thẳng’ là nhìn về phía trước, nhìn vào con đường trước mắt cần vượt qua, nhìn vào nhiệm
vụ đầy gian khổ, khó khăn thử thách Bởi thế mặc cho bom đạn gào thét các anh vẫn cứ tiến lên Các anh thật dũng cảm và hào hùng biết bao
Hơn thế tư thế ung dung hiên ngang của người lính lái xe ra trận còn được khắc hoạ đậm nét qua những hình ảnh hoà nhập với thiên nhiên:
‘Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa như ùa vào buồng lái.’
Cả không gian đất trời phía trước thu vào tầm mắt của các anh Người lính lái xe như tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài với những cảm giác thú vị: ‘gió xoa mắt đắng, con đường chạy thẳng vào tim, sao trời và cánh chim như sa như ùa vào buồng lái’ Những chi tiết tả thực tái hiện hiện thực gian khổ mà các anh phải đối mặt nhưng người chiến sĩ đã cảm nhận chúng bằng tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, bằng nghị lực bản lĩnh phi thường nên nó trở nên thú vị: cảm giác về tốc độ, của những chiếc xe đang lao nhanh trên đường, cảm giác hoà vào thiên nhiên gần gũi Điệp ngữ ‘nhìn’, phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác kết hợp với biện pháp nghệ thuật so sánh đã cho thấy sự tập trung cao độ, một tinh thần trách nhiệm dũng cảm nhưng của một tâm hồn lãng mạn, bình thản, chủ động chiêm ngưỡng tận hưởng từng vẻ đẹp của thiên nhiên qua ô của kính vỡ Những hình ảnh
‘gió-con đường-sao trời-cánh chim’ vừa thực vừa thơ, là cái thi vị nảy sinh trên đường bom rơi đạn nổ Từ đó cho thấy một tâm hồn tươi trẻ lạc quan, một tư thế bình thản, điềm nhiên của người lính
Tin tưởng vào chiến thắng, luôn hướng về Miền Nam những người lính trong bài thơ còn là những con người tràn đầy tinh thần lạc quan sôi nổi bất chấp mọi hiểm nguy coi thường mọi gian khổ:
‘Không có kính, ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì pheo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Không có kính ừ thì ướt áo
Trang 3Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi.’
Những câu thơ dung dị tự nhiên như văn xuôi, lời thơ thường ngày, giọng điệu thản nhiên hóm hỉnh pha chút ngang tàn cùng lập cấu trúc “ không có kinh, ừ thì có bụi…chưa cần…” thể hiện vẻ đẹp tự tin, tinh cách ngang tàn Gian khổ của người lính ngồi lái những chiếc xe không kính bị “bụi phun tóc trắng, bị mưa tuôn mưa xối như ngoài trời” chẳng hề chi, hiểm nguy của mưa bom bão đạn chẳng là gì với những người chiến sĩ lạc quan sôi nổi Bụi đường mưa gió trên các nẻo đường rừng với họ là lẽ đương nhiên, chẳng cần phải bận tâm Các từ ngữ “ phì pheo, cười ha ha, mau khô thôi” làm nỏi bật niềm vui tiếng cười của người lính cất lên một cách tự nhiên giữa gian khổ hiểm nguy của cuộc chiến đấu Các anh sẵn sàng chập nhận thử thách gian lao như thể đó là điểm tất yếu Họ đã lấy cái bất biến của lòng dũng cảm, của thái độ hiên ngang để thắng lại cái vạn biến của chiến trường sinh tử Không hề lùi bước trước khó khăn người lính bằng sự sôi nổi lạc quan đã cất cao tiếng hát át tiếng bom Bụi đường lấm lem lên tóc trắng, khuôn mặt làm họ phì cười vì sự ngộ nghĩnh khi nhìn vào nhau Còn mưa làm họ ước áo thì chỉ cần giá lùa là họ khô thôi Họ chấp nhận gian khổ và xem đó là thử thách để khẳng định ý chí niềm tin lòng lạc quan yêu đời Mở đầu khổ thơ là hình ảnh gian khổ, kết thúc khổ thơ là bằng niềm lạc quan của người lính, thơ của Phạm Tiến Duật để lại cho ta dư vị
ấn tượng thật khó quên trước tâm hồn sôi nổi dũng cảm lạc quan của những “ chàng Thạch Sanh của thế kỉ XX hiên ngang anh hùng”
Không chỉ dùng lại ở thái độ coi thường bất chấp mọi hiểm nguy mà tình đồng chí, đồng đội cao đẹp cũng là một trong số những vẻ đẹp đáng trân quý ở những người lính lái xe:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Bếp Hoàng Cầm ta dựng dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh d dường xe chạy
Lại đi,lại đi trời xanh thêm
Mỗi ngày hành quân trên đường dài tiến vào giải phóng Miền Nam Những người lính gặp
gỡ thêm nhìu bạn bè, những còn người cùng ý chí chiến đầu Từ trong bom rơi, những chiếc xe từ khắp mọi miền tổ quốc đã họp về đây thành tiểu đội Họ gặp nhau giữa đường rừng trong những khoảnh khắc sinh tử, ô cửa kính vỡ trở thành điều kiện để họ trở thành
Trang 4tình cảm Hình ảnh “ bắt tay nhau qua cửa kính vở rồi” là hình ảnh thơ độc đáo , giàu sức gợi Cái bắt tay từ tận sau trái tim là tấm lòng của người lính giành cho nhau vừa là lời động viên , vừa là sự chia sẽ.Cái bắt tay ấy chính là cái bắt tay chan chưa tình yêu
thương, sự thấu hiểu ,gắn bó của những người linh.Nếu trong thơ Chính Hữu “ Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” là biểu tượng cao đẹp nồng ấm thiêng liêng của tình đồng chí thì thì trong thơ Phạm Tiến Duật người lính bắt tay nhau qua cửa kính vỡ trên một trận đường dài để gần nhau hơn
Hình ảnh của những người lính lái xe thân thiết như ruột thịt như anh em trong nhà , “ Bếp Hoàng Cầm ta dựng “ những hình ảnh quen thuộc thân thương của gia đình như bếp, bát đũa , võng mắc gợi cảm giác quen thuộc gắn bó làm ấm lòng người lính Giữa rừng Trường Sơn đầy đạn bom hiểm nguy , những chiếc bếp Hoàng Cầm nhóm lên yêu thương thu gia đình , đưa người lính xích lại gần nhau qua những cái chung : chung
bát ,đũa ,chung nắm cơm , hoàn cảnh và chung con đường chiến đấu Và từ những điều
đó họ gắn bó gần gũi thân thương như 1 gia đình Các định nghĩa gia đình thật khác lạ, đơn sơ mà thắm thiết nghĩ tình Trong quân ngũ tình đồng chí ,đông đội cũng là tình gia đình Đó là sự hoàn quyện giữa tình người yêu thương , chia sẽ , gắn bó và tình đồng chí chung nhiệm vụ, lí tưởng chiến đấu , Phạm Tiến Duật đã phát hiện 1 vẻ đẹp mới mẻ trong tâm hồn , tình cảm của người lính thời chống Mĩ
Trên đường hành quân những phút sinh hoạt ngắn ngủi của người lính cũng rất giản
dị độc đáo giữa gian khổ “ Võng mắt chông chênh đường xe chạy” Chông chênh vì đường núi gập ghềnh ,đường rừng hiểm trở nhưng ý chí chiến đấu vẫn vững vàng kiên định Sức mạnh tinh thần lạc quan tình đồng chí đồng đội nâng đỡ bước chân họ tiếp tục hành trình gian khổ : “ lại đi , lại đi trời xanh thêm” điệp ngữ “lại đi”như nhịp bước hành quân của người lính , vọng lên âm vang khí thế khó khăn không nản chí ,hi sinh không sờn lòng , đưa đoàn xe băng băng tiến về phía trước là những khoảng trời phơi phới họ để lại cho đời
Hoàn thiện vẻ đẹp bức chân dung người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn là ý chí chiến đấu , tinh thần yêu thương nước của Miền Nam:
“Không có kính , rồi xe không có đèn, Không có mui xe ,thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
Sự gian khổ khốc liệt của chiến trường chống Mĩ càng nhân lên gấp bội qua những chiếc
xe bị tàn phá bị trần trụi ,biến dạng gần như hoàn toàn : “Không có kính , không đèn , không có mui xe , thùng xe có xước” Điệp ngữ “Không” cùng phép liệt kê nhấn mạnh và làm nổi bật hình ảnh chiếc xe không kính bị phá dữ dội bởi bom đạn chiến tranh , lột tả hiện thực thử thánh đầy ác liệt của một cuộc chiến tranh chống Mĩ Tác giả đã sử dụng
Trang 5phép nghệ thuật tương phản để tạo nên sự đối lập giữa những cái “Không” và có , giữa vật chất bên ngoài và sức mạnh bên trong , để từ đó làm nổi bật trái tim người lính Hình ảnh hoán dụ “một trái tim” chỉ người lính lái xe , cũng có thể xem là hình ảnh ẩn dụ cho sức mạnh tình yêu nước , lòng dũng cảm và ý chí lạc quan của người lính ” trái tim” thể hiện vẻ đẹp của người lính lái xe cũng là hình ảnh lí giải sức mạnh của những đoàn xe ra trận ,sức mạnh của cuộc kháng chiến đầy thử thách gian khổ Với hình ảnh giàu ý nghĩa này Phạm Tiến Duật đã mở ra một gốc nhìn mới cho hiện thực của người lính lái xe không kính Trái tim chính là cội nguồn sức mạnh của chiến thắng Từ hình ảnh trái tim cầm lái Phạm Tiến Duật đã khẳng định một chân lí của thời đại chống Mĩ đó là sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là phương tiện , vũ khí hiện đại mà là con người với trái tim yêu nước nồng nàn và ý chí kiên cường dũng cảm Câu thơ cuối bài mang ý nghĩa như nhãn tự toả sáng cả bài thơ
Với ngôn ngữ và giọng điệu thơ khoẻ khoắn với mang cái ngan tàn tinh nghịch của những người lính trẻ Trường Sơn chọn hình ảnh những chiếc xe không kính Cùng với
đó là kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ , 8 chữ , hình ảnh thơ chân thực cùng hiện thực đời sống chiến trường vừa làm giàu thêm chất thơ ca vừa thể hiện chân thực người lính lái
xe Chọn hình ảnh những chiếc xe không kính Phạm Tiến Duật đã xây dựng thành một hiện tượng điển hình nó là chân dung người lính lái xe với những phẩm chất cao quý Với những phẩm chất đó người lính lái xe trở thành biểu tượng cho tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ Từ hình ảnh người lính lái xe trong bài thơ khiến ta liên tưởng đến hình ảnh người lính lái xe có đồng chí trong bài thơ đồng chí của Chính Hữu.Họ là kết tinh cao độ của tình đồng chí ,đồng đội cho 1 cuộc kháng chiến họ mãi là biểu tượng đẹp của dân tộc !
Hôm nay đất nước đã hoà bình sau hơn 30 năm giải phóng Miền Nam Con đường
Trường Sơn đã đi vào lịch sử, đọc lại bài thơ này, chúng ta càng tự hào và khâm phục biết bao các chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn ngày trước cùng bộ đội Trường Sơn đã góp phần vào chiến thắng huy hoàng của dân tộc